File "43.htm"
Full path: E:/sites/Single15/tinmung2007/webroot/SUYNIEM_HANGTUAN2/2019/Mua-Thuong-Nien/Tuan III/43.htm
File size: 37.83 KiB (38739 bytes)
MIME-type:
Charset: utf-8
<html><head><meta http-equiv="Content-Language" content="en-us"><meta http-equiv="Content-Type" content="text/html; charset=utf-8"><title>
Chúa Nhật III( Mùa Thường Niên - Năm C</title><base target="main">
<meta name="keywords" content="Chúa Nhật III( Mùa Thường Niên - Năm C; Ứng nghiệm Lời Chúa; Lời tiên tri; Năm hồng ân; Sứ mạng; Đường nẻo Chúa; Giải phóng con người;"><style>
<!--
.CONTENTS{FONT-SIZE: 11pt;COLOR:Navy;}
span.MsoHyperlink
{color:blue;
text-decoration:underline;
text-underline:single;
text-decoration:none underline;
text-line-through:none;
vertical-align:baseline}
span.apple-converted-space
{}
-->
</style>
<meta name="description" content="Chúa Nhật III( Mùa Thường Niên - Năm C"><!--mstheme--><link rel="stylesheet" type="text/css" href="../../../../_themes/suyniem3/suyn1011-109.css"><meta name="Microsoft Theme" content="suyniem3 1011">
</head><body>
<table border="0" width="498" cellspacing="15" style="border-color: #FFFFFF; font-family:Times New Roman; font-size:14pt; text-decoration:none" bgcolor="#FFFFFF"><tr>
<td width="466"><font size="2" color="#FF0000" face="Arial">
Chúa Nhật III( Mùa Thường Niên - Năm C</font></td></tr><tr>
<td width="466" style="font-family: Arial; font-size: 12pt; text-decoration: none; font-weight: bold; text-align: center">
ĐỨC GIÊSU TẠI NADARÉT</td></tr><tr>
<td width="466" style="font-family: Arial; font-size: 8pt; text-decoration: none; font-style:italic; text-align:right">
<span style="font-size: 8pt; font-style:italic">Lm. PX Vũ Phan Long</span></td></tr><tr>
<td width="466" style="font-family: Times New Roman; font-size: 14pt; text-decoration: none; text-align:justify">
<p style="text-align: justify; line-height: 16.2pt; orphans: auto; widows: 1; -webkit-text-stroke-width: 0px; word-spacing: 0px; text-indent: 36px; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 0; margin-bottom: 12px; background: white">
<span style="font-size: 14.0pt">1.- Ngữ cảnh</span></p>
<p style="text-align: justify; line-height: 16.2pt; orphans: auto; widows: 1; -webkit-text-stroke-width: 0px; word-spacing: 0px; text-indent: 36px; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 0; margin-bottom: 12px; background: white">
<span style="font-size: 14.0pt">Tác giả Lc đưa Đức Giêsu đi vào lịch sử
dưới dấu chỉ là hoàn cảnh chính trị và tôn giáo của đế quốc Rôma và của
Israel. Qua cái cổng này, ngài lấy lại các chặng của TM Mc.</span></p>
<p style="text-align: justify; line-height: 16.2pt; orphans: auto; widows: 1; -webkit-text-stroke-width: 0px; word-spacing: 0px; text-indent: 36px; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 0; margin-bottom: 12px; background: white">
<span style="font-size: 14.0pt">Lc đặt phần 1 của Tin Mừng dưới dấu chỉ
là việc mạc khải của Đức Giêsu tại Nadarét; các hoạt động đầu tiên của
Người tại Caphácnaum và Galilê đến tiếp vào (Lc 4,14-5,16). Bên trong
đoạn này, tác giả bố trí các hoạt cảnh theo nhiều cách: ngài cố tình nêu
bật Galilê. Hơn các tác giả Nhất Lãm khác, ngài nhấn mạnh việc Đức Giêsu
trở về miền Galilê “trong quyền năng Thánh Thần” (4,14). Ở 4,44, ngài
thay thế Galilê bằng Giuđê, nhưng để nói về toàn lãnh thổ của người Do
Thái ; đứng đầu các thành phố và làng mạc được loan báo Tin Mừng, ngài
đặt Nadarét (4,16); tại Galilê, nơi có vai trò quan trọng là Caphácnaum
(4,31 ; 7,1).</span></p>
<p style="text-align: justify; line-height: 16.2pt; orphans: auto; widows: 1; -webkit-text-stroke-width: 0px; word-spacing: 0px; text-indent: 36px; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 0; margin-bottom: 12px; background: white">
<span style="font-size: 14.0pt">Vậy, chỉ có miền Galilê nằm trong nhãn
quan của Lc ở đoạn này. Chuyển động không nằm trong việc thay đổi nơi
chốn, nhưng trong việc rao giảng về Nước Trời: Bằng việc hoán chuyển vị
