File "14.htm"
Full path: E:/sites/Single15/tinmung2007/webroot/SUYNIEM_HANGTUAN2/2019/Thuong-nien/CN XXIV TN C/14.htm
File size: 23.86 KiB (24430 bytes)
MIME-type:
Charset: utf-8
<html><head><meta http-equiv="Content-Language" content="en-us"><meta http-equiv="Content-Type" content="text/html; charset=utf-8"><title>
Chúa-Nhật-XXIV-thường-niên-Năm-C</title><base target="main">
<meta name="keywords" content="Lòng-Chúa-xót-thương; Người-Cha; Niềm-vui-san-sẻ; Cây-táo; Miếng-vài-trằng; Quan-trọng; Lạc-mất; Tha-thứ; Thương-xót; thương-người; Nhân-hậu;"><style>
<!--
.CONTENTS{FONT-SIZE: 11pt;COLOR:Navy;}
span.MsoHyperlink
{color:blue;
text-decoration:underline;
text-underline:single;
text-decoration:none underline;
text-line-through:none;
vertical-align:baseline}
span.st
{}
-->
</style>
<meta name="description" content="Chúa-Nhật-XXIV-thường-niên-Năm-C">
<!--mstheme--><link rel="stylesheet" type="text/css" href="../../../../_themes/suyniem3/suyn1011-109.css"><meta name="Microsoft Theme" content="suyniem3 1011">
</head><body><table border="0" width="500" cellspacing="12" style="border-color: #FFFFFF; font-family:Arial; font-size:12pt; text-decoration:none" bgcolor="#FFFFFF"><tr><td width="460">
<font size="2" color="#FF0000">Chúa Nhật XXIV thường niên - Năm C</font></td></tr><tr><td width="474" style="font-family: Arial; font-size: 12pt; text-decoration: none; font-weight: bold; text-align: center">
<b>
<span lang="EN-US">VUI MỪNG CỦA NGƯỜI CHĂN
CHIÊN</span></b></td></tr><tr><td width="474" style="font-family: Arial; font-size: 8pt; text-decoration: none; font-style:italic; text-align:right">
<a name="_Toc271551569">
<span lang="EN-US" style="font-size: 8pt; font-style:italic; font-weight:400">Chú giải của William
Barclay</span></a></td></tr><tr><td width="474" style="font-family: Times New Roman; font-size: 14pt; text-decoration: none; text-align:justify">
<p class="MsoNormal" style="margin-top:12.0pt;margin-right:0cm;margin-bottom:
0cm;margin-left:0cm;margin-bottom:.0001pt;text-indent:36.0pt">
<span lang="EN-US" style="font-size: 14.0pt">Có thể nói không chương nào
trong Tân Ước quen thuộc và đáng yêu cho bằng chương 15 của Luca. Nó
được gọi là “Phúc Âm trong Phúc Âm”, như thể chứa đựng chính bản chất
tinh tuyền của Tin Mừng Chúa Giêsu đã rao giảng.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-top:12.0pt;margin-right:0cm;margin-bottom:
0cm;margin-left:0cm;margin-bottom:.0001pt;text-indent:36.0pt">
<span lang="EN-US" style="font-size: 14.0pt">Những dụ ngôn này của Chúa
Giêsu đã phát xuất trong một bối cảnh đặc biệt. Các Kinh sư và Pharisêu
đã vấp phạm vì thấy Chúa Giêsu nhập bọn và bầu bạn với những kẻ mà người
Do Thái chính thống gọi là tội nhân. Pharisêu đã xếp tất cả những ai
không tuân giữ luật vào chung một hạng, họ gọi những người đó là “dân
của đất”. Có một hàng rào ngăn cách dứt khoát giữa Pharisêu và người
“dân của đất”. Gả con gái cho một người dân của đất thì chẳng khác gì
trói cô gái ấy nộp cho sư tử. Luật của Pharisêu định rằng “Khi có một
người dân của đất, thì đừng trao tiền cho nó, đừng nói điều bí mật cho
nó, đừng đặt nó coi sóc trẻ mồ côi, đừng để nó giữ của bố thí, đừng đi
đường với nó”. Có luật cấm Pharisêu không được mời một người dân của đất
đến dùng bữa, cũng không được nhận lời của ai trong hạng người đó. Luật
