File "23.htm"

Full path: E:/sites/Single15/tinmung2007/webroot/SUYNIEM_HANGTUAN2/2019/Mua-Chay-Phuc-Sinh/CN IV PS/23.htm
File size: 16.44 KiB (16831 bytes)
MIME-type:
Charset: utf-8

Download   Open   Back

<html><head><meta http-equiv="Content-Language" content="en-us"><meta http-equiv="Content-Type" content="text/html; charset=utf-8"><title>
Chúa Nhật IV Phục Sinh - Năm C</title><base target="main">
<meta name="keywords" content="Chúa Nhật IV Phục Sinh - Năm C;  suy niệm, tinmung.net, DongCong;"><style>
<!--
	.CONTENTS{FONT-SIZE: 11pt;COLOR:Navy;}
span.MsoHyperlink
	{color:blue;
	text-decoration:underline;
	text-underline:single;
	text-decoration:none underline;
	text-line-through:none;
	vertical-align:baseline}
-->
</style>
<!--mstheme--><link rel="stylesheet" type="text/css" href="../../../../_themes/suyniem3/suyn1011-109.css"><meta name="Microsoft Theme" content="suyniem3 1011">
</head><body><table border="0" width="500" cellspacing="12" style="border-color: #FFFFFF; font-family:Arial; font-size:12pt; text-decoration:none" bgcolor="#FFFFFF"><tr><td width="460">
	<font size="2" color="#FF0000">Chúa Nhật IV Phục Sinh - Năm C</font></td></tr><tr><td width="474" style="font-family: Arial; font-size: 12pt; text-decoration: none; font-weight: bold; text-align: center">
		<b>
		CHÚA GIÊSU BAN SỰ SỐNG ĐỜI ĐỜI</b></td></tr><tr><td width="474" style="font-family: Arial; font-size: 8pt; text-decoration: none; font-style:italic; text-align:right">
		<a name="_Toc353727825">
		<span style="font-size: 8pt; font-style:italic; font-weight:400">Chú giải của 
		Giáo Hoàng Học Viện Đà Lạt</span></a></td></tr><tr><td width="474" style="font-family: Times New Roman; font-size: 14pt; text-decoration: none; text-align:justify">
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-top: 12.0pt"><b>
		<span style="font-size: 14.0pt">CHÚA GIÊSU BAN SỰ SỐNG ĐỜI ĐỜI<br>
&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; CHO CÁC CHIÊN CỦA NGÀI</span></b></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-top: 12.0pt"><b>
		<span style="font-size: 14.0pt">1.</span></b><span style="font-size: 14.0pt"> 
		Khác với các phúc âm nhất lãm (Lc 22,66-71 và song song), Gioan không 
		tường thuật vụ án Chúa Giêsu trước công nghị Do thái trong cuộc khổ nạn. 
		Vì theo ông, vụ án thực sự đã diễn ra trước khi Chúa Giêsu bị bắt, trong 
		những lần tranh luận với người Do thái, đặc biệt trong cuộc tranh luận 
		hôm nay. Lúc này cũng như trong vụ án chính thức theo pháp luật về sau. 
		Chúa Giêsu bị ép buộc trả lời rõ ràng Người có phải là Đấng Messia không 
		(c.24) và cuối cùng Ngài tự xưng mình là Con TC (x.Lc 22,70) bằng cách 
		tuyên bố rằng Cha Ngài và Ngài ở trong Cha, trong sự hiệp thông trọn vẹn 
		đời sống và việc làm.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-top: 12.0pt">
		<span style="font-size: 14.0pt">Tuy nhiên trước khi tuyên bố dứt khoát 
		điều đó, Chúa Giêsu cảm thấy phải cứ quả quyết không ngừng cho những kẻ 
		đối thoại với Ngài. Đó là điều làm cho người Do thái và “chiên của Ngài” 
		khác biệt nhau. Đối với người Do thái, những lời Ngài nói, phép lạ người 
		làm không đủ thuyết phục họ, vì xét cho cùng họ có dã tâm và không muốn 
		tin. Chính trong bối cảnh đó mà Chúa Giêsu nói đến chiên của Ngài, đối 
		nghịch với sự ngoan ngoãn và ngay thẳng của đàn chiên với tính hiểm ác 
		của người Do thái. Dĩ nhiên Ngài không cần nhiều dấu hiệu bên ngoài như 
		vậy, vì chúng nghe và đi theo chủ chiên. Phần mục tử, Ngài biết chiên 
		mình và đảm bảo cho chúng sự sống đời đời. Trong tay Ngài, đàn chiên 
		được an bình không bị ai đánh cướp.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-top: 12.0pt"><b>
		<span style="font-size: 14.0pt">2.</span></b><span style="font-size: 14.0pt"> 
		Về câu 29, bản Hy lạp không được chắc chắn lắm. Các thủ bản ở đây chia 
		làm nhiều nhóm. Ta có thể tóm gọn thành hai:</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-top: 12.0pt"><b>
		<i><span style="font-size: 14.0pt">Nhóm thứ nhất</span></i></b><span style="font-size: 14.0pt"> 
		chọn câu: ho pâtêr mou ho dedoken moi pântôn meizon estin, dịch từng chữ 
		là “Cha Ta, điều Ngài ban cho Ta thì lớn lao hơn tất cả” (bản Vaticanus, 
		Versions latines, Sinaiticus, Codex Freer và chung chung các giáo phụ 
		Latinh). Câu này có thể hiểu được hai cách: điều mà Chúa Cha ban cho 
		Chúa Con chính là bản tính của Người (Augustin, Thomas, Lnabenhauer...) 
