File "39.htm"
Full path: E:/sites/Single15/tinmung2007/webroot/SUYNIEM_HANGTUAN2/2018/MV-GS B/lehienlinh/39.htm
File size: 42.01 KiB (43019 bytes)
MIME-type:
Charset: utf-8
<html><head><meta http-equiv="Content-Language" content="en-us"><meta http-equiv="Content-Type" content="text/html; charset=utf-8"><title>
Chúa Nhật CHÚA HIỂN LINH - Năm B</title><base target="main">
<meta name="keywords" content="Chúa Nhật CHÚA HIỂN LINH - Năm B; Ngôi sao giáng sinh; Gặp gỡ Chúa; Thiên Chúa tỏ mình; Thông điệp; Tìm gặp Chúa; Ánh sáng và bóng tôi; Ánh sao lạ; Giữa lòng đời."><style>
<!--
.CONTENTS{FONT-SIZE: 11pt;COLOR:Navy;}
span.MsoHyperlink
{color:blue;
text-decoration:underline;
text-underline:single;
text-decoration:none underline;
text-line-through:none;
vertical-align:baseline}
span.apple-converted-space
{}
-->
</style>
<meta name="description" content="Chúa Nhật CHÚA HIỂN LINH - Năm B"><!--mstheme--><link rel="stylesheet" type="text/css" href="../../../../_themes/suyniem3/suyn1011-109.css"><meta name="Microsoft Theme" content="suyniem3 1011">
</head><body><table border="0" width="500" cellspacing="12" style="border-color: #FFFFFF; font-family:Times New Roman; font-size:14pt; text-decoration:none" bgcolor="#FFFFFF"><tr><td width="460"><font size="2" color="#FF0000" face="Arial">
Chúa Nhật CHÚA HIỂN LINH - Năm B</font></td></tr><tr><td width="474" style="font-family: Arial; font-size: 12pt; text-decoration: none; font-weight: bold; text-align: center">
DÂN NGOẠI ĐỨNG TRƯỚC ĐỨC VUA<br>
CỦA NGƯỜI DO THÁI</td></tr><tr><td width="474" style="font-family: Arial; font-size: 8pt; text-decoration: none; font-style:italic; text-align:right">
<span style="font-size: 8pt; font-style: italic">Lm. FX Vũ Phan Long</span></td></tr><tr><td width="474" style="font-family: Times New Roman; font-size: 14pt; text-decoration: none; text-align:justify">
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
<span style="font-size: 14.0pt">Đọc bài Tin Mừng này, chúng ta nhận ra
có sự đối đầu của hai vương quyền, vương quyền của Thiên Chúa và vương
quyền của loài người. Bản văn cũng nêu bật hai nỗi lo lắng: nỗi lo của
những con người đói khát ơn cứu độ, đang ra sức đi tìm; nỗi lo của con
người sợ cuộc sống mình bị đặt thành vấn đề.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px"><b>
<span style="font-size: 14.0pt">1.- Ngữ cảnh</span></b></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
<span style="font-size: 14.0pt">Chương 2 của Tin Mừng Mátthêu là một bài
tường thuật đầy đủ, hoàn toàn dễ hiểu dù không có chương 1. Chính điểm
này cho thấy có nhiều tài liệu có trước Mt được ráp nối với nhau. Đề tài
“sự hoàn tất các sấm ngôn” cũng được nhắc tới đều đặn (x. 2,6.15.18.23).
Có bốn truyện kết cấu chặt chẽ với nhau tạo nên diễn tiến của chương
này, nhưng dường như các biến cố ấy đã được chọn cho phù hợp với các bản
văn ngôn sứ mà truyện được xây dựng xoay quanh. Các sấm ngôn này đều có
một đăc điểm chung là nhấn mạnh trên một hoàn cảnh địa dư. Trong chương
này, chúng ta lại có thể phân biệt ra hai khối, nhưng khối thứ nhất được
liên kết với khối thứ hai bằng nhiều từ móc, và nếu không có khối thứ
nhất, thì không thể hiểu được khối thứ hai:</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
<span style="font-size: 14.0pt">- 2,1-12: Truyện kể nhiều chi tiết;
những nhân vật chính là các nhà chiêm tinh; ngôi sao là phương tiện
Thiên Chúa dùng để hướng dẫn các vị này.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
<span style="font-size: 14.0pt">- 2,13-23: Ít chi tiết kể truyện, và chỉ
nhắm cho thấy các bản văn ngôn sứ được hoàn tất; nhân vật chính là Giuse
(không hề được nhắc tới trong phân đoạn trước); Giuse được thiên thần
Chúa ban lệnh trong mộng (y như trong 1,18-25). </span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
<span style="font-size: 14.0pt">Về phương diện truyện kể, vua Hêrôđê là
sợi dây liên kết hai phân đoạn.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
<span style="font-size: 14.0pt">Chương 2 đưa vào một đề tài quan trọng
của TM Mt: người Do Thái khước từ ơn cứu độ Đức Kitô ban tặng, còn Lương
dân thì đón nhận. Vua Hêrôđê, hoàng tử Áckhêlao và dân chúng Giêrusalem
tượng trưng cho người Do Thái; các nhà chiêm tinh tượng trưng cho Dân
ngoại. Dân ngoại sẽ chiếm chỗ mà người Do Thái bỏ trống trong lòng dân
Thiên Chúa, khi họ không chịu tin. Dân ngoại sẽ là dân Israel chân chính
của thời đại cuối cùng, được kêu gọi chia sẻ hạnh phúc của cuộc sống
tương lai. Hai chuyển động tương phản này chạy xuyên suốt cả chương 2
cũng như xuyên suốt cả Tin Mừng cho đến cuộc Khổ nạn (x. 27,39-44.54).
