File "06.htm"

Full path: E:/sites/Single15/tinmung2007/webroot/SUYNIEM_HANGTUAN2/2018/Mua-Thuong-Nien/CN II TN/06.htm
File size: 57.7 KiB (59086 bytes)
MIME-type:
Charset: utf-8

Download   Open   Back

<html><head><meta http-equiv="Content-Language" content="en-us"><meta http-equiv="Content-Type" content="text/html; charset=utf-8"><title>
Chúa Nhật II Thường Niên - Năm B</title><base target="main">
<meta name="keywords" content="Chúa Nhật II Thường Niên - Năm B; Tôi đã gặp Ngài; Sứ vụ nhân danh Ngài; Chiên Thiên Chúa; Môn đệ đầu tiên; Hành trình theo Chúa; Đức Kitô là ai?"><style>
<!--
	.CONTENTS{FONT-SIZE: 11pt;COLOR:Navy;}
span.MsoHyperlink
	{color:blue;
	text-decoration:underline;
	text-underline:single;
	text-decoration:none underline;
	text-line-through:none;
	vertical-align:baseline}
span.apple-converted-space
	{}
 div.MsoNormal
	{mso-style-parent:"";
	margin-top:0cm;
	margin-right:0cm;
	margin-bottom:10.0pt;
	margin-left:0cm;
	line-height:115%;
	font-size:11.0pt;
	font-family:"Calibri","sans-serif";
	}
-->
</style>
<meta name="description" content="Chúa Nhật II Thường Niên - Năm B"><!--mstheme--><link rel="stylesheet" type="text/css" href="../../../../_themes/suyniem3/suyn1011-109.css"><meta name="Microsoft Theme" content="suyniem3 1011">
</head><body><table border="0" width="500" cellspacing="12" style="border-color: #FFFFFF; font-family:Times New Roman; font-size:14pt; text-decoration:none" bgcolor="#FFFFFF"><tr><td width="460"><font size="2" color="#FF0000" face="Arial">
	Chúa Nhật II Thường Niên - Năm B</font></td></tr><tr><td width="474" style="font-family: Arial; font-size: 12pt; text-decoration: none; font-weight: bold; text-align: center">
		CÁC MÔN ĐỆ ĐẦU TIÊN</td></tr><tr><td width="474" style="font-family: Arial; font-size: 8pt; text-decoration: none; font-style:italic; text-align:right">
		<span style="font-size: 8pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black">
		Lm FX Vũ Phan Long, ofm</span></td></tr><tr><td width="474" style="font-family: Times New Roman; font-size: 14pt; text-decoration: none; text-align:justify">
		<p class="MsoNormal" style="line-height: 17.05pt; margin-bottom: .0001pt; text-indent:36px">
		<b>
		<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black">
		1.- Ngữ cảnh</span></b></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 36px; line-height: 17.05pt; margin-bottom: .0001pt">
		<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black">
		Trong&nbsp;<i>TM IV</i>, bài tường thuât ơn gọi các môn đệ được ghép vào bên 
		trong cái khung gọi là “<i>Tuần lễ khai mạc sứ vụ của Đức Giêsu”</i>.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; line-height: 17.05pt; margin-bottom: .0001pt; text-indent:36px">
		<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black">
		-&nbsp;<i>hai ngày đầu</i>&nbsp;: Gioan làm chứng (phủ định - khẳng định) ;</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="line-height: 17.05pt; margin-bottom: .0001pt; text-indent:36px">
		<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black">
		-&nbsp;<i>ngày thứ ba</i>&nbsp;(“hôm sau”,&nbsp;<i>Ga</i>&nbsp;1,35): lần này Gioan giới 
		thiệu Đức Giêsu cho hai môn đệ: “Đây là Chiên Thiên Chúa” (cc. 35-36);</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="line-height: 17.05pt; margin-bottom: .0001pt; text-indent:36px">
		<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black">
		- đoạn văn của&nbsp;chúng ta&nbsp;(1,35-42) nằm ở vị trí này;</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; line-height: 17.05pt; margin-bottom: .0001pt; text-indent:36px">
		<i>
		<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black">
		- ngày thứ tư</span></i><span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black">&nbsp;(“hôm 
		sau”, 1,43): Đức Giêsu gọi Philípphê và Nathanaen;</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; line-height: 17.05pt; margin-bottom: .0001pt; text-indent:36px">
		<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black">
		- “<i>ngày thứ ba</i>” (2,1): Đức Giêsu “bày tỏ vinh quang” (2,11) tại 
		Cana miền Galilê.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; line-height: 17.05pt; margin-bottom: .0001pt; text-indent:36px">
		<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black">
		&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Các mốc về thời gian này có&nbsp;một&nbsp;ý nghĩa mà&nbsp;chúng ta&nbsp;cần nắm 
		vững, để hiểu&nbsp;được&nbsp;bản văn. Chúng ta sẽ phân tích các nghĩa 
		này&nbsp;trong&nbsp;truyện Tiệc cưới Cana (2,1-12).</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="line-height: 17.05pt; margin-bottom: .0001pt; text-indent:36px">
		<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black">
		&nbsp;</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="line-height: 17.05pt; margin-bottom: .0001pt; text-indent:36px">
		<b>
		<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black">
		2.- Bố cục</span></b></p>
		<p class="MsoNormal" style="line-height: 17.05pt; margin-bottom: .0001pt; text-indent:36px">
		<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black">
		&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Bản văn có thể chia thành ba phần:</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px; line-height: 17.05pt; margin-bottom: .0001pt">
		<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black">
		1) Hai môn đệ đầu tiên (1,35-39);</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px; line-height: 17.05pt; margin-bottom: .0001pt">
		<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black">
		2) Anrê (1,40-42a);</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px; line-height: 17.05pt; margin-bottom: .0001pt">
		<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black">
		3) Simôn (1,42b).</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="line-height: 17.05pt; margin-bottom: .0001pt; text-indent:36px">
		<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black">
		&nbsp;</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="line-height: 17.05pt; margin-bottom: .0001pt; text-indent:36px">
		<b>
		<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black">
		3.- Vài ghi chú về chú giải</span></b></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; line-height: 17.05pt; margin-bottom: .0001pt; text-indent:36px">
		<i>
		<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black">
		- Ông Gioan đang đứng...</span></i><span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black">&nbsp;(35): 
		Có một nhóm môn đệ thường xuyên ở quanh Vị Tiền Hô (x.&nbsp;<i>Mc</i>&nbsp;2,18t;&nbsp;<i>Mt</i>&nbsp;11,2; 
		14,12;&nbsp;<i>Lc</i>&nbsp;11,1;&nbsp;<i>Ga</i>&nbsp;3,25). Bản văn xác định tiếp rằng một 
		trong hai môn đệ là Anrê, em của Simôn (c. 41); còn người thứ hai thì vô 
		danh.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 36px; line-height: 17.05pt; margin-bottom: .0001pt">
		<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black">
		Tìm cách dung hòa bài tường thuật của&nbsp;<i>TM IV</i>&nbsp;với bài của các&nbsp;<i>TMNL</i>&nbsp;nói 
		về ơn gọi của các môn đệ (x.&nbsp;<i>Mc</i>&nbsp;1,16-20) là chuyện vô ích. Chỉ có 
		một điểm gặp nhau: hai anh em Simôn và Anrê ở trong số những người được 
		gọi đầu tiên. Còn các khác biệt quá lớn:</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 36px; line-height: 17.05pt; margin-bottom: .0001pt">
		<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black">
		* Theo&nbsp;<i>Mc</i>&nbsp;1,29: Simôn ở Caphácnaum; theo&nbsp;<i>Ga</i>&nbsp;1,44: hai anh 
		em gốc Bétxaiđa.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 36px; line-height: 17.05pt; margin-bottom: .0001pt">
		<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black">
		*&nbsp;<i>TM IV</i>&nbsp;không nói gì tới các con ông Dêbêđê, trong khi theo&nbsp;<i>Mc</i>&nbsp;1,18-20, 
		họ là cặp môn đệ thứ hai;&nbsp;<i>Mc</i>&nbsp;lại không hề nói đến Philípphê và 
		Nathanaen.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 36px; line-height: 17.05pt; margin-bottom: .0001pt">
		<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black">
		* Bối cảnh cũng khác nhau: theo&nbsp;<i>TM IV</i>, các môn đệ đầu tiên thuộc 
		nhóm của Vị Tiền Hô, đã được ông hướng dẫn tới với Đức Giêsu; theo&nbsp;<i>Mc</i>, 
		Đức Giêsu chỉ kêu gọi các môn đệ sau khi Gioan bị bắt, và kêu gọi tại bờ 
		hồ Ghennêsarét, chứ không tại bờ sông Giođan, lúc đó họ đang làm nghề 
		chài lưới.&nbsp;&nbsp;&nbsp;</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px; line-height: 17.05pt; margin-bottom: .0001pt">
		<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black">
		* Ý hướng tổng quát khác nhau: Theo&nbsp;<i>Mc</i>, đây là một biến cố bất 
		ngờ lôi kéo người ta ra khỏi cuộc sống hằng ngày để thi hành sứ mạng 
		tông đồ; thật ra bản văn&nbsp;<i>Mc</i>là một bản tóm về thần học ơn gọi. 
