File "08.htm"
Full path: E:/sites/Single15/tinmung2007/webroot/SUYNIEM_HANGTUAN2/2019/Thuong-nien/CN IV TN C/08.htm
File size: 32.57 KiB (33350 bytes)
MIME-type:
Charset: utf-8
<html><head><meta http-equiv="Content-Language" content="en-us"><meta http-equiv="Content-Type" content="text/html; charset=utf-8"><title>
Chúa Nhật IV thường niên - Năm C</title><base target="main">
<meta name="keywords" content="Chúa Nhật IV thường niên - Năm C; suy niệm, tinmung.net, DongCong;"><style>
<!--
.CONTENTS{FONT-SIZE: 11pt;COLOR:Navy;}
span.MsoHyperlink
{color:blue;
text-decoration:underline;
text-underline:single;
text-decoration:none underline;
text-line-through:none;
vertical-align:baseline}
-->
</style>
<!--mstheme--><link rel="stylesheet" type="text/css" href="../../../../_themes/suyniem3/suyn1011-109.css"><meta name="Microsoft Theme" content="suyniem3 1011">
</head><body><table border="0" width="500" cellspacing="12" style="border-color: #FFFFFF; font-family:Arial; font-size:12pt; text-decoration:none" bgcolor="#FFFFFF"><tr><td width="460"><font size="2" color="#FF0000">Chúa Nhật
IV thường niên - Năm C</font></td></tr><tr><td width="474" style="font-family: Arial; font-size: 12pt; text-decoration: none; font-weight: bold; text-align: center"><b>
<span style="font-family: 'Times New Roman',serif">RAO
GIẢNG TẠI NAZARET THẤT BẠI</span></b></td></tr><tr><td width="474" style="font-family: Arial; font-size: 8pt; text-decoration: none; font-style:italic; text-align:right">
<a name="_Toc252195197">
<span style="font-size: 8pt; font-family: 'Times New Roman',serif; font-style:italic; font-weight:400">Chú
giải của Giáo Hoàng Học Viện Đà Lạt</span></a></td></tr><tr><td width="474" style="font-family: Times New Roman; font-size: 14pt; text-decoration: none; text-align:justify">
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-top: 12.0pt">
<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif">1.
Nhiều nhà chú giải Kinh Thánh nhận thấy có nhiều sự rời rạc trong đoản văn
này, hay ít ra có những nhược điểm văn chương “lạ lùng nơi một tác giả cẩn
thận như Luca” (A. George), điều đó giả thiết Luca đã dùng nhiều nguồn liệu
mà ông đã không khéo tổng hợp. Nhưng hình như cảm tưởng này là do việc người
ta muốn tìm nơi Luca một lược đồ của Macco, trong lúc Luca lại thay đổi toàn
diện cơ cấu trình thuật của Macco, không những chỉ làm cho trình thuật ấy
thành một toát yếu biểu tượng về cuộc đời Chúa Giêsu và một bản tóm lược
những đề tài của mình, nhưng còn qui hướng trình thuật ấy vào một cao điểm:
Chúa Giêsu từ chối dành riêng ơn cứu độ cho quê hương Ngài, đó là lý do
người Do thái từ chối và giết Ngài.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-top: 12.0pt">
<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif">Những
“rời rạc” mà các nhà chú giải đưa ra có thể được tóm tắt như sau:</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-top: 12.0pt">
<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif">1/ Sự
bất tương xứng giữa phản ứng đầu tiên của cử tọa - tất cả đều rất thán phục
(c.22) - và những lời giận dữ của Chúa Giêsu ở các câu 23-27.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-top: 12.0pt">
<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif">2/
Thiếu đồng nhất trong diễn từ của Chúa Giêsu (cc.23-27): ở c.23, Chúa Giêsu
biết trước người ta sẽ xin Ngài làm phép lạ (điều này giả thiết họ đã tin),
trái lại qua câu 24, hình như Ngài phàn nàn là bị bạc đãi. Ngoài ra, ở c.23
có đối chọi giữa Caphanaum và Nazaret, ở cc. 25-27 giữa Israel và lương dân.
