File "27.htm"
Full path: E:/sites/Single15/tinmung2007/webroot/SUYNIEM_HANGTUAN2/2019/Mua-Chay-Phuc-Sinh/CN IV PS/27.htm
File size: 24.02 KiB (24592 bytes)
MIME-type:
Charset: utf-8
<html><head><meta http-equiv="Content-Language" content="en-us"><meta http-equiv="Content-Type" content="text/html; charset=utf-8"><title>
Chúa Nhật IV Phục Sinh - Năm C</title><base target="main">
<meta name="keywords" content="Chúa Nhật IV Phục Sinh - Năm C; suy niệm, tinmung.net, DongCong;"><style>
<!--
.CONTENTS{FONT-SIZE: 11pt;COLOR:Navy;}
span.MsoHyperlink
{color:blue;
text-decoration:underline;
text-underline:single;
text-decoration:none underline;
text-line-through:none;
vertical-align:baseline}
span.postbody1
{}
span.apple-converted-space
{}
span.postbody
{}
span.apple-style-span
{}
-->
</style>
<!--mstheme--><link rel="stylesheet" type="text/css" href="../../../../_themes/suyniem3/suyn1011-109.css"><meta name="Microsoft Theme" content="suyniem3 1011">
</head><body><table border="0" width="500" cellspacing="12" style="border-color: #FFFFFF; font-family:Arial; font-size:12pt; text-decoration:none" bgcolor="#FFFFFF"><tr><td width="460">
<font size="2" color="#FF0000">Chúa Nhật IV Phục Sinh - Năm C</font></td></tr><tr><td width="474" style="font-family: Arial; font-size: 12pt; text-decoration: none; font-weight: bold; text-align: center">
CHÚA CHIÊN NHÂN LÀNH</td></tr><tr><td width="474" style="font-family: Arial; font-size: 8pt; text-decoration: none; font-style:italic; text-align:right">
<p style="text-indent: 36.0pt; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
<span style="font-size: 8pt; font-style: italic">
<span class="postbody1">JM. Lam Thy ĐVD.</span></span></td></tr><tr><td width="474" style="font-family: Times New Roman; font-size: 14pt; text-decoration: none; text-align:justify">
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-justify: inter-ideograph; text-indent: 36.0pt; margin-top: 12.0pt">
<span style="font-size: 14.0pt">Nói đến chiên cừu là nói đến những động
vật dễ thương, gần gũi với con người, đặc biệt là dân Do-thái. Ngoài
những thứ chúng cung ứng cho tiện nghi sinh sống của con người (như sữa,
lông, da, thịt), còn một điều ít có con vật nào có được là chiên còn
được dùng trong những dịp lễ lạc của đời sống tâm linh (sát tế, tế thần,
lễ vật toàn thiêu). Cũng vì thế nên hình ảnh con chiên thường được dùng
để nói về những con người tin vào Thiên Chúa, được Người chăn dắt tận
tình (<span class="postbody1">"</span>Như mục tử, Chúa chăn giữ đoàn
chiên của Chúa, tập trung cả đoàn dưới cánh tay. Lũ chiên con, Người ấp
ủ vào lòng, bầy chiên mẹ, cũng tận tình dẫn dắt<span class="postbody1">"</span>
– Is 40, 11; <span class="postbody1">"</span>CHÚA là mục tử chăn dắt tôi,
tôi chẳng thiếu thốn gì. Trong đồng cỏ xanh tươi, Người cho tôi nằm nghỉ.