trí của câu truyện Nadarét, Lc cho thấy rằng con người và sứ mạng của
Đức Giêsu mới là ưu tiên (Lc 4,13-30 = Mc 6,1-10; Mt 13,53-58).</span></p>
<p style="text-align: justify; line-height: 16.2pt; orphans: auto; widows: 1; -webkit-text-stroke-width: 0px; word-spacing: 0px; text-indent: 36px; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 0; margin-bottom: 12px; background: white">
<span style="font-size: 14.0pt">2.- Bố cục</span></p>
<p style="text-align: justify; line-height: 16.2pt; orphans: auto; widows: 1; -webkit-text-stroke-width: 0px; word-spacing: 0px; text-indent: 36px; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 0; margin-bottom: 12px; background: white">
<span style="font-size: 14.0pt">Sách Bài đọc gộp vào đây hai bản văn xa
nhau ba chương trong TM Lc. Khó mà thấy được ý hướng của sự ghép nối
này; có lẽ các chuyên viên Phụng vụ chỉ muốn nối với nhau hai bản văn
“mở đầu”: mở đầu Tin Mừng theo Lc (1,1-4) và khởi đầu việc rao giảng của
Đức Giêsu tại Nadarét (4,14tt).</span></p>
<p style="text-align: justify; line-height: 16.2pt; orphans: auto; widows: 1; -webkit-text-stroke-width: 0px; word-spacing: 0px; text-indent: 36px; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 0; margin-bottom: 12px; background: white">
<span style="font-size: 14.0pt">Bản văn Phụng vụ có thể chia thành ba
phần:</span></p>
<p style="text-align: justify; line-height: 16.2pt; orphans: auto; widows: 1; -webkit-text-stroke-width: 0px; word-spacing: 0px; text-indent: 36px; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 0; margin-bottom: 12px; background: white">
<span style="font-size: 14.0pt">1) Mở đầu Tin Mừng (1,1-4);</span></p>
<p style="text-align: justify; line-height: 16.2pt; orphans: auto; widows: 1; -webkit-text-stroke-width: 0px; word-spacing: 0px; text-indent: 36px; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 0; margin-bottom: 12px; background: white">
<span style="font-size: 14.0pt">2) Tóm: Bắt đầu sứ vụ (4,14-15);</span></p>
<p style="text-align: justify; line-height: 16.2pt; orphans: auto; widows: 1; -webkit-text-stroke-width: 0px; word-spacing: 0px; text-indent: 36px; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 0; margin-bottom: 12px; background: white">
<span style="font-size: 14.0pt">3) Thăm viếng Nadarét (4,16-21):</span></p>
<p style="text-align: justify; line-height: 16.2pt; orphans: auto; widows: 1; -webkit-text-stroke-width: 0px; word-spacing: 0px; text-indent: 36px; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 0; margin-bottom: 12px; background: white">
<span style="font-size: 14.0pt">a) Thăm viếng hội đường Nadarét (c. 16),</span></p>
<p style="text-align: justify; line-height: 16.2pt; orphans: auto; widows: 1; -webkit-text-stroke-width: 0px; word-spacing: 0px; text-indent: 36px; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 0; margin-bottom: 12px; background: white">
<span style="font-size: 14.0pt">b) Đọc Kinh Thánh (cc. 17-20),</span></p>
<p style="text-align: justify; line-height: 16.2pt; orphans: auto; widows: 1; -webkit-text-stroke-width: 0px; word-spacing: 0px; text-indent: 36px; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 0; margin-bottom: 12px; background: white">
<span style="font-size: 14.0pt">c) Giảng dạy (c. 21).</span></p>
<p style="text-align: justify; line-height: 16.2pt; orphans: auto; widows: 1; -webkit-text-stroke-width: 0px; word-spacing: 0px; text-indent: 36px; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 0; margin-bottom: 12px; background: white">
<span style="font-size: 14.0pt">3.- Vài điểm chú giải</span></p>
<p style="text-align: justify; line-height: 16.2pt; orphans: auto; widows: 1; -webkit-text-stroke-width: 0px; word-spacing: 0px; text-indent: 36px; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 0; margin-bottom: 12px; background: white">
<em><span style="font-size: 14.0pt">- Nadarét</span></em><span class="apple-converted-space"><span style="font-size: 14.0pt"> </span></span><span style="font-size: 14.0pt">(16):
