File "17.htm"

Full path: E:/sites/Single15/tinmung2007/webroot/SUYNIEM_HANGTUAN2/2018/Phuc-Sinh B/CN II PS/17.htm
File size: 36.69 KiB (37571 bytes)
MIME-type:
Charset: utf-8

Download   Open   Back

<html><head><meta http-equiv="Content-Language" content="en-us"><meta http-equiv="Content-Type" content="text/html; charset=utf-8"><title>
Chúa Nhật II Phục Sinh - Năm B</title><base target="main">
<meta name="keywords" content="Chúa Nhật II Phục Sinh - Năm B; Khoa học và Đức tin; Gặp gỡ Đức Kitô; Nỗi oan Toma; Sống đức tin; Dấu chứng phục sinh; mọi sự đều có thể; Cộng đoàn;"><style>
<!--
	.CONTENTS{FONT-SIZE: 11pt;COLOR:Navy;}
span.MsoHyperlink
	{color:blue;
	text-decoration:underline;
	text-underline:single;
	text-decoration:none underline;
	text-line-through:none;
	vertical-align:baseline}
span.apple-converted-space
	{}
-->
</style>
<meta name="description" content="Chúa Nhật II Phục Sinh - Năm B"><!--mstheme--><link rel="stylesheet" type="text/css" href="../../../../_themes/suyniem3/suyn1011-109.css"><meta name="Microsoft Theme" content="suyniem3 1011">
</head><body><table border="0" width="500" cellspacing="12" style="border-color: #FFFFFF; font-family:Times New Roman; font-size:14pt; text-decoration:none" bgcolor="#FFFFFF"><tr><td width="460"><font size="2" color="#FF0000" face="Arial">
	Chúa Nhật II Phục Sinh - Năm B</font></td></tr><tr><td width="474" style="font-family: Arial; font-size: 12pt; text-decoration: none; font-weight: bold; text-align: center">
		HIỆN RA CHO CÁC MÔN ĐỒ</td></tr><tr><td width="474" style="font-family: Arial; font-size: 8pt; text-decoration: none; font-style:italic; text-align:right">
		<a name="_Toc227117749"><span style="font-size: 8pt; font-style:italic">Chú giải của 
		Giáo Hoàng Học Viện Đà Lạt</span></a></td></tr><tr><td width="474" style="font-family: Times New Roman; font-size: 14pt; text-decoration: none; text-align:justify">
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 36px"><b>
		<span style="font-size: 14.0pt">HIỆN RA CHO CÁC MÔN ĐỒ<br>
&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; CÁC MÔN ĐỒ TỤ HỌP</span></b><span style="font-size: 14.0pt"> 
		(20,19-23) </span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 36px">
		<span style="font-size: 14.0pt">Làm môn đồ là có một sứ mệnh: chúng ta 
		đã biết điều ấy qua diễn từ giã biệt (13,16.20; 15,1-8). Sự hiện diện 
		của Chúa Giêsu trong thế gian, nay thành sự hiện diện trọn vẹn của Thiên 
		Chúa, phải được các môn đồ nối dài. Tin Mừng Nhất lãm cũng đề cập đến 
		những lần Chúa Giêsu hiện ra cho các nhóm môn đồ: chính lúc bấy giờ 
		Người giao sứ mệnh cho họ (Mt 28, 16-20; Lc 24,47-49; Mc 16,15: không 
		xác thực; xem Cv 1,8). </span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 36px">
		<span style="font-size: 14.0pt">Nơi Gioan, cuộc hiện ra cho mấy môn đồ 
		đang tụ họp nằm vào chính chiều ngày thứ nhất trong tuần. Các ông tụ họp 
		đâu đó tại Giêrusalem. Về sau chúng ta sẽ biết là Tôma không có mặt lúc 
		ấy. Mọi cửa đều đóng kín vì họ còn bị ám ảnh bởi nỗi sợ người Do thái.