		hay quyền năng của Người (Schanz, Belser...) và đó là điều cao trọng hơn 
		tất cả. Nhưng ai mà dám nghĩ đến việc cất bản tính và quyền năng của 
		Chúa Con khỏi tay Chúa Cha? Cho nên lối giải thích thứ nhất này khó chấp 
		nhận xét theo văn mạch. Văn mạch nói đến việc ban tặng là ban tặng các 
		chiên (ý kiến chung), vì thế phải hiểu: “Điều mà Chúa Cha ban cho ta 
		(các chiên) là quà tặng quí giá nhất”, như thế ta hiểu đó là lý do khiến 
		Chúa Con phải giữ gìn quà tặng đó, và một khi đã ban cho Con, Chúa Cha 
		cũng luôn lưu tâm đến tặng vật này.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-top: 12.0pt"><b>
		<i><span style="font-size: 14.0pt">Nhóm thủ bản thứ hai</span></i></b><span style="font-size: 14.0pt"> 
		(nhóm K, Codex Coridethi, codex Bezae, và các giáo phụ Hy lạp) chọn câu: 
		ho pâtêr mou hos dedôken moi pantôn meizôn estin, có thể dịch: “Cha Ta, 
		đấng đã ban cho chúng ta, thì lớn hơn tất cả mọi sự”, nghĩa là: Cha Ta, 
		Đấng đã ban cho Ta các chiên, là Đấng cao trọng hơn mọi loài và vì 
		thế...Ngài đặt chúng trong tay Ta mà không ngừng giữ chúng trong tay 
		Ngài. Ở đây, tay có nghĩa là quyền năng, quyền năng chung của hai Đấng. 
		Câu này xem ra thích hợp hơn với văn mạch và đã được số đông tác giả 
		theo (Louis, Bultmann, Barret, BJ, TOB...). Tuy nhiên nó bị chỉ trích là 
		đã được sửa đổi để thêm phần sáng sủa. Nói rằng Chúa Cha lớn lao hơn hết 
		mọi sự là điều hiển nhiên, cần gì nêu lên ở đây. Dầu vậy, câu (b) này 
		ngày nay đã được hầu hết chấp nhận.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-top: 12.0pt">
		<span style="font-size: 14.0pt">Dù sao, điều làm chúng ta chú ý chính là 
		tay của Chúa Con, được đặt ngang hàng với tay Chúa Cha, hay đúng hơn cả 
		hai tay cùng bảo vệ giữ gìn đàn chiên. Chúa Giêsu xem ra tự gán cho mình 
		quyền ban sự sống cho các tâm hồn và giữ gìn chúng trong tay. Nhưng rồi 
		theo thói quen (5,19tt; 6,37;7,16; 8,49; 10,18), Chúa Giêsu vội vàng 
		liên kết Cha Ngài vào công trình của Ngài, vì Cha là nguồn mạch mọi ơn 
		huệ: Chúa Cha giao cho Chúa Con một vật và gìn giữ bằng sức mạnh của 
		mình, cũng như Chúa Con gìn giữ những gì nhận được từ Cha.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-top: 12.0pt"><b>
		<span style="font-size: 14.0pt">3.</span></b><span style="font-size: 14.0pt"> 
		Lời tuyên bố trong câu 30 (&quot;Cha và Ta là một&quot;) về sự hiệp thông mật 
		thiết của Chúa Giêsu với Cha Ngài là một mạc khải quan trọng rõ ràng 
		nhất về thần tính của Ngài và mầu nhiệm sâu xa của TC. Chính trên đỉnh 
		sáng ngời đó mà Chúa Giêsu chấm dứt tranh luận với người Do thái: Ngài 
		có thể mạc khải thêm cho họ điều gì nữa? Và đó là nghĩa mà người Do thái 
		hiểu khi nghe Chúa Giêsu tuyên bố như thế, vì lập tức sau đó họ ném đá 
		Ngài “bởi lẽ ông là một người phàm mà dám cho mình là TC”.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-top: 12.0pt">
		<span style="font-size: 14.0pt">Câu 30 này đã nổi tiếng trong lịch sử 