Cuối cùng, câu 24 cho thấy chính người Do thái loại trừ các tiên tri, còn
các câu 25-27 lại nói chính các tiên tri từ chối làm phép lạ tại Israel.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-top: 12.0pt">
<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif">Có
nhiều cách giải thích các lủng củng trên: như nói đến sự khác biệt về các
nguồn liệu, hoặc bằng cách ép nghĩa chữ emarturoun, (họ làm chứng “ils
témoignaigent") và ethaumazon (họ thán phục ils s’étonnaiment, câu 22), hoặc
bằng cách giải thích sở dĩ thính giả tức giận là vì Chúa Giêsu, khi trích
Isaia, đã bỏ sót câu loan báo Đấng Messia sẽ trả thù, hoặc xem các lời của
Chúa Giêsu đủ nói lên phản ứng của thính giả, hoặc đặt câu 5a của Macco ngay
từ đầu đoản văn và giả thiết Luca đã đọc Macco theo mạch văn đó: “giọng điệu
bất ngờ của Chúa Giêsu thì có thể hiểu được, nếu cho đến bây giờ Ngài đã
không có thể làm một phép lạ nào ở Nazareth. Nếu đồng ý như thế, tất cả thật
dễ hiểu, rõ ràng (C. Masson).</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-top: 12.0pt">
<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif">Sở dĩ
có nhận xét về các “rời rạc” đó, là vì dựa vào lược đồ của Macco:</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-top: 12.0pt">
<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif">a) Sự
rạn nứt giữa Chúa Giêsu và người đồng hương xảy ra ở các câu 22-23.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-top: 12.0pt">
<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif">b) Ở
câu 24 Chúa Giêsu nói là đã bị bạc đãi ở quê hương, đó có phải là điều Luca
muốn nói? Dù sao, phương pháp tốt nhất là phải tiên thiên nghiên cứu trình
thuật Luca như là một đơn vị văn chương có mạch lạc, và tìm điểm cốt yếu của
nó bằng phương cách dựa vào lược đồ của Luca, chứ đừng dựa vào lược đồ của
Macco. Như thế sẽ rõ là sự rạn nứt giữa Chúa Giêsu và người đồng hương chỉ
xảy ra sau câu 27.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-top: 12.0pt">
<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif">2.
Thực ra, các thính giả Chúa Giêsu đã phản ứng tích cực. Marturoin (làm chứng
- témoigner, câu 22) được dùng một mình hay với một datif, trong ngôn ngữ
Luca, luôn có nghĩa tích cực: xem Cvsđ 6,3; 10,22; 13,23; 15,8; 16,2; 22,12;
đặc biệt trong Cvsđ 14,3). Nghĩa tích cực này đồng nghĩa với “họ ca tụng
Ngài” của câu 15.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-top: 12.0pt">
<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif">Còn
chữ “thaumazoin” (thán phục “s'étonner” c.22) nếu có thể diễn tả một sự ngạc
nhiên vì gương xấu (x. Mc 6,6; Lc 11,38) thì ở Lc nó thường chỉ một ngạc
nhiên đầy thán phục (1,63; 2,18; 7,9; 8,25; 9, 43; 11,14; 20,26; Cvsđ 3,12;
4,13). Vậy người ta có thể xem phản ứng đầu tiên của đám thính giả ấy là một
ngạc nhiên đầy thán phục. Hình như Luca không muốn nhấn mạnh đến sự thán
phục này: ông không lấy lại lối diễn tả dài dòng của Mc, cũng không còn dùng
tiếng: “họ đã vấp phạm vì Người” (Mc 6,3). Phải đợi đến câu 28 mới gặp được
thành ngữ của Luca tương đối với “họ đầy căm tức”. Vậy đối với Luca, đâu là
lý do xác đáng để người Nazaret căm tức? Và trong sự rạn nứt này, câu 24 có
vai trò gì?</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-top: 12.0pt">
<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif">3.