		</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 36px">
		<span style="font-size: 14.0pt">Nhưng không gì ngăn chận được Đấng Phục 
		sinh. Cách thức hiện hữu mới của Người chẳng còn bị chướng ngại vật chất 
		nào cản trở. Chúa Giêsu đột nhiên đứng giữa họ. Trình thuật Luca 
		24,36-49 rất giống với trình thuật Gioan ở chỗ này. Các môn đồ thoạt 
		tiên kinh hãi rồi được Chúa Giêsu trấn an. Người không nói như ngày xưa: 
		Chính Ta đây... (6,20), vì sự hiện diện của Người từ nay thuộc một trật 
		tự khác, sự hiện ấy đem lại bình an (14,27) và vui mừng (16, 20-24; 
		17,13). Lời chào theo thói quen: Bình an cho các con! ở đây vượt quá ý 
		nghĩa thông thường của nó. Chúa Giêsu chúc và ban cho họ một sự bình an 
		và một niềm vui đặc biệt, khả dĩ giúp họ thắng vượt cớ vấp phạm thập giá 
		và những âm hưởng của nó trong cuộc đời họ (14,17). </span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 36px">
		<span style="font-size: 14.0pt">Vì không có vấn đề quên! Bởi thế Chúa 
		Giêsu trỏ cho xem các dấu vết Tử nạn của Người. Nơi Lc 24, 36-49, Chúa 
		Giêsu đưa tay và chân chứ không đưa cạnh sườn, vì Luca đã chẳng nói đến 
		nhát lưỡi đòng trong trình thuật Tử nạn của ông; vả lại trình thuật của 
		ông chú tâm đến thực tại Phục sinh hơn: các môn đồ đã không thể chỉ tin 
		vào lời nói của mấy người đàn bà, họ chỉ tin khi Chúa Giêsu hiện ra cho 
		Phêrô và sau đó trỏ cho các sứ đồ còn đang sợ hãi xem tay chân của người 
		cùng bắt đầu ăn trước mặt họ. Và kết luận của Lc là Người đã sống lại 
		thực. Nơi Gioan, Chúa Giêsu đưa tay và cạnh sườn Người trong cùng mục 
		đích ấy: chúng ta không đứng trước một hồn ma một sản phẩm của trí tưởng 
		tượng đâu? nhưng đồng thời thánh sử muốn nhấn mạnh rằng sự phục sinh giả 
		thiết phải có thập giá. Thập giá không thể loại trừ khỏi tư tưởng, phủ 
		nhận như một giấc mộng hãi hùng. Cầu mong họ được bình an, thứ bình an 
		trước hết liên hệ tới Người (16, 33) để họ học hiểu thập giá theo Kitô 
		giáo! </span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 36px">
		<span style="font-size: 14.0pt">Sau đó, mặc dầu thấy các môn đồ tràn 
		ngập vui mừng, Người cũng lặp lại một lần nữa: Bình an cho các con! Việc 
		lặp lại này chứng tỏ đây không phải là một công thức thông lệ, đồng thời 
		cho thấy bình an được cầu chúc là thứ bình an tích hợp mọi dấu vết của 
		cuộc Tử nạn, và như thế vượt quá bình an thông thường. Niềm đau chia ly 
		không thể biến thành một nỗi mong thoáng qua, quên đi cuộc Tử nạn. 
		Không, nỗi đau đó phải trở nên một niềm vui bền vững, nhờ đau khổ mà 
		chín mùi, niềm vui của Chúa Giêsu cũng như niềm vui của họ, niềm vui 
		không một ai cướp mất (16, 20-22). Niềm vui ấy là niềm vui của mùa gặt 
		phát sinh từ nỗi gian khổ, cơ cực cửa Tử nạn (4,38; 17,13). Thật vậy, 
		Chúa Giêsu giờ đây đến trao cho họ sứ mệnh Cha đã giao phó cho Người: 
		Như Cha đã sai Ta, Ta cũng sai các con. Các hạn từ gần giống như trong 
		lời nguyện thượng tế (17, 18). Chúa Giêsu ra đi, nhưng thực tại thần 
		linh mà Người mang tới và hiện thân, vẫn ở trong họ và bên họ. Phận sự 
		của họ là từ nay mang nó đến cho thế gian còn bỏ hoang. Cảnh này quả tóm 
		tắt và thể hiện tư tường của diễn từ giã biệt vậy (x.Mt 28, 19- 20).
		</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 36px">
		<span style="font-size: 14.0pt">Nhưng nếu đã phải có phần khí trợ giúp, 
		các môn đồ mới hiểu được &quot;chân lý&quot;, thì huống là việc làm cho kẻ khác 
		hiểu, họ lại cần Ngài phụ lực biết bao. Như Thiên Chúa đã thổi hơi sự 
		sống vào con người đầ u tiên (St 2,7; Kn 15, 11), hôm nay Chúa Giêsu 
		cũng thổi Thần khí vào các môn đồ để tái tạo họ cho sứ mệnh mới. Việc 
		tuôn đổ Thần khí ở đây không hẳn có nghĩa là việc tái sinh họ trong Nước 
		Thiên Chúa và trong sự sống (3, 3-8) cho bằng là chỉ sứ mệnh đã trao cho 
		họ: sứ mệnh đem bao kẻ khác vào chính sự sống này. </span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 36px">
		<span style="font-size: 14.0pt">Vì cùng với Thần khí, họ được ban quyền 
		tha và cầm giữ tội trong Lc cũng vậy (24,47), việc loan báo đức tin có 
		mục tiêu tha tội và có đối tượng là mọi dân nước. Trong Mt 16, 19, quyền 
		trên được hứa cho Phêrô; trong Mt 18, 18, quyền năng cởi buộc ấy được 
		ban cho Giáo hội. Thuật ngữ pháp lý bao hàm cả quyền phán xét. Nơi Ga 
		20,23, cầm giữ đối nghịch với tha thứ (Mc 7,8; x.Hc 28, 1: diatôrein). 
		Trong tư tưởng thánh sử, quyền này là một tia sáng chói lọi của Con 
		Người (Mc 2, 5 và ss; Lc 7, 47- 48), Đấng từ nay được đặt làm thẩm phán 
		(Ga 3, 19; 5, 27; 9, 39; 12, 31- 32; 17, 2). Thành ra các môn đồ nhận 
		được ở đây một quyền xét xử thật sự; họ tham dự quyền tài phán cánh 
		chung của Con Người là Chúa Giêsu. Thế thật hữu lý khi Giáo hội coi lời 
		Chúa Giêsu nói đây như nền tảng của quyền tha thứ tội lỗi bằng bí tích 
		cáo giải. Nhưng tại sao thánh sử, mà trọng tâm tư tưởng là việc mặc 
		khải, định nghĩa ở đây sứ mệnh các môn đồ bằng quyền xét xử chứ không 
		bằng việc loan báo lời (17, 9- 21)? Người ta có thể ngạc nhiên về điều 
		đó. Nhưng chắc chắn là Gioan ghi lại những lời của chính Chúa Giêsu. 
		Trong Lc 24,47, Chúa Giêsu không nói đến việc tha tội; trong Mt 28,18 
		thì Người để ý tới quyền phổ quát và thần linh của mình. Như đời sống và 
		giáo huấn của Chúa Giêsu (9,39), việc rao giảng Tin Mừng đem lại sự chia 
		rẽ trong thế gian. Các môn đồ được công bố là có thẩm quyền phân biệt 
		xem ai đáp lại sứ điệp; họ được quyền phán xét sau cũng như trước khi 
		người ta lãnh phép rửa tội. Dĩ nhiên quyền này không độc lập với việc 
		rao giảng, vì xét cho cùng chính &quot;chân lý” mới giải phóng khỏi ách nô lệ 
		tội lỗi (8,32-34) và biến cải nên tinh tuyền (13, 10; 15,3). Lc 24,47 
		nhấn mạnh rnối dây liên kết chặt chẽ việc công bố đức tin.và quyền xét 
		xử nhưng xem ra thiên về điểm đầu hơn. Trong Mt 28, 18- 20 quyền được 
		trao ban bao gồm việc loan báo đức tin, quyền thanh tẩy và trông coi 
		việc giữ các giới luật. Tư tưởng Gioan đặc biệt nhấn mạnh đến quyền tài 
		phán của các môn đồ, được xem như một tia sáng của quyền Con Người.
		</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 36px">
		<span style="font-size: 14.0pt">Người ta tự hỏi tại sao Thần khí đã được 
		ban cho các môn đồ ngay từ Phục sinh, trái ngược với cảm thức của cộng 
		đoàn Kitô giáo sơ khai là đặt việc tuôn đổ Thần khí vào lễ Ngũ tuần (Cv 
		2, 1-4). Luca chỉ nói đến một lời hứa sẽ được thực hiện vào lễ Ngũ tuần. 
		Nhưng ông có thể đưa về phần thứ hai của tác phẩm mình, tức sách Cv.; 
		còn Gioan thì không. Vậy phải chăng ta có thể coi Thần khí như một sản 
		phẩm có điều kiện? Được ban theo lượng theo liều? Thật ra, việc chia sẻ 
		Thần khí được thực hiện từ từ. Ngài đâu phải là một chân lý tĩnh, đặt 
		trong túi như một đồ vật đáng giá. Đối với Kitô hữu, thần khí là sự sống 
		tuyệt hảo. Ngài không ngừng được phân phối, vào lễ Ngũ tuần và sau đó 
		trở đi. Việc tuôn tràn vào lúc Phục sinh, Hiện xuống và sau đó đều là 
		những dấu hiệu của cùng một thực tại mà, từ lúc Chúa Giêsu được tôn vinh 
		(7,37-39), đã cách mạng cả thế giới. (3, 3-8). Lối phân biệt việc ban 
		Thần khí vào lúc Phục sinh và Hiện xuống chỉ là thứ yếu, nhất là đối với 
		Gioan, vì theo ông, hai biến cố đều thuộc về cùng một Giờ. Tất cả mọi 
		cuộc tuôn đổ Thần khí chỉ là một. Ngày Phục sinh, các môn đồ nhận được 
		Thần khí để chuẩn bị sứ mệnh; Thần khí ấy trở lại trên họ khi dân mới 
		của Thiên Chúa được thiết lập (Cv 2, 1-4); sau đấy Ngài còn tiếp tục 
		giúp đỡ họ không cùng. </span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 36px">
		<span style="font-size: 14.0pt">Gioan chẳng kể lại ChúaGiêsu giã từ thế 
		nào và môn đồ phản ứng ra sao, không phải vì ông muốn qua đó ngụ ý sự 
		hiện diện thường xuyên của Chúa Giêsu nhờ Thánh Thần (Ga 16, 7; x.Mt 
		28,20) nhưng vì muốn tuân theo một cơ cấu văn tương phản ứng của Maria 
		Mađalêna sau cuộc hiện ra cũng bỏ qua không bàn đến. </span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 36px"><b>
		<span style="font-size: 14.0pt">TÔMA</span></b><span style="font-size: 14.0pt"> 
		(20, 24-29)</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 36px">
