File "08.htm"

Full path: E:/sites/Single15/tinmung2007/webroot/SUYNIEM_HANGTUAN2/2018/Mua-Thuong-Nien/CN XXI TN/08.htm
File size: 23.65 KiB (24214 bytes)
MIME-type:
Charset: utf-8

Download   Open   Back

<html><head><meta http-equiv="Content-Language" content="en-us"><meta http-equiv="Content-Type" content="text/html; charset=utf-8"><title>
Chúa Nhật XXI - Thường Niên - Năm B</title><base target="main">
<meta name="keywords" content="Chúa Nhật XXI - Thường Niên - Năm B; Hành trình đức tin; Trung thành theo Chúa; Dứt khoát theo Chúa; Sống lời Chúa; Tự do chọn Chúa; Tự do; Bánh Thánh Thể; Lời ban sự sống."><style>
<!--
	.CONTENTS{FONT-SIZE: 11pt;COLOR:Navy;}
span.MsoHyperlink
	{color:blue;
	text-decoration:underline;
	text-underline:single;
	text-decoration:none underline;
	text-line-through:none;
	vertical-align:baseline}
span.apple-converted-space
	{}
-->
</style>
<meta name="description" content="Chúa Nhật XXI - Thường Niên - Năm B"><!--mstheme--><link rel="stylesheet" type="text/css" href="../../../../_themes/suyniem3/suyn1011-109.css"><meta name="Microsoft Theme" content="suyniem3 1011">
</head><body><table border="0" width="500" cellspacing="12" style="border-color: #FFFFFF; font-family:Times New Roman; font-size:14pt; text-decoration:none" bgcolor="#FFFFFF"><tr><td width="460"><font size="2" color="#FF0000" face="Arial">
	Chúa Nhật XXI - Thường Niên - Năm B</font></td></tr><tr><td width="474" style="font-family: Arial; font-size: 12pt; text-decoration: none; font-weight: bold; text-align: center">
		<b>
		QUYẾT ĐỊNH CỦA ĐỨC TIN</b></td></tr><tr><td width="474" style="font-family: Arial; font-size: 8pt; text-decoration: none; font-style:italic; text-align:right">
		<a name="_Toc333343624">
		<span style="font-size: 8pt; color: windowtext; font-style:italic; font-weight:400">Chú giải của Giáo 
		Hoàng Học Viện Đà Lạt</span></a></td></tr><tr><td width="474" style="font-family: Times New Roman; font-size: 14pt; text-decoration: none; text-align:justify">
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px"><b>
		<span style="font-size: 14.0pt">CÂU HỎI GỢI Ý</span></b></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
		<span style="font-size: 14.0pt">1. Giai thoại này có tầm quan trong thế 
		nào trong đời Chúa Giêsu và trong viễn tượng thần học của Gioan?</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
		<span style="font-size: 14.0pt">2. Câu 62 ám chỉ cái gì bí mật?</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
		<span style="font-size: 14.0pt">3. Nếu &quot;xác thịt không ích gì”, thì xác 
		thịt của Con Người mà ta phải ăn để được sự sống vĩnh cửu có ích gì 
		không? Phải chăng có mâu thuẫn?</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px"><b><i>
		<span style="font-size: 14.0pt">1. Diễn từ về Bánh sự sống là nguồn gốc 
		của một cuộc khủng hoảng sứ vụ tại Galilê.</span></i></b></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
		<span style="font-size: 14.0pt">Các Tin Mừng Nhất lãm cũng nhận rằng một 
		khủng hoảng như thế đã được khai mào trong quê hương Chúa Giêsu ngay 
		giữa bà con Người, sau khi Người giảng dạy trong các hội đường của họ 
		(Mt 13-54; Mc 6,1; Lc 4,15). Ở đó cũng vậy, bác luận căn bản phát xuất 
		từ chỗ người ta biết quá rõ nguồn gốc của Người (6,42).</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
		<span style="font-size: 14.0pt">Gioan đã mô tả khủng hoảng này cho đến 
		cao điểm của nó. Ông thấy trong đó không phải chỉ là một sự chống đối 
		thoáng qua. Luôn luôn cái trước trình thuật, ông rút ra từ hoàn cảnh 
		đang mô tả những triệu chứng của sự chối từ quyết liệt, của sự bội phản 
		Giuđa và của âm mưu người Do thái. Con Người đến loan báo thời đại cánh 
		chung, nên thái độ người ta đối với Người mang một giá trị vĩnh cửu. 