		Dường như bản văn&nbsp;<i>Ga</i>&nbsp;còn ghi giữ lại kỷ niệm lịch sử, đó là các 
		môn đệ đầu tiên của Đức Giêsu, và có thể chính tác giả, đã có lúc thuộc 
		về nhóm Gioan Tiền Hô.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; line-height: 17.05pt; margin-bottom: .0001pt; text-indent:36px">
		<i>
		<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black">
		- thấy Đức Giêsu đi ngang qua</span></i><span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black">&nbsp;(36): 
		Hôm sau ngày làm chứng (cc. 29-34), trong khi Gioan còn đứng đó, Đức 
		Giêsu đã bắt đầu tiến đi: thái độ của Gioan tượng trưng rằng sự nghiệp 
		của ông đã đến lúc chấm dứt; thái độ của Đức Giêsu đánh dấu khởi đầu 
		cuộc đời của Người là một cuộc tiến bước thiêng liêng, sẽ đưa Người về 
		với Chúa Cha (x.&nbsp;<i>Ga&nbsp;</i>14,28). Còn Gioan thì tức khắc nói với hai 
		người trong nhóm môn đệ đã đến để tìm ơn cứu độ nơi ông, rằng: “Đây là 
		Chiên Thiên Chúa”.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; line-height: 17.05pt; margin-bottom: .0001pt; text-indent:36px">
		<i>
		<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black">
		- Các anh tìm gì thế?&nbsp;</span></i><span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black">(38): 
		“Tìm” (<i>zeteô</i>: 34 lần trong&nbsp;<i>TM IV</i>) có nghĩa là “tìm cách có 
		lại những đồ vật đã bị mất hoặc để lạc”. Trong ngôn ngữ Hy Lạp của&nbsp;<i>Bản 
		LXX</i>, đây là từ ngữ chuyên môn để nói về việc đi tìm Thiên Chúa, đặc 
		biệt tìm sự Khôn Ngoan của Thiên Chúa (x.&nbsp;<i>Kn</i>&nbsp;1,1-2a; 8,2.18 …). 
		Trong tiếng Hípri, “tìm” là&nbsp;<i>darash</i>;&nbsp;<i>darash hattorah</i>, “tìm 
		Torah”, có nghĩa là giải thích&nbsp;<i>Kinh Thánh</i>.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; line-height: 17.05pt; margin-bottom: .0001pt; text-indent:36px">
		<i>
		<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black">
		- Thưa Rabbi, Thầy ở đâu?</span></i><span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black">&nbsp;(38):&nbsp;<i>Rabbi</i>&nbsp;là 
		danh xưng tôn kính để gọi các kinh sư.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; line-height: 17.05pt; margin-bottom: .0001pt; text-indent:36px">
		<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black">
		-&nbsp;<i>Thầy ở đâu?</i>&nbsp;(38): Trên môi các&nbsp;môn đệ, câu hỏi chỉ nhắm nơi Đức 
		Giêsu đang sống, để họ đến gặp, nhưng tác giả là người đã quen sử dụng 
		các từ ngữ theo hai ý, có lẽ cũng hiểu câu hỏi theo một nghĩa sâu hơn: 
		“Thầy ở đâu về phương diện thiêng liêng?”. Đối với ông, các môn đệ đã 
		mặc nhiên thưa với Đức Giêsu lời thỉnh cầu của Philípphê và của bất cứ 
		người nào: “Xin tỏ cho chúng con thấy Chúa Cha (nơi Chúa Cha, Thầy đang 
		cư ngụ), như thế là chúng con mãn nguyện” (14,8).</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; line-height: 17.05pt; margin-bottom: .0001pt; text-indent:36px">
		<i>
		<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black">
		- Đến mà xem&nbsp;</span></i><span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black">(39): 
		Dịch sát là “Hãy đến và các anh sẽ xem thấy,&nbsp;<i>erchesthe kai opsesthe</i>.&nbsp;Mệnh 
		lệnh cách&nbsp;<i>erchesthe&nbsp;</i>có thể hiểu theo nghĩa điều kiện là “nếu như, 
		với điều kiện”. Còn&nbsp;<i>opsesthe</i>&nbsp;là thì tương lai của động từ&nbsp;<i>horaô</i>, 
		có thể hiểu như&nbsp;một<i>&nbsp;</i>lời hứa của&nbsp;Đức Giêsu:&nbsp;<i>TM IV</i>&nbsp;có bốn 
		động từ để diễn tả cái nhìn, từ cái nhìn thể lý nhất đến cái nhìn chiêm 
		ngưỡng sâu sắc nhất, đó là:&nbsp;<i>blepein</i>,&nbsp;<i>theasthai, theôrein</i>,&nbsp;<i>horan</i>&nbsp;[<i>idein</i>]. 
