File "10.htm"

Full path: E:/sites/Single15/tinmung2007/webroot/SUYNIEM_HANGTUAN2/2020/Mua-Chay & Phuc-Sinh/CN IV MC A/10.htm
File size: 19.51 KiB (19978 bytes)
MIME-type:
Charset: utf-8

Download   Open   Back

<html><head><meta http-equiv="Content-Language" content="en-us"><meta http-equiv="Content-Type" content="text/html; charset=utf-8"><title>
Chúa Nhật VI Mùa Chay - Năm A</title><base target="main">
<meta name="keywords" content="Chúa Nhật VI Mùa Chay - Năm A: Người mù; Ngọn đèn đức tin; thầy là ánh sáng thế gian; Cửa sổ tâm hồn; Ánh sáng; Định kiến."><style>
<!--
	.CONTENTS{FONT-SIZE: 11pt;COLOR:Navy;}
span.MsoHyperlink
	{color:blue;
	text-decoration:underline;
	text-underline:single;
	text-decoration:none underline;
	text-line-through:none;
	vertical-align:baseline}
-->
</style>
<meta name="description" content="Chúa Nhật VI Mùa Chay - Năm A"><!--mstheme--><link rel="stylesheet" type="text/css" href="../../../../_themes/suyniem3/suyn1011-109.css"><meta name="Microsoft Theme" content="suyniem3 1011">
</head><body><table border="0" width="500" cellspacing="12" style="border-color: #FFFFFF; font-family:Times New Roman; font-size:14pt; text-decoration:none" bgcolor="#FFFFFF"><tr><td width="460"><font size="2" color="#FF0000" face="Arial">Chúa Nhật 
	VI Mùa Chay - Năm A</font></td></tr><tr><td width="474" style="font-family: Arial; font-size: 12pt; text-decoration: none; font-weight: bold; text-align: center"><b>
		CHỮA LÀNH NGƯỜI MÙ TỪ THUỞ MỚI SINH</b></td></tr><tr><td width="474" style="font-family: Arial; font-size: 8pt; text-decoration: none; font-style:italic; text-align:right"><a name="_Toc289076100">
	<span style="font-size: 8pt; font-style:italic; font-weight:400">Chú giải của Alain Marchabour</span></a></td></tr><tr><td width="474" style="font-family: Times New Roman; font-size: 14pt; text-decoration: none; text-align:justify">
	<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
	<span style="font-size: 14.0pt">Sau cuộc tranh luận dữ dội và sự nghiêm khắc 
	của các chương 7 và 8 với các diễn tiến tập trung vào Chúa Kitô, thì đây là 
	bài trần thuật đầy vẻ sống động, phân vân và đầy sinh lực. Tác giả khéo léo 
	đan xen các bi kịch đầy đạo lý, với một vài trần thuật giàu tưởng tượng và 
	kể chuyện nhiều hơn, làm nên một câu chuyện về Chúa Giêsu, người mù từ thuở 
	mới sinh và nhiều nhân vật đối thoại khác. Trong số các bài trần thuật của 
	Gioan thì bài này trổi vượt vì giọng điệu linh hoạt, ít khai triển thần học 
	và vì bề dày của nhân thân người mù.</span></p>
	<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px"><b>
	<span style="font-size: 14.0pt">Phần dẫn (cc. 1-5)</span></b></p>
	<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
	<span style="font-size: 14.0pt">Cách dẫn nhập vào bài trần thuật này (“đi 
	ngang qua”) thường thấy trong sách Nhất Lãm (Mc 1,16; Mt 9,27) lại bất 
	thường nơi Gioan. Cảnh tượng được trình thuật, có thể diễn ra bất cứ lúc nào 
	vào một trong những ngày Chúa Giêsu ở Giêrusalem. Tuy nhiên bài trần thuật 
	này nối khớp chặt chẽ với bài trần thuật trước đó: sự chống đối Chúa Giêsu 
	được khai triển trong các chương 7 và 8 được tập trung ở đây trên một con 
	người, bởi vì người này đang trở thành môn đệ của Chúa Giêsu. Nước ở hồ 
	Silôê quan trọng đối với lễ Lều lại đón nhận ở đây con người mù lòa. Chúa 
	Giêsu, “ánh sáng thế gian” trong 8, 12, phải đối đầu với sự đui mù của người 
	Do Thái đang khép kín trước ánh sáng này. Ở đây, Đấng là “ánh sáng thế gian” 
	(c.5) mở mắt cho người mù và, qua dấu lạ này, vạch trần cách minh bạch hơn 
	sự đui mù của các lãnh tụ Do Thái.</span></p>
	<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
	<span style="font-size: 14.0pt">Năm câu đầu tiên dẫn nhập các nhân vật và 
	các chủ đề của bài trần thuật. Chúa Giêsu là nhân vật trung tâm, Đấng nhìn 
	thấy người mù, đoán giải trước cảnh huống (dấu lạ như biểu hiện vinh quang), 
	kết hợp các môn đệ (tái xuất hiện lần đầu tiên kể từ chương 6) vào công việc 
	của Người (chúng ta phải làm việc) qua lời mặc khải mầu nhiệm (cc. 3-5). Vấn 
	nạn mà các môn đệ nêu lên, phù hợp với lòng tin khá phổ biến trong đạo lý Do 
	Thái theo đó đứa bé có thể phạm tội ngay trong bụng mẹ! Năm câu đầu tiên này 
	tập trung vào Chúa Giêsu và lời mặc khải của Người sau đó nhường chỗ lại cho 
	một bài trần thuật bóng bẩy, linh hoạt, đầy biến động.</span></p>
	<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px"><b>
	<span style="font-size: 14.0pt">Việc chữa lành (c. 6-7)</span></b></p>
	<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
	<span style="font-size: 14.0pt">Phép lạ chỉ chiếm có hai câu: người kể 
	chuyện chú trọng được cuộc tranh luận do dấu lạ gây nên và các hậu quả người 
	mù phải chịu: Chúa Giêsu không thoa ngay nước miếng vào mắt người mù, mà 
	trộn thành bùn và xức vào mắt người mù. Cảnh tượng này nhấn mạnh rằng Chúa 
	Giêsu đã khởi sự một công việc mà hiệu quả tượng trưng chỉ xuất hiện sau khi 
	người mù đi đến hồ Silôê. Thánh Âutinh nói: “Người mù đến rửa ở hồ và đã 
	chịu phép rửa trong Chúa Kitô”. Nguyên ngữ Silôê có nghĩa là “người được sai 
	phái”, biến người mù thành một sứ giả vâng phục và chuẩn bị làm chứng tá sau 
	này. Khác với Naaman (2V 5,10), người mù đã tin vào hiệu quả lời nói của 
	Chúa Giêsu. Phần tiếp theo của bài trần thuật xác định sự thông hiểu kỳ lạ, 
	sự sốt sắng với điều mới mẻ và khả năng tranh biện của anh ta. Người bại 
	liệt ở chương 5 và người mù từ thuở mới sinh được chữa lành trong những hoàn 
	cảnh khá giống nhau. Thế nhưng, bởi tính hồn nhiên, sự cởi mở, sự thông hiểu 
	và tính dũng cảm của mình, người mù để lại đằng sau mình sự bại liệt không 
	thể nhận ra được và cuối cùng càng thụ động hơn.</span></p>
	<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
	<span style="font-size: 14.0pt">Trong các cảnh tiếp theo, Chúa Giêsu biến 
	mất về thể chất. Thế nhưng Người vẫn chiếm vị trí tgm trong các câu tiếp sau 
	các câu hỏi đáp giữa những người đối thoại và người mù.</span></p>
	<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px"><b>
	<span style="font-size: 14.0pt">Người mù và các người láng giềng (cc. 8-12)</span></b></p>
	<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
	<span style="font-size: 14.0pt">Người mù được lành bệnh trở thành đối tượng 
	của ba vấn nạn mà hai vấn nạn đầu thuộc về việc đã xảy ra trước: Có phải hắn 
	không? Và làm sao mắt anh lại mở ra được như thế? Anh ta trả lời: Anh ta 
	thuật lại từng chi tiết của dấu lạ bằng những từ ngữ gần như lặp lại từng 
	chữ các câu 6 và 7. Chỉ có vấn nạn thứ ba khiến anh ta không thể trả lời: 
	anh ta không biết Chúa Giêsu ở đâu. Anh ta còn cần phải trải qua một con 
	đường dài trước khi xác định đức tin của mình vào Chúa Giêsu, trước khi đi 
	từ dấu lạ đón tiếp nhận Chúa Giêsu, ánh sáng thế gian. Trong lúc này đây, 
	Chúa Giêsu đối với anh ta là người chữa bệnh đơn thuần. Đấng mà người ta gọi 
	là ông Giêsu mà anh ta đến ánh sáng đức tin. Thế nhưng việc Chúa Giêsu đi 
	vào trong đời sống của người mù và ở giữa loài người bắt đầu làm phát sinh 