		Ngay từ giai đoạn hôm nay, các lập trường đã có tính cách quyết định và 
		Tin Mừng, một cách nào đó, có thể trực tiếp nhảy qua chương 13, qua 
		chứng từ về &quot;Giờ&quot;nhưng chương ở giữa 7-12. chỉ đề cập đến những giờ cuối 
		cùng của cuộc đời Chúa Giêsu là Chúa Giêsu quá biết rõ là việc mặc khải 
		của mình cho người Do thái hầu như sẽ vô ích (9,4; 11,9; 12.35). Căn cứ 
		vào những điều đã nhận xét, Người có thể lên án người Do thái ngay bây 
		giờ (8,26.50). Sở dĩ Người không làm chuyện đó và vẫn tiếp tục công việc 
		mặc khải, ấy chỉ vì ngày giờ của Người đã được ấn định bởi Chúa Cha. Dân 
		cứng tin sẽ chỉ bị phán xét khi nào giờ của Người đến (12,31). Trên 
		nguyên tắc, bản án đã được tuyên bố rồi, song chưa có uy lực quyết tụng 
		(9,39). Việc mặc khải của Con Người, đáng lẽ phải là một sự trao ban sự 
		sống vĩnh cữu, thì thực tế lại trở nên một phán quyết truất hữu, không 
		xâm nhập được vào tận đầu óc của người Do thái luôn khép kín trước mặc 
		khải thần linh và cánh chung đó. Thế mà sự từ chối mặc khải cánh chung 
		tất yếu bao hàm một phán quyết cánh chung. Do đấy, nảy sinh một sự mâu 
		thuẫn: một đàng, đây là cơ may cuối cùng của người Do thái, đàng khác 
		hạn kỳ để chọn lựa sẽ chỉ hết vào Giờ Chúa Giêsu.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px"><b><i>
		<span style="font-size: 14.0pt">2. Chúa Giêsu chẳng cần phải nghe những 
		gì người Do thái và các môn đồ giả nói mới biết (x. 5,6) họ không đồng ý 
		với Người. Phải chăng việc ám chỉ đến cái chết của Người và đến ý nghĩa 
		cứu chuộc của cái chết ấy làm cho họ vấp phạm?</span></i></b></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
		<span style="font-size: 14.0pt">Đúng! Sau này cũng vậy, mặc dù đã được 
		báo trước (16,1), họ vẫn coi cái chết của Người là một cớ vấp phạm (Mc 
		14,27; Mt 26,31). Chúa Giêsu đã làm gì với mức độ phát triển của đức tin 
		họ như thế? Người có tìm cách trấn an họ bằng cách giải thích sao cho 
		vấn đề trở nên dễ chấp nhận hơn chăng? Chắc chắn đó không phải là thói 
		quen hành động của Chúa Giêsu trong Tin mừng thứ tư. Trái lại, đứng 
		trước thính giả không hiểu lời Người, Chúa Giêsu thường phản ứng bằng 
		cách ám chỉ đến một mặc khải quan trọng hơn là mặc khải về tận cùng của 
		cuộc sống bản thân. Trước đó, trong diễn từ về bánh, người ta cũng đã 
		tìm được một ám chỉ về cái chết của Người (6,51) và chính lời ám chỉ này 
		đã gây nên cuộc bàn cãi dẳng dai giữa người Do thái. Lời ám chỉ thứ hai 
		chỉ là để xác nhận lời ám chỉ thứ nhất. Không rút lời lại, cũng chẳng 
		nhượng bộ trước bác luận của họ, Chúa Giêsu đưa ra một ám chỉ mới liên 
		quan đến một giai thoại cuối đời Người: Thăng thiên. Và lời ám chỉ này 
		nặc khải yếu tố thần linh mà ta phải giả thiết là có nếu muốn hiểu ý 
		nghĩa cứu sống của cái chết Chúa Giêsu. Như thế, hai khía cạnh của Giờ 
		được đưa ra ánh sáng: khía cạnh mặc khải cũng như khía cạnh cứu chuộc 
		(3, 13-15). Và đồng thời cái lý do cuối cùng của việc &quot;từ trời xuống&quot; 
		cũng được giải bày minh bạch trong chương 6 Gioan. Bởi vì việc lên trời 
		mang lại mặc khải hoàn toàn về Con người xuống thế là về nguồn gốc thần 
		linh của Người: vào lúc đó Chúa Giêsu mới đảm nhận chức vụ Con Người, 
		lúc đó nguồn gốc thiên giới của người mới hoàn toàn tỏ lộ. Vì Người lại 