		Động từ sau cùng thuộc về lãnh vực đức tin. Trong&nbsp;<i>Ga</i>&nbsp;1,39, Đức 
		Giêsu mời các ông di chuyển về phía Người và có cái nhìn đức tin.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 36px; line-height: 17.05pt; margin-bottom: .0001pt">
		<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black">
		Câu trả lời của Đức Giêsu ở đây cũng có một mức độ sâu hơn: việc khám 
		phá ra nơi ở trần thế của Người tượng trưng và chuẩn bị cho việc khám 
		phá ra nơi ở thiêng liêng của Người. Bước đi theo Người theo cách thể 
		lý, các môn đệ thấy nơi trú ngụ của Người; hơn nữa, đã bước đi theo 
		Người cách thiêng liêng bằng lòng tin, họ cũng bắt đầu thấy được nơi ở 
		thiêng liêng của Người, tức Chúa Cha: “Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha” 
		(14,9).</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; line-height: 17.05pt; margin-bottom: .0001pt; text-indent:36px">
		<i>
		<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black">
		- Họ ở lại với Người</span></i><span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black">&nbsp;(39): 
		Đây là chặng đầu của một cuộc chung sống đưa tới sự hiệp thông sâu xa 
		nhất (x. 15,4).&nbsp;Trọn buổi chiều, kể từ 4g, họ xem và ở lại với Đức 
		Giêsu, về thiêng liêng cũng như về thể lý. Buổi chiều hoặc đêm đáng ghi 
		nhớ ấy mở đầu cho đời sống đức tin tròn đầy, đã đưa Anrê và người môn đệ 
		vô danh kia vào trong mầu nhiệm của đời sống Đức Kitô và làm cho họ rất 
		phấn khởi: “Chúng tôi đã gặp Đấng Mêsia”, Anrê reo lên như thế khi gặp 
		Simôn. Một niềm vui thiêng liêng bùng ra: theo các&nbsp;<i>TMNL</i>, đây là 
		niềm vui được ban cho những tâm hồn khám phá ra viên ngọc quý và kho 
		tàng trên trời (x.&nbsp;<i>Mt</i>&nbsp;13,44).</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; line-height: 17.05pt; margin-bottom: .0001pt; text-indent:36px">
		<i>
		<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black">
		- Khoảng giờ thứ mười</span></i><span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black">&nbsp;(39): 
		tức khoảng 4g chiều.&nbsp;<i>TM IV</i>&nbsp;quen ghi chú về thời gian chính xác 
		(x. 4,52; 18,28; 19,14; 20,19), nhưng hẳn là có một ý hướng biểu tượng. 
		Trong một số bản văn của&nbsp;<i>Cựu Ước&nbsp;</i>hoặc của Do Thái giáo đương 
		thời,&nbsp;<i>số 10</i>&nbsp;là con số hoàn hảo; vậy<i>&nbsp;“giờ thứ 10”</i>&nbsp;hẳn là 
		giờ hoàn tất và đánh dấu khởi đầu công trình của Đức Giêsu. Quả thế, ở 
		11,9, “ngày” là một hình ảnh được dùng để gọi thời gian Đức Giêsu hoạt 
		động ở trần gian (x. thêm 9,4-5; 12,35). “Mười” là một<i>&nbsp;</i>con số 
		hoàn hảo đối với các triết gia phái Pythagore và triết gia Philô khiến 
		Bultmann gợi ý rằng đây là giờ của sự hoàn tất. Cũng có những tác giả 
		cho rằng ngay hôm sau, bắt đầu vào lúc mặt trời lặn, là một<i>&nbsp;</i>ngày 
		sa-bát; do đó hai môn đệ đã phải ở lại với Đức Giêsu để tránh di chuyển 
		vào ngày ấy.&nbsp;&nbsp;</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; line-height: 17.05pt; margin-bottom: .0001pt; text-indent:36px">
		<i>
		<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black">
		- Trước hết</span></i><span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black">&nbsp;(<i>prôton</i>) 
		(41): Cuộc trò chuyện đã kéo dài trong đêm. Do đó, chúng ta hiểu là sáng 
		hôm sau, Anrê&nbsp;<i>trước hết</i>&nbsp;vội vã đi tìm anh trước khi làm bất cứ 
		việc gì.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; line-height: 17.05pt; margin-bottom: .0001pt; text-indent:36px">
		<i>
		<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black">
		- Chúng tôi đã gặp</span></i><span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black">&nbsp;<i>Đấng 
		Mêsia</i>&nbsp;(41): Dịch sát là “Chúng tôi đã&nbsp;<i>tìm thấy/tìm ra</i>&nbsp;Đấng 
		Mêsia”&nbsp;<i>Heuriskein</i>, tìm thấy, được dùng thường xuyên trong phân 
		đoạn này và phân đoạn sau. Anrê “tìm thấy/ra” Simôn, báo rằng họ đã “tìm 
		thấy/ra” Đấng Mêsia. Sau&nbsp;được Đức Giêsu&nbsp;“tìm thấy/ra”, Philípphê “tìm 
		thấy/ra” Nathanaen và bảo rằng đã “tìm thấy/ra” Đấng Mêsia.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; line-height: 17.05pt; margin-bottom: .0001pt; text-indent:36px">
		<i>
		<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black">
		- Anh sẽ được gọi là Kêpha, tức là Phêrô&nbsp;</span></i><span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black">(42):&nbsp;<i>Kêphas</i>&nbsp;là 
		từ Aram&nbsp;<i>kêpha&nbsp;</i>được hy-hóa, có nghĩa là “tảng đá”. Cũng như từ&nbsp;<i>rabbi</i>&nbsp;(c. 
		38) và&nbsp;<i>Mêsia</i>&nbsp;(c. 41),&nbsp;<i>kêpha</i>&nbsp;là từ Aram; điều này khiến 
		chúng ta lưu ý là có ba từ Aram trong cùng một đoạn văn. Hẳn là tác giả 
		suy tư trong ngôn ngữ này, hay ít ra ngài cũng rất quen thuộc các thuật 
		ngữ Aram. Bản&nbsp;<i>RSV</i>&nbsp;dịch thành một<i>&nbsp;</i>câu hỏi: “So you are 
		Simon the son of John? Vậy anh là Simôn con ông Gioan à?”. Thật ra, bản 
		văn không gợi ý một câu hỏi. Còn việc Đức Giêsu đặt tên cho Simôn thì 
		chúng ta hiểu: Người ta đặt tên cho những người hoặc những vật thuộc 
		quyền kiểm soát của mình (x.&nbsp;<i>St</i>&nbsp;2,20;&nbsp;<i>Dn</i>&nbsp;1,7); các người 
		cha đặt tên cho con cái (<i>Mt</i>&nbsp;1,25;&nbsp;<i>Lc</i>&nbsp;1,63).</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="line-height: 17.05pt; margin-bottom: .0001pt; text-indent:36px">
		<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black">
		&nbsp;</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; line-height: 17.05pt; margin-bottom: .0001pt; text-indent:36px">
		<b>
		<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black">
		4.- Ý nghĩa của bản văn</span></b></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; line-height: 17.05pt; margin-bottom: .0001pt; text-indent:36px">
		<i>
		<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black">
		* Hai môn đệ đầu tiên (35-39)</span></i></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 36px; line-height: 17.05pt; margin-bottom: .0001pt">
		<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black">
		Truyện hai môn đệ này chắc chắn có dấu vết những hoài niệm về một<i>&nbsp;</i>vài 
		môn đệ. Nhưng dưới ngòi bút của tác giả, truyện mang tính điển hình để 
		chia sẻ với độc giả cái nhìn về đời môn đệ. Các biến cố xảy ra rất 
		nhanh, trong cái khung giả tạo bảy ngày: các môn đệ đầu tiên đến gặp Đức 
		Giêsu, rồi Đức Giêsu gọi Phêrô, Philípphê, Nathanaen. Cuối cùng toàn 
		chương kết thúc với lời Đức Giêsu long trọng mạc khải về chính mình: 
		“Thật, tôi bảo thật các anh, các anh sẽ thấy trời rộng mở, và các thiên 
		sứ của Thiên Chúa lên lên xuống xuống trên Con Người” (<i>Ga</i>&nbsp;1,51).</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 36px; line-height: 17.05pt; margin-bottom: .0001pt">
		<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black">
		Trước khi truyện đạt tới đỉnh cao này, tác giả ghi lại lời chứng của 
		Gioan. “Thấy Đức Giêsu đi ngang qua, ông lên tiếng nói: ‘Đây là Chiên 
		Thiên Chúa’” (<i>Ga</i>&nbsp;1,36). Lời này nhắc lại lời nói&nbsp;trong&nbsp;hoạt cảnh 
		ở c. 29, chỉ khác là thuộc về ngày hôm sau. Đây là “cấu trúc trôn ốc” 
		quen thuộc của tác giả. Người thường xuyên trở lại&nbsp;vớinhững đề tài cũ, 
		cứu xét chúng từ những viễn tượng khác, thăm dò, và chia sẻ&nbsp;với&nbsp;các độc 
		giả sự phong phú&nbsp;đặc biệt&nbsp;của những thực tại Người đề cập đến (x.&nbsp;<i>Ga</i>&nbsp;20,19-23).</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 36px; line-height: 17.05pt; margin-bottom: .0001pt">
		<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black">
		Lúc đó Gioan [và hai môn đệ]&nbsp;được&nbsp;mô tả là “đang đứng” (<i>heistêkei</i>). 
		Có vẻ như thể ông đang chờ chuyện gì đó xảy ra.&nbsp;Trong&nbsp;<i>TM IV</i>, hành 
		động duy nhất có ý nghĩa mà Gioan làm, đó là&nbsp;<i>làm chứng</i>. Vì lúc 
		này Đức Giêsu chưa xuất hiện, hành động đó chưa xảy ra được. Như ngày 
		hôm trước, Gioan thấy Đức Giêsu bước đi và đã giới thiệu Người (<i>Ga</i>&nbsp;1,29), 
		sang ngày hôm sau, một lần nữa, Gioan lại công bố Đức Giêsu là Chiên 
		Thiên Chúa. Hoạt cảnh của ngày hôm qua cho biết ý nghĩa của tên gọi bí 
		ẩn này; hoạt cảnh hôm nay cho thấy hậu quả của lời loan báo ấy.&nbsp;Ông mời 
		họ rời xa ông để gắn bó với Đấng Cứu thế duy nhất chân thật.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 36px; line-height: 17.05pt; margin-bottom: .0001pt">
		<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black">
		Do được thầy giới thiệu, hai môn đệ đã quyết định đi theo Đức Giêsu. Ơn 
		gọi của họ, cũng như của Samuen, được đánh thức bởi một người khác, 
		không phải bởi “ánh sáng” nhưng bởi “chứng nhân của ánh sáng” (1,8; 
		3,3). Tác giả không nói gì đến hoàn cảnh thời gian, không gian, tâm lý 
		của các nhân vật: đây cũng là một lược đồ.Ý thức về sự khác biệt giữa 
		tiếng nói và Đấng được tiếng nói làm chứng cho, hai môn đệ bước theo Đức 
		Giêsu.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 36px; line-height: 17.05pt; margin-bottom: .0001pt">
		<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black">
		Hẳn là vì nghe tiếng bước chân, Đức Giêsu quay lại, và thấy các ông đi 
		theo mình. Người hỏi thẳng: “Các anh tìm gì thế?” (<i>Ga</i>&nbsp;1,38). 
		Những người đi theo thưa với Người là&nbsp;<i>rabbi</i>, không trả lời câu 
		hỏi của Người, mà lại hỏi Người ở đâu. Thay vì cung cấp một<i>&nbsp;</i>câu 
		trả lời trực tiếp, Đức Giêsu mời hai người đến và xem nơi Người ở. Hai 
		ông đã nhận lời mời và đi với Người đến nơi Người ở, nơi này là nơi nào 
		chúng ta không biết. Lúc đó vào khoảng giờ thứ 10 (= 4g chiều, hay là 
		5/6 ngày đã trôi qua), tức đã muộn. Có lẽ họ đã qua đêm với Người. Chi 
		tiết về thời gian này có ý nghĩa gì với tác giả không? Rất có thể chi 
		tiết này gợi ý rằng đây là giờ của sự hoàn tất.&nbsp;Điều đánh động trong mẩu 
		đối thoại giữa Đức Giêsu và các môn đệ đầu tiên của Gioan, đó là họ xưng 
		hô với Đức Giêsu là&nbsp;<i>rabbi</i>. “Thưa&nbsp;<i>rabbi</i>”.&nbsp;<i>Rabbi</i>&nbsp;là 
		từ ngữ thường được dùng để bày tỏ lòng tôn kính;<i>&nbsp;TM IV</i>&nbsp;thường 
		dùng từ ngữ này vào những dịp tường thuật các cuộc gặp gỡ của Đức Giêsu 
		với người khác. Những người được hưởng nhờ quyền lực siêu phàm của Đức 
		Giêsu cũng gọi Người là&nbsp;<i>Rabbi</i>.&nbsp;<i>Rabbi</i>&nbsp;có nghĩa chữ là “thầy 
		tôi” (<i>didaskalos</i>), thường được các môn sinh dùng để gọi vị thầy 
		họ trân trọng, nhưng sau này chỉ còn nghĩa là “thầy”.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 36px; line-height: 17.05pt; margin-bottom: .0001pt">
		<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black">
		Trong&nbsp;<i>TM IV</i>&nbsp;từ đầu cho đến đây, không chi tiết nào cho thấy Đức 
		Giêsu là một thầy giáo. Không một<i>&nbsp;</i>điều gì gợi ý là dân chúng mong 
		ước Đấng đang đến là mộtthầy dạy. Trong&nbsp;<i>TM</i>&nbsp;này, từ ngữ&nbsp;<i>rabbi</i>&nbsp;cũng 
		không được sử dụng nhiều: 7 trên 8 lần được các môn đệ Đức Giêsu sử dụng 
		(1,38.49; 3,2; 4,31; 6,25; 9,2; 11,8); lần còn lại được đặt trên môi của 
		các môn đệ nhìn nhận Gioan là thầy họ (3,26).</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 36px; line-height: 17.05pt; margin-bottom: .0001pt">
		<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black">
		Hai môn đệ vô danh “bước theo” Đức Giêsu. Trong hy-ngữ, “bước theo” (<i>akoloutheô</i>) 
		có nghĩa là “đi đàng sau một người”; “trở thành môn đệ” (nghĩa ẩn dụ). 
		Thay vì theo Gioan, bây giờ họ bước theo Đức Giêsu. Họ đã học với Gioan; 
		nay họ phải học với Đức Giêsu. Chính vì thế, họ gọi Người là&nbsp;<i>rabbi</i>. 
		Đây là cách tác giả diễn tả đòi hỏi từ bỏ tận căn được nói đến trong 
		các&nbsp;<i>TMNL</i>&nbsp;(x.&nbsp;<i>Mt</i>&nbsp;19,21;&nbsp;<i>Mc</i>&nbsp;10,21;&nbsp;<i>Lc</i>&nbsp;18,22): 
		hoặc họ là môn đệ của Đức Giêsu hoặc họ là môn đệ của Gioan. Không thể 
		có thỏa hiệp. Đây không còn phải là quyết định triệt để trở thành môn đệ 
		bằng cách từ bỏ những của cải vật chất nữa để đi theo một<i>&nbsp;</i>vị thầy 
		du thuyết; đúng hơn, đây là từ bỏ mộtdấn thân đầu tiên trong đức tin của 
		mình.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 36px; line-height: 17.05pt; margin-bottom: .0001pt">
		<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black">
		Nhưng ở đây không chỉ có vấn đề một<i>&nbsp;</i>dấn thân tận căn. Tác giả 
		diễn tả xác tín của mình là những ai đã thật sự học nơi Gioan, những ai 
		đã thật sự hiểu ý nghĩa của lời chứng của Gioan, thì trở thành môn đệ 
		của Đức Giêsu. Các môn đệ của Gioan tìm được vị trí đúng đắn của họ 
		trong cuộc đời khi họ trở thành môn đệ của Đức Giêsu. Những ai đã chú ý 
		thật sự đến lời chứng của Gioan thì phải đi vào nhóm môn đệ của Đức 
		Giêsu. Đây là ý nghĩa biểu tượng và cũng là ý nghĩa đích thật của bài 
		tường thuật.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 36px; line-height: 17.05pt; margin-bottom: .0001pt">
		<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black">
		Câu hỏi mở đầu của Đức Giêsu cũng lạ: “Các anh tìm gì thế?”, một câu hỏi 
		trên bình diện tường thuật thuần túy chỉ có nghĩa là “Các anh muốn gì?”. 
		Họ không đáp lại bằng một<i>&nbsp;</i>câu trả lời, nhưng bằng một câu hỏi: 
		“Thầy ở đâu?”. Nếu so sánh với ba&nbsp;<i>TMNL</i>, ta thấy những lời đầu 
		tiên Đức Giêsu nói công khai được các&nbsp;<i>TM</i>&nbsp;ấy ghi lại đều có chất 
		chứa một<i>&nbsp;</i>chương trình cho toàn thể&nbsp;<i>TM</i>&nbsp;(<i>Mt</i>&nbsp;3,15;&nbsp;<i>Mc</i>&nbsp;1,15;&nbsp;<i>Lc</i>&nbsp;4,21), 
		còn&nbsp;<i>TM IV</i>&nbsp;thì thế nào?</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 36px; line-height: 17.05pt; margin-bottom: .0001pt">
		<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black">
		Có thể cho rằng tác giả trình bày các môn đệ đầu tiên của Gioan như là 
		những cá nhân đang theo đuổi sự Khôn Ngoan thần linh. Tuy nhiên, Đức 
		Giêsu chính là hiện thân của sự Khôn Ngoan thần linh. Thật khôi hài, 
		những người đi tìm sự Khôn Ngoan thần linh lại tìm thấy sự Khôn Ngoan 
		hiện thân khi họ bước theo Đức Giêsu. Rồi tác giả cũng cho thấy Đức 
		Giêsu giải thích&nbsp;<i>Kinh Thánh</i>, và thường quy chiếu về bản thân 
		Người. Chẳng hạn, Người thực hiện một<i>&nbsp;midrash</i></span><a name="_ftnref1"><b><i><span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: #0068CF">[1]</span></i></b></a><span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black">&nbsp;về&nbsp;<i>Tv</i>&nbsp;78,24 
		trong Diễn từ về bánh ban sự sống (<i>Ga</i>&nbsp;6,26-51). Từ cách hiểu tổng 
		quát về Đức Giêsu như thế, rất có thể tác giả mô tả hai môn đệ đi đến 
		với Đức Giêsu như đến với người có thể giải thích<i>Kinh Thánh</i>. Nếu 
		vậy, hẳn là họ đã có lý khi thưa&nbsp;<i>rabbi</i>&nbsp;(<i>Ga</i>&nbsp;1,38), nhưng 
		danh hiệu này cũng phản ánh cách các thành viên của cộng đoàn tác giả 
		hiểu về Đức Giêsu. Do đó, câu hỏi của hai ông “Thầy ở đâu?” đã được Đức 
		Giêsu nâng lên một<i>&nbsp;</i>bình diện ý nghĩa khác (x. phản ứng của Đức 
		Giêsu đối với câu nói của Đức Maria tại tiệc cưới Cana:&nbsp;<i>Ga</i>&nbsp;2,3-4), 
		khi Người bảo các ông bằng một<i>&nbsp;</i>câu nặng chất đức tin: “Hãy đến và 
		các anh sẽ xem thấy”.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 36px; line-height: 17.05pt; margin-bottom: .0001pt">
		<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black">
		Hai môn đệ hỏi: “Thầy ở đâu?”. Câu hỏi này không đơn giản như thoạt 
		nhìn. “Ở/ở lại”,&nbsp;<i>menô</i>, là một động<i>&nbsp;</i>từ tác giả rất ưa 
		chuộng (<i>Ga</i>: 40 lần; truyền thống&nbsp;<i>Gioan</i>28 lần (<i>1 Ga</i>: 
		24x;&nbsp;<i>2 Ga</i>: 3x;&nbsp;<i>Kh</i>: 1x)</span><a name="_ftnref2"><span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: #0068CF">[2]</span></a><span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black">.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 36px; line-height: 17.05pt; margin-bottom: .0001pt">
		<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black">
		Động từ này được&nbsp;<i>TM Ga</i>&nbsp;dùng theo các nghĩa sau</span><a name="_ftnref3"><span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: #0068CF">[3]</span></a><span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black">: 
		(1) Nghĩa thông thường: “Ở lại” hoặc “sống” tại một nơi nào đó (1,39; 
		2,12; 4,40; 12,24). Thường, ý nghĩa địa dư này chuyển sang nghĩa thần 
		học; (2) Nghĩa thần học: “Ở lại” thường gợi lên một<i>&nbsp;</i>khoảnh khắc 
		đặc biệt quan trọng trong lịch sử cứu độ. Đức Giêsu “ở lại” với các môn 
		đệ đang tin vào Người (<i>Ga</i>&nbsp;2,12; 4,40; 7,9; 10,40; 11,6.54; 
		14,25). Đám đông nói rằng Đấng Kitô “ở lại” (tồn tại) mãi mãi (<i>Ga</i>&nbsp;12,34), 
		nhưng tác giả gợi ý rằng Đức Giêsu ở lại Nhà của Cha Người (<i>Ga</i>&nbsp;8,35). 
		Trong các bài diễn từ cáo biệt (<i>Ga</i>&nbsp;ch. 13–17), tác giả trình bày 
		rộng rãi ý nghĩa đích thực của “ở lại”. Đức Giêsu trở về với Chúa Cha để 
		chuẩn bị một<i>&nbsp;</i>chỗ cho các môn đệ để họ được ở với Người (<i>Ga</i>&nbsp;14,2-3). 
		Chúa Cha ở lại trong Đức Giêsu (<i>Ga</i>&nbsp;14,10) và Thánh Thần ở lại 
		trong các môn đệ của Đức Giêsu (<i>Ga</i>&nbsp;14,17). “Ở lại” không chỉ là 
		“ở với”, mà còn có nghĩa là “ở trong”. Trong thực tế, có một<i>&nbsp;</i>sự 
		“ở lại trong nhau” giữa Đức Giêsu và các môn đệ. Họ ở lại trong Người và 
		Người ở lại trong họ (<i>Ga</i>&nbsp;15,4.5.7). Ý nghĩa tối hậu của bí tích 
		Thánh Thể là: đây là một<i>&nbsp;</i>phương tiện để ở trong nhau và hiến mạng 
		sống cho nhau (<i>Ga</i>6,56). Đây là một tình trạng cánh chung mà mọi 
		tín hữu có thể sống ngay lúc này, nếu tuân giữ giới răn yêu thương (<i>Ga</i>&nbsp;15,10; 
		x.&nbsp;<i>1 Ga</i>&nbsp;4,12.16).</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 36px; line-height: 17.05pt; margin-bottom: .0001pt">
		<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black">
		Tất cả những điều này đã được tiên báo khi Đức Giêsu mời hai môn đệ vô 
		danh đến và xem Người ở đâu. Không phải là Người muốn họ đến mà thăm cái 
		lều người Ả Rập du cư (bedouin) hoặc một<i>&nbsp;</i>nhà trọ nào bên đường. 