Conzelmann khám phá 2 cao điểm trong các câu 23-27. Quả thực câu 23 được xây
dựng trên sự đối thoại giữa Nazaret - Carpharnaum, các câu - trên sự đối
chọi khác nhau giữa người Naaret - dân ngoại. Cao điểm thứ hai này làm nên
lời tuyên bố rõ rệt về ơn cứu độ phổ quát, là bước đầu của nền thần học về
dân tuyển chọn tiềm ẩn trong tác phẩm của Luca, và chỗ đứng của nó ngay từ
lần rao giảng đầu tiên của Chúa Giêsu đem lại cho tác phẩm Luca một tầm quan
trọng đáng kể. Và đối với Luca, chính lời tuyên bố đó là lý do khiến người
Nazaret giận dữ. Thực ra phải lưu ý rằng chính “khi nghe những lời ấy”,
nghĩa là khi nghe các câu 23-27 thì họ ly khai với Chúa Giêsu.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-top: 12.0pt">
<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif">Điều
này có thể giúp chúng ta khám phá ý nghĩa cao điểm thứ nhất và tương quan
thực sự của câu 24 với toàn văn mạch. Nơi câu 23 Chúa Giêsu linh cảm các
người Nazaret với chiêu bài là người đồng hương của Ngài, sẽ xin Ngài gia ân
giáng phúc của thời đại thiên sai mà Ngài mới tuyên bố (có lẽ linh cảm này
được diễn tả ở câu trước đó. Thực ra, nếu chấp nhận phản ứng đầu tiên của
thính giả là tích cực, thì có thể giải thích câu “người này không phải là
con ông Giuse?” như là một cảm thức của người Nazaret về những đặc ân dành
cho họ qua sự kiện Chúa Giêsu là một người trong họ). Chúa Giêsu đề phòng họ
khỏi những cơn cám dỗ đó (chữ “eipen de": “nhưng Ngài nói”, mà cuốn BJ dịch
thoáng là: “rồi Ngài nói thêm”, cho thấy sự tương phản với lời yêu cầu vừa
được đưa ra: “quả thật, ta bảo các người, không một tiên tri nào dektos en
tại quê hương mình).</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-top: 12.0pt">
<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif">Do ảnh
hưởng của đoạn Mc song song atimos (bị khi khinh chê, không vinh dự) và so
với dechomai (tiếp nhận), người ta dịch dektos bởi “được tiếp nhận” (acceptus)
(bản Vulgata), “được ưu ái” (en faveur) (Gheorge), “được trọng đãi” (bien
reen) (Osty - BJ), “được hoan nghênh”</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-top: 12.0pt">
<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif">Theo
một bài của Grundmann trong “Theologisches Wortorbuch” chữ này (dùng 32 lần
trong bản LXX) thường được dùng để dịch chữ Hy bá râson (tình yêu, ân huệ, ý
muốn). Phải phân biệt cách dùng chữ này trong văn chương tế tự, được áp dụng
vào các hy lễ, chữ này có nghĩa thứ nhất ("được tiếp đón” hay “có thể được
tiếp đón": accepte - acceptable) với cách dùng trong Isaia-đệ-nhị nó mang ý
nghĩa thiên sai và hoàn toàn tích cực: “thi ân, thuận lợi” hay cứu độ
(favorable, salvifique): xem Is 49,8: “trong thời thuận tiện (dektos), ta sẽ
nhận lời ngươi” và Isaia 61,2 (được trích dẫn lại trong Lc 4,19): “Hãy loan
báo năm nhân hậu của Giavê” (bản dịch của J.Coenig, Pleiade 1959). Qua hai
