File "09.htm"
Full path: E:/sites/Single15/tinmung2007/webroot/SUYNIEM_HANGTUAN2/2019/Mua-Chay-Phuc-Sinh/CN VI PS/09.htm
File size: 22.88 KiB (23433 bytes)
MIME-type:
Charset: utf-8
<html><head><meta http-equiv="Content-Language" content="en-us"><meta http-equiv="Content-Type" content="text/html; charset=utf-8"><title>
Chúa Nhật VI Phục Sinh - Năm C</title><base target="main">
<meta name="keywords" content="trò chơi hòa bình; đến và ở lại; ân huệ; hồng ân; hòa bình; ánh sáng soi đường; tuân giữ lời Chúa; hòa bình; lo âu; vắng mặt; ơn bình an.nhau; tình yêu;"><style>
<!--
.CONTENTS{FONT-SIZE: 11pt;COLOR:Navy;}
span.MsoHyperlink
{color:blue;
text-decoration:underline;
text-underline:single;
text-decoration:none underline;
text-line-through:none;
vertical-align:baseline}
-->
</style>
<meta name="description" content="trò chơi hòa bình; đến và ở lại; ân huệ; hồng ân; hòa bình; ánh sáng soi đường; tuân giữ lời Chúa; hòa bình; lo âu; vắng mặt; ơn bình an.">
<!--mstheme--><link rel="stylesheet" type="text/css" href="../../../../_themes/suyniem3/suyn1011-109.css"><meta name="Microsoft Theme" content="suyniem3 1011">
</head><body><table border="0" width="500" cellspacing="12" style="border-color: #FFFFFF; font-family:Arial; font-size:12pt; text-decoration:none" bgcolor="#FFFFFF"><tr><td width="460">
<font size="2" color="#FF0000">Chúa Nhật VI Phục Sinh - Năm C</font></td></tr><tr><td width="474" style="font-family: Arial; font-size: 12pt; text-decoration: none; font-weight: bold; text-align: center">
SỰ HIỆN DIỆN CỦA CHÚA GIÊSU</td></tr><tr><td width="474" style="font-family: Arial; font-size: 8pt; text-decoration: none; font-style:italic; text-align:right">
<a name="_Toc260597337">
<span style="font-size: 8pt; font-style:italic; font-weight:400">Chú giải của
Giáo Hoàng Học Viện Đà Lạt</span></a></td></tr><tr><td width="474" style="font-family: Times New Roman; font-size: 14pt; text-decoration: none; text-align:justify">
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-top: 12.0pt"><b>
<span style="font-size: 14.0pt">SỰ HIỆN DIỆN LIÊN TỤC CỦA CHÚA GIÊSU</span></b></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-top: 12.0pt">
<span style="font-size: 14.0pt">1. Chúa Giêsu kêu gọi các môn đệ đừng
bối rối trước viễn ảnh ra đi của Ngài (c.1): Chúa Cha sắp gởi đến cho họ
một đấng phù trợ khác trong ngôi vị Thánh Thần (c.16-17); còn Ngài, Ngài
sắp trở lại với họ dưới một hình thức mà thế gian không thấy, nhưng
những ai tin vào Ngài mới thấy (c.18-21).</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-top: 12.0pt">
<span style="font-size: 14.0pt">Việc Thiên Chúa đến ở đây khác xa với ý
nghĩ của những người Do thái cũng như của các môn đệ. Được nuôi dưỡng
bằng những câu chuyện Cựu Ước, các thị kiến tiên tri, các quang cảnh có
tính cách Khải huyền, họ mơ đến một cuộc thần hiện dị thường, chói lòa
vinh quang Thiên Chúa (Is 60), một cuộc phán xét toàn diện chấm dứt dòng
lịch sử để thiết lập vương quyền Thiên Chúa và các thánh (Đn 7). Giuda
bày tỏ sự ngạc nhiên của tất cả các môn đệ: “Thưa Ngài tại sao có thế
này: là Ngài chỉ tỏ mình ra cho chúng tôi, chứ không cho thế gian?”