		Người mời họ đến mà nhận thấy rằng Người đang ở với Chúa Cha và Chúa Cha 
		đang ở với Người. Họ đến mà trải nghiệm rằng sống chung với Người chính 
		là điều duy nhất quan trọng của đời sống Kitô hữu.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 36px; line-height: 17.05pt; margin-bottom: .0001pt">
		<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black">
		Cũng như Gioan đã thấy (<i>horaô</i>) Thần Khí ở lại (<i>menơ</i>) trên 
		Đức Giêsu, các môn đệ được mời xem/thấy (<i>horaô</i>) nơi Đức Giêsu ở (<i>menô</i>). 
		Đây không phải là mộtvấn đề nhìn xem bằng cặp mắt thể lý, mà là một<i>&nbsp;</i>nhận 
		thức nhờ đức tin. Như Gioan đã trải nghiệm cái nhìn mà Thiên Chúa đã hứa 
		(cc. 32.34), các môn đệ cũng chấp nhận lời mời của Đức Giêsu: “Hãy đến 
		và các anh sẽ xem thấy,&nbsp;<i>erchesthe kai opsesthe</i>” (1,39). Một lời 
		mời gọi (<i>các anh hãy đến</i>) và một<i>&nbsp;</i>lời hứa (<i>các anh sẽ 
		thấy</i>). Họ đã đến, tức là rời bỏ vị trí, quan điểm, lập trường của 
		họ, để đi vào vị trí, quan điểm, lập trường của Đức Giêsu, và họ đã “xem 
		thấy”. Họ đã nhận ra nơi Đức Giêsu đang ở thật sự.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="line-height: 17.05pt; margin-bottom: .0001pt; text-indent:36px">
		<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black">
		&nbsp;</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="line-height: 17.05pt; margin-bottom: .0001pt; text-indent:36px">
		<i>
		<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black">
		* Anrê (40-42a)</span></i></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 36px; line-height: 17.05pt; margin-bottom: .0001pt">
		<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black">
		Đến đây, tác giả cho biết một<i>&nbsp;</i>trong hai môn đệ ấy là Anrê, em của 
		Simôn Phêrô. Truyền thống và nhiều nhà chú giải hiện đại nghĩ rằng người 
		môn đệ vô danh kia chính là người môn đệ Chúa thương mến. Truyền thống 
		cũng đã đồng hóa tác giả&nbsp;<i>TM IV</i>&nbsp;với người môn đệ Chúa thương mến 
		và đồng hóa người môn đệ Chúa thương mến với Gioan, con ông Dêbêđê. Các 
		học giả&nbsp;<i>Kinh Thánh</i>&nbsp;hiện đại khá dè dặt đối với các kiểu đồng hóa 
		này. Dù sao, không có gì chắc chắn để chúng ta có thể đồng hóa người môn 
		đệ vô danh trong&nbsp;<i>Ga</i>&nbsp;1,35-39 với con ông Dêbêđê (Giáo sư Boismard 
		nghĩ là Philípphê). Quả thế, nếu con ông Dêbêđê là bạn của Anrê vào dịp 
		họ được gọi làm môn đệ, thì đây hẳn là lần duy nhất trong toàn bộ&nbsp;<i>Tân 
		Ước</i>, Gioan con ông Dêbêđê đi đôi với Anrê. Thông thường Gioan đi đôi 
		với anh là Giacôbê (x. chẳng hạn&nbsp;<i>Mt</i>&nbsp;4,21;&nbsp;<i>Mc</i>3,17;&nbsp;<i>Lc</i>&nbsp;5,10…), 
		còn Anrê thì đi đôi với anh là Phêrô (x.&nbsp;<i>Ga</i>&nbsp;1,40-42). Simôn Phêrô 
		chưa xuất hiện, nhưng vì ông được biết nhiều, nên chỉ cần nêu tên ông ra 
		là có thể xác định được Anrê. Trong truyền thống của Hội Thánh sơ khai, 
		Anrê chỉ là em của Phêrô thôi (<i>Mt</i>&nbsp;4,18; 10,2;&nbsp;<i>Mc</i>&nbsp;1,16 
		(29);&nbsp;<i>Lc</i>&nbsp;6,14). Tuy nhiên tác giả&nbsp;<i>TM IV</i>&nbsp;có cách phác họa 
		riêng Anrê.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 36px; line-height: 17.05pt; margin-bottom: .0001pt">
		<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black">
		Trong các&nbsp;<i>TMNL</i>, tên Anrê luôn xuất hiện trong một<i>&nbsp;</i>danh 
		sách. Danh sách này có khi chỉ có hai tên (<i>Mt</i>&nbsp;4,18;&nbsp;<i>Mc</i>&nbsp;1,16.29), 
		có khi bốn tên (<i>Mc</i>&nbsp;3,18;&nbsp;<i>Cv</i>&nbsp;1,13), có khi mười hai tên (<i>Mt</i>&nbsp;10,2;&nbsp;<i>Mc</i>&nbsp;3,13;&nbsp;<i>Lc</i>&nbsp;6,14), 
		nhưng không cho thấy Anrê có phận vụ gì cả. Anrê chỉ là em và bạn đồng 
		hành của Phêrô hoặc là một<i>&nbsp;</i>trong Nhóm Mười Hai. Nhưng với&nbsp;<i>TM 
		IV</i>, Anrê được phác họa ra như một<i>&nbsp;</i>người môn đệ đích thực của 
		Đức Giêsu. Thậm chí ông còn là một<i>&nbsp;</i>môn đệ có điều gì đó mà nói 
		ra. Ông nói với anh mình (<i>Ga</i>&nbsp;1,41), và ông nói với Đức Giêsu (<i>Ga</i>&nbsp;6,9; 
		x. 12,22). Rõ ràng là tác giả có một<i>&nbsp;</i>“luận đề về đời môn đệ” (<i>Ga</i>&nbsp;1,35-39) 
		và ngài tìm cách minh họa luận đề này bằng “ví dụ Anrê”.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 36px; line-height: 17.05pt; margin-bottom: .0001pt">
		<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black">
		Đối với ngài, Anrê là một<i>&nbsp;</i>con người bằng xương bằng thịt, xuất 
		thân từ một<i>&nbsp;</i>thành phố có thật: Bétxaiđa (<i>Ga</i>&nbsp;1,44), một<i>&nbsp;</i>thành 
		của miền Galilê (<i>Ga</i>&nbsp;12,21). Anrê là một<i>&nbsp;</i>môn đệ đã đi theo 
		trọn chương trình về đời môn đệ. Ông đã nghe lời chứng về Đức Giêsu. Ông 
		đã bước theo Đức Giêsu. Ông đã nêu chứng từ về Đức Giêsu cho những người 
		khác. Nhận lời chứng về Đức Giêsu, trở thành một<i>&nbsp;</i>môn đệ, và cống 
		hiến chứng từ về Đức Giêsu cho những người khác như một<i>&nbsp;</i>cách diễn 
		tả đời môn đệ của mình, đây là cái mô hình đơn giản (<i>pattern</i>) 
		thông thường về đời môn đệ theo cái nhìn của&nbsp;<i>TM IV</i>. Cũng như Anrê 
		có điều gì đó mà nói về Đức Giêsu cho anh mình (<i>Ga</i>1,41), 
		Philípphê cũng có điều gì đó mà nói về Đức Giêsu cho Nathanaen (1,45), 
		và người phụ nữ Samari cũng có điều gì đó mà nói về Đức Giêsu cho các 
		dân trong thành của bà (4,29.39). Trong cái chuỗi phản ứng từ chứng từ 