		lên nơi đã ở từ trước. Như vậy Thăng Thiên vừa là mặc khải về Con Người 
		(1,51; 3,13; 6,62) vừa là mặc khải về Con (20, 17). Đối với Phaolô cũng 
		vậy: giây phút cuối đời Chúa Giêsu, hay đúng hơn sự Phục sinh của Người, 
		là lúc mà Chúa Giêsu trở nên hay lại trở nên thực sự chính Người: bấy 
		giờ Người trở nên Chúa, Con Thiên Chúa quyền năng (Rm 1,4) thu hồi lại 
		những ưu phẩm của thần tính Người (Pl 2,6-11) Sự cứu rỗi là nhận biết 
		Chúa Giêsu ấy (2Cr 5,16). Việc giải thích các câu 53-63 như vậy thật rất 
		chặt chẽ.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
		<span style="font-size: 14.0pt">Một vài nhà chú giải đã tìm cách giải 
		thích các câu này theo một đường hướng khác bằng cách xem mấy chữ &quot;Và 
		khi các ngươi thấy Con Người lên nơi Người đã ở trước&quot; như một lời tiên 
		báo việc đóng đinh trên thập giá (Cyrille, Maldonat, Tolet, Schanz) vì 
		xét rằng, đối với Gioan. Giờ của Chúa Giêsu là giờ Người bị nâng cao 
		trên thập giá và được vinh hiển. Nhưng ở đây, lối giải thích này ít xác 
		đáng vì hai lý do:</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
		<span style="font-size: 14.0pt">1/ Động từ amabainein &quot;lên&quot; không bao 
		giờ tương đương với động từ hupsôthênai &quot;giương cao&quot; trong Tin mừng thứ 
		tư cả (3,14; 12,32-34)</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
		<span style="font-size: 14.0pt">2/ Việc gương cao trên thập giá không 
		đặt Chúa Giêsu vào nơi mà Người đã ở trước. Vì thế, hình như bắt buộc 
		phải hiểu nghĩa Thăng thiên.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
		<span style="font-size: 14.0pt">Ý kiến này được đa số chấp nhận. Người 
		ta cỏn có thể tranh luận về cách thức bổ túc câu này, là câu chưa chấm 
		dứt và do đó có vẻ tối nghĩa, có lẽ do chủ ý. Nhưng dầu sao, chính mầu 
		nhiệm Thăng Thiên sẽ đưa ra giải đáp đúng nhất cho các khó khăn.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px"><b><i>
		<span style="font-size: 14.0pt">3. “Thần khí mới tác sinh, xác thịt thì 
		không ích gì&quot; (c 63)</span></i></b></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
		<span style="font-size: 14.0pt">Phải chăng những lời này muốt bảo: chỉ 
		có Thần khí mới ban sự sống còn xác thịt của Con Người thì không có ích 
		chi? Thế tại sao lại nhấn mạnh đến việc cần thiết phải ăn thịt ấy trong 
		diễn từ về bánh? Câu này thật là một skandalon, một chướng ngại cho 
		nhiều nhà chú giải.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
		<span style="font-size: 14.0pt">Người ta năng gặp cách chú giải câu đó 
		như sau: &quot;Xác thịt không ích gì&quot; có nghĩa là xác thịt vật chất của Chúa 
		Giêsu sẽ chẳng có một công hiệu cứu rỗi nào nếu không có &quot;thần khí tác 
		sinh&quot;; điều này giả thiết sự sống lại của Chúa Giêsu, việc Người vượt 
		qua tình trạng vinh hiển và thiêng liêng, và việc Thần khí can thiệp 
		trên các yếu tố được thánh thể hóa để làm thành thịt và máu của Đấng 
		Sống lại. Nhưng lối giải thích này không lưu ý đến sự mạch lạc toàn bộ 
		của diễn từ. Thật vậy từ c.53 đến 56, Chúa Giêsu nói về thịt Người hoặc 
		thịt của Con Người một cách rất minh nhiên và quả quyết không chút dè 
		dặt rằng đó thật là một của ăn (c.55) cung cấp sự sống vĩnh cửu (c 54). 