Người đưa tôi tới dòng nước trong lành và bổ sức cho tôi. Người dẫn tôi
trên đường ngay nẻo chính vì danh dự của Người. Lạy Chúa, dầu qua lũng
âm u con sợ gì nguy khốn, vì có Chúa ở cùng. Côn trượng Ngài bảo vệ, con
vững dạ an tâm<span class="postbody1">" </span>– Tv 23, 1-4). </span>
</p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-justify: inter-ideograph; text-indent: 36.0pt; margin-top: 12.0pt">
<span style="font-size: 14.0pt">Không chỉ những tín hữu là con chiên của
Thiên Chúa, mà chính Đức Giê-su Ki-tô – Con Thiên Chúa và là Thiên Chúa
thật – khi vâng lệnh Chúa Cha xuống thế làm người, chịu sát tế để cứu
chuộc nhân loại, thi Người cũng là một Con Chiên – Chiên Thiên Chúa –
như lời khẳng định của Thánh Gio-an Tẩy Giả: “<span style="background: #E7F2FA">Đây
là Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xoá bỏ tội trần gian. Chính Người là Đấng
tôi đã nói tới khi bảo rằng: Có người đến sau tôi, nhưng trổi hơn tôi,
vì có trước tôi.”</span> (<span class="postbody1">Ga 1, 29). Như vậy,
Thiên Chúa đã thương yêu con cái của mình, coi chúng như đoàn chiên
ngoan ngoãn dễ thương, nên mới ban Con Một xuống thế để chăn dắt đoàn
chiên đó </span>(<span style="background: #E7F2FA">“Tôi chính là Mục Tử
nhân lành. Mục Tử nhân lành hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên.”</span>
<span class="postbody1">– </span>Ga 10, 11).</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-justify: inter-ideograph; text-indent: 36.0pt; margin-top: 12.0pt">
<span class="postbody1"><span style="font-size: 14.0pt">Khi nói đến vấn
đề chăn nuôi súc vật (mục vụ: </span></span>
<span lang="ZH-CN" style="font-size: 14.0pt; font-family: PMingLiU,serif; background: #E7EBF7">
牧</span><span class="apple-converted-space"><i><span style="font-size: 14.0pt; background: #E7EBF7"> </span></i></span><span lang="ZH-CN" style="font-size: 14.0pt; font-family: PMingLiU,serif; background: #E7EBF7">務</span><span class="postbody1"><span lang="ZH-CN" style="font-size: 14.0pt">
</span><span style="font-size: 14.0pt">), thường có 2 dạng: có thể người
chăn nuôi (mục tử: </span></span>
<span lang="ZH-CN" style="font-size: 14.0pt; font-family: PMingLiU,serif; background: #E7EBF7">
牧</span><span class="apple-converted-space"><i><span style="font-size: 14.0pt; background: #E7EBF7"> </span></i></span><span lang="ZH-CN" style="font-size: 14.0pt; font-family: PMingLiU,serif; background: #E7EBF7">子</span><span class="postbody1"><span style="font-size: 14.0pt">)
ấy là chủ thực sự của đàn súc vật, và cũng có thể là người làm thuê (do
người chủ mướn trông coi đàn súc vật). Cũng có những người làm thuê tận
tuỵ với công việc bằng một tình cảm thương yêu, chăm sóc đàn súc vật mà
mình trông coi mướn như là của chính mình, hơn là vì đồng lương, tiền
công mà chủ trả cho hàng tháng, hàng năm. Tuy nhiên, số này rất hiếm, đa
số những người làm thuê thường chỉ làm vịêc cho tương xứng với tiền
công, như một sự trao đổi sòng phẳng (một bên bỏ ra tiền của, một bên bỏ
ra công sức). Vì thế những người làm thuê không thể sánh với chủ nhân
của đàn súc vật đó. Người chủ chăn không chỉ vì những lợi ích vật chất
do đàn súc vật mang lại, nhất là khi đàn súc vật đó lại là những con
chiên đẹp đẽ, ngoan hiền, dễ thương, thì người chủ còn coi đàn chiên như
những đứa con em máu mủ của mình. Nói khác đi, người chủ chăn (chúa
chiên) không chỉ vì nhu cầu vật chất, mà còn coi đó là bổn phận, và hơn
thế nữa là trách nhiệm của mình (lo lắng thực phẩm, săn sóc bệnh tật,
thậm chi còn sẵn sàng bênh vực, che chở chúng trước những nanh vuốt kẻ
thù như sói lang ác hiểm). </span></span></p>
<p class="rtejustify" style="text-align: justify; text-justify: inter-ideograph; text-indent: 36.0pt; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt; background: #E7F2FA">
<span class="postbody1"><span style="font-size: 14.0pt">Bài Tin Mừng
hôm nay (CN IV/PS-C – Ga 10, 27-30) trình thuật câu chuyện một đám
người Do thái cố tình dồn Đức Giê-su vào một thế kẹt để họ dễ dàng lên
án Người. Lúc đầu chỉ là câu hỏi như kiểu nêu thắc mắc đòi được giải đáp
(</span></span><span style="font-size: 14.0pt; background: #E7F2FA">"Ông
còn để lòng trí chúng tôi phải thắc mắc cho đến bao giờ? Nếu ông là Đấng
Ki-tô, thì xin nói công khai cho chúng tôi biết." – Ga 10, 24). Cũng vì
trước đó khi nghe Đức Giê-su nói “Tôi chính là Mục Tử nhân lành. Tôi
biết chiên của tôi, và chiên của tôi biết tôi, như Chúa Cha biết tôi, và
tôi biết Chúa Cha, và tôi hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên.” (Ga
10, 14-15), thì đám người Do-thái này đã nói: </span>
<span style="font-size: 14.0pt">"Ông ấy bị quỷ ám và điên khùng rồi!