ví dụ trong Isaia, thời gian (hoặc năm) dektos có nghĩa là thời gian thuận
tiện (favorable) cho dân Israel, đó là thời gian cứu độ, thời gian thực hiện
ý định của TC. Violet, theo một phương pháp khác Grungmann cũng đi đến một
kết luận tương tự (trong ZNV 37,1938, 251-271): theo ông, detos đồng nghĩa
với charis (ý muốn nhân hậu, lòng nhân hậu, dự định thuận tiện). Ngoài các
ví dụ nói trên, có thể thêm Xac 28,38 (dektos trong dùng như một danh từ và
có nghĩa: ân huệ, lòng nhân hậu).</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-top: 12.0pt">
<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif">Những
phần phân tích đó cho thấy chữ dektos đã biến đổi về ngữ học: từ ngữ thụ
động “có thể trong tiếp đón, được tiếp đón, được đặc ân” dần dần chuyển sang
nghĩa tích cực: “có thiện cảm, thuận tiện”. Trong TƯ, ngoài hai đoản văn Lc
4,19 trích Is, và Lc 4,24 mà chúng ta đang nghiên cứu, chữ dektos được dùng
3 lần: hai lần theo nghĩa thụ động (cả hai đều trong sạch văn tế tự: Cvsđ
10,35 và Ph 4,18), và một lần trong nghĩa tích cực: “Vì người phán: vào thời
thuận tiện (dektos, favorable), Ta đã nhận lời ngươi; vào ngày cứu độ, Ta sẽ
cứu ngươi. Đây là thời thuận tiện, bây giờ là ngày cứu độ” (2Co 6,2)</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-top: 12.0pt">
<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif">Như
thế có thể kết luận, đối với người đọc bản 70, chữ: dektos có thể có nhiều
tiểu dị và nhất là khi trích dẫn Isaia, có một nghĩa khác xa nghĩa nguyên
ngữ (dechomais, recevoir, nhận). Vì thế thật có lý khi dịch eniauton dekton
trong Lc 4,19 thành “năm hồng ân” (année de grâce, bản dịch của Osty,
Goerge, hay"năm tiếp nhận"(année d'accueil, bản dịch của TOB).</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-top: 12.0pt">
<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif">4. Như
thế, đâu là hậu quả việc Lc muốn móc nối với sách Isaia-đệ-nhị? Nếu Lc đã cố
tâm đổi công thức cổ truyền của câu nói logion, (được Mc và Mt viết là “bị
khinh chê” và Gio 4,44: “không được hưởng một đặc ân nào") để dùng lại một
chữ (không được biết nơi các tác giả nhất lãm) của văn mạch trước đó, chính
là vì ông muốn cho cách dùng thứ hai của chữ này cũng một nghĩa như cách thứ
nhất và như vậy phải hiểu câu 24 như sau: “không một tiên tri nào có thiện
cảm (favorable) với chính quê hương mình.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-top: 12.0pt">
<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif">Từ đây
tương quan của câu 24 với văn mạch được sáng tỏ: nó đi nghịch với câu 23 (Chúa
Giêsu từ chối lời xin phép lạ) và được nối kết với các câu 25-27 bởi hai ví
dụ trong CƯ (lưu ý là nơi Lc 11,29-32 cũng có một lược đồ như vậy). Ngoài ra
có một sự tương đồng về thể văn đối ứng với một tương đồng về ý nghĩa: “quả
thực, Ta bảo các ngươi” (c.24). Và “Ta bảo thật các ngươi” (c.25); điều quan
hệ cũng chính một ý nghĩa nhưng được viết dưới một hình thức khác. Chúa
Giêsu làm ngơ khi đứng trước môi trường xã hội của mình. Cũng thế, ta mới
hiểu tại sao Lc xóa bỏ Mc 6,4b ("nơi bà con và nơi nhà mình") vì nhằm nới
rộng nghĩa của chữ “quê hương” được dùng trong nghĩa hẹp nơi câu 23 (Nazaret)
và nghĩa rộng nơi các câu 25-27 (Israel).</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-top: 12.0pt">
<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif">Dưới
viễn tượng đó trình thuật Lc không còn đứt đoạn: chắc hẳn câu 21 không phải
là tổng hợp bài diễn từ của Chúa, nhưng lại là giáo đầu của bài giảng về bản
văn Isaia. Trong đó Ngài công bố thời thiên sai bắt đầu. Bấy giờ Lc ngắt bài
diễn từ một chút để cho thấy phản ứng đầu tiên của thính giả (ngưỡng mộ Chúa
Giêsu), rồi tác giả tiếp tục bài diễn từ nơi các câu 23-27 ("và Ngài nói
cùng họ” của câu 23 đáp lại “bấy giờ Ngài bắt đầu nói cùng họ” của câu 21)
và bấy giờ Chúa Giêsu minh giải câu 21 bằng cách vạch trần là Ngài không
muốn giới hạn sứ mệnh của mình trong thành hay trong quốc gia mình: cũng như
Elia và Elisê đã không chỉ có thiện cảm (favorable) với dân Israel, thì Ngài
cũng không chỉ có thiện cảm với quê hương mình. Nơi Luca, chính điểm này gây
phản kháng nơi người Nazareth.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-top: 12.0pt">
<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif">Một dư
âm của bài giảng này hình như còn sót lại ở Lc 4,42 - 43 trong đó dân chúng
Caphanaum muốn giữ Chúa Giêsu ở lại với họ. Để trả lời Ngài cũng lấy lại gần
nguyên văn lời tiên tri Isaia mà Ngài đã giải thích trong hội đường xứ
Nazareth: “Ta còn phải loan báo Tin mừng Nước TC cho nhiều thành khác nữa,
chính vì thế mà Ta đã được sai đến”. Ở đây thái độ của Chúa Giêsu cũng như
trước Ngài không muốn ai độc quyền chiếm hữu Ngài.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-top: 12.0pt">
<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif">Vậy
trong trước tác của Luca không có một rời rạc nào, và ta hãy mau phục hồi uy
tín cho Luca: trình thuật của tác giả thật rất mạch lạc và kỹ lưỡng (với
điều kiện là gán cho tiếng dektos nghĩa tích cực (sens actif) của nó, thì sẽ
có được sự mạch lạc của đoạn văn). Điều đó không lạ gì vì đây là đoạn văn có
tính cách khai mào đoản văn, thì dĩ nhiên một văn sĩ cẩn thận như Luca phải
lưu ý trau chuốt cách đặc biệt.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-top: 12.0pt"><b>
<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif">CHÚ
GIẢI CHI TIẾT</span></b></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-top: 12.0pt">
<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif">“Các
lời đầy ân sủng": một số nhà chú giải dịch câu “epitois logois tês charitée”
như vậy, hoặc theo tương tự như “các lời ân sủng”, “các lời được linh
ứng”... bằng cách giả thiết câu đó tiềm tàng các đặc tính văn chương Semit.