chính xác là Nadara. Đây là lần duy nhất tác giả Lc gọi quê hương Đức
Giêsu bằng cái tên A-ram Nadara (tương tự Mt 4,13), nhưng lại không gọi
là “quê hương/quê quán” của Đức Giêsu (khác với Mc 6,1 và Mt 13,54): có
lẽ bởi vì Đức Giêsu không sinh ra tại đó (2,4-7), nhất là bởi vì đối với
Lc, “quê hương” của Đức Giêsu là toàn thể đất Israel (x. cc. 24-27).</span></p>
<p style="text-align: justify; line-height: 16.2pt; orphans: auto; widows: 1; -webkit-text-stroke-width: 0px; word-spacing: 0px; text-indent: 36px; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 0; margin-bottom: 12px; background: white">
<em><span style="font-size: 14.0pt">- đứng lên đọc Sách Thánh</span></em><span class="apple-converted-space"><span style="font-size: 14.0pt"> </span></span><span style="font-size: 14.0pt">(16):
Tác giả Lc cho thấy Đức Giêsu giảng dạy dựa trên Kinh Thánh. Ta có thể
hiểu ngầm rằng ở đây Đức Giêsu đã được ông trưởng hội đường
(archisynagôgos) mời đọc và trình bày mộtbản văn Kinh Thánh (như Phaolô
và Banaba ở Antiôkhia miền Pisiđia; x. Cv 13,15). Tại Paléttina vào thế
kỷ đầu tiên, việc cử hành ngày sabát tại hội đường dường như gồm có việc
hát một thánh vịnh, đọc kinh Shema (Đnl 6,4-9; 11,13-21; Ds 15,37-41) và
tơphillâh [lời cầu khẩn] (hoặc shơmôneh esrêh = “Mười Tám [lời chúc
lành]” và đọc một seder (quyển nghi thức) hay một pârâshâh trích từ
tôrah (Lề Luật = Ngũ Thư) và mộtđoạn các Ngôn sứ (haptârâh; x. Cv
13,15). Sau đó là bài diễn giải các bản văn Kinh Thánh đã đọc. Cuộc cử
hành chấm dứt bằng lời chúc lành của ông trưởng hội đường và lời chúc
lành tư tế (x. Ds 6,24-26).</span></p>
<p style="text-align: justify; line-height: 16.2pt; orphans: auto; widows: 1; -webkit-text-stroke-width: 0px; word-spacing: 0px; text-indent: 36px; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 0; margin-bottom: 12px; background: white">
<span style="font-size: 14.0pt">Tác giả Lc không nhắc đến bài đọc Tôrah,
nhưng phải hiểu là có. Ngài chỉ quan tâm hơn đến việc ứng nghiệm các lời
sấm Đệ II Isaia và cách sử dụng Cựu Ước theo quan điểm Kitô học.</span></p>
<p style="text-align: justify; line-height: 16.2pt; orphans: auto; widows: 1; -webkit-text-stroke-width: 0px; word-spacing: 0px; text-indent: 36px; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 0; margin-bottom: 12px; background: white">
<em><span style="font-size: 14.0pt">- cuốn sách ngôn sứ Isaia</span></em><span class="apple-converted-space"><span style="font-size: 14.0pt"> </span></span><span style="font-size: 14.0pt">(17):
Người ta yêu cầu Đức Giêsu đọc mộtđoạn Ngôn sứ bằng tiếng Hípri. Tác giả
không nói đến Targum, tức dịch bản Hípri ra tiếng Aram, nhưng có thể giả
thiết là có, vì vào lúc ấy, người Do Thái dùng tiếng Aram chứ không còn
hiểu tiếng Hípri nữa. Sự kiện người ta “trao cho” Đức Giêsu cuốn sách
Isaia cho hiểu rằng người ta quy định phải đọc một đoạn văn Isaia, tức
là có mộtchu kỳ các bài đọc Ngôn sứ cũng như các bài đọc Lề Luật. Nhưng
dường như người đọc có thể chọn (x. câu 17b).</span></p>
<p style="text-align: justify; line-height: 16.2pt; orphans: auto; widows: 1; -webkit-text-stroke-width: 0px; word-spacing: 0px; text-indent: 36px; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 0; margin-bottom: 12px; background: white">
<em><span style="font-size: 14.0pt">- Thần Khí Chúa ngự trên tôi</span></em><span class="apple-converted-space"><span style="font-size: 14.0pt"> </span></span><span style="font-size: 14.0pt">(18):
Bản văn trích Đệ II Isaia trong Lc là mộtđoạn tổng hợp Is 61,1a.b.d;
58,6d; 61,2a. Hai câu bị bỏ là Is 61,1c ở cuối Lc 4,18 (“băng bó những
tấm lòng tan nát”) và Is 61,2b ở cuối Lc 4,19 (“một ngày báo phục của
Thiên Chúa chúng ta”). Bỏ Is 61,1c thì không có hậu quả gì đáng kể,
nhưng bỏ Is 61,2b là cố tình bỏ đi mộtphương diện tiêu cực của sứ điệp
II Is.</span></p>