Nghe ông ấy làm gì?" (Ga 10, 20); nên Đức Giê-su quá hiểu m<span style="background: #E7F2FA">ục
đích của đám người này không phải muốn được giải toả thắc mắc để họ có
thể tin vào Đức Giê-su chính thực là Con Thiên Chúa và là Thiên Chúa
thật; mà họ chỉ muốn nhân cơ hội kết án Người là phạm thượng, rồi ném đá
Người (Ga 10, 31-33).</span> Vì thế, khi trả lời họ, Đức Ki-tô đã nhấn
mạnh: <span style="background: #E7F2FA">"Tôi đã nói với các ông rồi mà
các ông không tin. Những việc tôi làm nhân danh Cha tôi, những việc đó
làm chứng cho tôi. Nhưng các ông không tin, vì các ông không thuộc về
đoàn chiên của tôi.” (Ga 10, 25-26).</span></span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-justify: inter-ideograph; text-indent: 36.0pt; margin-top: 12.0pt">
<span style="font-size: 14.0pt; background: #E7F2FA">Sau khi xác định
đám người “cơ hội” Do thái không thuộc đoàn chiên của mình, Đức Giê-su
lại tiếp tục nói về đoàn chiên mà Người thương mến: “Chiên của tôi thì
nghe tiếng tôi; tôi biết chúng và chúng theo tôi. Tôi ban cho chúng sự
sống đời đời; không bao giờ chúng phải diệt vong và không ai cướp được
chúng khỏi tay tôi. Cha tôi, Đấng đã ban chúng cho tôi, thì lớn hơn tất
cả, và không ai cướp được chúng khỏi tay Chúa Cha. Tôi và Chúa Cha là
một.” (Ga 10, 27-30)</span><span style="font-size: 14.0pt">. Người đã
lấy hình ảnh rất dễ thương của đàn chiên để chỉ những môn đệ và những kẻ
tin theo Lời Người; đồng thời Người cũng xác định chính Người là Đấng
chăm lo chăn dắt đàn chiên đó – Người chính là vị Chúa Chiên nhân lành.