Nhìn như thế, có thể nói truyện các nhà chiêm tinh tóm tắt toàn thể Tin
Mừng Matthêu.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
<span style="font-size: 14.0pt">Về việc các nhà chiêm tinh đến Bêlem,
chúng ta có thể đặt ra nhiều câu hỏi không dễ trả lời: Các ngài từ đâu
đến? Các ngài đã thấy xuất hiện ngôi sao gì? Làm thế nào mà các ngài
nhận ra đó là ngôi sao của Đấng Mêsia? Tại sao vua Hêrôđê không xử sự
theo cách hợp lý hơn?</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
<span style="font-size: 14.0pt">Cũng như trong nhiều đoạn khác của Tin
Mừng, thay vì đặt ra những câu hỏi về những chuyện không được nói tới,
chúng ta nên để ý đến những gì đã được nói ra. Sau khi bảng gia phả đã
cho thấy Đức Giêsu cắm rễ trong lịch sử dân Israel, và bản văn về nguồn
gốc đích thực của Người đã chỉ nói đến những người có liên can trực
tiếp, ở đây tác giả giúp chúng ta nhìn xem cách tiếp đón Đức Giêsu của
những người mà vì họ Đức Giêsu đã đến. Tác giả không nêu ra một hành
động nào của Hài Nhi, Đức Maria và Giuse. Những nhân vật hành động là
Thiên Chúa và người ta, và đều nhắm tới Hài Nhi. Trong quan hệ với Hài
Nhi, ta phân biệt ra ba nhóm người: các nhà chiêm tinh, các kinh sư và
vua Hêrôđê. Hoạt động công khai của Đức Giêsu và lời loan báo hậu Phục
Sinh về Đấng chịu đóng đinh và phục sinh cũng được vây quanh bởi những
hạng người như thế. Nhận biết trong niềm vui, lãnh đạm không quan tâm và
bách hại liên tục, ba yếu tố này đi theo mọi giai đoạn của cuộc đời Đức
Giêsu. </span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px"><b>
<span style="font-size: 14.0pt">2.- Bố cục</span></b></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
<span style="font-size: 14.0pt">Bản văn này có thể được chia ra làm hai
phần, với một đoạn Mở:</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
<span style="font-size: 14.0pt">1) Mở (cc. 1-2): Giới thiệu các nhân vật
và hoàn cảnh, với câu hỏi mở đầu của các nhà chiêm tinh. </span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
<span style="font-size: 14.0pt">2) Phần 1 (cc. 3-9a): Gặp gỡ Hêrôđê, vị
vua “giả hiệu” của người Do Thái. Cốt lõi là sấm ngôn về Đấng Mêsia.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
<span style="font-size: 14.0pt">3) Phần 2 (cc. 9b-12): Gặp gỡ Ấu Vương
“chân chính” tại Bêlem. Cốt lõi là hành vi tôn thờ Đấng Mêsia.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px"><b>
<span style="font-size: 14.0pt">3.- Vài điểm chú giải</span></b></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
<span style="font-size: 14.0pt">- <b><i>Bêlem</i></b> (Bêthlehem) miền
Giuđê (1): Bêlem (Bêthlehem) có nghĩa là “nhà bánh mì”, hoặc cũng có thể