Nhưng việc dùng mạo từ “la” (au sujet des paroles de la grâce) cũng như các
đoạn song song trong Cvsđ và văn mạch thì thiên về lối dịch “các lời của ân
sủng” (A.Goerge) hay “sứ điệp của ân sủng” (TOB), nghĩa là sứ điệp do ân
sủng đem đến, hay sứ điệp loan báo ân sủng (Cvsđ 14,3; 20,32).</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-top: 12.0pt">
<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif">“Người
này phải là con ông Giuse sao?": vì câu này nằm trong bối cảnh thán phục và
ca tụng, nên đừng xem đây là khởi điểm việc người Nazaret bất bình, phẫn nộ:
trong bản văn không có điểm nào cho phép giải thích như thế. Đúng hơn phải
xem câu đó diễn tả 1 sự tính toán đầy tư lợi: nếu người này là con Giuse,
bây giờ trở thành tiên tri và thần thông, tại sao lại không lợi dụng địa vị
ấy để mưu ích cho làng họ? Cách giải thích vấn nạn đó của người Nazaret được
xác nhận qua lời Chúa Giêsu chú giải ngay sau đó. Câu ngạn ngữ “thầy lang
ơi, hãy cho thân nhân của ông được hưởng các phép lạ của ông trước khi cho
người lạ hưởng. Ở đấy nghĩa câu ngạn ngữ là đúng như thế. Vì thế Chúa Giêsu
khi giải thích tư tưởng của cử tọa, đã áp dụng ngạn ngữ đó cho Ngài: “Với tư
cách là người đồng hương với Ta mà các ngươi giục ta làm ở đây các phép lạ
Ta đã làm ở Capharnaum. Nhưng (ở đầu câu 24, tương tự với tiếng Hy lạp de)
vị tiên tri không luôn thi ân cho quê hương mình... hãy xem Elia và Elisê:
các Ngài đã tận tình giúp đỡ người ngoại bang trong khi tại Irael không phải
là không có nhu cầu”.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-top: 12.0pt">
<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif">Được
đọc trong nghĩa đó, bản văn sẽ rất mạch lạc: Chúa Giêsu từ chối ràng buộc ơn
cứu độ của Ngài trong mối liên hệ máu mủ hay thân quen. Ngài là tiên tri,
Ngài hành động theo sứ mệnh thần linh. Dân Nazareth không thể áp lực bắt
Ngài hành động theo ý họ. Phải từ bỏ mọi yêu sách, đòi hỏi, khi đứng trước
TC: Ngài ban ơn cho ta hoàn toàn theo tự do của Ngài, và chỉ có một tâm hồn
khiêm nhượng, tín thác mới có thể trông chờ (chứ không đòi hỏi) phép lạ.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-top: 12.0pt">
<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif">“Không
một tiên tri nào được đón tiếp tại quê hương mình": chúng ta hãy nhớ rằng,
sau khi phân tích tiếng dektos trên đây thì phải dịch: “Không một tiên tri
nào có thiện cảm với quê hương mình”. Công thức này cho thấy tính phổ quát.
Luật chung không có luật trừ. Tuy nhiên theo Mt 13,58 và Mc 6,5 ghi lại thì
Chúa Giêsu cũng làm một vài phép lạ ở Nazareth. Vậy ý nghĩa của câu nói Chúa
Giêsu phải hiểu như sau: tiên tri không có cảm tình với người đồng hương hơn
những người xa lạ, tất cả chỉ là vấn đề đức tin và ý hướng tốt là đủ; kể cả
cộng đoàn Kitô giáo nguyên thủy cũng không có tư cách nào để được hậu đãi.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-top: 12.0pt">
<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif">“Đã có
nhiều bà góa trong Israel thời Elia": sự đề cập đến: “quê hương” nơi câu
trước cho phép Chúa Giêsu mở rộng cuộc tranh luận. Không những chỉ có
Nazareth và Caphanaum, nhưng là dân Israel và dân ngoại. Cũng như Nazareth
không có quyền đòi hỏi gì dù với tư cách là nơi chôn nhau cắt rún của Đấng
Messia, của Đấng đem đến ơn cứu độ, cũng thế Israel không được lấy cớ là nơi
phát sinh Đấng cứu thế để đòi hỏi quyền lợi về ơn cứu chuộc. Ơn cứu độ là
một ân sủng. Và chính vì tính cách phổ quát rỗi này mà Chúa Giêsu khiến
người Nazareth hết sức bất bình. Nếu họ muốn ném đá Ngài, rõ ràng là chính
vì Ngài (xuất hiện như) là một kẻ phạm thượng khi từ chối ban cho Israel độc
quyền chiếm hữu ơn cứu độ, vì ném đá là một hình phạt dành cho những kẻ phạm
thượng (x. Lv 24).</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-top: 12.0pt">
<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif">“Nhưng
Ngài rẽ qua giữa họ mà đi”. Thật khó mà tìm thấy một chỗ nào gần Nazareth có
dốc núi để có thể xô người tử tội xuống để rồi ném đá. Nhưng Luca lưu tâm
đến ý nghĩa cảnh tượng hơn là chi tiết. Khi đưa Chúa Giêsu ra ngoài thành để
mưu toan giết Ngài, những người đồng hương đã cho thấy trước án quyết đẫm
máu dân Israel sẽ gây ra cho Chúa Giêsu. Về phần Chúa Giêsu, Ngài thoát khỏi
họ như Ngài sẽ còn làm nhiều lần cho đến khi tới giờ Ngài (x. Gio 7,10;
7,44; 8,59; 10,39). Việc dự phòng cho đến ngày cuối cùng của Chúa Giêsu đối
với Luca quan trọng hơn phương cách Ngài thực hiện: tác giả nói một lời về
việc Ngài có dùng phép lạ hay không để lẩn thoát. Bấy giờ Chúa Giêsu bỏ đi.