</span></p>
<h3 style="text-align: justify; text-justify: inter-ideograph; text-indent: 36.0pt; margin-bottom: .0001pt">
<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; font-weight: normal">
Hiểu sâu vào vấn đề, thì vị Mục Tử nhân lành ấy được Chúa Cha sai đi
chăn dắt con người về đường linh thiêng, nên còn gọi là linh mục, và
chính Đức Ki-tô là Linh Mục Thượng Phẩm, Linh Mục Duy Nhất như
<span class="postbody1">Tông huấn Ki-tô Hữu Giáo Dân (Ch. I, số 14) đã
viết: “Thánh Augustinô viết: ‘Cũng như chúng ta tất cả được gọi là
Kitô-hữu (Christiani) vì đã được xức dầu (Chrisma) một cách thiêng
liêng, do đó tất cả được gọi là linh mục, bởi vì chúng ta là thành phần
thân thể của Linh Mục Duy Nhất’ (</span>De Civitate Dei - XX, 10).<span class="postbody1">"
V</span><span class="postbody">ề lý thuyết thì tất cả mọi Ki-tô hữu đều
là linh mục (tư tế cộng đồng), nhưng thực tế để có thể điều hành hoạt
động của Giáo Hội thì lại rất cần có hàng ngũ những người trực tiếp thừa
kế (tư tế thừa tác) sứ vụ của Linh Mục Duy Nhất Giê-su Ki-tô, thông qua
Ơn Thiên Triệu – Bí tích Truyền Chức (</span>"Danh từ "hàng Linh Mục"
đươc chọn với mục đích để chỉ định toàn thể hàng ngũ Linh Mục. Chúa
Giê-su đã cho toàn thể Dân Chúa tham dự vào chức linh mục của Người
nhưng Người còn muốn thiết lập những "thừa tác viên" của Người, những
người này nhờ bí tích Truyền Chức được quyền dâng thánh lễ, quyền tha
tội và thực hành chức vụ linh mục nhân danh Chúa Ki-tô" – </span>
<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; font-weight: normal">
Sắc lệnh </span>
<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; font-weight: normal">
"</span><span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; font-weight: normal">Chức
vụ và đời sống các linh mục</span><span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; font-weight: normal">"</span><span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; font-weight: normal">,
số 2). </span></h3>
<h3 style="text-align: justify; text-justify: inter-ideograph; text-indent: 36.0pt; margin-bottom: .0001pt">
<span class="postbody">
<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; font-weight: normal">
Hai chức vụ tư tế đó quan hệ khăng khít với nhau, chức vụ này vừa là
tiền đề vừa là kết quả của chức vụ kia và ngược lại. Lý do cũng dễ hiểu:
không thể có những phần tử lãnh nhận chức vụ tư tế thừa tác nếu không có
hàng ngũ tư tế cộng đồng, ngược lai hàng ngũ tư tế cộng đồng muốn không
bị khủng hoảng để đi đến tan rã, cũng rất cần thiết phải có người trông
coi, chăm sóc, đó là những tư tế thừa tác. Nói cụ thể hơn, không có Giáo
dân (đoàn chiên của Chúa) thì không thể có Linh mục, mà không có Linh
mục thì đoàn chiên sẽ bị xẻ đàn tan nghé ngay. Tư tế cộng đồng (Giáo
dân) hay tư tế thừa tác (Linh mục) thì cũng đều là con người, mà nói về
con người thì </span></span>
<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; font-weight: normal">
“<span class="postbody">nhân vô thập toàn</span><span class="postbody1">”,
không một cá nhân nào được thập phần hoàn hảo, có ưu điểm thì cũng có
khuyết điểm, đó cũng là lẽ tất nhiên. </span></span></h3>
<h3 style="text-align: justify; text-justify: inter-ideograph; text-indent: 36.0pt; margin-bottom: .0001pt">
<span class="postbody1">
<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; font-weight: normal">
Trong đoàn chiên của Chúa có rất nhiều những con chiên ngoan hiền dễ
thương, biết vâng nghe lời chủ, thì cũng không thiếu những con chiên lạc
đàn, chạy theo bầy sói dữ, thậm chí còn quay lại chống trả và giết hại
cả chủ chăn (mục tử). Cũng vậy, trong hàng ngũ mục tử – những thừa tác
viên kế nghịêp Mục tử nhân lành Giê-su Ki-tô – có rất nhiều những mục tử
xứng đáng với vai trò và trách vụ của mình đã được chính Đức Ki-tô trao
phó trong bữa Tiệc Ly (</span></span><span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; font-weight: normal">"Thầy
sẽ trao Vương Quốc cho anh em, như Cha Thầy đã trao cho Thầy, để anh em
được đồng bàn ăn uống với Thầy trong Vương Quốc của Thầy, và ngự toà xét
xử mười hai chi tộc Ít-ra-en." – Lc 22, 29-30)<span class="postbody1">;