<p style="text-align: justify; line-height: 16.2pt; orphans: auto; widows: 1; -webkit-text-stroke-width: 0px; word-spacing: 0px; text-indent: 36px; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 0; margin-bottom: 12px; background: white">
<em><span style="font-size: 14.0pt">- vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi</span></em><span class="apple-converted-space"><span style="font-size: 14.0pt"> </span></span><span style="font-size: 14.0pt">(18):
Bản văn cho thấy là chính Thiên Chúa đã cử Thánh Thần xuống trên Đấng
Mêsia như mộtchất dầu xức cho Đấng Mêsia, hầu Người lên đường thi hành
sứ mạng cứu thế.</span></p>
<p style="text-align: justify; line-height: 16.2pt; orphans: auto; widows: 1; -webkit-text-stroke-width: 0px; word-spacing: 0px; text-indent: 36px; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 0; margin-bottom: 12px; background: white">
<em><span style="font-size: 14.0pt">- để tôi loan báo Tin Mừng</span></em><span class="apple-converted-space"><span style="font-size: 14.0pt"> </span></span><span style="font-size: 14.0pt">(18):
Bản văn Is Hy Lạp không rõ là “để loan báo Tin Mừng” là mục tiêu của
“Chúa đã xức dầu” hay là mục tiêu của “Người đã sai tôi”. Giáo sư
Fitzmyer dịch theo bản gốc Hípri, “he has sent me to preach good news to
the poor” (dịch sát là “to announce good news to the poor he sent me”).</span></p>
<p style="text-align: justify; line-height: 16.2pt; orphans: auto; widows: 1; -webkit-text-stroke-width: 0px; word-spacing: 0px; text-indent: 36px; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 0; margin-bottom: 12px; background: white">
<em><span style="font-size: 14.0pt">- người giúp việc hội đường</span></em><span class="apple-converted-space"><span style="font-size: 14.0pt"> </span></span><span style="font-size: 14.0pt">(20):
Ngoài ông trưởng hội đường (archisynagôgos), còn có các nhân viên là
“các kỳ mục” (prebyteroi, Lc 7,3) và “các người giúp việc” (“người cán
sự”, NTT) (hypêretês, Cv 13,5) giống như “ông từ nhà thờ, người phụ
trách phòng thánh”.</span></p>
<p style="text-align: justify; line-height: 16.2pt; orphans: auto; widows: 1; -webkit-text-stroke-width: 0px; word-spacing: 0px; text-indent: 36px; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 0; margin-bottom: 12px; background: white">
<em><span style="font-size: 14.0pt">- ngồi xuống</span></em><span class="apple-converted-space"><span style="font-size: 14.0pt"> </span></span><span style="font-size: 14.0pt">(20):
Khi đọc Kinh Thánh, người ta đứng; còn khi trình bày ý nghĩa bản văn
(logos paraklêseôs, Cv 13,15), người ta ngồi.</span></p>
<p style="text-align: justify; line-height: 16.2pt; orphans: auto; widows: 1; -webkit-text-stroke-width: 0px; word-spacing: 0px; text-indent: 36px; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 0; margin-bottom: 12px; background: white">
<em><span style="font-size: 14.0pt">- chăm chú nhìn Người</span></em><span class="apple-converted-space"><span style="font-size: 14.0pt"> </span></span><span style="font-size: 14.0pt">(20):
Động từ atenizein là động từ Lc ưa chuộng (x. Lc 22,56; Cv 1,10; 3,4.12;
6,15; 7,55; 10,4; 11,6; 13,9; 14,9; 23,1). Thường động từ này diễn tả sự
trân trọng và tin tưởng (là điểm của bản văn này).</span></p>
<p style="text-align: justify; line-height: 16.2pt; orphans: auto; widows: 1; -webkit-text-stroke-width: 0px; word-spacing: 0px; text-indent: 36px; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 0; margin-bottom: 12px; background: white">
<em><span style="font-size: 14.0pt">- Hôm nay</span></em><span class="apple-converted-space"><span style="font-size: 14.0pt"> </span></span><span style="font-size: 14.0pt">(21;
HL. sêmeron, x. 2,11 [Giáng sinh]; 3,22 [phép Rửa]; 4,21; 5,26 [người
bại liệt]; 13,32-33; 19,5.9 [Dakêu]; 23,43 [người trộm lành]): Đây là từ
ngữ quan trọng của Lc, có nghĩa là: Sau một thời gian dài chờ đợi và hy
vọng, lịch sử cứu độ đã tới đỉnh cao hoàn tất. Tất cả những gì các ngôn
sứ nói đã thành sự trong các hành động và các lời nói của Đức Giêsu (x.