cũng cấm Pharisêu không được liên lạc bình thường với họ, không được mua
bán với họ. Pharisêu tránh hẳn mọi liên hệ với đám dân của đất, tức là
những người không giữ đủ các chi tiết vớ vẩn, nhỏ nhen trong luật. Dĩ
nhiên họ rất khó chịu khi thấy Chúa Giêsu làm bạn với những người không
những thuộc hạng cùng đinh mà còn là tội nhân nữa, vì giao thiệp với
hạng người đó thì bị ô uế. Chúng ta sẽ hiểu các dụ ngôn này đầy đủ hơn
nếu chúng ta nhớ rằng người Do Thái ngoan đạo không nói “cả thiên đàng
vui mừng vì một tội nhân hoán cải”, nhưng họ nói “cả thiên đàng vui mừng
vị một tội nhân bị diệt mất trước mặt chúng”. Họ hướng cặp mắt độc ác để
chờ xem huỷ diệt tội nhân, chứ không chờ mong giải cứu tội nhân.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-top:12.0pt;margin-right:0cm;margin-bottom:
0cm;margin-left:0cm;margin-bottom:.0001pt;text-indent:36.0pt">
<span lang="EN-US" style="font-size: 14.0pt">Vì thế Chúa Giêsu nói cho
họ dụ ngôn về con chiên lạc và vui mừng của kẻ chăn. Người chăn chiên ở
xứ Do Thái có một công việc khó nhọc và nguy hiểm. Đồng cỏ thì hiếm.
Cánh đồng cao nguyên ở giữa xứ chỉ rộng chừng vài dặm thôi, còn phần
nhiều địa thế là những khe trũng dốc đứng và cảnh sa mạc hoang vu. Không
có những bức tường chắn giữ nên chiên dễ đi lạc. G.A. Smith đã viết về
người chăn chiên như sau “Trên mọt cánh đồng khô cỏ cháy, ban đêm chỉ có
tiếng chó hú, người chăn chiên với gương mặt tỉnh táo, đôi mắt nhìn xa,
màu da cháy nắng, mình đeo khí giới, đứng dựa trên cây gậy, mắt chăm chú
nhìn bầy chiên đang ăn”. Chúng ta hiểu tại sao người chăn chiên ở xứ Do
Thái lại là những người ở vị trí hàng đầu trong lịch sử nước họ, tại sao
người chăn chiên là biểu tượng về sự quan phòng của Thiên Chúa, tại sao
Chúa Cứu Thế đã lấy hình ảnh người chăn chiên làm gương mẫu cho sự từ bỏ
mình. Người chăn sẽ trực tiếp chịu trách nhiệm về đoàn chiên. Nếu một
con chiên bị mất thì người chăn phải mang về nhà ít ra là cái lốt chiên
để chứng tỏ là nó đã chết. Những người chăn chiên có tài theo dấu vết
cách đặc biệt, có thể theo dõi dấu chân của một con chiên đi lạc hàng
dặm qua núi đồi. Không có người chăn chiên nào không coi bổn phận mỗi
người của mình là bỏ mạng sống mình vì đoàn chiên. Có nhiều đoàn chiên
là tài sản chung, không thuộc cá nhân nào, nhưng thuộc một làng và có
hai hay ba người chăn. Những người chăn có đoàn chiên còn đầy đủ thì có
thể về nhà đúng giờ và báo tin rằng còn có một người chăn đang lặn lội
trên sườn núi để tìm con chiên lạc. Cả làng sẽ thức chờ đợi, rồi khi
thấy từ đàng xa một người chăn đang vội vã về làng, trên vai vác một con
chiên, cả làng sẽ reo mừng và cảm tạ. Đó là hình ảnh của Chúa Giêsu nói
về Thiên Chúa. Chúa Giêsu nói Thiên Chúa cũng thế, Ngài vui mừng vì tìm
lại được một tội nhân đã lạc mất, cũng như người chăn vui mừng vì tìm
được chiên lạc đem về chuồng. Một thánh nhân đã nói “Thiên Chúa cũng
vậy, niềm vui vô cùng lớn lao khi tìm thấy những sự đã mất”.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-top:12.0pt;margin-right:0cm;margin-bottom:
0cm;margin-left:0cm;margin-bottom:.0001pt;text-indent:36.0pt">
<span lang="EN-US" style="font-size: 14.0pt">Có một ý tưởng kỳ diệu ở
đây. Đó là chân lý vĩ đại cho ta biết Thiên Chúa nhân từ hơn loài người.