Kiểu nói này được dùng nhiều lần và rất có ý nghĩa, như ông sẽ còn ghi lại
nhiều lần, vì Chúa Giêsu tiến lên Giêrusalem (9,51; 13,22.33; 17,11; 19,28),
tiến lên thánh giá và vinh quang.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-top: 12.0pt"><b>
<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif">KẾT
LUẬN</span></b></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-top: 12.0pt">
<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif">Con
người không có tư cách gì để đòi hỏi ân huệ của Thiên Chúa. Không phải những
liên hệ máu mủ, đồng quê đồng xứ có thể đòi hỏi ơn cứu độ của đấng Messia.
Vì chưng hồng ân của Thiên Chúa, ơn cứu độ ban cho nhân loại trong Đấng
Messia, trước hết hoàn toàn là do ân sủng. Đó chính là điều mà người
Nazareth đã không muốn hiểu. Chính thái độ này của dân Israel đã khiến Chúa
Giêsu có dịp ngỏ lời với tất cả mọi người.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-top: 12.0pt"><b>
<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif">Ý
HƯỚNG BÀI GIẢNG</span></b></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-top: 12.0pt">
<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif">1. Vì
Chúa Giêsu là người đồng hương với mình nên người Nazareth tưởng Ngài có bổn
phận ban cho họ những hồng ân Ngài có thể giúp đỡ họ. Như thế có thể nói vì
là người đồng hương với Chúa Giêsu, nên người Nazareth có quyền đòi độc
quyền chiếm hữu một vài ân huệ của Chúa Giêsu. Người ta thấy Chúa Giêsu đã
kịch liệt chống đối lời đòi hỏi đó. Trước mặt Thiên Chúa và Đấng tiên sai,
không ai có quyền đòi hỏi gì.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-top: 12.0pt">
<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif">Chúng
ta phải luôn luôn sáng suốt để khỏi rơi vào những lầm lỗi của những người
Nazareth. Chúng ta được rửa tội trong giáo hội công giáo, được hưởng nền
giáo dục Kitô giáo, đạo dòng lâu đời, tất cả những điều ấy không có quyền gì
trước mặt Chúa. Chúng ta có cảm tưởng rằng Thiên Chúa thuộc về những người
công giáo, đến nỗi chúng ta có thói quen liên kết Thiên Chúa và giáo hội,
Thiên Chúa và những người Kitô hữu. Nhưng chính ra Thiên Chúa không thuộc về
những Kitô hữu, nhưng chính Kitô hữu thuộc về Thiên Chúa. Cũng có rất nhiều
người trong thâm tâm không hề biết Ngài nhưng lại thuộc về Ngài - có lẽ còn
thuộc về Ngài cách sâu xa hơn chính chúng ta. Thiên Chúa không dành ân sủng
của Ngài cho riêng những người công giáo, cũng như Chúa Giêsu không dành
phép lạ ưu tiên cho những người Nazareth. Thiên Chúa hoàn toàn tự do, nếu
không Ngài sẽ không còn là Thiên Chúa. Vì vậy trước mặt Ngài chúng ta không
thể đòi hỏi gì hết; chúng ta chỉ có thể nhìn nhận thân phận bất xứng, nghèo
nàn của mình, và nài xin Ngài đoái thương nhìn đến thân phận tôi tớ thấp hèn
của Ngài.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-top: 12.0pt">
<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif">2.
Điều làm những người Nazareth cay cú nhất không phải là Chúa Giêsu phung phí
những phép lạ của mình trong những thành khác của Israel nhưng trước hết là
vì Chúa Giêsu bằng cách viện cớ vào gương hai vị tiên tri Elia và Elisê là
hai vị tiên tri lớn thời xưa, minh định rằng Ngài cũng có quyền làm những
phép lạ cho dân ngoại: một tiên tri không ưu tiên dành ân huệ cho quê hương
mình. Đối với người Do thái, vì ý thức mình là dân chúa chọn, họ lấy làm tức
giận và không thể tưởng tượng được rằng Đấng Messia, Đấng Thiên Chúa sai đến,
lại lưu tâm đến dân ngoại. Sự minh định của Chúa Giêsu là một tiếng chuông
rót vào tai họ như là một lời phạm thượng đáng phải ném đá. Chúa Giêsu
thường gặp thái độ trong mấy măm sống công khai. Ở đây nhắc lại dụ ngôn
những người thợ (làm vườn nho vào giờ thứ 11: những người thợ giờ thứ nhất
đã bất bình vì lòng quảng đại của ông chủ vườn nho đã thuê những người vào
trước hết cũng bằng những người cuối hết). Đối với họ thì lòng tốt này là
một điều bất công. Nhưng cách tính toán của Thiên Chúa không phải là cách
của chúng ta. Nếu Thiên Chúa đã muốn chọn dân Do thái làm dân riêng Ngài (Đnl
7,6) không phải là vì Ngài không ưa thích dân tộc khác, nhưng chính là vì
Ngài muốn dùng dân này như dụng cụ để mạc khải ơn cứu độ cho các dân tộc
khác. Nếu nhờ phép rửa tội và nền giáo dục Kitô giáo, Thiên Chúa đã chọn
chúng ta làm con cái Ngài, cũng không phải vì Ngài không ưa thích gì dân
ngoại, nhưng chính vì Ngài muốn dùng gương lành của ta để lôi kéo họ đến
cùng Ngài. Và nếu Thiên Chúa không thương ta, Ngài ban cho dân ngoại ân sủng
hơn chúng ta (ân sủng do lòng quảng đại để sống một đời ngay thật, xứng hợp
với lương tâm và trình độ ánh sáng chân lý mà họ có) thì lúc đó chúng ta
cũng đừng căm phẫn về lòng tốt của Ngài, nhưng trước hết phải ca tụng Thiên
Chúa là Đấng thiện hảo “muốn cho mọi người được cứu rỗi và nhìn biết chân lý”
(1Tm 2,4).</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-top: 12.0pt">
<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif">3. Mặc
dù có ý định ném đá Chúa Giêsu, nhưng người Nazareth đã thất bại, Ngài vượt
qua giữa họ mà đi bằng yên: giờ Ngài chưa đến. Điều này cho thấy rõ ràng,
người Do thái giết được Chúa Giêsu vì Ngài đã tự do quyết định như vậy. Cái
chết của Ngài lúc đó là một cái chết tự do ưng thuận.</span></td></tr><tr><td width="474"><p style="text-align: center"> <a target="_top" href="http://tinmung.net"><img border="0" src="../../../../../logo/LOGOtinmung.gif" width="67" height="40"></a> <a style="text-decoration: none; font-family: Arial; font-size: 10pt" target="_top" href="http://tinmung.net/SUYNIEM_HANGTUAN/suyniemINDEX.htmy"><img border="0" src="../../../../_Nam_A/2011/MuaThuongNien/VuaVuTru/LOGOtinmung2.gif" width="68" height="42"></a> </td></tr></table><p style="text-align: center"> </p>