		tranh luận với tà giáo Ariô. Chúa Giêsu không nói: “Ta và Cha Ta, chúng 
		ta là một ngôi vị” (heis) nhưng bảo: “chúng ta là một sự (hen, chose), 
		chúng ta đồng một bản tính và vì thế mà tay Ta (c.28) cũng quyền năng 
		như tay Cha Ta” (c.29). Tất cả thần học gia chống Ariô, từ tertullien 
		đến Augustin đã dùng câu 30 làm công thức thánh kinh nói về việc Chúa 
		Cha và Chúa Con đồng bản tính nhưng khác ngôi vị.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-top: 12.0pt"><b>
		<span style="font-size: 14.0pt">KẾT LUẬN</span></b></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-top: 12.0pt">
		<span style="font-size: 14.0pt">Ân sủng thần linh cho chúng ta sức mạnh 
		để vượt thắng mọi khó khăn bên ngoài (Rm 8,31-39) bất cứ từ đâu đến, 
		nhưng ân sủng không ép buộc ai cả. Con người có thể từ chối không muốn 
		được cứu rỗi: “TC chỉ từ bỏ những ai xa tránh Ngài trước” (công đồng 
		Triđentinô, DS 1537).</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-top: 12.0pt"><b>
		<span style="font-size: 14.0pt">Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG</span></b></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-top: 12.0pt"><b>
		<span style="font-size: 14.0pt">1.</span></b><span style="font-size: 14.0pt"> 
		“Người Do thái mới vây quanh Chúa Giêsu”. Họ muốn chất vấn Ngài lần nữa 
		vì Ngài làm họ khó chịu. Họ đột nhiên nói với Ngài: “Cho đến bao giờ nữa, 
		ông còn để lòng trí chúng tôi phân vân lưỡng lự? Nếu quả ông là Đức Kitô, 
		xin nói trắng ra cho chúng tôi”. Chúa Giêsu hẳn làm cho họ bối rối nhiều 
		và có lẽ làm cho họ nghi ngờ. Họ muốn biết thực hư. Ai trong chúng ta 
		không một lần chất vấn Chúa như thế: Ngài là ai đối với tôi hôm nay? Tìm 
		Ngài chỗ nào? Trong mọi hỗn loạn thời đại, trong bao cuộc đặt lại vấn đề, 
		Chúa ở đâu? Đâu là sự thật? Đúng hơn, khi một vấn đề đặt ra khiến phải 
		chọn lựa chúng ta đã không từng muốn một câu trả lời rõ ràng đó sao? 
		Thảm kịch chính là chúng ta không biết gì nữa; khiến ngập tràn đến độ 
		làm chúng ta không còn hiểu gì nữa. Đây là một nghịch lý đáng sợ: kiến 
		thức càng tăng thì càng dẫn đến sự vô tri về chân lý. Như những người Do 
		thái, chúng ta muốn biết ai là người kêu gọi chúng ta qua phúc âm, ai là 
		người đảo lộn cuộc hiện hữu của chúng ta và đặt lại vấn đề đời sống 
		chúng ta.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-top: 12.0pt">
		<span style="font-size: 14.0pt">Chúa Giêsu xem ra không trả lời gì cả. 
		Chính công việc Ngài đã thực hiện làm chứng cho Ngài; và nếu người ta 
		không tin Ngài, đó là vì họ không thuộc đàn chiên Ngài, theo Ngài và 
		thuộc về Ngài vì Chúa Cha đã ban họ cho Ngài. Và Ngài nói: “Cha ta và Ta 
		là một”. Phải nói là câu trả lời của Chúa Giêsu làm chúng ta hoang mang. 
		Chúng ta vừa chấp nhận, vừa bất mãn, vừa nghi nan. Câu trả lời đó của 
		Chúa Giêsu gợi lên những âm hưởng sâu xa, đánh động tâm hồn chúng ta. 