	hậu quả công hiệu, có thể phân chia loài người thành những kẻ đón nhận dấu 
	lạ và những kẻ từ khước Chúa Giêsu.</span></p>
	<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px"><b>
	<span style="font-size: 14.0pt">Người mù và những người Pharisêu (c. 13-17)</span></b></p>
	<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
	<span style="font-size: 14.0pt">Việc tra hỏi của các lãnh tụ tôn giáo khiến 
	người kể chuyện đưa vào một đề tài mới mẻ mang tính cách tôn giáo: dấu lạ 
	được thực hiện vào ngày Sabat. Từ đó việc làm của Chúa Giêsu vào ngày lễ 
	nghỉ khiến Người đối nghịch với Lề Luật và những đòi buộc của Lề Luật. Cả 
	hai bài đều đối nghịch ở đây, để lộ hai cách giải thích về con người của 
	Chúa Giêsu: có người cho rằng việc chữa lành bệnh tật vào ngày Sabat là vi 
	phạm Lề Luật và như vậy là có tội. Đối với một số người khác thì hoàn thành 
	một dấu lạ không thể là có tội được. Sự chia rẽ giữa các nhóm người về vấn 
	đề Chúa Giêsu càng trở nên sâu xa. Sự đối lập giữa việc vi phạm ngày Sabat 
	(công trình của Thiên Chúa) và việc chữa lành người mù không thể giải quyết 
	được trong lúc này. Thế nhưng một cuộc tranh luận trở nên rõ ràng giữa luật 
	pháp (đối nghịch với Chúa Giêsu) và sự việc chữa lành người mù (là ân huệ 
	của Chúa). Không thể không khôi hài, người mù trở nên như vị trọng tài và 
	hơn nữa tỏ rõ lập trường của mình: “Đó là một vị ngôn sứ”. Chắc chắn điều 
	người mù quả quyết căn cứ vào Kinh Thánh, theo đó Đấng Mêsia được giao cho 
	sứ mạng nên như ánh sáng thiên hạ và mở mắt người mù (Is 42,6-7; xem thêm Is 
	29,18; 32,3; 35,5).</span></p>
	<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px"><b>
	<span style="font-size: 14.0pt">Người Do Thái và cha mẹ người mù (cc. 18-23)</span></b></p>
	<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
	<span style="font-size: 14.0pt">Cho đến lúc này đây, cha mẹ người mù chỉ mới 
	được nhắc đến như những người chịu trách nhiệm về việc mù lòa của anh ta (c. 
	2). Bây giờ đây họ được mời đến. Các người Pharisêu ở đây được gọi thành 
	“người Do Thái”: ghi nhận này cho thấy tác giả cũng như độc giả đều giữ một 
	khoảng cách với đạo lý Do Thái. Câu trả lời của cha mẹ người mù dựa vào hai 
	điều biết và hai điều không biết:</span></p>
	<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
	<span style="font-size: 14.0pt">Chúng tôi biết nó là con chúng tôi,</span></p>
	<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
	<span style="font-size: 14.0pt">và nó bị mù từ khi mới sinh.</span></p>
	<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
	<span style="font-size: 14.0pt">Chúng tôi không biết làm sao nó thấy được</span></p>
	<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
	<span style="font-size: 14.0pt">Chúng tôi cũng chẳng hay ai đã mở mắt cho 
	nó.</span></p>
	<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
	<span style="font-size: 14.0pt">Hai điều biết đối nhau. Một điều theo xác 
	thịt; một điều theo Thần Khí. Điều này thuộc về mầu nhiệm của Chúa Kitô mà 
	họ không thể hiểu được. Việc họ từ chối có thể hiểu được theo sự hợp lý của 
	bài trần thuật. Người kể chuyện giải thích việc này như sợ bị trục xuất khỏi 
	hội đường. Có thể thánh sử ghi nhận ở đây những nguy cơ dành cho những ai 
	tin vào Chúa Giêsu bị phạt vạ tuyệt thông vào cuối thế kỷ I, điều chưa được 
	biết đến vào thời Chúa Giêsu. Tuy nhiên trên bình diện bài trần thuật, việc 
	người mù bị cô lập nhấn mạnh rằng tin vào Chúa Giêsu luôn luôn là một sự tự 
	nguyện dấn thân mà cha mẹ không thể quyết định thay thế cho người môn đệ. 