		<span style="font-size: 14.0pt">Chúng ta biết tính tình của Tôma Diđimô 
		rồi. Là một con người thực tiễn, ông chỉ phê phán theo lương tri. Ong 
		không mấy thích những chuyện điên rồ như việc đi thăm mồ Ladarô dạo nọ 
		hay lang thang vô định trên con đường chẳng biết dẫn tới đâu (11,16; 
		14,5). Thế là nay người ta lại bảo với ông là đã thấy Chúa. Hãy nói với 
		kẻ khác đi! </span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 36px">
		<span style="font-size: 14.0pt">Họ đã thấy Chúa! Đó là lời rao giảng đầu 
		tiên, lời chủ yếu liên hệ đến các sự kiện cụ thể, nhưng cũng đã bao hàm 
		mọi khai triển khả dĩ của đức tin: họ đã thấy Người, và sẽ dần dần thay 
		Người. Chúa của họ, sống và ở bên họ ra sao. </span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 36px">
		<span style="font-size: 14.0pt">Tôma cũng đã thấy Người, một lần thay 
		cho tất cả trên thập giá. Như thế là đủ; đừng tìm cách nói vớ vẩn trước 
		mặt ông. Vết thương lỗ đinh, cạnh sườn đâm thủng, đó là thực tế. “Bao 
		lâu Tôma chưa thấy chúng tận mắt, thì đừng kể chuyện ấy cho tôi”. Tôma 
		nắm được một điểm chắc chắn, sự chắc chắn tàn nhẫn của cây thập giá, và 
		ông diễn tả nó cũng tàn nhẫn không thua gì. </span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 36px">
		<span style="font-size: 14.0pt">Và đây một tuần sau, đúng vào cùng ngày, 
		Chúa Giêsu hiện đến với đầy đủ tang chứng đòi hỏi. Người hiện ra một 
		ngày Chúa Nhật, không phải để tỏ dấu thích ngày đó, vốn sẽ thành Ngày 
		của Người, song vì muốn hiện ra cho Tôma trong những hoàn cảnh in hệt 
		lần đầu tiên. Như lần trước, mọi cửa đều đóng kín, như lần trước, người 
		thình lình đến giữa họ, chào hỏi cũng với công thức: Bình an cho các 
		con! Mọi cảnh đều được lặp lại Dầu giây phút hiện ra thế nào chăng nữa, 
		Chúa Giêsu vẫn luôn là một. Không chờ câu trả lời, Người đến bên Tôma, 
		và với một lối trả đũa đượm nét khôi hài, Người cho ông kiểm chứng lai 
		lịch của Người, dẹp yên mối nghi ngại của ông và xin ông đừng cứng lòng 
		tin, song hãy dần dần trở nên kẻ thành tín. Chúng tôi dịch: lè ginou ra: 
		(đừng trở nên cứng tin, mặc dầu nhiều tác giả vẫn phản đối kiểu dịch đó 
		và dịch &quot;đừng cứng tin, đừng có thái độ như người không tin&quot;. Thật vậy, 
		từ khi Chúa Giêsu chết trên thập giá, Tôma dần dần trở nên người không 
		tin. Thành ra ông phải từ từ đào sâu đức tin đầu tiên của mình lại. Niềm 
		tin này phải được củng cố để trở nên một đức tin Kitô giáo trưởng thành; 
		ông không được nằm lì nơi đức tin vào Đấng Messia, ông phải tin vào Con 
		Người đã được tôn vinh trong cái chết. </span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 36px">
		<span style="font-size: 14.0pt">Tôma rối loạn tâm thần! ông nói quá lố: 
		gọi Chúa Giêsu là Thiên Chúa! Ta không tìm được chỗ nào trong Tin Mừng 
		thứ tư một lời tuyên tín chấn động và rõ ràng hơn: Lạy Chúa tôi và là 
		Thiên Chúa của tôi! Quả là một thành ngữ rất xứng đáng với vị thánh sử 
		già nua (1Ga 5,20). Phải chăng Tôma đã phát biểu như vậy? Nhưng ai dám 
		quả quyết rằng tôm, con người khô khan, hoàn toàn bối rối, đã không thể 
		nào ăn nói trượt quá trực giác đức tin đầu tiên của ông được? Dầu sao, 
		người ta có thể chấp nhận rằng việc quay đầu đột ngột từ sự tỉnh mộng 
		thiên sai ác liệt nhất đến cuộc gặp gỡ với Đấng Phục sinh đã có thể gợi 
		hứng cho tôm một lời tuyên xưng hơi vượt quá sự nhận biết đơn thuần về 
		Đấng Messia nơi ông. Đối với thánh sử, lời tuyên xưng tóm tắt trong vài 
		chữ ấy thật hoàn toàn thích đáng.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 36px">
		<span style="font-size: 14.0pt">Nhiều diễn giả và độc giả hiện đại 
		thường lấy làm khoái được bôi nhọ Tôma, con người gieo rắc nghi nan ấy. 