4,18.19; 5,26; 19,9).</span></p>
<p style="text-align: justify; line-height: 16.2pt; orphans: auto; widows: 1; -webkit-text-stroke-width: 0px; word-spacing: 0px; text-indent: 36px; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 0; margin-bottom: 12px; background: white">
<em><span style="font-size: 14.0pt">- đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh</span></em><span class="apple-converted-space"><span style="font-size: 14.0pt"> </span></span><span style="font-size: 14.0pt">(21):
Kiểu nói này tương ứng với kiểu nói “thời kỳ đã mãn của Mc 1,15. Hôm
nay, niềm an ủi cho Sion lại được gửi đến cho dân Thiên Chúa (x. Lc
2,25; 7,22).</span></p>
<p style="text-align: justify; line-height: 16.2pt; orphans: auto; widows: 1; -webkit-text-stroke-width: 0px; word-spacing: 0px; text-indent: 36px; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 0; margin-bottom: 12px; background: white">
<span style="font-size: 14.0pt">4.- Ý nghĩa của bản văn</span></p>
<p style="text-align: justify; line-height: 16.2pt; orphans: auto; widows: 1; -webkit-text-stroke-width: 0px; word-spacing: 0px; text-indent: 36px; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 0; margin-bottom: 12px; background: white">
<em><span style="font-size: 14.0pt">* Mở đầu Tin Mừng (1,1-4)</span></em></p>
<p style="text-align: justify; line-height: 16.2pt; orphans: auto; widows: 1; -webkit-text-stroke-width: 0px; word-spacing: 0px; text-indent: 36px; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 0; margin-bottom: 12px; background: white">
<span style="font-size: 14.0pt">Lời mở này phù hợp với quy tắc viết thời
tác giả Lc. Qua đoạn văn ngắn ngủi này, chúng ta biết về phương pháp làm
việc của tác giả. Hôm nay chúng ta thừa kế vốn hiểu biết về Đức Giêsu từ
bao thế hệ. Các thông tin được những con người có lương tâm đánh giá,
cân nhắc rồi viết ra. Như thế, đức tin chúng ta không dựa trên những
chuyện hoang đường hoặc những chuyện ngụ ngôn do tưởng tượng, nhưng chủ
yếu dựa trên các sự kiện lịch sử được đảm bảo bởi các chứng nhân thà đổ
máu ra chứ không chịu phủ nhận các sự kiện ấy.</span></p>
<p style="text-align: justify; line-height: 16.2pt; orphans: auto; widows: 1; -webkit-text-stroke-width: 0px; word-spacing: 0px; text-indent: 36px; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 0; margin-bottom: 12px; background: white">
<em><span style="font-size: 14.0pt">* Tóm: Bắt đầu sứ vụ (4,14-15)</span></em></p>
<p style="text-align: justify; line-height: 16.2pt; orphans: auto; widows: 1; -webkit-text-stroke-width: 0px; word-spacing: 0px; text-indent: 36px; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 0; margin-bottom: 12px; background: white">
<span style="font-size: 14.0pt">Trong khi các TMNL liên kết khởi đầu sứ
vụ công khai của Đức Giêsu với việc Gioan Tẩy Giả bị tù (Mc 1,14; Mt
4,12), Lc lại bắt đầu Tin Mừng của ngài bằng mộttóm tắt; còn chuyện
Gioan bị tù đã được ngài đưa lên phía trước (3,19-20). Đoạn tóm tắt này
cho mộtcái nhìn tổng quát trên sứ vụ của Đức Giêsu tại Galilê (những tóm
tắt: 4,31-32.40-41; 6,17-19; 8,1-3; 19,47-48; 21,37-38). Tuy đoạn tóm
này không nhắc tới nội dung lời rao giảng của Đức Giêsu về Nước Thiên
Chúa hay lời lêu gọi hoán cải, bản văn vẫn chứa ba nét đặc trưng của Lc:
(a) Một leitmotiv là “quyền năng Thần Khí” (c. 14). (b) Hoạt động của
Đức Giêsu được mô tả trước tiên như mộtviệc “giảng dạy” (c. 15); ta hiểu
Đức Giêsu “giảng dạy” dưới quyền năng Thần Khí. (c) Tính phổ quát vẫn
được Lc nhấn mạnh nơi câu “được mọi người tôn vinh”.</span></p>
<p style="text-align: justify; line-height: 16.2pt; orphans: auto; widows: 1; -webkit-text-stroke-width: 0px; word-spacing: 0px; text-indent: 36px; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 0; margin-bottom: 12px; background: white">
<em><span style="font-size: 14.0pt">* Thăm viếng Nadarét (4,16-21)</span></em></p>
<p style="text-align: justify; line-height: 16.2pt; orphans: auto; widows: 1; -webkit-text-stroke-width: 0px; word-spacing: 0px; text-indent: 36px; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 0; margin-bottom: 12px; background: white">
<span style="font-size: 14.0pt">Sau đó, Đức Giêsu “đến Nadara, là nơi
Người sinh trưởng”. Theo thói quen, Người đi vào hội đường ngày sabát.
Qua vài câu đó, Lc nhắc lại những gì ngài đã kể thuộc thời thơ ấu của
Đức Giêsu (x. 2,39-40.51-52). Thành này được ngài gọi mộtlần duy nhất ở
đây là Nadara, nhưng không được gọi là “quê hương” của Đức Giêsu, có thể
vì Đức Giêsu không chào đời tại đây, hoặc đúng hơn, bởi vì ngài coi cả
đất Israel là “quê hương” Đức Giêsu (x. cc. 24-27). Trong cuộc cử hành,
Người đứng lên để đọc Sách Thánh (c. 16). Theo tập tục, Người đứng lên
sau bài đọc Lề Luật (Ngũ Thư) để đọc mộtđoạn sách các Ngôn sứ. Dường như
vào thời Đức Giêsu, người ta không quy định rõ mộtchương trình đọc các
bản văn Ngôn sứ. Do đó, Đức Giêsu đã chọn đọc Is 61. Bản văn được Lc ghi
lại là Is 61,1-2 theo Bản LXX, với một vài sửa đổi.</span></p>
<p style="text-align: justify; line-height: 16.2pt; orphans: auto; widows: 1; -webkit-text-stroke-width: 0px; word-spacing: 0px; text-indent: 36px; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 0; margin-bottom: 12px; background: white">
<span style="font-size: 14.0pt">Đối với các thính giả của Đức Giêsu, bản
văn này là lời của mộtngôn sứ, mà họ có thể nói là Người Tôi tớ Đức Chúa
với bốn Bài ca trứ danh (Is 42,1-7 có những gặp gỡ rất gần với Is 61,1).