(c.22). Ông ta mơ đến một cuộc hiển hiện khả giác. Ông không hiểu rằng
việc Chúa Giêsu và thánh linh chỉ được nhận biết trong đức tin.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-top: 12.0pt">
<span style="font-size: 14.0pt">Thoạt nhìn, câu trả lời của Chúa Giêsu
(c.23) như bất biết câu hỏi và sự ngạc nhiên của Giuda. Thực ra Ngài
trực tiếp trả lời câu hỏi đó, khi loan báo sự mạc khải mầu nhiệm của
Ngài và nói lên nguyên nhân khiến thế gian không hiểu được mạc khải ấy.
Ngài bỏ qua mọi viễn tượng cánh chung, để chỉ nói việc Thiên Chúa đến
trong Giáo hội và trong thời gian. Đó là một quan điểm hoàn toàn mới mẻ
được đưa vào nhân câu hỏi của Giuda.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-top: 12.0pt">
<span style="font-size: 14.0pt">Để tiếp đón Thiên Chúa, phải tin nhận
lời Ngài và đáp trả bằng tình yêu. Tất cả truyền thống Thánh kinh đã
tuyên bố như vậy. Biết Thiên Chúa là có tương quan với Ngài trong nội
tâm và tình yêu. Tám thế kỷ trước Chúa Giêsu, Ôse đã loan báo sự cứu độ
Israel như là cuộc đính hôn và biểu thị đặc tính của nó bằng sự “nhận
biết” Thiên Chúa: “Ta sẽ đính hôn với ngươi muôn thuở, cưới ngươi trong
công bình, chính trực, dịu hiền và yêu mến; Ta sẽ đính ước với ngươi
trong chung thủy, và ngươi sẽ biết Giavê” (Os 2,20-22). Theo kiểu nói
phúc âm, các môn đệ biết rằng yêu Chúa Giêsu đầu tiên cốt tại “giữ lời
Ngài” (c. 15 và 21), nghĩa là nhận ra trong sứ điệp của Ngài những đòi
hỏi và những ân huệ của tình yêu Thiên Chúa và đáp trả bằng sự dấn thân
cả đời sống cách đích thực và quảng đại.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-top: 12.0pt">
<span style="font-size: 14.0pt">Đối với những ai yêu Ngài như thế, Chúa
Giêsu hứa hẹn rất tuyệt diệu Ngài không nói đến tình yêu mà NGÀI đương
nhiên dành cho họ, nhưng Ngài loan báo cho họ tình yêu và hồng ân kỳ
diệu của Chúa Cha: đó là cùng với Chúa Con (c.18-21), chính Chúa Cha sẽ
đến ở với các tín hữu. Các Ngài sẽ đến cư ngụ trong họ như trong đền thờ
của mình (x.4,21-24).</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-top: 12.0pt">
<span style="font-size: 14.0pt">Cựu Ước đã biết việc Thiên Chúa đến, ví
dụ việc Ngài đến thăm Abraham dưới cây sồi Membré (St 18,1-15), nhưng đó
chỉ là một sự gặp gỡ tạm thời dưới hình dáng bên ngoài. Các tiên tri đã
loan báo một cuộc thần hiện vinh quang vào thời cánh chung (Is 60),
nhưng sự thể hiện kỳ diệu này không để chỗ cho sự thân mật sâu xa giữa
Thiên Chúa và tín hữu Ngài, với lại không có vấn đề cho cuộc sống này.