		Người ta khó mà hiểu làm sao nơt c.63a, Người nhắc lại cùng một thực tại 
		ấy khi nói về thịt mà chẳng xác định là thịt Người, và liều mình tương 
		đối hóa lời tuyên bố của Người trước đó mấy câu. Sau hết, ngay tiếp theo 
		c.63a Người bảo: &quot;Lời Ta đã nói với các ngươi là Thần khí và là sự 
		sống&#39;&#39;. Câu này cho thấy rõ ràng quyền lực Chúa Giêsu đang có khi Người 
		tuyên bố nó ra. hình như không chắc là ở đây Người bảo thịt Người chẳng 
		lợi ích gì cả, vì như thế thì không còn mạch lạc giữa lời nầy với các 
		lời trước.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
		<span style="font-size: 14.0pt">Thật ra, hợp lý hơn khi giả thiết rằng 
		trong c.63, không còn vấn đề thịt Chúa Giêsu, thịt được hy tế cho chúng 
		ta, dấu chỉ hữu hiệu của tình thương Người và lương thực nuôi sống chúng 
		ta nữa, nhưng là xác thịt nói chung, là nhân tính chúng ta, nhân tính 
		bất lực trong việc cứu rỗi chính mình cũng như đón nhận ơn cứu rỗi và 
		chân lý do Chúa Giêsu mang đến (x. Mt 16;17). Bản văn không bàn tới sự 
		đối nghịch giữa &quot;Thịt Ta -Thần Khí&quot;, nhưng tới sự đối nghịch, theo quan 
		niệm sêmita, giữa Thần khí - xác thịt là ngày nay ta đến tả dưới hai ý 
		niệm nhân loại thần linh (x. 3,6). Các người Do thái bực tức trước những 
		lời nói của Chúa Giêsu. Vì, noi theo người đại tiện nổi tiếng của họ là 
		Nicôđêmô, họ chỉ xét mọi sự dưới khía cạnh phàm trần mà không để ý gì 
		đến những khả hữu tính thần linh. Khi phê phán những lời của Chúa Giêsu 
		trong ý nghĩa nguyên thủy của chúng cũng như trong lối giải thích của 
		Gioan trên những nền tảng nhân loại, thì những lời nói ấy hiển nhiên là 
		phi lý. Nhưng đọc những lời nói đến sự sống vĩnh cửu trong một viễn 
		tượng nhân loại thì lại còn phi lý hơn.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px"><b>
		<span style="font-size: 14.0pt">CHÚ GIẢI CHI TIẾT</span></b></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px"><b><i>
		<span style="font-size: 14.0pt">&quot;Nhiều môn đồ nói ...&quot;</span></i></b></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
		<span style="font-size: 14.0pt">Tiếng Hy lạp pelloi có thể hiểu là 
		‘nhiều&#39; hay ‘khá nhiều’, nghĩa đầu mạnh hơn nghĩa sau; ở đây cũng như ở 
		chỗ khác, không thể nào xác định được. Cũng chẳng rõ là số &quot;môn đồ&#39;&#39; ấy 
		có bao hàm nhóm Mười hai hay không. Tuy nhiên, dựa vào việc Phêrô xem ra 
		nhân danh nhóm Mười hai để minh định lập trường, nên có lẽ không được 
		liệt nhóm Mười hai vào số các môn đồ lẩm bẩm kêu ca Chúa Giêsu, ngoại 
		trừ Giuđa, vì Chúa Giêsu đã gọi y là &quot;quỷ sứ&quot; (6,70).</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px"><b><i>
		<span style="font-size: 14.0pt">&quot;Lời chi mà sống sượng thế&quot;</span></i></b></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
		<span style="font-size: 14.0pt">Không phải là khó hiểu, nhưng đúng hơn 
		là khó nuốt, khó chấp nhận.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px"><b><i>
		<span style="font-size: 14.0pt">&quot;Vì chưng ngay từ đầu, Chúa Giêsu đã 
		biết kẻ sẽ nộp Người là ai&quot;</span></i></b></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