		Câu nói sau cùng của Chúa Giêsu được họ giải thích như là lời quở trách 
		nặng nề đối với Tôma, lời quở trách mà những kẻ tin chân chính như họ 
		thoát khỏi. Chúng ta đừng tưởng câu chuyện Tôma được giữ tại trong Tin 
		Mừng với mục đích cho các thế hệ về sau cái thú phê phán kẻ khác. Thật 
		ra, lời quở trách của Chúa Giêsu không quá ác độc. Các sứ đồ khác đã 
		chẳng phải thấy mới tin đó sao? (Mt 28,7; Mc 16, 11- 13. 14; Lc 24, 11. 
		25. 38. 41). Lời áy của Người có lẽ cũng đượm nét khôi hài không kém cử 
		chỉ phô bày vết thương. Người nói nó ra với một nụ cười; vì còn hơn một 
		tiếng quở trách, đó là một lời hứa, một lời chúc, lời hứa đẹp nhất mà 
		thánh sử có thể ngỏ với mọi độc giả của ông, dù họ thuộc thế kỷ nào: 
		Phúc cho những ai không thấy mà tin! không một thế hệ Kitô hữu nào sẽ bị 
		kém ưu đãi so vớt thế hệ đầu tiên. Dĩ nhiên, cần những chứng nhân tận 
		mắt, bởi vì chứng từ đức tin, dưới sự hướng dẫn cửa Thần khí (15, 26- 
		27), phải dựa tràn những sự kiện được dẫn chứng hợp cách. Song thực tại 
		của việc Thiên Chúa hiện diện trong Chúa Giêsu (17, 17) tức là cái chân 
		lý được chuyển thông bằng lời mặc khải (17,20) thì ban trực tiếp cho mọi 
		người, tín hữu về sau cũng như chứng nhân của việc Sống lại. Tất cả họ 
		đều ở trong cùng một tương quan đích thực và trực tiếp với Chúa Giêsu, 
		và trong Chúa Giêsu, với Chúa Cha (17, 21); họ không sống những cuộc 
		hiện ra của Đấng Phục sinh, tuy nhiên trong đức tin họ vẫn thấy Người 
		sống (14, 19; 16, 16-20). Phúc cho ai lời cầu chúc Chúa Giêsu ngỏ với họ 
		không phải chỉ là một lời khuyến khích hãy tin dù sao cũng mặc, nhưng 
		thật là một lời cầu chúc hạnh phúc, vì người xác nhận rằng trong đức 
		tin, họ sẽ có thể thấy Người và đến gần Người (1 Pr 1, 8-9). </span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 36px"><b>
		<span style="font-size: 14.0pt">KẾT LUẬN CỦA TIN MỪNG GIOAN</span></b><span style="font-size: 14.0pt"> 
		(20, 30-31)</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 36px">
		<span style="font-size: 14.0pt">Nhiều dấu lạ khác nữa... Khi đặt bút kết 
		thúc tác phẩm, Gioan biết rõ rằng nó chưa chấm dứt. Hỏi đời nào ta viết 
		cạn ý một cuốn sách? Hay hơn nữa, có bao giờ ta minh chứng trọn vẹn đức 
		tin của mình? Chính Chúa Giêsu cũng đã bảo trong diễn từ giã biệt: “Ta 
		còn nhiều điều phải nói với các con...” (16,12). Theo gương Chúa Giêsu, 
		Đấng tràn trề ao ước mặc khải Chúa Cha cho thế gian thế gian với tâm trí 
		quá hẹp hòi hay đúng hơn với tâm hồn quá tự mãn khó có thể đón nhận đức 
		Gioan nóng lòng trình bày cho độc giả cơn người của Chúa Giêsu trong 
		chiều kích thật sự của Người, một con người gây nhiều ngạc nhiên vì là 
		thần linh. Gioan có cảm tưởng tác phẩm của mình chỉ là một bức tượng bán 
		thân. Chẳng những vì ông không nói hết: thật ra còn nhiều dấu lạ khác... 
		(x. Hc 43,27; 1Mcb 9,22), nhưng nhất là vì trình thuật không bao giờ có 
		thể trình bày đủ. </span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 36px">
		<span style="font-size: 14.0pt">Rốt cục, ông có thể làm gì nếu không 
		phải là thuật lại các dấu chỉ? Chúng ta hãy nhớ lại những dấu chỉ có 
		tính cách thiên sai của phần đầu trong đời công khai (Ga 2-4). Ở đây 
		quan niệm được mở rộng ra. Nó bao gồm những phép lạ dấu chỉ và công việc 
		(12, 37) cũng như những lời nói và cả cuộc đời công khai của Chúa Giêsu. 