Còn Chúa Giêsu hứa ban cho các người của Ngài, ngay từ đời này, được kết
hợp thân mật cá vị với Thiên Chúa trong chốn sâu thẳm của đời sống Ba
Ngôi. Ngài không dùng chữ “tỏ mình” nữa (c.21) vì trong câu hỏi của
Giuda, chữ đó dễ gây hiểu lầm (c.22). Việc Thiên Chúa đến mà Ngài loan
báo vượt lên trên tất cả những mơ tưởng của Do thái giáo và những kỳ
vọng của các tiên tri: đó là sự hiện diện trực tiếp của chính Thiên Chúa
trong nội tâm và tình yêu; lời hứa tuyệt vời của phúc âm là vậy.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-top: 12.0pt">
<span style="font-size: 14.0pt">Những ai chối từ tình yêu Thiên Chúa
(c.24) thì không thể thấu triệt việc Thiên Chúa Ba Ngôi đến cách vô hình
mà Chúa Giêsu vừa loan báo cho những ai yêu mến Ngài. Họ không “biết”
Chúa Giêsu vì đã khước từ sứ điệp của Ngài. Họ không thể “biết” Chúa
Cha, nguồn sứ điệp này (3,31-34; 5,37-38; 7,16-17; 8,47; 12,48-50). Ở
đây, Giuda tìm thấy lời giải đáp cho câu hỏi của ông: chỉ biết được Chúa
Giêsu nhờ đức tin (1,9-12), Ngài chỉ tỏ mình ra cho những kẻ tin
(14,19).</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-top: 12.0pt">
<span style="font-size: 14.0pt">Đã có một thời gian Chúa Giêsu hiện diện
cách hữu hình với môn đệ; họ có thể nghe lời Ngài qua giác quan (c.25).
Nhưng bây giờ thời gian này không còn nữa, và phục sinh sắp mở đầu một
thời gian mới trong đó tương quan giữa thày và trò thay đổi cách thức (Lc
24,44). Sự lưu truyền lời chúa phán trong cuộc đời tại thế vẫn còn. Và
chính sự lưu truyền này phát sinh ra phúc âm. Tuy nhiên nó sẽ được đổi
mới hoàn toàn.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-top: 12.0pt">
<span style="font-size: 14.0pt">2. Thật vậy, sự lưu truyền lời Chúa
Giêsu trong Giáo hội không phải là một sự tồn kho bất động, một việc sưu
tập những lời cổ kính, bởi lẽ chính Thánh Thần làm nên sự lưu truyền này
(c.26). Theo các lời từ biệt khác của Chúa Giêsu, Thánh thần là đấng bàu
chữa công lý bênh vực Chúa Giêsu và môn đệ của Ngài trước tòa án của thế
gian này (15,16; 16,7-11; Mt 10,20; Mc 13,11; Lc 12,12). Ở đây cũng như
trong các tiên tri, Ngài (Chúa Thánh Thần) là đấng linh ứng lời Thiên
Chúa. Trong sứ mệnh tại thế, Chúa Giêsu đã nói được “những lời của Thiên
Chúa, Đấng ban dư đầy THÁNH THẦN cho Ngài” (Ga 3,34) những lời này là
“thần trí và là sự sống” (Ga 6,63). Và nếu Thánh Thần được ban cho môn
đệ trong ngày phục sinh (Ga 20,22; 7,37-39), đó là để đặc biệt nhắc nhở
họ nhớ lại sứ điệp. Không phải một việc ghi vào ký ức cách vật chất;
thánh Gioan hai lần ghi chú trong phúc âm là các môn đệ chỉ thấu triệt ý
nghĩa lời Chúa Giêsu cũng như các hành động của Ngài khi “nhớ lại” chúng
dưới ánh sáng phục sinh (Ga 2,22; 12,16), nghĩa là dưới sự thúc đẩy của
Chúa Thánh thần, Đấng giúp họ quán triệt ý nghĩa thâm sâu. (Vai trò soi
chiếu của Thánh Thần đã được phác họa trong Ga 16,12-14).</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-top: 12.0pt">
<span style="font-size: 14.0pt">Chúa Giêsu đã loan báo trong diễn từ
(14,16) là sẽ xin Cha sai Thánh Thần bàu chữa đến với họ. Ở đây Ngài