		<span style="font-size: 14.0pt">Không chắc Gioan muốn nói với độc giả là 
		Chúa Giêsu đã biết sự bội phản tương lai của Giuđa ngay khi Người gọi 
		ông làm sứ đồ. Tiếng từ đầu không buộc phải hiểu như vậy; hơn nữa một sự 
		hiểu biết như thế của Chúa Giêsu sẽ khiến việc chọn Giuđa thành khó giải 
		thích, đó là chưa kể nó không mấy phù hợp với bản tính nhân loại thực sự 
		của Chúa Giêsu. Nếu cho rằng Chúa Giêsu chỉ khám phá ra là Giuđa không 
		đáng tin cậy sau khi đã sống thân mật với ông một thời gian, thì tiếng 
		ngay từ đầu mới có thể biện minh được.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px"><b><i>
		<span style="font-size: 14.0pt">&quot;Từ đó&quot;</span></i></b></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
		<span style="font-size: 14.0pt">Thành ngữ ektoutou, ngoài nghĩa thời 
		gian, còn có thể có nghĩa nguyên nhân (như trong các chỉ cảo): Gioan 
		muốn bảo rằng sự đào ngũ đông đảo mà ông đang đề cập có nguyên nhân trực 
		tiếp là giáo thuyết mà Chúa Giêsu vừa đề ra.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px"><b><i>
		<span style="font-size: 14.0pt">&quot;Ngài có những lời đem đến sự sống đời 
		đời&quot;</span></i></b></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
		<span style="font-size: 14.0pt">Nói cho đúng, phải dịch câu này như sau: 
		&quot;Ngài có nhiều lời ban sự sống đời đời&quot; (TOB). Nhưng ở đây, như thường 
		thấy trong Gioan, việc thiếu quán từ có lẽ là do ảnh hưởng của căn ngữ 
		sêmita. Do đó, cách dịch của BJ có thể bào chữa được.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px"><b>
		<span style="font-size: 14.0pt">KẾT LUẬN</span></b></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
		<span style="font-size: 14.0pt">Các lập trường đã chọn lựa xong, các phe 
		nhóm đã phân chia rõ ràng. Giuđa và người do thái có thể chuẩn bị vụ án 
		Chúa Giêsu. Thật ra, chính Con người sắp xử án dân bị loại bỏ của Thiên 
		Chúa, giữa niềm vui của ngày lễ Lều Trại và lễ Đền thờ là hai đại lễ của 
		dân &quot;được tập họp&quot; của Thiên Chúa (Ga 7-10).</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px"><b>
		<span style="font-size: 14.0pt">Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG</span></b></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
		<span style="font-size: 14.0pt">1. Phần kết luận của diễn từ về bánh sự 
		sống dẫn đưa chúng ta tới cao điểm của cơn khủng hoảng từ đó phát sinh 
		cuộc Khổ nạn của Chúa Giêsu. Chúa đã hỏi một số lời bắt người ta phải 
		chọn lựa: hoặc tin vào Người, hoặc từ chối không tin.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
		<span style="font-size: 14.0pt">2. Sở dĩ một số môn đồ kêu ca khó chịu 
		và từ chối tin, là vì họ có một cách thức hiểu lời Chúa Giêsu. Hoặc họ 
		từ chối, hoặc đối với một vài kẻ, chưa đến giờ tin, tất cả là vì họ 
		không hiểu lời Chúa Giêsu trong Thần khí. Họ chẳng chịu vượt qua sự hiểu 
		biết vật chất và xác thịt về những lời của Người. Tại sao vậy? Vì tâm 
		hồn họ không ở trong tình trạng đón tiếp. Tâm trí họ đóng kín trước điều 
		mới mẻ. Họ giam mình trong thế giới vật chất mà họ coi là dễ chấp nhận 