nhưng cũng vẫn còn những mục tử bất trung, phạm những lỗi lầm nghiêm
trọng, như </span>"<span class="postbody1">T</span></span><span class="postbody"><span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; font-weight: normal">hư
của ĐTC Biển Đức XVI gởi các linh mục nhằm thiết lập năm linh mục</span></span><span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; font-weight: normal">"
ngày 16/6/2009,<span class="postbody"> viết : </span>"<span class="postbody">Bất
hạnh thay, cũng tồn tại những hoàn cảnh, không bao giờ lấy làm tiếc đủ,
mà chính Giáo Hội phải chịu vì sự bất trung của một số thừa tác viên của
mình. Và đối với thế giới, đó là một cái cớ gương mù và khước từ.” (xin
coi thêm </span>"<span class="postbody">Thư đề ngày 20/3/2010 của ĐTC
Biển Đức XVI gửi Giáo Hội Ai-len</span>"<span class="postbody"> v/v một
số linh mục xâm phạm tình dục trẻ em).</span></span></h3>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-justify: inter-ideograph; text-indent: 36.0pt; margin-top: 12.0pt">
<span class="postbody"><span style="font-size: 14.0pt">Nói chung thì
hàng ngũ mục tử cũng như hàng ngũ con chiên đều không thoát khỏi cảnh có
những mục tử xấu, những con chiên ghẻ làm “gương mù và khước từ” ân sủng
của Thiên Chúa. </span></span><span class="postbody1">
<span style="font-size: 14.0pt">Chúng ta không quá lạc quan để cho rằng
đoàn chiên của Chúa cũng như những vị mục tử thừa kế sứ vụ của Đức
Giê-su Ki-tô, tất cả đều tốt lành, hoàn hảo; nhưng đồng thời cũng không
quá bi quan để cho rằng tất cả đều xấu. Vâng,</span></span><span class="postbody"><span style="font-size: 14.0pt">
“Trong những trường hợp như thế, những gì có thể là ích lợi cho Giáo
Hội, đó không chỉ là nhận ra đầy đủ những yếu đuối của các thừa tác viên
của mình, nhưng còn là một ý thức mới mẻ và phấn khởi về sự cao cả của
ân huệ của Thiên Chúa, được cụ thể hóa nơi những hình ảnh sáng ngời của
những mục tử quảng đại, những tu sĩ rực cháy tình yêu đối với Thiên Chúa
và các linh hồn, những vị linh hướng sáng suốt và kiên nhẫn.</span></span><span style="font-size: 14.0pt">"
(ĐTC Biển Đức XVI – “Thư thiết lập Năm Linh Muc 2009”).</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-justify: inter-ideograph; text-indent: 36.0pt; margin-top: 12.0pt">
<span style="font-size: 14.0pt">Bài Tin Mừng CN tuần trước (CN.III/PS-C)
trình thuật về phép lạ “Mẻ cá lớn” có một chi tiết rất đáng lưu ý, đó
là: Sau phép lạ, Đức Giê-su hỏi thánh Phê-rô ba lần liền "Simon, con ông
Gioan, con có yêu mến Thầy không?" Ba lần chỉ với một câu hỏi, khi nghe
Phê-rô trả lời câu đầu tiên thì Đức Giê-su nói "Hãy chăm sóc chiên con
của Thầy" (Ga 21, 15). Điều này cho thấy Đức Ki-tô muốn thánh Phê-rô với
tư cách mục tử hãy chăm sóc đàn chiên con. Nếu đã có “chiên con” (giáo
dân). thì tất nhiên phải có “chiên mẹ” (linh mục), nên hai lần sau, Đức
Giê-su chỉ nói ngắn gọn: <span style="background: #E7F2FA">"Hãy chăn dắt
chiên của Thầy."</span> (Ga 21, 17). Lần này thì Đức Ki-tô muốn thánh
Phê-rô trông coi cả đoàn chiên (trong đó có chiên mẹ và chiên con), tức
là trông coi cả Giáo Hội như Người Mục Tử Nhân Lành đã làm (<span class="postbody1">"</span>Như
mục tử, Chúa chăn giữ đoàn chiên của Chúa, tập trung cả đoàn dưới cánh
tay. Lũ chiên con, Người ấp ủ vào lòng, bầy chiên mẹ, cũng tận tình dẫn
dắt<span class="postbody1">"</span> – Is 40, 11).</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-justify: inter-ideograph; text-indent: 36.0pt; margin-top: 12.0pt">
<span style="font-size: 14.0pt">Có lẽ vì trong ràn chiên Giáo Hội<span class="postbody1">
có cả chiên mẹ (linh mục) và chiên con (giáo dân) nên giáo dân Việt Nam
thường dùng tiếng “cha” để gọi các linh mục; mặc dù Chúa dạy không được
gọi ai bằng cha hay bằng thầy, vì chỉ có một người Cha duy nhất ở trên
trời, và chỉ có một người Thầy duy nhất là Đức Giê-su Ki-tô (Mt 23,
8-10). Với tiếng cha thân thương dành cho các linh mục như vậy, giáo dân
VN luôn mong mỏi các linh mục hãy coi đoàn chiên như con cái, đồng thời
hãy coi mình có bổn phận và trách nhiệm của bậc cha mẹ, mà chăm sóc, bảo
vệ đoàn chiên. Tuy nhiên, từ cái ưu điểm ấy, cũng nảy sinh những hạn chế.