Những người Do Thái chính thống hẳn sẽ gạt bỏ các kẻ thâu thuế, các tội
nhân như một thứ phải loại trừ, chỉ đáng tiêu diệt. Chúa thì chẳng bao
giờ như thế. Loài người có thể mất hết hy vọng về một tội nhân nào đó,
nhưng Chúa thì không thế, Ngài yêu mến nhưng con chiên không hề đi lạc,
nhưng trong lòng Ngài, có sự vui mừng cực lớn khi một con chiên lạc được
tìm thấy và đem về nhà.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-top:12.0pt;margin-right:0cm;margin-bottom:
0cm;margin-left:0cm;margin-bottom:.0001pt;text-indent:36.0pt"><b>
<span lang="EN-US" style="font-size: 14.0pt">NGƯỜI PHỤ NỮ VỚI ĐỒNG TIỀN
ĐÁNH MẤT RỒI TÌM LẠI ĐƯỢC (15,8-10)</span></b></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-top:12.0pt;margin-right:0cm;margin-bottom:
0cm;margin-left:0cm;margin-bottom:.0001pt;text-indent:36.0pt">
<span lang="EN-US" style="font-size: 14.0pt">Đồng tiền nói trong dụ ngôn
này là đồng Drachma, trị giá chừng 4 xu Anh. Đồng tiền nhỏ nhất rất dễ
rơi mất trong nhà của người dân quê xứ Palestine, và cũng phải mất nhiều
thì giờ mới tìm được. Nhà của người Palestine thường tối om, vì chỉ có
một cửa sổ tròn mà đường kính khoảng 4 tấc rưỡi. Nền nhà thì bằng đất
nện được phủ bằng những tấm liếp sậy và cành cây nhỏ. Tìm kiếm một đồng
tiền nhỏ trên một nền nhà như vậy không khác gì tìm một cây kim trong
đống cỏ khô. Người đàn bà quét nhà, hy vọng nhìn thấy mặt đồng tiền lấp
lánh hoặc nghe tiếng kêu của nó khi lăn trên những cành cây nhỏ. Có hai
lý do khiến người đàn bà sốt sắng tìm kiếm đồng tiền.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-top:12.0pt;margin-right:0cm;margin-bottom:
0cm;margin-left:0cm;margin-bottom:.0001pt;text-indent:36.0pt"><b><i>
<span lang="EN-US" style="font-size: 14.0pt">1. Có thể vì nhu cầu.</span></i></b></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-top:12.0pt;margin-right:0cm;margin-bottom:
0cm;margin-left:0cm;margin-bottom:.0001pt;text-indent:36.0pt">
<span lang="EN-US" style="font-size: 14.0pt">Dù 4 xu không phải là
nhiều, nhưng nó cũng cao hơn tiền công một ngày làm việc của một công
nhân tại xứ Palestine. Họ thường sống trong cảnh thiếu hụt và hầu như
luôn bị nạn đói đe doạ. Có thể người đàn bà nóng nảy tìm cho ra nếu
không tìm được thì gia đình bà sẽ thiếu ăn.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-top:12.0pt;margin-right:0cm;margin-bottom:
0cm;margin-left:0cm;margin-bottom:.0001pt;text-indent:36.0pt"><b><i>
<span lang="EN-US" style="font-size: 14.0pt">2. Nhưng có thể còn có một
lý do khác thơ mộng hơn lý do trên.</span></i></b></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-top:12.0pt;margin-right:0cm;margin-bottom:
0cm;margin-left:0cm;margin-bottom:.0001pt;text-indent:36.0pt">
<span lang="EN-US" style="font-size: 14.0pt">Tại Palestine, dấu hiệu của
một phụ nữ có chồng là một chiếc vành trên đầu làm bằng một sợi dây bạc.