cũng thêm là Cha sẽ sai đến nhân danh Ngài. Cả hai cách nói tương đương
và tạo nên một trong những công thức chính xác rõ ràng nhất về thần học
Thiên Chúa Ba Ngôi trong Tân Ước. Thiên Chúa Ba Ngôi hiện diện trong tín
hữu, có cùng một mục đích là làm cho họ nhận biết sứ điệp Thiên Chúa và
cho họ thông hiệp vào mầu nhiệm sự sống của Ngài.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-top: 12.0pt">
<span style="font-size: 14.0pt">3. Khi đã bảo đảm cho họ về một ánh sáng
sống động sắp đến, Chúa Giêsu mới có thể từ giã họ. Ngài từ giã theo
phong tục người Do thái, với lời chào: Shalôm: bình an. Tuy nhiên đây
không phải là một lời từ giã thông thường: “Ta ban bình an của Ta cho
các con”. Thế gian chỉ có thể chúc bình an, còn Ngài ban bình an, bình
an riêng của Ngài. Theo não trạng người Hy Bá, chữ “bình an” diễn tả một
cái gì còn hơn sự an tĩnh của tâm hồn. Nó bao gồm tất cả những thiện hảo
mà người ta có thể cầu chúc; đó chính là sự an lạc. Nhưng sự bình an của
Chúa Phục sinh (20,19.21.26) còn hơn sự an lạc vật chất hay hạnh phúc
nhân bản. Bình an hệ tại việc chiếm hữu chân lý (theo nghĩa đã giải
thích ở trên) với sự hiện diện viên mãn của Thiên Chúa. Sự chiếm hữu này
làm cho các môn đệ thoát khỏi những thăng trầm của cuộc sống này, bằng
cách bảo đảm cho họ rằng họ sẽ vượt qua tất cả các chướng ngại vật thế
gian gây ra cho các việc chứng nhân của họ: “Hãy vững lòng, Ta đã thắng
thế gian” (16,33). Lời từ biệt này có thể làm cho họ bối rối (14,1),
nhưng họ chẳng có gì phải sợ, vì sự ra đi này không phải là một sự chia
cách.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-top: 12.0pt">
<span style="font-size: 14.0pt">4. “Cha lớn hơn Ta”. Các giáo phụ và các
thần học gia, nhất là những vị đã từng tranh luận về Thiên Chúa Ba Ngôi,
đã bối rối vì mấy chữ đó, và đã dựa vào chúng để bàn cãi sôi nổi về mối
liên hệ giữa Ngôi Cha và Ngôi Con, cũng như việc phân biệt hai bản tính
trong Đức Kitô và về nguồn gốc của Chúa Con. Nhưng những cuộc bút chiến
này, nếu không đi sai đường, thì cũng đi vào ngõ cụt. Tình yêu của môn
đệ chỉ nhằm đến vẻ bề ngoài của con người Chúa Giêsu. Họ còn yêu Ngài
trong mức độ họ còn có thể đụng chạm Ngài dưới hình thức nhân loại của
Ngài và tùy theo địa vị mà họ ao ước nắm giữ trong vương quốc thiên sai.
Họ đã phán đoán và yêu Ngài từ bên ngoài. Nhưng con người của Ngài bám
chặt cách thâm sâu vào Chúa Cha, Cha trở nên hữu hình trong Ngài
(x.14,9). Cái quan trọng không phải là cái mà họ đã nắm chắc được nơi
Ngài cho tới bây giờ, nhưng là Chúa Cha qua Ngài. Chính trong nghĩa này
mà Gioan đã có thể viết mà không sợ đụng chạm đến đức tin tí nào: “Cha
trọng hơn Ta”, có nghĩa là trọng hơn cái mà các con đã thấy nơi ta. Chúa
Giêsu kém cao trọng xét như là người mạc khải Cha. Sự phân biệt đó không
nhằm đối chiếu bản tính loài người và bản tính Thiên Chúa (như truyền
thống đã cắt nghĩa) nhưng nhằm đối chiếu cái môn đệ hình dung, trình bày
về Ngài (sa “prêsentation humaine”) (trong tư thế một vị thiên sai) với
ý nghĩa thiện linh trọn vẹn của Ngài (sa pleine signification divine) là
mạc khải Chúa Cha. Đây là vấn đề nhận biết Chúa Cha trong Chúa Giêsu.