		Lời nói và phép lạ luôn đi đôi với nhau, tạo nên một khối (12, 38); cả 
		hai soi sáng cho nhau, vì phép lạ và lời nói chỉ là những dấu chỉ nói 
		lên con người siêu nhiên của Chúa Giêsu. Người ta có thể chỉ dừng lại 
		nơi những biểu lộ bề ngoài và kêu lên: phi thường thay, những phép lạ đó 
		ý nghĩa tôn giáo sâu xa thay, những lời nói của Người!. Bao lâu phép lạ 
		và lời nói không gợi được cho độc giả con người bên trong của Chúa 
		Giêsu, bấy lâu chúng không đạt được mục đích. Thánh sử, với tư cách là 
		tín hữu đích thực và văn sĩ sáng suốt, biết chắc rằng thực tại vượt xa 
		ngàn trùng vi hình ảnh được diễn tả. Vì thế ông tha thiết kêu xin độc 
		giả phải xuyên qua dấu chỉ và đi đến sự vật được dấu chỉ diễn tả, như 
		ông đã làm dưới ánh sáng của Thần khí. </span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 36px">
		<span style="font-size: 14.0pt">Độc giả cần phải có đức tin. Tin Mừng 
		không được viết ra như một lời biện hộ gởi đến người không tin; trong 
		trường hợp này, thánh sử có lẽ chứng tỏ mình thiếu chiến thuật. Thật vậy 
		cho dù dán mắt vào các sự kiện, ông không quan sát chúng trên phương 
		diện thuần lý, nhưng dưới ánh sáng của đức tin do Thần khí khơi dậy và 
		soi sáng. Gioan viết cho các Kitô hữu đã tin, nhưng ông báo cho biết 
		không bao giờ họ đi đến mút cùng đời sống đức tin của họ đâu. Dấu chỉ 
		luôn bao hàm một thực thể không bao giờ tát cạn đối với ai muốn tin 
		nhiều hơn. Đi từ lòng tin vào tính cách thiên sai của Chúa Giêsu, tính 
		cách đã được làm nổi bật trong phần đầu của Tin Mừng (Ga 2-4) và được 
		củng cố do phản án.g đức tin đầu tiên của cộng đoàn Kitô hữu (vd Cv 2, 
		36), người Kitô hữu phải đi sâu vào lòng tin vào tử hệ thần linh của 
		Chúa Giêsu, mối tử hệ được mặc khải rõ ràng vào Giờ tôn vinh. Và đức tin 
		càng đào sâu thì sự sống thần linh và không thể phá hủy cành được trao 
		ban nhờ danh - hay con người - Chúa Giêsu. Vì Chúa Cha đã ban cho Chúa 
		Giêsu danh Ngài (17,11-12) đồng thời cả quyền thông sự sống vĩnh cửu (Ga 
		5, 26-40; 6, 53; 10, 10; 17,2). Ai tin vào danh Chúa Giêsu thì nhờ Người 
		sẽ được sống muôn đời (1, 12; 3, 15-18; 12,50; 1Ga 5,13). Không! Tin 
		Mừng không thể chấm dứt: là một tuyển tập các dấu chỉ, Tin Mừng vẫn còn 
		là như vậy bao lâu lòng tin của độc giả chưa đạt đến đích. Và đích này 
		khi nào sẽ đạt được? Khi người tín hữu thấy được vinh quang của Chúa 
		Giêsu mà Chúa Cha ban cho Người khi Người trở về cùng Cha, thứ vinh 
		quang thần linh đã hiện hữu trước mọi thời gian (17, 24). </span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 36px">
		<span style="font-size: 14.0pt">(H. van den Bussche, Jean. Paris DDB, 
		1967. Tr 549-556)</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 36px"><b>
		<span style="font-size: 14.0pt">Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG</span></b></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 36px">
		<span style="font-size: 14.0pt">1) Bài Tin Mừng hôm nay thật súc tích; 
		nó gợi lên cho ta ba điểm then chốt: nhấn mạnh ý nghĩa cuộc phục sinh 
		của Chúa Giêsu, biểu lộ sứ mệnh của Giáo Hội đã ghi khắc trong chiến 
		thắng Phục sinh, và suy nghĩ về sự chậm tin.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 36px">
		<span style="font-size: 14.0pt">a. Chúa Giêsu sống: các môn đồ đã gặp 
		lại Chúa Giêsu đang sống. Tin Mừng không ghi lại chính biến cố phục 
		sinh, và các trình thuật hiện ra cũng rất ngắn gọn. Đây là một lời mời 
		gọi đi thẳng vào điểm chủ yếu: hôm nay, Chúa Giêsu đang sống. Người đang 