Trong nhiều năm, một cô gái làm lụng và để dành cho đủ mười đồng tiền
nhỏ đó, bởi vì cái chuỗi tiền tên đầu của nàng cũng đáng giá gần bằng
chiếc nhẫn cưới. Khi nàng đã sắm được nó, thì nó là của riêng nàng, đặc
biệt đến nỗi người khác không thể đoạt được của nàng, và nếu có đánh mất
một đồng tiền nhỏ thì phải tìm kiếm nó như bất cứ người nào khác cũng
làm thế khi đánh mất cái nhẫn cưới.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-top:12.0pt;margin-right:0cm;margin-bottom:
0cm;margin-left:0cm;margin-bottom:.0001pt;text-indent:36.0pt">
<span lang="EN-US" style="font-size: 14.0pt">Vì thế chúng ta dễ hiểu
niềm vui mừng khi bà nhìn thấy tia óng ánh của đồng bạc mất và khi tìm
lại được nó. Chúa Giêsu phán: Thiên Chúa cũng làm thế, niềm vui mừng của
Ngài và của các Thiên Thần khi có một tội nhân quay về nhà, cũng như
niềm vui mừng của một gia đình khi đồng bạc quyết định cái no hay đói
của họ được tìm thấy và cũng giống như người đàn bà đánh mất một tài sản
có giá trị hơn tiền bạc, rồi tìm lại được.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-top:12.0pt;margin-right:0cm;margin-bottom:
0cm;margin-left:0cm;margin-bottom:.0001pt;text-indent:36.0pt">
<span lang="EN-US" style="font-size: 14.0pt">Không có một Pharisêu nào
lại mơ đến một Thiên Chúa như vậy. Một học giả Do Thái danh tiếng đã
thừa nhận đây là một điều tuyệt đối mới mà Chúa đã dạy cho loài người về
Thiên Chúa –đó là Ngài thực sự tìm kiếm con người. Người Do Thái có thể
hình dung một người bò về nhà Chúa với tất cả sự hạ mình và kêu xin
thương xót và được thương xót. Nhưng họ không bao giờ có thể hình dung
ra một Thiên Chúa lại ra đi tìm kiếm con chiên lạc. Chúng ta thấy tình
yêu đó hiện thân trong Chúa Giêsu. Con Thiên Chúa, Đấng đến để tìm và
cứu những ai lạc mất.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-top:12.0pt;margin-right:0cm;margin-bottom:
0cm;margin-left:0cm;margin-bottom:.0001pt;text-indent:36.0pt"><b>
<span lang="EN-US" style="font-size: 14.0pt">CÂU CHUYỆN VỀ NGƯỜI CHA
NHÂN LÀNH (15, 11-32)</span></b></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-top:12.0pt;margin-right:0cm;margin-bottom:
0cm;margin-left:0cm;margin-bottom:.0001pt;text-indent:36.0pt">
<span lang="EN-US" style="font-size: 14.0pt">Không phải là không có lý
do khi người ta gọi chuyện này là chuyện ngắn vĩ đại nhất thế giới. Theo
luật Do Thái, người cha không được tự do phân chia gia tài mình tuỳ ý
thích, đứa con cả đương nhiên được 2/3, đứa con thứ 1/3 gia tài (Đnl
21,17). Không phải là một việc lạ khi một người cha phân chia gia tài
ngay khi còn sống nếu ông muốn được nghỉ ngơi khỏi hoạt động kinh doanh.
Nhưng có một sự vô tâm trơ tráo nơi đứa con thứ khi nó đề xuất việc chia
gia tài này. Thực ra nó đã nói “Cha hãy cho con ngay bây giờ phần gia
tài mà trước sau gì con cũng được lãnh khi cha chết, và hãy để con ra
khỏi nơi này”. Người cha không tranh luận gì, ông hiểu rằng nếu con ông
cần được một bài học thì nó phải có một bài học đắt giá, và ông đã cho
như ý nó xin. Tức khắc đứa con lấy phần riêng của nó và bỏ nhà ra đi.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-top:12.0pt;margin-right:0cm;margin-bottom:
0cm;margin-left:0cm;margin-bottom:.0001pt;text-indent:36.0pt">
<span lang="EN-US" style="font-size: 14.0pt">Hắn nhanh chóng tiêu xài
hết tiền và kết thúc bằng việc chăn heo, một công việc cấm kỵ đối với
người Do Thái, vì luật nói: “đáng rủa xả kẻ nào chăn heo”. Và Chúa Giêsu
cho nhân loại tội lỗi một lời khuyên chưa từng có “Khi nó trở về với
chính mình (nó tỉnh ngộ)”. Chúa Giêsu tin là bao lâu con người còn xa
cách và chống nghịch với Thiên Chúa thì con người không thực sự là con
người, con người chỉ thực sự là chính mình khi con người đang trên đường
trở về nhà. Có một điều kỳ diệu nơi Chúa Giêsu là Ngài không tin rằng
con người hư hỏng hoàn toàn. Ngài không bao giờ tin rằng ai đó có thể
tôn vinh Thiên Chúa bằng cách phỉ báng con người, Ngài tin rằng con
người không bao giờ được thực sự là mình cho đến khi nào con người trở
về nhà với Chúa. Cho nên đứa con đã nhất định trở về nhà và xin cha nhận
lại mình không phải để làm con, nhưng làm một tên nô lệ mạt hạng trong
nhà, một tên đầy tớ ở thuê, một tên lao động công nhật trong nhà cha.