là “nhà của thần Lah(a)mu” (thần của dân Akkad). Thành này cách
Giêrusalem 7 cây số về phía nam, là quê hương của Bôát, của Isai
(Giêsê), và nhất là của vua Đavít (x.1 Sm 16; 20,6). Xem Lc 2,4.11; Ga
7,42. Tác giả nói rằng Bêlem thuộc miền Giuđê không chỉ là vì trong Cựu
Ước, có một Bêlem thuộc Dơvulun (x. Gs 19,15), nhưng là vì ngài còn lặp
lại (c. 5; x. c. 6) nhằm nêu bật chủ đề của ngài: Đức Giêsu, vua người
Do Thái, xuất thân từ miền Giuđê, và cũng tại Giuđê mà Người sẽ bị giết.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
<span style="font-size: 14.0pt">- <b><i>Vua Hêrôđê (Cả):</i></b> Vua này
cai trị miền Giuđê (năm 37-4 tCN). Bởi vì ông xuất thân từ miền Iđumê, ở
về phía nam xứ Giuđê, và ủng hộ nền văn hóa Hy Lạp, nên ông bị người Do
Thái ghét bỏ, cho dù ông đã cho sửa lại Đền Thờ thật huy hoàng. Đến cuối
đời, ông thường rơi vào trạng thái kinh hoàng, nên chỉ một chút nghi
ngờ, là có thể hạ lệnh tàn sát, dù là tàn sát cả gia đình ông. Khi ông
qua đời, nhiều tai ương đổ xuống trên xứ, đặc biệt là một cuộc suy sụp
về kinh tế. Do đó, đất nước đầy những nhóm người bất mãn và nổi loạn.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
<span style="font-size: 14.0pt">- <b><i>Đức Giêsu ra đời</i></b>: Cộng
đoàn tín hữu tiên khởi lúc đầu không có thứ lịch như ngày nay đang được
sử dụng hầu như khắp nơi: chia thành hai phần trước và sau cuộc chào đời
của Đức Giêsu. Thời ấy, người ta tính năm dựa theo các Đại hội thế vận
Hy Lạp (Đại hội đầu tiên được tổ chức năm 776 tCN), hoặc dựa theo năm
thành lập thành Rôma (ngày 21-4-753 tCN), hoặc dựa theo những hoàng đế
cai trị ở Rôma. Sau một thời gian, các Kitô hữu có thói quen tính thời
gian khởi đi từ hoàng đế Điôclêtianô (284-305 CN), ông này đã bách hại
họ tàn khốc, và họ gọi thời này là kỷ nguyên các thánh tử đạo. Kiểu lịch
chúng ta đang sử dụng hiện nay là do văn sĩ Denys le Petit xác định, ông
này sống tại Rôma vào tiền bán thế kỷ vi (mất trước năm 555). Để cho
những năm cứu độ không phải gọi bằng tên của bạo chúa bách hại, Denys
thay thế kỷ nguyên các thánh tử đạo bằng kỷ nguyên Đức Kitô. Ông là
người đầu tiên cho kỷ nguyên Kitô giáo khởi đầu với cuộc chào đời của
Đức Kitô, mà theo các tính toán của ông, ngày ấy là ngày 25 tháng 12 năm
753 sau khi Rôma được thành lập. Theo TM Mt, “Đức Giêsu ra đời tại
Bêlem, miền Giuđê, thời vua Hêrôđê trị vì” (2,1), mà chúng ta biết rằng
vua Hêrôđê qua đời vào năm 750 của thành Rôma. Như vậy, cuộc chào đời
của Đức Giêsu phải được đẩy lùi lại 6 hoặc 7 năm: hẳn là Đức Giêsu đã ra
đời vào thời gian giữa năm 8 và 6 tCN.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
<span style="font-size: 14.0pt">- <b><i>mấy nhà chiêm tinh</i></b> (HL.