		Tuy nhiên chúng ta không thỏa mãn vì câu ấy đặt ra nhiều vấn đề: làm sao 
		trở thành chiên của Chúa. Đặt vấn nạn này là vì chúng ta không biết câu 
		trả lời; thế mà hình như Chúa Giêsu nói rằng câu hỏi chỉ đặt ra cho 
		những kẻ không thể hiểu câu trả lời. Những phản ứng của chúng ta vừa 
		biểu lộ sự thỏa mãn cũng như bất mãn; điều đó chứng tỏ chúng ta vừa là 
		chiên vừa là người Do thái, và chúng ta vẫn đặt câu hỏi mặc dầu một cách 
		nào đó đã biết câu trả lời.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-top: 12.0pt"><b>
		<span style="font-size: 14.0pt">2.</span></b><span style="font-size: 14.0pt"> 
		Nên lưu ý nghịch lý này là: những ai đặt câu hỏi thì không thể nghe được 
		câu trả lời; còn những ai nghe được câu trả lời thì không cần đặt câu 
		hỏi. Người Do thái đặt câu hỏi, chúng ta cũng vậy, một phần nào đó trong 
		con người chúng ta chưa thuộc về Chúa cũng muốn hạch hỏi Người. Nếu 
		người Do thái đã có khả năng lắng nghe, thì họ đã gặp được câu trả lời, 
		đã sống câu ấy và không hỏi gì nữa. Đặt vấn nạn như họ làm cho họ không 
		nắm được câu đáp, vì họ chỉ chuẩn bị để phê bình, lượng giá câu trả lời 
		theo các định kiến và hiểu biết của họ. Họ chỉ chấp nhận chân lý bao lâu 
		họ thấy hòa hợp với những gì họ đã biết. Họ không thể chấp nhận Đức Kitô 
		bởi không chịu được một giải đáp khác với giải đáp họ đã có sẵn.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-top: 12.0pt"><b>
		<span style="font-size: 14.0pt">3.</span></b><span style="font-size: 14.0pt"> 
		Trái lại, các chiên không đặt câu hỏi, không phải vì đã biết được giải 
		đáp, song vì điều đó không cần thiết. Chúng có một não trạng khác. Chúa 
		Giêsu diễn tả chúng bằng hai tiếng: “Chúng nghe và theo”; Ngài nói tiếp: 
		“Ta biết chúng” và “chúng biết ta”. Đàn chiên không cần đặt vấn đề danh 
		tánh Chúa Giêsu. Chúng thuộc về một giống đặc biệt. Cũng như chúng ta 
		vừa thuộc não trạng người Do thái đang cật vấn Chúa, vừa thuộc dòng 
		giống này. Chúa Giêsu diễn tả đàn chiên với vẻ âu yếm: Ngài biết chúng, 
		ban cho chúng sự sống, bảo vệ chúng khỏi những kẻ ám hại. Đàn chiên 
		không thể cắt nghĩa vì sao Ngài làm như vậy, nhưng chúng biết Ngài nên 
		“chúng nghe và đi theo Ngài”. Chúng sẵn sàng lắng nghe, đón nhận cái bí 
		ẩn, đi đến nơi mà Chúa dẫn tới và chấp nhận mọi nghịch cảnh có thể xảy 
		tới.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36.0pt; margin-top: 12.0pt"><b>
		<span style="font-size: 14.0pt">4.</span></b><span style="font-size: 14.0pt"> 
		Hôm nay, Chúa Giêsu mời gọi chúng ta đừng quá ham chất vấn, luôn tìm 
		cách phân tích cái mới lạ, giản lược nó thành tầm thường - đó là một 
		cách tự đóng kín mình, làm mình mất khả năng tiến bộ, biến đổi. Hãy biết 
		lắng nghe, biết mình ngu dốt, biết rằng đấng vô danh luôn luôn kỳ lạ, 
		rằng một cách nào đó Chúa luôn là một đấng chúng ta không thể biết rõ, 
		vì chúng ta không thể hiểu được cách tường tận bao lâu còn ở thế gian 
		này. Nhưng để luôn luôn kết hợp mật thiết với Chúa, để sống hạnh phúc 
		thật sự ở cõi trần này, chỉ có một con đường: nghe và theo Chúa.</span></td></tr><tr><td width="474"><p style="text-align: center">&nbsp;&nbsp; <a target="_top" href="http://tinmung.net"><img border="0" src="../../../../../logo/LOGOtinmung.gif" width="67" height="40"></a>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;<a style="text-decoration: none; font-family: Arial; font-size: 10pt" target="_top" href="http://tinmung.net/SUYNIEM_HANGTUAN/suyniemINDEX.htmy"><img border="0" src="../../../../_Nam_A/2011/MuaThuongNien/VuaVuTru/LOGOtinmung2.gif" width="68" height="42"></a>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;</td></tr></table><p style="text-align: center">&nbsp;</p>

PHP File Manager