Theo một nghĩa thì người nô lệ là một phần tử của gia đình, nhưng đầy tớ
ở thuê thì có thể bị đuổi sau khi chủ báo trước một ngày vì nó không
thuộc về gia đình chút nào. Vậy khi đứa con đã về nhà –theo bản Hy văn
tốt nhất- cha chàng không để chàng kịp mở miệng xin làm đầy tớ. Ông đã
lên tiếng trước. Chiếc áo dài tiêu biểu sự tôn trọng, chiếc nhẫn tượng
trưng cho quyền bính, vì nếu ai cho kẻ khác chiếc nhẫn ấn tín của mình
thì cũng như uỷ quyền cho người đó thay thế mình; đôi giày là dấu hiệu
làm con khác với nô lệ vì con cái trong gia đình mới mang giày, còn nô
lệ thì không được. (Ước mong của người nô lệ trong bài ca của người da
đen là mau đến thời kỳ mà “mọi con cái Chúa được mang giày” vì đi giày
là dấu hiệu sự tự do). Và một bữa tiệc được bày ra để mọi người ăn mừng
đứa con hoang đàng trở về. Chúng ta dừng lại ở đây, thử nhìn xem chân lý
trong dụ ngôn này.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-top:12.0pt;margin-right:0cm;margin-bottom:
0cm;margin-left:0cm;margin-bottom:.0001pt;text-indent:36.0pt">
<span lang="EN-US" style="font-size: 14.0pt">1. Không nên gọi dụ ngôn
này là dụ ngôn về người con hoang đàng vì đứa con không phải là nhân vật
chính, phải gọi là dụ ngôn về Người Cha Nhân Lành, bởi vì nó cho ta biết
về tình yêu của người cha hơn là về tội của người con.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-top:12.0pt;margin-right:0cm;margin-bottom:
0cm;margin-left:0cm;margin-bottom:.0001pt;text-indent:36.0pt">
<span lang="EN-US" style="font-size: 14.0pt">2. Dụ ngôn này nói nhiều về
sự tha thứ của Thiên Chúa. Người cha hẳn đã chờ đứa con trở về nhà, vì
ông trông thấy từ đằng xa. Đứa con gặp cha thì cha liền tha thứ cho con
và không một lời trách móc. Có nhiều cách tha thứ, có tha thứ được ban
cho như một ân huệ, và tệ hơn nữa là khi một kẻ nào đó được tha thứ
nhưng bao giờ cũng kèm theo một dấu hiệu, một lời nói, một ngăm đe rằng
tội vẫn còn để đó. Một lần kia, Lincoln được hỏi ông sẽ đối xử thế nào
với quân phiến loạn Miền Nam, khi họ thua trận và trở lại liên hiệp với
Hoa Kỳ. Người hỏi câu ấy nghĩ rằng ông sẽ báo thù họ ghê gớm, nhưng
Lincoln trả lời “Tôi sẽ đối xử với họ như họ chưa bao giờ ly khai với
chúng ta”. Thật lạ lùng tình yêu của Chúa khi Ngài tha thứ chúng ta y
như vậy.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-top:12.0pt;margin-right:0cm;margin-bottom:
0cm;margin-left:0cm;margin-bottom:.0001pt;text-indent:36.0pt">
<span lang="EN-US" style="font-size: 14.0pt">Nhưng câu chuyện đến đây
chưa chấm dứt. Người anh cả đi về, anh thực sự buồn rầu vì em anh đã trở
về. Người anh cả đại diện cho Pharisêu tự kiêu, tự mãn, họ thà xem thấy
tội nhân bị tiêu diệt hơn là được cứu. Có mấy điều nổi bật nơi người anh
cả.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-top:12.0pt;margin-right:0cm;margin-bottom:
0cm;margin-left:0cm;margin-bottom:.0001pt;text-indent:36.0pt">
<span lang="EN-US" style="font-size: 14.0pt">1. Tất cả thái độ của anh
chứng tỏ rằng bao nhiêu năm anh vâng lời cha chẳng qua chỉ là một bổn