Ngài loan báo mộtnăm hồng ân có thể so sánh với năm đại xá theo luật
Môsê (Lv 25,8-17), nhưng ở đây không phải là con người nhưng chính Thiên
Chúa sẽ can thiệp với ân sủng của Ngài. Còn tự do mà Ngài loan báo không
phải là việc tha hoàn toàn các món nợ giữa người Do Thái với nhau, mà là
mộtơn cứu độ tuyệt vời thuộc về thời cánh chung, cũng có thể gọi là Nước
Thiên Chúa, mộtthời đại được nồng nhiệt chờ mong.</span></p>
<p style="text-align: justify; line-height: 16.2pt; orphans: auto; widows: 1; -webkit-text-stroke-width: 0px; word-spacing: 0px; text-indent: 36px; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 0; margin-bottom: 12px; background: white">
<span style="font-size: 14.0pt">Nghe đọc đoạn sách ấy, niềm hy vọng bùng
lên trong các con tim, và tất cả các thính giả của Đức Giêsu chờ đợi bài
giảng minh giải bản văn đầy hứa hẹn ấy.</span></p>
<p style="text-align: justify; line-height: 16.2pt; orphans: auto; widows: 1; -webkit-text-stroke-width: 0px; word-spacing: 0px; text-indent: 36px; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 0; margin-bottom: 12px; background: white">
<span style="font-size: 14.0pt">“Người bắt đầu nói với họ: «Hôm nay đã
ứng nghiệm lời Kinh Thánh quý vị vừa nghe»” (4,21). Qua câu này, Đức
Giêsu cho thấy chiều hướng của bài giảng của Người. Người sẽ hiện tại
hóa nơi bản thân Người nội dung của lời sấm Người vừa đọc. Khi làm như
thế, Người đã xử sự như ngôn sứ.</span></p>
<p style="text-align: justify; line-height: 16.2pt; orphans: auto; widows: 1; -webkit-text-stroke-width: 0px; word-spacing: 0px; text-indent: 36px; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 0; margin-bottom: 12px; background: white">
<span style="font-size: 14.0pt">Từ ngữ đầu tiên rất hệ trọng: sự hiện
diện của Đức Giêsu chính là mộtgiai đoạn độc đáo trong thời gian cứu độ,
được diễn tả bằng “hôm nay”. Đức Giêsu áp dụng sấm ngôn Is cho chính
mình. Khi chịu phép rửa, Người đã nhận lấy Thánh Thần như mộtviệc xức
dầu đã đưa lại cho Người phận vụ thánh thiêng là làm Đấng Mêsia. Nhưng
Người không phải là mộtMêsia như mộtvị vua trần thế; để tránh hiểu lầm,
Đức Giêsu không xác định công khai Người là Đấng Mêsia (x. 4,41) và chỉ
mạc khải như thế cho riêng các môn đệ (9,18-21). Tại Nadarét, vào lúc
bắt đầu sức mạng, Người chỉ nhận mình là như vị ngôn sứ mang Tin Mừng
cứu độ. Bản văn Is có lẽ đã cung cấp cho Người dung mạo Người Tôi Tớ của
Đức Chúa (Yhwh), và chắc chắn các đề tài cốt yếu của Tin Mừng của Người:
ưu tiên cho người nghèo, giải phóng những kẻ bị giam cầm và những người
bị áp bức, cho người mù được thấy. Những từ ngữ này cho thấy Đức Giêsu
chiếu cố đến những người thấp hèn. Nhưng các từ ngữ này còn cho thấy rõ
hơn nữa các đòi hỏi và các ân huệ của Người: kêu gọi làm tâm hồn nghèo
hèn, hứa ban sự giải phóng cho những người tội lỗi đang bị sự dữ khống
chế, ban khả năng nhìn cho những ai sẽ đi đến với với đức tin (trong
cách giải thích cái nhìn theo nghĩa “thiêng liêng” này, Đức Giêsu trung
thành với tư tưởng của Is 29,18-19 và 35,5-6).</span></p>
<p style="text-align: justify; line-height: 16.2pt; orphans: auto; widows: 1; -webkit-text-stroke-width: 0px; word-spacing: 0px; text-indent: 36px; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 0; margin-bottom: 12px; background: white">
<span style="font-size: 14.0pt">Trong Is 61,2, vị ngôn sứ vừa công bố
mộtnăm hồng ân, vừa loan báo ngày báo phục; đây là đề tài truyền thống
của các ngôn sứ liên quan đến Ngày của Đức Chúa, mộtngày vừa là ngày
phán xét vừa là ngày cứu độ. Đức Giêsu không nói đến phán xét. Thật ra
sau này Người có ám chỉ nhiều đến phán xét (x. Lc 6,20-26; 9,26;
10,12-15; 11,30-32; 12,8-9; 12,35-48.49-59; 13,23-30; 16,1-8; 17,1-2;
17,22-37; 18,8; 19,11-27), còn ở đây Người chỉ nhìn đến đến sứ mạng trần
thế của Người, là “thời gian” ơn cứu độ được ban cho Israel; chính thời
gian này được Người gọi là “năm hồng ân của Đức Chúa”, thời gian Thiên