Đó là giáo dân vì gọi linh mục là cha, nên mang một mặc cảm tự ti, luôn
e dè – thậm chí sợ sệt – mà không dám gần gũi, cộng tác, sẻ chia trong
sứ vụ chung; đồng thời về phía linh mục, cũng có một số tự cao, tự đại
coi mình là "cha thiên hạ", không thèm lắng nghe ý kiến từ giáo dân,
thậm chí còn coi mình là nhân vật "bất khả xâm phạm, bất khả thay thế"
nữa. Số người ấy (từ cả hai phía giáo dân và linh mục) tuy không nhiều,
nhưng không phải là không có. </span></span></p>
<p style="text-align: justify; text-justify: inter-ideograph; text-indent: 36.0pt; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
<span class="apple-style-span"><span style="font-size: 14.0pt">Ý thức
được vấn đề như vậy, người Ki-tô hữu hãy cầu xin cho mọi thành phần của
Giáo Hội sống đúng và sống trọn vẹn vai trò của mình: Ai được chọn làm
mục tử thì luôn luôn phải là người mục tử tốt lành theo gương Mục Tử
Nhân Lành Giê-su Ki-tô; còn đoàn chiên con phải luôn biết đoàn kết
thương yêu nhau, cùng nghe theo tiếng nói đích thực của vị Mục Tử Nhân
Lành Giê-su thông qua các mục tử trong ràn chiên Giáo Hội, để ai nấy đều
</span></span><span style="font-size: 14.0pt">"được sống và sống dồi dào"<span class="apple-style-span">
Tình Yêu của Chiên-Sát-Tế-Giêsu-Kitô, ngõ hầu đổi mới cuộc đời, “giải
thoát nó khỏi bóng tối và sự dữ” như lời dạy của ĐTC Phan-xi-cô I trong
</span>b<em><span style="font-style: normal">ài Giáo Lý thứ hai về Năm
Đức Tin (ngày 10/4/2013): </span></em>“Là một Ki-tô hữu không chỉ là
tuân giữ các giới răn, nhưng có nghĩa là sống trong Đức Ki-tô, suy nghĩ
như Người, hành động như Người, yêu như Người; có nghĩa là để Người làm
chủ cuộc đời chúng ta và thay đổi nó, biến đổi nó, để giải thoát nó khỏi
bóng tối sự dữ và tội lỗi.”<span class="apple-style-span"> Ước được như
vậy. Amen. </span> <span class="apple-style-span"></span></span></td></tr><tr><td width="474"><p style="text-align: center"> <a target="_top" href="http://tinmung.net"><img border="0" src="../../../../../logo/LOGOtinmung.gif" width="67" height="40"></a> <a style="text-decoration: none; font-family: Arial; font-size: 10pt" target="_top" href="http://tinmung.net/SUYNIEM_HANGTUAN/suyniemINDEX.htmy"><img border="0" src="../../../../_Nam_A/2011/MuaThuongNien/VuaVuTru/LOGOtinmung2.gif" width="68" height="42"></a> </td></tr></table><p style="text-align: center"> </p>