phận buồn rầu, chứ không phải là công việc của tình yêu.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-top:12.0pt;margin-right:0cm;margin-bottom:
0cm;margin-left:0cm;margin-bottom:.0001pt;text-indent:36.0pt">
<span lang="EN-US" style="font-size: 14.0pt">2. Thái độ của anh là thái
độ thiếu hẳn sự cảm thông. Anh nói về người em nhưng không dùng tiếng
“em tôi” nhưng dùng chữ “con của cha”. Chàng là thứ người tự tôn, sẵn
sàng đạp kẻ nào đã ngã xuống rãnh bùn hôi hám càng ngã sâu hơn nữa.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-top:12.0pt;margin-right:0cm;margin-bottom:
0cm;margin-left:0cm;margin-bottom:.0001pt;text-indent:36.0pt">
<span lang="EN-US" style="font-size: 14.0pt">3. Tâm địa chàng rất dơ
bẩn. Câu chuyện không nói tới gái điếm. Chính miệng chàng nói ra. Hẳn
chàng đã nghi ngờ, tố cáo em chàng về thứ tội chính chàng muốn.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-top:12.0pt;margin-right:0cm;margin-bottom:
0cm;margin-left:0cm;margin-bottom:.0001pt;text-indent:36.0pt">
<span lang="EN-US" style="font-size: 14.0pt">Một lần nữa chúng ta lại
gặp một chân lý diệu kỳ là hoán cải, xưng tội với Chúa dễ hơn xưng tội
với loài người. Thiên Chúa xét xử nhân từ hơn những người ngoại đạo.
Tình yêu Chúa rộng lớn hơn tình yêu của loài người. Đứng trước một tình
yêu như vậy, chúng ta không thể không chìm sâu trong kinh ngạc, ngợi
khen và yêu mến Ngài hơn.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-top:12.0pt;margin-right:0cm;margin-bottom:
0cm;margin-left:0cm;margin-bottom:.0001pt;text-indent:36.0pt"><b>
<span lang="EN-US" style="font-size: 14.0pt">BA VẬT LẠC MẤT</span></b></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-top:12.0pt;margin-right:0cm;margin-bottom:
0cm;margin-left:0cm;margin-bottom:.0001pt;text-indent:36.0pt">
<span lang="EN-US" style="font-size: 14.0pt">Sau cùng chúng ta nên lưu ý
rằng ba dụ ngôn này không chỉ là ba cách diễn tả cùng một việc. Có một
sự khác biệt. Con chiên bị lạc mất hoàn toàn chỉ vì ngu dại. Nó không
biết suy nghĩ. Có nhiều người sẽ tránh được tội lỗi nếu họ suy nghĩ kíp
thời. Đồng bạc bị mất không phải vì lỗi của chính nó. Có người đi lạc
đường vì bị kẻ khác lừa dối và Thiên Chúa không kể là vô tội kẻ nào xui
kẻ khác phạm tội.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="margin-top:12.0pt;margin-right:0cm;margin-bottom:
0cm;margin-left:0cm;margin-bottom:.0001pt;text-indent:36.0pt">
<span lang="EN-US" style="font-size: 14.0pt">Nhưng Thiên Chúa có thể
dùng tình yêu của Ngài, chiến thắng sự dại dột của con người, chiến
thắng những tiếng cám dỗ, và chiến thắng cả sự tự ý phản loạn của con
tim chúng ta nữa.</span></p>
</td></tr><tr><td width="474" height="53"><p style="text-align: center"> <a target="_top" href="http://tinmung.net"><img border="0" src="../../../../../logo/LOGOtinmung.gif" width="67" height="40"></a> <a style="text-decoration: none; font-family: Arial; font-size: 10pt" target="_top" href="http://tinmung.net/SUYNIEM_HANGTUAN/suyniemINDEX.htmy"><img border="0" src="../../../../_Nam_A/2011/MuaThuongNien/VuaVuTru/LOGOtinmung2.gif" width="68" height="42"></a> </td></tr></table><p style="text-align: center"> </p>