Chúa chiếu cố đến dân. Nói tóm, tư tưởng của Đức Giêsu ở đây trong Tin
Mừng Lc giống với lời Đức Giêsu loan báo trong Mc 1,15 và Mt 4,17, “Nước
Trời đã đến gần”, người ta có thể đi vào Nước Thiên Chúa nhờ sứ mạng của
Đức Giêsu. Tuy nhiên, công thức của Lc chính xác hơn: nó phân biệt thời
gian hoạt động của Đức Giêsu và thời gian hoàn tất cánh chung; nó xác
định chính xác hơn vai trò của Đức Giêsu, các ân huệ và các đòi hỏi của
Người.</span></p>
<p style="text-align: justify; line-height: 16.2pt; orphans: auto; widows: 1; -webkit-text-stroke-width: 0px; word-spacing: 0px; text-indent: 36px; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 0; margin-bottom: 12px; background: white">
<span style="font-size: 14.0pt">Tác giả Lc biết rõ là trước sự cố
Nadarét này, Đức Giêsu đã hoạt động ở Caphácnaum và ngài cũng cho biết
như thế (4,14-15; 4,23; x. Cv 1,8). Nhưng ngài vẫn muốn đặt truyện này
vào ngày khai mạc công việc rao giảng của Đức Giêsu và cho thấy chính
Đức Giêsu xác định sứ mạng của Người ngay đầu Tin Mừng. Câu truyện đã
xảy ra trong mộthội đường: đó là phương pháp của Đức Giêsu (4,15.33.44;
6,6; 13,10); đó cũng là cách thực hành của các nhà truyền giáo trong các
xứ sở ngoại giáo (Cv 9,20; 13,3.14.44; 14,1; 17,1.10.17; 18,4.7.19;
19,8). Tác giả muốn cho thấy rằng sứ điệp cứu độ được bao giờ cũng được
ngỏ với người Do Thái trước khởi đi từ Kinh Thánh và trong hành vi phụng
tự: Tân Ước hoàn tất Cựu Ước.</span></p>
<p style="text-align: justify; line-height: 16.2pt; orphans: auto; widows: 1; -webkit-text-stroke-width: 0px; word-spacing: 0px; text-indent: 36px; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 0; margin-bottom: 12px; background: white">
<em><span style="font-size: 14.0pt">+ Kết luận</span></em></p>
<p style="text-align: justify; line-height: 16.2pt; orphans: auto; widows: 1; -webkit-text-stroke-width: 0px; word-spacing: 0px; text-indent: 36px; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 0; margin-bottom: 12px; background: white">
<span style="font-size: 14.0pt">Qua bản văn Lc, ta thấy Đức Giêsu giới
thiệu chương trình hoạt động của Người: Người là Đấng Mêsia được giới
thiệu ở phép rửa nay xuất hiện trước công chúng như là vị ngôn sứ có
quyền năng Thánh Thần; Người sẽ ưu tiên ngỏ lời với những người nghèo,
những người chịu đau khổ, những người bị áp bức; Người mang đến cho họ
sự giải phóng thiêng liêng, cho họ thấy chương trình của Thiên Chúa. Đối
với Israel, sứ mạng trần thế của Người là thời gian ân sủng, mà họ phải
tận dụng “hôm nay”. Nay không còn phải là những con người được tha các
món nợ và tìm lại được tự do dân sự. Nay chính là Đức Chúa (Yhwh), thân
hành đến nơi bản thân Đấng được xức dầu của Ngài, để tha nợ cho nhân
loại và giải thoát nhân loại khỏi ách nô lệ sự dữ.</span></p>
<p style="text-align: justify; line-height: 16.2pt; orphans: auto; widows: 1; -webkit-text-stroke-width: 0px; word-spacing: 0px; text-indent: 36px; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 0; margin-bottom: 12px; background: white">
<span style="font-size: 14.0pt">5.- Gợi ý suy niệm</span></p>
<p style="text-align: justify; line-height: 16.2pt; orphans: auto; widows: 1; -webkit-text-stroke-width: 0px; word-spacing: 0px; text-indent: 36px; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 0; margin-bottom: 12px; background: white">
<span style="font-size: 14.0pt">1. Sự kiện Kitô giáo chủ yếu dựa trên
can thiệp của Thiên Chúa trong lịch sử cho thấy Kitô giáo khác mọi tôn
giáo khác. Thiên Chúa chúng ta là mộtThiên Chúa của các sự kiện, những
sự kiện thực hữu; Ngài không phải là mộtthần tượng hoặc mộttư tưởng
thuần túy. Vị Thiên Chúa này lại rất quan tâm đến con người đến độ đi
vào trong lịch sử cụ thể của con người. Chính vị Thiên Chúa này hôm nay
vẫn đang kêu gọi chúng ta qua Đức Giêsu, con người cụ thể làng Nadarét.</span></p>