		hiện diện trong đời ta. Cũng như ngày trước, hôm nay Người cũng có thể 
		vượt qua các bức tường ta đang ẩn úp bên trong, để hiện ra với ta. Đặc 
		biệt trong hy tế tạ ơn ngày Chúa Nhật, trong lòng cộng đồng tín hữu đang 
		tuyên xưng niềm tin vào Chúa Giêsu chết và sống lại, đang sống hôm nay, 
		vừa đang hiện diện. Lời Người đang vang dội bên tai ta trong lòng Giáo 
		hội đang họp nhau. </span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 36px">
		<span style="font-size: 14.0pt">b. Sứ mệnh của Giáo Hội: Cuộc gặp gỡ với 
		Chúa hằng sống là nguồn mọi sinh động. Tin là tham dự vào sứ mệnh của 
		Giáo Hội. Nhưng việc này không phải là một việc thuần nhân loại. Ta hãy 
		tự hỏi mình có phải là tín hữu không? Mọi công việc ta làm có được thúc 
		đẩy bởi Thần khí của Chúa Kitô không. Niềm vui cũng biểu thị đời sống 
		của những kẻ đã gặp Chúa Kitô trong niềm tin. Không phải là một niềm vui 
		dễ dãi chẳng biết đến gian nan thử thách, nhưng là niềm vui của đức tin, 
		cắm chặt trong chiến thắng Phục sinh của Chúa Kitô. </span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 36px">
		<span style="font-size: 14.0pt">c. Phát triển đức tin: Tin không phải 
		chỉ một lần. Đức tin là một cuộc sống. Mà sống là phải triển nở, lớn 
		lên; mọi hữu thể sống động cần phải được bồi dưỡng bằng một thức ăn 
		thích hợp. Làm sao trở nên sứ giả của Chúa Giêsu nếu mỗi ngày không cố 
		gắng sống đời môn đồ Người? Sự kiện cả những kẻ thân cận của Chúa Giêsu 
		cũng đã chậm tin không phải là một khích lệ cho ta sao? Ta thường hay 
		tìm cách biện minh, tìm các dấu chỉ khả giác, kết quả.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 36px">
		<span style="font-size: 14.0pt">2) Tin Mừng Gioan được gọi là Tin Mừng 
		về các dấu chỉ: Chúa Kitô bắt đầu cuộc sống công khai của Người bằng dấu 
		chỉ đầu tiên (nước biến thành rượu ở Cana xứ Galilê) và lời nói cuối 
		cùng của Người là: &quot;Phúc cho những ai không thấy mà tin&quot; (Ga 20,29). 
		Gioan nói thêm: &quot;... Còn nhiều dấu chỉ khác nữa, ... các điều đã viết 
		đây là để anh em tin&quot;. Do đó, Tin Mừng Gioan đã tuyển tập các dấu chỉ 
		của Chúa Kitô, kèm theo các diễn từ giải thích chúng, để cho thấy Chúa 
		Giêsu là Đấng Messia và là Con Thiên Chúa, và để khơi dậy niềm tin, một 
		niềm tin ban sự sống trong Ngươi? (Max Thurian). Vì thế Kitô hữu không 
		chỉ mê say với các điều kỳ diệu trong Tin Mừng mà còn phải ham thích lời 
		giải nghĩa cấc điều kỳ diệu đó. Chúa Giêsu Phục sinh minh nhiên hiện đến 
		với tôm là kẻ đã nói: &quot;Nếu tôi không thấy Người, tôi sẽ không tin&quot;, 
		nhưng chính vì Tôma và nhất là vì chúng ta mà Chúa Giêsu tuyên bố: &quot;Phúc 
		cho những ai không thấy mà tin&quot;. </span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 36px">
		<span style="font-size: 14.0pt">3) Điều cốt yếu thì vô hình đối với con 
		mắt&quot; (Saint- Exupéry). Câu này đúng với thế giới duy vật của ta. Phải có 
		các dấu chỉ về điều cốt yếu vô hình đó; chúng ta là những hữu thể có xác 
		phàm, những hữu thể vật chất, nhưng cũng là những hữu thể tinh thần, tâm 
		linh: xuyên qua các dấu chỉ vật chất, ta khám phá ra tình huynh đệ sâu 
		đậm, tình yêu thương chân thành đang tự hiến cho ta.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 36px">
		<span style="font-size: 14.0pt">4) Ta có tin vào các dấu chỉ không? Ta 
		có tin rằng Tin Mừng giúp ta biết rõ các sự kiện để ta&#39; &quot;nhận ra chúng&quot; 
		nhờ Thánh Thần mà Chúa Giêsu ban cho ta không? Ta có biết khám phá ra 
		các dấu chỉ cho thấy Thiên Chúa đang hiện diện trong đời ta không?