Khi các môn đệ nhận biết điều đó rồi, thì không còn vấn đề hơn thua, vì
Cha và Ngài chỉ là một.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-top: 12.0pt"><b>
<span style="font-size: 14.0pt">KẾT LUẬN</span></b></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-top: 12.0pt">
<span style="font-size: 14.0pt">Nhờ suy tư sau khi gần hoàn tất phúc âm,
thánh Gioan ngày càng thấu triệt khiếm diện và hiện diện của Chúa Giêsu
trong các môn đệ. Từ lúc Chúa chết trên thập giá, ông đã sống trong sự
khiếm diện siêu việt của Chúa. Ông có thể kết luận cuốn phúc âm của mình:
“Phúc cho những ai không thấy mà tin” (Ga 20,29). Vì ông kinh nghiệm
rằng sự hiện diện của Chúa Giêsu đối với các môn đệ không cốt tại các
thị kiến phi thường, cũng không phải trong các lần hiện ra ngắn ngủi và
dành riêng cho một vài nhân chứng sau khi sống lại, nhưng sự hiện diện
luôn có đối với những ai tìm kiếm Ngài với niềm tin. Được nâng lên trong
vinh quang Thiên Chúa, hiệp nhất cách mầu nhiệm với Cha và Thánh Thần,
Đấng Phục sinh đã từ bỏ đời sống trần thế, là đời sống đã làm cho Ngài
có thể nhận biết một cách khả giác. Nhưng khuất mắt ta để từ đây luôn
luôn hiện diện với chúng ta theo cách thế của Thiên Chúa (Mt 28,20)</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-top: 12.0pt"><b>
<span style="font-size: 14.0pt">Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG</span></b></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-top: 12.0pt">
<span style="font-size: 14.0pt">1. Trái ngược với việc tuân giữ cách máy
móc và mệt nhọc những giới luật tỉ mỉ, không sống động, thích hợp chút
nào với tâm hồn tín hữu, Chúa Giêsu thiết lập các tương quan giữa Ngài
với các môn đệ trên mối liên lạc tình yêu. Để thấy Chúa Giêsu, để sống
nhờ Ngài, với Ngài, thì phải “giữ lời Ngài” (c.24). Sự sống này, như
Chúa Giêsu xác định, là chính sự sống của Ngài nhận từ Cha, sự sống mà
Ngài có với Cha, nghĩa là mối dây tình yêu.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-top: 12.0pt">
<span style="font-size: 14.0pt">2. Lúc sắp lìa xa các môn đệ, lúc sắp
được nâng lên, Đức Kitô loan báo cho họ biết Ngài hằng hiện diện luyôn
mãi qua lời Ngài. Bài giã từ trong chương 14 của Gioan không mang một
mục đích nào khác ngoài việc tỏ cho biết sự hiện diện mới mẻ này.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-top: 12.0pt">
<span style="font-size: 14.0pt">Đối với người Semit, lời nói là cái gì
cụ thể; cũng như tên gọi, lời nói là biểu thức của một hữu thể, một ngôi
vị; hơn tất cả các phương tiện khác, nó bảo đảm được mối giây liên lạc
sống động mà mỗi người cố nối kết với tha nhân; đó là cơn mưa đưa sự
sống đến cho trái đất, làm nẩy mầm những hạt lúa sẽ trở thành cơm bánh
(Is 55,8-11)</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-top: 12.0pt">
<span style="font-size: 14.0pt">Sự hiện diện của Chúa Giêsu đã biến đổi
cuộc đời các tông đồ khi đi sâu vào trong những xác tín của họ. Lúc Chúa
Giêsu rời bỏ họ, họ nhớ lại kinh nghiệm đặc biệt mà họ vừa có mà Chúa
Giêsu tóm lại trong một chữ: Lời ta. Bằng ấy nói lên tất cả con người
của Ngài đối với họ (x.1Ga 2,23; 4,15; 2Ga 9).</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-top: 12.0pt">
<span style="font-size: 14.0pt">Sự hiện diện này sẽ sinh hiệu quả trong
họ như sự hiện diện của Thiên Chúa đã sinh hiệu quả suốt lịch sử Israel.