		hơn. Điều Chúa Giêsu nói không thể nào có được xét theo con người, thành 
		thử họ loại bỏ. Điều bất hạnh cho họ nằm trong câu hỏi: Điều gì không 
		thể được đối với Thiên Chúa? Ở đây, họ tỏ ra thiển cận, chỉ muốn phê 
		phán điều có thể và không có thể; họ chẳng có ý định đi tìm quan điểm mà 
		từ đó một số tâm hồn đơn sơ tự nhiên thấy được lối vào trong cái vô biên 
		của thực tại, thực tại Thiên Chúa. Chúng ta đang đứng trước một trường 
		hợp điển hình của sự tự mãn ngoan cố và hẹp hòi của trí tuệ con người 
		chỉ muốn phủ nhận cái bên kia những chân trời của nó. Các sứ đồ dã có 
		được phản xạ cứu thoát họ. Được ân sủng bên trong của Thần khí trợ giúp, 
		họ đã vượt thắng được sự khó hiểu bằng cách trung thành với Chúa Giêsu 
		chỉ Người là &quot;Đấng Thánh của Thiên Chúa&quot;.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
		<span style="font-size: 14.0pt">3. &quot;Nhưng trong các ngươi, có những kẻ 
		không tin&quot;. Hãy tự vấn xem câu này có liên can đến chúng ta, là những 
		tín hữu của thế kỷ XX không? Việc đọc và nghe lời Chúa Giêsu làm chúng 
		ta đặt lại vấn đề. Chúng ta có cho những lời ấy là quan trọng, có thực 
		sự muốn lao công vì &quot;lương thực sẽ lưu lại mãi đến sự sống đời đời&quot; 
		(6,27), có muốn tiếp nhận lương thực ấy bằng cách ăn uống Thịt Máu của 
		con Người và thông hiệp vào cuộc khổ nạn của Người không? Nếu không, 
		chúng ta hãy thành thật thú nhận: &quot;Lời chi mà sống sượng thế ”. Ai nghe 
		được (c 60) và hãy rút ra những hậu quả. Chúng ta đừng hy vọng đánh 
		tráo: &quot;Bởi chưng ngay từ đầu Chúa Giêsu đã biết ai là những kẻ không tin 
		và ai là kẻ sẽ nộp Người. Và Người nói: Vì thế Ta đã bảo các ngươi: 
		không ai có thể đến với Ta trừ phi là đã được Cha ban cho&quot;. Lúc chúng ta 
		quyết định, thì Chúa Giêsu nhắc lại rằng rốt cuộc đức tin của chúng ta 
		không thể căn cứ vào những nhận xét, những suy diễn hoặc những cảnh 
		tượng chủ quan, những căn cứ vào mặc khải mà Thiên Chúa ban cho chúng ta 
		về nhân cách đích thực của Chúa Giêsu và về tương quan giữa ta với 
		Người.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
		<span style="font-size: 14.0pt">4. Thánh Thể là bí tích và là chiến 
		thắng của sự bé nhỏ Tin Mừng: trong Thánh Thể chúng ta là con và lại 
		được trở thành con cái Thiên Chúa. Vì để tin rằng Thiên Chúa đến với 
		chúng ta dưới hình bánh, thì phải có một tâm hồn của trẻ nhỏ, cởi mở đón 
		nhận những điều diệu kỳ của Thiên Chúa. Hãy nhớ lại câu nói rất mạnh của 
		thánh Tôma: &quot;Chúng ta luôn luôn như là đứa bé trong lòng mẹ trên trần 
		gian này&quot;. Chúng ta đang ở vào thời gian con nhộng. Trong thế giới bên 
		kia, con bướm sẽ ra khỏi bóng tối của nó và sẽ triển nở trong ánh sáng 
		chan hòa.</span></td></tr><tr>
		<td width="474" height="56"><p style="text-align: center">&nbsp;&nbsp; 
		<img src="LOGOtinmung.gif" width="72" height="38">&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;<img alt="" src="LOGOtinmung2.gif" width="78" height="38">&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;</td></tr></table><p style="text-align: center">
&nbsp;</p>

PHP File Manager