	Việc chọn lựa này không thể không nguy hiểm bởi vì nó có thể dẫn đến sự đoạn 
	giao với tôn giáo của mình.</span></p>
	<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px"><b>
	<span style="font-size: 14.0pt">Hỏi cung người mù lần thứ hai (c. 24-34)</span></b></p>
	<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
	<span style="font-size: 14.0pt">Sự can dự của cha mẹ người mù kết thúc bằng: 
	“Nó khôn lớn rồi: Xin các ông cứ hỏi nó”. Từ nay người mù rơi vào tình trạng 
	cô đơn, một mình dũng cảm đối diện với những người xét xử mình. Bài trần 
	thuật hình như đối chiếu hai điều hiểu biết mà những người trong cuộc đang 
	hiện diện không thể hiểu nổi: đối lại với lời “chúng ta biết” của nhóm người 
	Pharisêu (c. 24), là lời “chúng ta biết” (c. 31) của người mù và của Giáo 
	Hội mà anh ta đại diện nơi đây. Quả vậy đó là hai dạng hiểu biết đối kháng ở 
	đây: điều hiểu biết thứ nhất (của người Pharisêu, từ nay đồng hóa với người 
	Do Thái), cho rằng quá khứ vẫn còn có giá trị để hiểu được biến cố Giêsu 
	(“chúng ta biết rằng Thiên Chúa đã nói với ông Môsê”). Họ đem niềm xác tín 
	này đối lại với sự không hiểu biết về nguồn gốc của Chúa Giêsu: “Còn ông ấy, 
	chúng ta không biết ông ấy bởi đâu mà đến”. Dấu lạ được sử dụng cho hai cách 
	giải thích: nhóm người Pharisêu chỉ chú ý đến việc vi phạm luật pháp (ông ấy 
	là người tội lỗi bởi vì đã làm việc vào ngày Sabat) và tiếp tục cố chấp 
	trước sự kiện kỳ lạ (một người mù nhìn thấy được).</span></p>
	<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
	<span style="font-size: 14.0pt">Điều hiểu biết thứ hai cũng quả quyết như 
	điều hiểu biết thứ nhất: người mù và qua anh ta Giáo Hội sơ khai tuyên bố: 
	Chúng ta biết. Điều hiểu biết này ăn rễ sâu trong sự kiện: “trước đây tôi bị 
	mù mà nay tôi nhìn thấy được”. Ở đây các tiêu chuẩn thuộc về quá khứ đều vô 
	hiệu: bởi vì điều đang diễn ra, nơi Chúa Giêsu, là chưa từng nghe thấy theo 
	nghĩa đen của từ: “Xưa nay chưa hề nghe nói” –Sự hiểu biết của Giáo Hội dành 
	ưu thế cho điều mới lạ tỏ hiện nơi Chúa Giêsu.</span></p>
	<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
	<span style="font-size: 14.0pt">Hành trình của người mù kết thúc: anh ta đã 
	đạt được cùng đích và đã đối chiếu hiểu biết của những kẻ đón nhận dấu lạ 
	Thiên Chúa trao ban nơi Chúa Giêsu với điều hiểu biết của những kẻ đã dùng 
	ông Môsê chống lại Thiên Chúa. Lời phát biểu của người Do Thái trong cách 
	nói bóng gió riêng biệt của Gioan lặp lại phán quyết của các môn đệ về người 
	mù từ thuở mới sinh: “một người tội lỗi”. Như vậy, bởi sự bao hàm này, người 
	Do Thái chứng tỏ rằng họ đã không thay đổi ngay từ đầu. Họ đã không “thấy” 
	dấu lạ có khả năng phá tan sự đui mù của họ.</span></p>
	<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
	<span style="font-size: 14.0pt">Việc trục xuất người mù ra khỏi hội đường 
	kết thúc bài trần thuật. Xem ra có sự liên lạc mật thiết giữa sự trục xuất 