		</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 36px">
		<span style="font-size: 14.0pt">5) Thánh Thể là một trong những dấu chỉ 
		đặc biệt nói lên sự hiện diện của Chúa Kitô. Vì sao phép Thánh Thể ít 
		hiệu lực đối với ta? Thưa vì ta thường hay dừng lại giữa đường: ta ít 
		khi nhận biết Chúa Kitô đang ở đó như một Đấng sống động, một ngôi vị 
		sinh động mà ngày hôm nay đang tự hiến cho Chúa Cha và cho ta ... Ta 
		không chịu đọc các dấu chỉ ...</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 36px">
		<span style="font-size: 14.0pt">6) Phản ứng của Toma khi thấy các tông 
		đồ báo tin cho ông việc Chúa Giêsu hiện ra cho chúng ta thấy khía cạnh 
		đầu tiên trong hoạt động của “thế gian”. Vì việc sống lại của Chúa Giêsu 
		vừa khó tin vừa gây bực bội, nên ta thường bị cám dỗ không chấp nhận. 
		Cũng thế, Tôma giới hạn tri giác về thực tại và khả năng tri thức vào 
		tiêu chuẩn của kinh nghiệm hay của khả năng suy tư. Những gì ông không 
		thể hiểu, không thể sờ đến, đo lường, đều bị ông từ chối. Đó là tinh 
		thần của thế gian muốn kéo lôi tất cả đến với nó và chỉ chấp nhận những 
		gì nó chứa đựng.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 36px">
		<span style="font-size: 14.0pt">7) Đức tin luôn bao hàm sự liều lĩnh, 
		bởi lẽ nó không tự áp dụng bằng kinh nghiệm hay lý luận. Đức tin trở nên 
		khó khăn đối với Tôma, thì cũng khó khăn đối với tấ cả chúng ta. Đức tin 
		dạy điều khó tin vì giả thiết một sự vượt quá thường xuyên con người 
		chúng ta, vì đức tin là một sự tăng trưởng, một bước tiến đến Đấng nào 
		đó luôn bí ẩn, luôn gây ngạc nhiên.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 36px">
		<span style="font-size: 14.0pt">8) Đức tin không những là một sự liều 
		lĩnh mà còn là một cuộc chiến, một trận đấu. Đức tin không có gì là 
		thoải mái tiện nghi; nếu đức tin xây dựng và tái tạo chúng ta, điều đó 
		có thể thực hiện nếu chúng ta biết từ bỏ chính mình. Thế gian mà đức tin 
		sẽ toàn thắng không phải là một thực thể trừu tượng, xa vời. Thế gian 
		đó, là chính chúng ta với những sợ hãi, lo âu, khoe khoang, ghen ghét, 
		tham vọng và quyến luyến. Bao lâu còn bám chặt thế gian, bấy lâu chúng 
		ta còn bị thống trị. Và chúng ta hoàn toàn giống nhau, nên chúng ta 
		thường biện minh cho nhau, tự làm cho mình ra vô tình và không áy náy 
		trong việc bất tuân lời Chúa và khuyến khích nhau từ bỏ đức tin; thế 
		gian cũng như não trạng tập thể của xã hội thấm nhiễm vào chúng ta đến 
		nỗi nếu phải suy nghĩ hay sống khác biệt với tập thể này, chúng ta có 
		cảm tưởng là mình theo tư tưởng của riêng mình, là không liên đới với 
		những người khác và phá hủy một cái gì cao quí và cần thiết.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 36px">
		<span style="font-size: 14.0pt">9) Tôma thật đáng quí vì tôi nhận ra tôi 
		trong ông; nếu tôi gặp nhiều khó khăn thực sự khi phải chấp nhận tất cả 
		dưới lý do là vì Giáo hội dạy; tôi lại ít sẵn sàng chấp nhận khi thấy 
		Giáo hội không sống như lời giáo hội nói. Nếu là chân lý, tại sao giáo 
		hội không sống phù hợp hơn với điều Giáo hội giảng? Trong những lúc nghi 
		ngờ và khủng hoảng như thế, hãy lặp lại lòi nguyện khiêm nhường của Phúc 
		âm “Lạy Chúa, con tin, nhưng xin ban thêm đức tin cho con”.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 36px">
		<span style="font-size: 14.0pt">10) Chúa Giêsu ba lần nói cùng chúng ta 
		trong đoạn Phúc Âm này: “Bằng an cho các con”. Ngày nay, trong thế giới 
		và Giáo hội với những lao động bất công và bạo hành, ước gì chúng ta 
		sống trong bình an mà Đức Kitô phục sinh ban cho; chỉ khi nào đức tin 
		toàn thắng thế gian trong con người chúng ta, khi đó chúng ta mới là kẻ 
		xây dựng an bình.</span></td></tr><tr>
		<td width="474" height="56"><p style="text-align: center">&nbsp;&nbsp; <a target="_top" href="http://tinmung.net"><img border="0" src="../../../../../logo/LOGOtinmung.gif" width="67" height="40"></a>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;<a style="text-decoration: none; font-family: Arial; font-size: 10pt" target="_top" href="http://www.tinmung.net/SUYNIEM_HANGTUAN/SuyniemINDEX.htm"><img border="0" src="../../../../_Nam_A/2011/MuaThuongNien/VuaVuTru/LOGOtinmung2.gif" width="68" height="42"></a>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;</td></tr></table><p style="text-align: center">
&nbsp;</p>

PHP File Manager