magos): Đây là những vị hiền giả Đông phương, thông thạo chiêm tinh. Rất
có thể họ là những nhà chiêm tinh Babylon, đã được tiếp xúc với trào lưu
chờ đợi Đấng Mêsia nơi dân Do Thái. Có thể họ sống bên kia bờ sông
Giođan, nên có cơ hội tiếp xúc thường xuyên với thế giới Do Thái. Dưới
ảnh hưởng của Tv 72,10; Is 49,7; 60,10, truyền thống sau này đã nghĩ
rằng họ là những vị vua. Bởi vì có ba loại lễ vật, người ta cho rằng họ
là ba vị (thế kỷ v), và còn gán cho các vị ấy tên Gaspar, Balthasar và
Melchior (thế kỷ viii). Sang thế kỷ xiv, ông Gaspar được coi là một
người da đen…</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
<span style="font-size: 14.0pt">- <b><i>chúng tôi đã thấy vì sao</i></b>
(2): Vào thời thượng cổ, người ta thường cho rằng cuọc chào đời của các
nhân vật quan trọng được loan báo bởi các ngôi sao mới. Các nhà chiêm
tinh cho rằng họ có thể đoán được vận mệnh của người ta nhờ quan sát
chuyển động của các tinh tú. Do Thái giáo cũng nối kết niềm hy vọng
thiên sai vào ngôi sao được nói tới ở sách Dân số (24,17). Có thể nói,
vào thời Đức Giêsu và các Tin Mừng, ngôi sao là hình ảnh ưu tiên để
tượng trưng Đấng Mêsia, đặc biệt Đấng Mêsia vương giả, xuất thân từ nhà
Đavít.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
<span style="font-size: 14.0pt">- <b><i>xuất hiện</i></b> (2): Người ta
đã tìm cách xác định ngôi sao ấy là một hiện tượng thiên văn hay là một
ngôi sao chổi. Thật ra nỗ lực này cũng không đưa đến đâu, bởi vì hoặc
tác giả Mtmuốn kể lại một hiện tượng lạ lùng duy nhất trong lịch sử,
hoặc chi tiết này chỉ là một đặc điểm văn chương, được gợi hứng bởi Kinh
Thánh, nhưng không có hiện tượng tương ứng thế giới vật lý, nên cố gắng
tìm ra một giải thích tự nhiên đều là chuyện vô ích.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
<span style="font-size: 14.0pt">- <b><i>Cả thành Giêrusalem</i></b> (3):
Đây là một kiểu nói phóng đại, như để báo trước việc toàn dân Do Thái
loại trừ Đức Giêsu (x. 21,10). Một sự tương phản đáng kinh ngạc: những
người ngoại giáo, được hướng dẫn bởi những kiến thức hời hợt, pha trộn
mê tín dị đoan, đã đáp trả tiếng gọi của Thiên Chúa, thực hiện một hành
trình và điều tra kỹ lưỡng, để có thể bái kiến vị tân vương; ngược lại,
các nhà lãnh đạo Do Thái có ánh sáng Kinh Thánh, lại chỉ phản ứng bằng
sự sợ hãi và vô tâm (cc. 4-6).</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
<span style="font-size: 14.0pt">- <b><i>Các thượng tế</i></b>
(archiereis, 4): Archiereis đây là các thành viên của các gia đình mà
vào lúc quy định nào đó, vua Hêrôđê có thể chọn ra người mà bổ nhiệm làm
thượng tế.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
<span style="font-size: 14.0pt">- <b><i>kinh sư trong dân</i></b> (4):
dịch sát grammateis tou laou là “các kinh sư của dân chúng”: một kiểu
nói phóng đại. </span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
<span style="font-size: 14.0pt">- <b><i>Phần ngươi, ngươi đâu phải</i></b>
(6): Câu trích này là một tổng hợp Mk 5,1-3 với 2 Sm 5,2 theo cách rất
độc đáo, không tương ứng với bản văn Cựu Ước Híp-ri lẫn Hy Lạp. Tác giả
đã đưa những thay đổi đó vào với mục tiêu huấn giáo. Đặc biệt, với trạng
từ oudamôs(Pháp: pas du tout; Anh: by no means) thêm vào bản văn Mikha,
ngài cho thấy ngài chú tâm đọc Cựu Ước dưới ánh sáng của đức tin Kitô
giáo của ngài: sau khi Đức Giêsu đã chào đời, Bêlem không còn có thể là
một thành không đáng kể nữa. Nghịch lý lạ lùng: các kinh sư loan báo nơi
Đấng Mêsia chào đời cho những người ngoại giáo (dù sao, họ cũng vẫn là
những cái máng chính thức truyền đạt mạc khải mà!), thế mà họ lại không
thể nhận ra được Người!</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
<span style="font-size: 14.0pt">- <b><i>mừng rỡ vô cùng</i></b> (10):
Niềm vui của các nhà chiêm tinh được nhấn mạnh (so với Lc 2,10). Trong
TM Mt, đây là niềm vui của những quốc gia ngoại giáo đã khám phá ra nơi
Đức Giêsu ơn cứu độ họ vẫn trông chờ cách mơ hồ. Đối lại với niềm vui
này là sự bối rối hoang mang của vua Hêrôđê và thành Giêrusalem, cũng
như sau đó là cơn giận dữ điên cuồng của nhà vua (c. 16). Cũng có thể so
sánh niềm vui lớn lao của các phụ nữ vào sáng ngày Phục Sinh (28,8) với
cơn kinh hoàng của đám lính canh khiến họ ra như chết (28,4).</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
<span style="font-size: 14.0pt">- <b><i>Họ vào nhà</i></b> (11): Tác giả
nối kết chặt chẽ niềm vui của những người ngoại giáo và việc họ đi vào
“nhà”, là hình ảnh báo trước Giáo Hội, nơi người ta gặp được Đức Kitô và
bái thờ Người.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
<span style="font-size: 14.0pt">- <b><i>hài nhi và thân mