File "15.htm"

Full path: E:/sites/Single15/tinmung2007/webroot/SUYNIEM_HANGTUAN2/2018/Phuc-Sinh B/CN I PS B/15.htm
File size: 15.06 KiB (15424 bytes)
MIME-type:
Charset: utf-8

Download   Open   Back

<html><head><meta http-equiv="Content-Language" content="en-us"><meta http-equiv="Content-Type" content="text/html; charset=utf-8"><title>
Chúa Nhật I Phục Sinh - Năm B</title><base target="main">
<meta name="keywords" content="Chúa Nhật I Phục Sinh - Năm B; Tin mừng Phục Sinh; Ngôi mộ trống; Ánh sáng và Bóng tôi; Sứ điệp phục sinh; Mầu nhiệm sự sống; Mặt trời hé mọc;"><style>
<!--
	.CONTENTS{FONT-SIZE: 11pt;COLOR:Navy;}
span.MsoHyperlink
	{color:blue;
	text-decoration:underline;
	text-underline:single;
	text-decoration:none underline;
	text-line-through:none;
	vertical-align:baseline}
span.apple-converted-space
	{}
-->
</style>
<meta name="description" content="Chúa Nhật I Phục Sinh - Năm B"><!--mstheme--><link rel="stylesheet" type="text/css" href="../../../../_themes/suyniem3/suyn1011-109.css"><meta name="Microsoft Theme" content="suyniem3 1011">
</head><body><table border="0" width="500" cellspacing="12" style="border-color: #FFFFFF; font-family:Times New Roman; font-size:14pt; text-decoration:none" bgcolor="#FFFFFF"><tr><td width="460"><font size="2" color="#FF0000" face="Arial">
	Chúa Nhật I Phục Sinh - Năm B</font></td></tr><tr><td width="474" style="font-family: Arial; font-size: 12pt; text-decoration: none; font-weight: bold; text-align: center">
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px"><b>
		<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif">
		ĐỨC GIÊSU NAGIARÉT<br>
		BỊ 
		ĐÓNG ĐINH, NGƯỜI ĐÃ CHỖI DẬY RỒI</span></b></p></td></tr><tr><td width="474" style="font-family: Arial; font-size: 8pt; text-decoration: none; font-style:italic; text-align:right">
		<a name="_Toc226711257">
		<span style="font-size: 8pt; font-family: 'Times New Roman',serif; font-style:italic">
		Chú giải của Fiches Dominicales</span></a></td></tr><tr><td width="474" style="font-family: Times New Roman; font-size: 14pt; text-decoration: none; text-align:justify">
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 36px">
		<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif">
		VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 36px"><b>
		<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif">1) 
		Bên kia bóng tối, ánh sáng ngày mới đang bừng lên</span></b></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 36px">
		<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif">
		Anh sao mai xuất hiện đã đánh dấu ngày Sabát, ngày lễ nghỉ thánh, chính 
		thức chấm dứt. Cuộc sống đã sớm trở lại với nhịp sống bình thường, các 
		tiệm buôn đã mở cửa. Bà Maria Mácđala, bà Maria mẹ ông Giacôbê, và bà 
		Salômê - ba bà này &quot;đã đi theo và giúp đỡ Đức Giêsu khi người còn ở 
		Galilê&quot; (15,41), đã có mặt khi Đức Giêsu bị đóng đinh (15,40), và khi 
		Người được chôn cất -đã có thể đi mua dầu thơm &quot;để ướp xác Đức Giêsu&quot;, 
		mà chắc không phải là theo cách thức người Ai cập, nhưng theo tục lệ của 
		người Do thái: ướp xác bằng dầu thơm.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 36px"><b>
		<i>
		<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif">
		&quot;Các bà ra mộ”</span></i></b><span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif">, 
		đến chỗ hẹn của cái chết. Nhưng bằng những hình ảnh biểu tượng khác 
		nhau: &quot;Sáng tinh sương”, &quot;lúc mặt trời hé mọc&quot; trình thuật đã báo trước 
		một cuộc tạo dựng mới rồi. Bóng tối của sự chết sắp bị đẩy lui nhường 
		chỗ cho ánh sáng của một ngày mới, cho một khởi sự mới của vũ trụ; đó là 
		&quot;ngày đầu tuần&quot; của một công trình tạo dựng mới, ngày ấy chẳng bao lâu 
		nữa sẽ được gọi là Chúa nhật, tiếng latinh là &quot;dies dominica”, Ngày Chúa 
		phục sinh. </span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 36px">
		<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif">
		Dọc đường đến mộ, khi nghĩ đến tảng đá lớn chắn cửa mồ, các bà cảm thấy 
		lo âu. Nỗi lo âu ấy là chuyện rất bình thường, vả chăng còn là khá muộn 
		màng: &quot;Ai sẽ lăn tảng đá ra khỏi cửa mộ giùm ta đây”, bởi vì các bà biết 
		rằng &quot;tảng đá ấy lớn lắm&quot; chỉ với sức lực của hai hoặc ba người đàn ông 
		mới có thể lăn nổi tảng đá ấy. Tảng đá càng lớn, thì càng gây ngạc nhiên 
		lớn hơn cho các bà sau này.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 36px">
		<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif">- 
		Các bà ngạc nhiên trước hết vì <b><i>&quot;thấy tảng đá đã lăn ra một bên 
		rồi”</i></b>, điều không thể nào làm được đối với các bà. Các nhà chú 
		giải muốn lưu ý ta về một chi tiết có tính khá soi sáng là: nguyên bản 
		bằng tiếng Hy lạp dùng câu này ở thể thụ động (tảng đá đã được lăn ra 
		một bên) nhằm &quot;ám chỉ đó là hành động của Thiên Chúa mà không cần phải 
		nói ra, còn sách bài đọc, thì rất tiếc là đã dịch câu đó ở thể bất định: 
		&quot;người ta đã lăn tảng đá rồi&quot; (J.Hervieux, &quot;L&#39;evangile de Marc&quot;, 
		Centurion, trang 233).</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 36px">
		<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif">
		Rồi tiếp đến là một ngạc nhiên khác: <b><i>&quot;vào trong mồ, các bà thấy 
		một người thanh niên</i></b> (tiếng Hy lạp là &quot;neaniskos&quot;) ngồi bên 
		phải, mặc áo trắng”. Người ta nghĩ ngay đến &quot;người thanh niên&quot; 
		(neanikos) được mô tả trong cảnh Chúa bị bắt; người thanh niên ấy chỉ 
		khoác vỏn vẹn một &quot;tấm vải gai&quot; (tiếng Hy lạp là &quot;sindona&quot; có nghĩa là 
		tấm vải liệm). Khi họ túm lấy anh, anh liền trút tấm vải lại, bỏ chạy 
		trần truồng. Đây là cách dùng biểu tượng để diễn tả việc Đức Giêsu phục 
		sinh thoát khỏi tay những kẻ thù tưởng là đã bắt được Người và giam hãm 
		Người trong cái chết (Maccô 14,50, J.Hervieux, O.C. trang 216-217).</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 36px">
		<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif">+ 
		&quot;Người thanh niên&quot; trong trình thuật &quot;ngồi bên phải” đó là địa vị danh 
		dự mà các Kitô hữu vốn dành cho Đức Kitô vinh hiển: &quot;Người ngự bên hữu 
		Đức Chúa Cha”</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 36px">
		<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif">+ 
		Người thanh niên ấy mặc áo trắng, giống như Đức Giêsu biến hình sáng 
		láng trên núi, ít lâu sau khi loan báo cuộc Thương Khó và Phục Sinh lần 
		thứ nhất (9,3).</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 36px">
		<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif">
		J.Hervieux nêu ý trước, rồi P.E Boismard cũng đồng tình: tất cả gần như 
		khơi gợi một sự &quot;xuất hiện&quot; của Đức&nbsp; Giêsu. Còn tác giả Maccô thì không 
		nói ra điều này. (O.C. trang 234). </span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 36px"><b>
		<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif">2. 
		Bên kia nỗi sợ hãi là hướng mở ra với sứ mạng</span></b></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 36px">
		<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif">
		Theo cách diễn tả sinh động của trình thuật, người thanh niên ấy không 
		phải ở đó để làm gì. Nhưng là để nói lên một lời, để loan báo một Tin 
		Vui, một Tin Mừng: <b><i>&quot;Các bà tìm Đức Giêsu Nagiaret, Đấng bi đóng 
		đinh, chứ gì? người thanh niên ấy nói với ba phụ nữ. Người đã chỗi dậy 
		rồi”.</i></b></span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 36px">
		<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif">Sứ 
		điệp phục sinh chứa đựng trong mấy lời sau đây: &quot;Đức Giêsu Nadarét&nbsp; mà 
		các bà đã đi theo trong thời gian Người&nbsp; rao giảng ở Galilê, và đã thấy 
		người chết tất tưởi trên thập giá, Đấng ấy nay đã sống lại: Người là 
		Đấng-Hằng-Sống! Cũng chính sứ điệp ấy mà các tông đồ sẽ loan báo cho 
		muôn dân sau này&quot; (cf. Cv 2,22-36; 3,12-20; vv...).</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 36px">
		<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif">
		Trước đây, ở phần đầu sách Tin Mừng Maccô (Phúc âm Chúa nhật V thường 
		niên) ta được biết: sau một ngày bận rộn ở Caphácnaum, Đức Giêsu thức 
		dậy sớm, đi đến một nơi thanh vắng để cầu nguyện. Các môn đệ kéo nhau đi 
		tìm Chúa. Khi gặp Người, các ông được bảo đi đến một ‘nơi khác’: &quot;Thôi, 