	này với thân phận của Chúa Giêsu trong mặc khải. Đối với người này người nọ, 
	Chúa Giêsu là người tội lỗi, kẻ vi phạm Lề Luật. Đối với người mù, Người lại 
	là vị ngôn sứ đặc biệt của Thiên Chúa. cho đến lúc ấy, người mù vẫn còn 
	trong phạm vi đức tin theo Do Thái giáo; việc anh bị trục xuất ra khỏi hội 
	đường khiến anh trở thành người bị khai trừ, nhưng chưa phải là một người 
	tin vào Chúa Giêsu. Để tin theo Chúa, nhất thiết Người phải tái xuất hiện để 
	giúp anh ta thực hiện bước tiến này.</span></p>
	<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px"><b>
	<span style="font-size: 14.0pt">Gia nhập cộng đoàn (c. 35-38)</span></b></p>
	<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
	<span style="font-size: 14.0pt">Chúa Giêsu trở lại đón nhận con người bị 
	trục xuất. Để làm điều đó, Người đã khiến có một bước chuyển biến quyết định 
	từ “Chúa Giêsu ngôn sứ” đến “Chúa Giêsu Con Người”. Đấng Cứu Độ dẫn đưa vào 
	trong cộng đoàn của thời cuối cùng. Trong cuộc tranh luận khiến anh ta đối 
	đầu với các lãnh tụ Do Thái giáo và sau cùng “với người Do Thái”, người mù 
	từ thuở mới sinh được lành bệnh đã chứng tỏ sự thông hiểu, sự sáng suốt để 
	giải thích biến cố Giêsu. Ở đây Chúa Giêsu tỏ cho anh ta thấy sự xuất hiện 
	của một di chuyển mới mẻ dưới sự dìu dắt của “Con Người”. Người mù sấp mình 
	xuống trước mặt “Con Người”, nhận biết thiên tính của Người, bởi vì trong 
	Tin Mừng Gioan, việc thờ phượng chỉ dành cho Thiên Chúa (Ga 4,20-24; 12-20), 
	và tước hiệu “Chúa” là dấu chỉ căn tính thần linh của Chúa Giêsu. Thờ phượng 
	Chúa Giêsu, nhận biết Người như Đấng mặc khải sau cùng của Thiên Chúa, là 
	chóp đỉnh cuộc hành trình của người mù.</span></p>
	<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px"><b>
	<span style="font-size: 14.0pt">Chú giải (cc. 39-41).</span></b></p>
	<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
	<span style="font-size: 14.0pt">Các người Pharisêu trở nên đối lập với người 
	mù. Chúa Giêsu tự đặt mình vào tâm điểm của ngày Sabat, xác định sự đoạn 
	giao giữa người Do Thái và các Kitô hữu trước hết và trên hết là một sự đoạn 
	giao có liên quan đến Chúa Kitô. việc xét xử mà Người khơi dậy là sự chia 
	cách. Tùy vào thái độ với Ngôi Lời nhập thể mà loài người hoặc ở trong bóng 
	tối, hoặc ở trong ánh sáng.</span></td></tr><tr><td width="474"><p style="text-align: center">&nbsp;&nbsp; <a target="_top" href="http://tinmung.net"><img border="0" src="../../../../../logo/LOGOtinmung.gif" width="67" height="40"></a>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;<a style="text-decoration: none; font-family: Arial; font-size: 10pt" target="_top" href="http://www.tinmung.net/SUYNIEM_HANGTUAN/suyniemINDEX.htm"><img border="0" src="../../../2011/MuaThuongNien/VuaVuTru/LOGOtinmung2.gif" width="68" height="42"></a>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;</td></tr></table><p style="text-align: center">&nbsp;</p>

PHP File Manager