<p style="text-align: justify; line-height: 16.2pt; orphans: auto; widows: 1; -webkit-text-stroke-width: 0px; word-spacing: 0px; text-indent: 36px; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 0; margin-bottom: 12px; background: white">
<span style="font-size: 14.0pt">2. Ngay từ đầu, Đức Giêsu liên kết hoạt
động của Người với Kinh Thánh, với Lời Chúa. Người khẳng định mạnh mẽ
rằng nhờ Người, Thiên Chúa hoàn tất các lời Ngài đã hứa. Như thế, ngay
từ đầu đã có câu trả lời về uy quyền của Đức Giêsu, nghĩa là về quyền
bính đang đứng đàng sau Người: “Thần Khí Chúa ngự trên tôi”. Đức Giêsu
có sức mạnh và quyền năng Thiên Chúa. Người cũng khẳng định rằng Thiên
Chúa đã sai phái Người. Lời khẳng định này có giá trị cho Người hơn là
cho bất cứ ngôn sứ nào, bởi vì Người phát xuất trực tiếp từ Thiên Chúa
trong tư cách là Con Thiên Chúa. Bởi vì Thiên Chúa nói và hành động qua
Người, toàn thể công trình của Người là công trình cứu độ và phải được
đón tiếp với lòng biết ơn và lòng tin.</span></p>
<p style="text-align: justify; line-height: 16.2pt; orphans: auto; widows: 1; -webkit-text-stroke-width: 0px; word-spacing: 0px; text-indent: 36px; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 0; margin-bottom: 12px; background: white">
<span style="font-size: 14.0pt">3. Tại sao lại có hoàn cảnh của những
người nghèo, những người đói khát, những người bị hành hạ, những người
đau ốm, tuyệt vọng và mọi kẻ thất thế và phải gánh chịu một số phận gian
khổ? Họ không may, trong khi những người khác được may mắn? Có thể có
chăng cho họ việc thay đổi số phận, hay là họ cứ phải cam chịu như thế?
Phải chăng Thiên Chúa muốn như thế? Đức Giêsu đã loan báo sứ điệp của
Người cho những con người như thế. Thiên Chúa không hất hủi họ. Thiên
Chúa ở về phía họ và chiếu cố đến họ. Thật ra sứ điệp của Đức Giêsu
không phải là mộtchương trình cải cách xã hội. Người không cổ võ việc
phân chia đồng đều các của cải. Sứ điệp của Người hướng niềm hy vọng của
người nghèo không vào của cải vật chất, nhưng vào Thiên Chúa.</span></p>
<p style="text-align: justify; line-height: 16.2pt; orphans: auto; widows: 1; -webkit-text-stroke-width: 0px; word-spacing: 0px; text-indent: 36px; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 0; margin-bottom: 12px; background: white">
<span style="font-size: 14.0pt">4. Tuy nhiên, chúng ta phải ra sức loại
trừ các hoàn cảnh túng quẫn và bất công. Niềm hy vọng Đức Giêsu mang lại
không phải là mộtngày nào đó, loài người sẽ đạt tới chỗ loại từ mọi túng
quẫn và có thể thiết lập công lý bình đẳng. Sứ điệp của Ngài nói rằng
Thiên Chúa sẽ ban cho người nghèo ơn cứu độ trọn vẹn. Đàng khác, chỉ
nguyên việc là người nghèo, người sa cơ thất thế, không phải là đã đủ.
Một người nghèo mà đặt hết niềm cậy trông nơi của cải trần thế thì vẫn
đang lạc đường. Hôm nay, Đức Giêsu tiếp tục công cuộc cứu thế trong Hội
Thánh và nhờ Hội Thánh. Người cứu thế qua các bí tích. Người đến với con
người qua các thừa tác viên và qua tất cả các Kitô hữu đã hưởng nhờ hoạt
động từ bi thương xót của Người. Chúng ta phải nối dài hoạt động của Đức
Kitô ra, bằng cách gieo rắc niềm vui và ánh sáng, thoa dịu các nỗi khốn
cùng về thể lý và tinh thần, giải thoát người ta khỏi những nỗi lo sợ
khiến tê liệt, đưa người rta ra khỏi sự dốt nát, nâng đỡ người sống
trong cô đơn, chế giảm các nỗi hiềm khích…</span></td></tr><tr>
<td width="466" height="56"><p style="text-align: center">
<a style="text-decoration: none; font-family: Arial; font-size: 10pt" target="_top" href="http://tinmung.net/">
<img src="../../Mua-Vong-Giang-Sinh/Tuan%20I%20MV/LOGOtinmung.gif" width="80" height="48"></a> <a style="text-decoration: none" target="_top" href="http://www.tinmung.net/SUYNIEM_HANGTUAN/suyniemINDEX3.htm"><img alt="" src="../../Mua-Vong-Giang-Sinh/Tuan%20I%20MV/LOGOtinmung2.gif" width="85" height="50"></a> </td></tr></table><p style="text-align: center">
</p>