		đến chứng từ này, Tin Mừng tiếp tục được loan báo và người ta có thể 
		tin.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 36px; line-height: 17.05pt; margin-bottom: .0001pt">
		<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black">
		Tác giả ghi nhận là “trước hết (<i>prôton</i>), ông đi tìm gặp (<i>heuriskei</i>)&nbsp; 
		anh mình” (<i>Ga</i>&nbsp;1,41). Điều đầu tiên mà người môn đệ mới này đã làm 
		là đi tìm anh mình và nói về Đức Giêsu cho anh. Đã được đưa vào trong 
		“phong trào” của các môn đệ Đức Giêsu, Anrê phải kể cho ai đó về Đức 
		Giêsu, và anh ông là Simôn là người may mắn hưởng nhờ chứng từ của ông 
		đầu tiên. “Chúng tôi đã tìm thấy Đấng Mêsia (<i>messian</i>)”. Một lần 
		nữa, tác giả dịch&nbsp;một<i>&nbsp;</i>công thức&nbsp;Hípri&nbsp;(<i>mashiah</i>) ra 
		tiếng&nbsp;Hy Lạp: “nghĩa là Đấng Kitô (<i>christos</i>)”. Vì tác giả cho 
		thấy Anrê làm chứng cho&nbsp;Đức Giêsu&nbsp;là Đấng Mêsia (Kitô), ta có&nbsp;một<i>&nbsp;</i>sự 
		xác nhận là lời chứng của&nbsp;Gioan&nbsp;nói rằng&nbsp;Đức Giêsu là Con Thiên Chúa (<i>Ga</i>&nbsp;1,34) 
		là chứng từ về tư cách Mêsia của Người. Qua cuộc gặp gỡ với Đức Giêsu, 
		Anrê đã nhận ra sự thật của lời chứng của Gioan. Trước đây, Anrê đã được 
		mô tả như là một<i>&nbsp;</i>người đang đi tìm (1,38); bây giờ ông được giới 
		thiệu như là người đã tìm thấy. Kẻ đi tìm đã tìm thấy nơi Đức Giêsu điều 
		ông vẫn đang đi tìm lâu nay.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 36px; line-height: 17.05pt; margin-bottom: .0001pt">
		<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black">
		Lúc đầu Anrê đã gọi Đức Giêsu là&nbsp;<i>Rabbi</i>, “thầy của con”, bây giờ 
		ông gọi Người là&nbsp;<i>Mêsia</i>, “Đấng được xức dầu”. Khi tác giả phác họa 
		các môn đệ thưa với Đức Giêsu như một<i>&nbsp;rabbi</i>, thường ngài mô tả 
		cho thấy các môn đệ này đến với Đức Giêsu và đặt một<i>&nbsp;</i>câu hỏi (<i>Ga</i>&nbsp;1,38; 
		6,25; 9,2;11,8) để được chỉ giáo thêm. Đấy là thói quen của các học trò 
		Do Thái. Các môn đệ ra khỏi cuộc gặp gỡ, đã học thêm được điều gì từ nơi 
		thầy. Đây là trường hợp của Anrê, cũng như sau này là trong của 
		Nathanaen (1,49) và Maria Mácđala (20,16.18).</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 36px; line-height: 17.05pt; margin-bottom: .0001pt">
		<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black">
		Nói rằng tác giả coi Anrê là một<i>&nbsp;</i>môn đệ đích thực của Đức Giêsu, 
		điều này được nêu rõ qua lời tuyên xưng đức tin của ông vào Đức Giêsu. 
		Ông công bố: “Chúng tôi đã đã tìm thấy (<i>heurêkamen</i>) Đấng Mêsia” (<i>Ga</i>&nbsp;1,41). 
		Ở bình diện tường thuật, “chúng tôi” đây là Anrê và người môn đệ vô 
		danh. Ở một<i>&nbsp;</i>bình diện sâu hơn, “chúng tôi” đây, theo truyền thống 
		Gioan, là toàn thể nhóm của tác giả đang tuyên xưng niềm tin vào Đức 
		Giêsu Mêsia qua môi miệng Anrê.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 36px; line-height: 17.05pt; margin-bottom: .0001pt">
		<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black">
		Như thế, trong bài tường thuật rất ngắn về vai trò của Anrê (<i>Ga</i>&nbsp;1,[35-39].40-41), 
		tác giả phác họa Anrê như là người môn đệ đích thật. Điều đáng lưu ý, đó 
		là Anrê được thúc đẩy mạnh mẽ bởi lý tưởng dấn thân làm môn đệ đến nỗi 
		ông đi tìm anh để kể về Đức Giêsu và đưa anh tới với Đức Giêsu. Nếu có 
		một nét căn bản, không thay đổi, mà&nbsp;<i>TM IV</i>&nbsp;rút ra được từ dung mạo 
		Anrê, đó là Anrê đưa người ta đến với Đức Giêsu.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; line-height: 17.05pt; margin-bottom: .0001pt; text-indent:36px">
		<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black">
		&nbsp;</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; line-height: 17.05pt; margin-bottom: .0001pt; text-indent:36px">
		<i>
		<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black">
		* Simôn (42b)</span></i></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 36px; line-height: 17.05pt; margin-bottom: .0001pt">
		<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black">
		Simôn Phêrô là một<i>&nbsp;</i>dung mạo quen thuộc với độc giả, vì ông được 
		nêu tên như thế (<i>Ga</i>&nbsp;1,40), dù sau đó hai câu, tác giả xác định là 
		tên thật của ông là Simôn (1,42), còn Phêrô là biệt danh Đức Giêsu ban 
		cho ông.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 36px; line-height: 17.05pt; margin-bottom: .0001pt">
		<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black">
		Simôn được em là Anrê giới thiệu về Đức Giêsu là Đấng Mêsia rồi cũng 
		được em giới thiệu với Đức Giêsu. Như thế, con đường Simôn Phêrô theo để 
		đến với Đức Giêsu là con đường thông thường: ông được một<i>&nbsp;</i>người 
		đã tin làm chứng và đưa đến với Đức Giêsu; ông chấp nhận chứng từ đó và 
		đích thân đến gặp Đức Giêsu và khám phá ra quan hệ duy nhất giữa ông với 
		Người.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 36px; line-height: 17.05pt; margin-bottom: .0001pt">
		<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black">
		Vậy Simôn Phêrô là một<i>&nbsp;</i>môn đệ khác của Đức Giêsu. Nhưng có điều 
		gì đó chỉ có nơi người môn đệ này. Được đưa đến với Đức Giêsu nhờ lời 
		tuyên xưng của em vào Đấng Mêsia, Phêrô được Đức Giêsu ngỏ lời với theo 
		cách huyền bí: “Anh là Simôn, con ông Gioan, anh sẽ được gọi là Kêpha” (<i>Ga</i>&nbsp;1,42). 
		Công thức này, được Đức Giêsu nói ra trong khi Người nhìn ông, tương tự 
		công thức mạc khải có ở&nbsp;<i>Ga</i>&nbsp;1,29.36.47; 19,26-27.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 36px; line-height: 17.05pt; margin-bottom: .0001pt">
		<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black">
		Đức Giêsu đặt cho Simôn một<i>&nbsp;</i>tên mới, tác giả ghi nhận điểm này để 
		nêu bật quan hệ có một<i>&nbsp;</i>không hai giữa Simôn Phêrô và Đức Giêsu, 
		nhưng cũng để cho thấy Đức Giêsu có một<i>&nbsp;</i>uy quyền. Khi đặt tên cho 
		Phêrô, Đức Giêsu cũng còn muốn xác định cho ông một căn tính mới, một<i>&nbsp;</i>vai 
		trò mới trong cuộc sống, thậm chí một<i>&nbsp;</i>định mệnh mới (x. Abram và 
		Giacóp:&nbsp;<i>St</i>&nbsp;32,38; 35,10). Nói đến tầm quan trọng của tên mới của 
		Simôn, chúng ta đều nhớ đến đoạn văn&nbsp;<i>Mt</i>&nbsp;16,15-19. So với hoạt 
		cảnh tương đối dài đó được&nbsp;<i>Mt</i>&nbsp;mô tả, bản văn của&nbsp;<i>TM IV</i>&nbsp;thật 
		quá ngắn; nó chỉ tương tự với những câu ngắn nói về việc đổi tên ở&nbsp;<i>Mt</i>&nbsp;10,2;&nbsp;<i>Mc</i>&nbsp;3,16 
		và&nbsp;<i>Lc</i>&nbsp;6,14, chứ không sánh được với bản văn&nbsp;<i>Mt</i>&nbsp;16. Có thể 
		nói kịch bản này là do tác giả&nbsp;<i>TM IV</i>&nbsp;sáng tác ra cho phù hợp với 
		phần tường thuật của chương 1 của&nbsp;<i>TM</i>. Tuy nhiên, tác giả không 
		suy diễn gì về việc đổi tên hay về ý nghĩa của tên mới cả. Ngài chỉ dịch 
		tên Aram mới&nbsp;<i>Kepha’</i>&nbsp;thành một<i>&nbsp;</ riêng tư với Người, 
		đi vào hiệp thông với Người. Phần họ, họ không được giữ một<i>&nbsp;</i>khoảng 
		cách an toàn với Người để mà chỉ việc quan sát, nhưng phải dấn thân vào, 
		phải đi với Người, phải đưa bước trên nẻo đường Người đi.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; line-height: 17.05pt; margin-bottom: .0001pt; text-indent:36px">
		<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black">
		3. Có những thành kiến nào có thể ngăn cản người ta nhận biết Đức Giêsu? 
		Có điều gì đang ngăn cản tôi, về phương diện trí thức hoặc tình cảm, 
		khiến tôi không nhận ra Người là Con Thiên Chúa, ngang bằng với Thiên 
		Chúa? Lâu nay tôi tự hào là mình đi theo Đức Giêsu, mình là môn đệ của 
		Người, thật ra quan hệ của tôi với Người có thật sự sống động không? 
		Nếu&nbsp;không, vì sao? Dường như tôi chưa thật sự “đến” với Người, nên cũng 
		chưa thật sự “thấy” được điều Người muốn mạc khải cho?</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; line-height: 17.05pt; margin-bottom: .0001pt; text-indent:36px">
		<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black">
		4. Anrê không gặp Simôn Phêrô tình cờ, nhưng đã chủ ý đi tìm ông này, để 
		đưa ông tham dự vào kinh nghiệm mới mẻ và lạ lùng của ông: “Chúng tôi đã 
		gặp Đấng Mêsia”. Anrê không chỉ giới hạn vào việc làm chứng, ông còn dẫn 
		Simôn đến gặp&nbsp;Đức Giêsu. Có vô số nẻo đường cụ thể đưa người ta đến với 
		Đức Giêsu: tôi nghĩ đến những nẻo đường đã đưa tôi đến với Người. Trên 
		các nẻo đường này, có lời chứng và gương sáng của những người khác góp 
		vào. Nhưng chắc chắn phần quan trọng vẫn là kinh nghiệm thiết thân tôi 
		có về Đức Giêsu. Hôm nay, phải chăng tôi là một<i>&nbsp;</i>Anrê đưa được 
		người khác đến với Đức Giêsu, không phải chỉ bằng lời nói suông, mà bằng 
		chính kinh nghiệm sống tôi đã và vẫn đang có?</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="line-height: 17.05pt; margin-bottom: .0001pt; text-indent:36px">
		<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black">
		&nbsp;</span></p>
		<div class="MsoNormal" style="line-height: 17.05pt; margin-bottom: .0001pt">
			<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black">
			<hr size="1" width="33%" align="left"></span></div>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; line-height: 17.05pt; margin-bottom: .0001pt; text-indent:36px">
		<a name="_ftn1">
		<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: #0068CF">
		[1]</span></a><span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black">&nbsp;<i>Midrash</i>: 
		Một cách chú giải&nbsp;<i>Kinh Thánh</i>&nbsp;theo kiểu các kinh sư. Thường các 
		kinh sư lấy các câu văn Cựu Ước rồi diễn dịch, và ghép vào bản dịch của 
		mình những chi tiết mang tính huyền thoại hoặc tưởng tượng, để giáo dục 
		dân chúng.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; line-height: 17.05pt; margin-bottom: .0001pt; text-indent:36px">
		<a name="_ftn2">
		<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: #0068CF">
		[2]</span></a><span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black">&nbsp;X.&nbsp;<span style="font-variant: small-caps">Morgenthaler</span>,&nbsp;<i>Statistik</i>, 
		119, và R. E.&nbsp;<span style="font-variant: small-caps">Brown</span>,&nbsp;<i>John 
		I</i>, 510. Các tác phẩm&nbsp;<i>Tân Ước</i>&nbsp;khác:&nbsp;<i>TMNL</i>: 12x [<i>Mt</i>&nbsp;3x;&nbsp;<i>Mc</i>&nbsp;2x;&nbsp;<i>Lc</i>&nbsp;7x];&nbsp;<i>Cv</i>: 
		13x;&nbsp;<i>Phaolô</i>: 17x (<i>Rm</i>&nbsp;1x;&nbsp;<i>1 Cr</i>&nbsp;8x;&nbsp;<i>2 Cr</i>&nbsp;3x;&nbsp;<i>Pl</i>1x;&nbsp;<i>1 
		Tm</i>&nbsp;1x;&nbsp;<i>2 Tm</i>&nbsp;3x);&nbsp;<i>Dt</i>: 6x; 1<i>&nbsp;Pr</i>: 2x.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; line-height: 17.05pt; margin-bottom: .0001pt; text-indent:36px">
		<a name="_ftn3">
		<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: #0068CF">
		[3]</span></a><span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black">&nbsp;Có 
		thể đọc những gợi ý phong phú về ý nghĩa của&nbsp;<i>menô</i>&nbsp;trong&nbsp;<span style="font-variant: small-caps">Lê 
		Minh Thông</span>,&nbsp;<i>Tình yêu và tình bạn</i>, 65-78.&nbsp;</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
		<span style="font-size: 14.0pt; line-height: 115%; font-family: 'Times New Roman',serif">
		&nbsp;</span></p>
&nbsp;</td></tr><tr>
		<td width="474" height="56"><p style="text-align: center">&nbsp;&nbsp; <a target="_top" href="http://tinmung.net"><img border="0" src="../../../../../logo/LOGOtinmung.gif" width="67" height="40"></a>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;<a style="text-decoration: none; font-family: Arial; font-size: 10pt" target="_top" href="http://www.tinmung.net/SUYNIEM_HANGTUAN/SuyniemINDEX.htm"><img border="0" src="../../../../_Nam_A/2011/MuaThuongNien/VuaVuTru/LOGOtinmung2.gif" width="68" height="42"></a>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;</td></tr></table><p style="text-align: center">
&nbsp;</p>

PHP File Manager