Sự hiện diện đó là Shékinah đã theo dân trong sa mạc, đã bao phủ đền thờ
trong ngày Salomon cung hiến, đã nâng đỡ những người bị lưu đày, đã hoàn
lại sự sống cho “nhóm còn lại”, đã ngập tràn tâm hồn mỗi người trong
niềm mong chờ sự hiện diện sung mãn.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-top: 12.0pt">
<span style="font-size: 14.0pt">Khi theo Chúa Giêsu, các tông đồ đã sống
lại lịch sử dân Do thái và thấy mình được kêu gọi sống thông hiệp thân
mật với Đấng đã nói với Môisen “như bạn nói với bạn” (Xac 33,11).</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-top: 12.0pt">
<span style="font-size: 14.0pt">Việc khám phá ra sự hiện diện cao quí vô
giá sẽ Giáo hội được thực hiện hàng ngày, qua kinh nghiệm của cuộc sống
thường nhật, dưới sự phù trợ của Thánh Thần, Đấng làm sống lại tạo vật
mới đang thoát dần khỏi bóng tối của sự bách hại, sự chia rẽ và sự chết.
Không gì có thể lay chuyển được sự hiện diện đó do Thánh Thần ban.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-top: 12.0pt">
<span style="font-size: 14.0pt">3. Sự ra đi của Đức Kitô, tức cuộc tử
nạn, Phục sinh của Ngài, là cần thiết để các tông đồ khám phá một cách
rõ ràng Chúa Giêsu là ai: là nhân chứng đặc biệt của Cha và của tình yêu
Ngài. Họ phải khám phá thấy tình yêu đó còn lớn hơn tất cả những gì họ
đã khám phá ra nơi Đức Kitô. Như vậy, Chúa Giêsu mời gọi họ khám phá ra
điều họ đã tiên cảm. Làm sao họ lại không vui cho được.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-top: 12.0pt">
<span style="font-size: 14.0pt">4. Sự hiện diện hữu hình của Chúa Giêsu
không phải là tất cả. Sự hiện diện vô hình trong tâm hồn cao quí hơn
nhiều. Cũng như thánh Phaolô, chúng ta không nuối tiếc vì đã không sống
vào thời phúc âm. Thật là mối nguy hiểm nếu chỉ nhận biết Chúa Giêsu qua
ngoại diện (theo xác thịt) mà không sống kết hiệp nội tâm với Ngài theo
Thánh thần (2Co 5,16).</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-top: 12.0pt">
<span style="font-size: 14.0pt">5. Tuần tới, chúng ta sẽ cử hành lễ Chúa
Thăng thiên, một cuộc ra đi cần thiết để ban Chúa Thánh Thần xuống cho
ta. Ngay từ bây giờ, chúng ta hãy tin tưởng mong đợi Chúa Thánh Thần. Để
được như vậy, chỉ cần biết chấp nhận bình an của Đức Kitô và tuân giữ
lời Ngài, nghĩa là tin và để lời đó phát sinh trong ta hoa trái đã được
Chúa loan báo trước. Chúng ta sắp thông phần với hy tế của Ngài, sắp
lãnh nhận Ngài làm của ăn; ước gì sự hiện diện sống động của Ngài là sức
mạnh và kiên nhẫn cho chúng ta. Chớ gì bình an vượt quá mọi sự của Ngài
tràn ngập chúng ta.</span></td></tr><tr><td width="474"><p style="text-align: center"> <a target="_top" href="http://tinmung.net"><img border="0" src="../../../../../logo/LOGOtinmung.gif" width="67" height="40"></a> <a style="text-decoration: none; font-family: Arial; font-size: 10pt" target="_top" href="http://tinmung.net/SUYNIEM_HANGTUAN/suyniemINDEX.htmy"><img border="0" src="../../../../_Nam_A/2011/MuaThuongNien/VuaVuTru/LOGOtinmung2.gif" width="68" height="42"></a> </td></tr></table><p style="text-align: center"> </p>