		chúng ta đi nơi khác, đến các làng xã chung quanh, để Thầy còn rao giảng 
		Tin Mừng ở những nơi đó nữa”. Còn ở đây, ở phần kết của sách Tin Mừng 
		Maccô, khi ngày mới đang lên, các môn đệ cũng lại nhận được sứ điệp, qua 
		trung gian các phụ nữ, để đi đến một nơi khác: Người không còn ở đây 
		nữa... Người sẽ đến Galilê trước các ông. Ở đó các ông sẽ được thấy 
		Người, như Người đã nói với các ông nơi hẹn gặp này, nơi Người sẽ &quot;đến 
		trước&quot; các ông ấy chính là miền Galilê, nơi tiêu biểu cho sự chung sống 
		lẫn lộn giữa người Do thái và dân ngoại. Đức Giêsu đã chọn Galilê để 
		khởi đầu sứ mạng rao giảng của mình (1, 14-15), nên nơi đây, trở thành 
		biểu tượng cho việc khai mở sứ mạng phổ quát vậy. J. Hervieux kết luận: 
		&quot;Các môn đệ được mời gọi tập họp lại đàng sau Đức Giêsu phục sinh, để 
		khởi sự một cuộc lên đường mới ra đi truyền giáo&quot; (O.C trang 234).</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 36px">
		<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif">- 
		Được mời gọi đem tin này đến cho &quot;các môn đệ Người và Phêrô”, khi vừa ra 
		khỏi mộ, các bà liền chạy trốn, &quot;run lẩy bẩy”. &quot;Các bà chẳng nói gì với 
		ai, vì sợ quá”? Trình thuật về biến cố Phục sinh kết thúc với những lời 
		trên, và sách Tin Mừng Maccô cũng kết thúc một cách chân chất như vậy.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 36px">
		<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif">
		Tại sao có sự sợ hãi như vậy? Tại sao lại yên lặng chẳng nói gì như thế 
		Chắc hẳn là do sự xúc động mãnh liệt và bất ngờ trước lời loan báo quá 
		lạ lùng về việc phục sinh của Đấng bị đóng đinh. Nhưng nỗi sợ hãi không 
		thốt lên lời này không thể ngăn cản các bà ra đi truyền lại sứ điệp, 
		cũng như không thể ngăn cản các tông đồ rao truyền sứ điệp ấy cho đến 
		tận cùng trái đất.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 36px">
		<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif">
		Theo P. Eboismard gợi ý, thì &quot;Maccô coi các độc giả Tin Mừng của ngài là 
		những người có đủ trí thông minh để hiểu, vậy thì ngài muốn truyền lại 
		cho họ sứ điệp nào? Trong phần đầu sách Tin Mừng của ngài, thánh Maccô 
		đã không ngần ngại mà còn lấy làm hứng thú nhấn mạnh đến sự ngớ ngẩn của 
		các môn đệ vì các ông không sao hiểu biết được chân tính đích thực của 
		Đức Giêsu. Ngay cả trường hợp ông Phêrô bất thình lình tuyên xưng Đức 
		Giêsu là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống cũng vậy. Đó chỉ là do Chúa 
		tỏ cho ông biết mà thôi (...). Trong phần thứ hai của Tin Mừng cũng vậy, 
		hết thảy các môn đệ không trừ một ai, kể cả ba người phụ nữ được coi như 
		trung tín nhất, đều hoảng sợ và bỏ trốn cả (...). Thế nhưng các độc giả 
		Tin Mừng của Maccô hẳn phải nhận thấy điều này, là sứ điệp của Đức Kitô 
		được truyền lại cách trung thực &quot;cho đến tận cùng trái đất&quot; (Cv 1,8) do 
		chính những con người yếu đuối và khiếp nhược kia. Chính quyền năng của 
		Thiên Chúa (hay của Đức Kitô phục sinh) đã phải tràn ngập tâm hồn các 
		môn đệ để thông ban cho họ ơn can đảm và hiểu biết mà trước đây họ khiêm 
		khuyết một cách thảm hại. Đó chính là sự lạ của Hội Thánh lúc mới khai 
		sinh mà thánh Luca sẽ thuật lại trong sách Công vụ Tông đồ. Còn Maccô 
		thì để cho độc giả của mình tự hiểu, giống như ngài đã để cho độc giả tự 
		hiểu rằng, nếu thánh Phêrô đã có thể nhận ra Đức Giêsu là Đấng Kitô thì 
		chính là nhờ một sự can thiệp của Thiên Chúa vậy. (Xem &quot;Jésus, un homme 
		de Nazareth&quot;, Cerf, 1996, trang 176).</span></p>
		</td></tr><tr>
		<td width="474" height="56"><p style="text-align: center">&nbsp;&nbsp; <a target="_top" href="http://tinmung.net"><img border="0" src="../../../../../logo/LOGOtinmung.gif" width="67" height="40"></a>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;<a style="text-decoration: none; font-family: Arial; font-size: 10pt" target="_top" href="http://www.tinmung.net/SUYNIEM_HANGTUAN/SuyniemINDEX.htm"><img border="0" src="../../../../_Nam_A/2011/MuaThuongNien/VuaVuTru/LOGOtinmung2.gif" width="68" height="42"></a>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;</td></tr></table><p style="text-align: center">
&nbsp;</p>

PHP File Manager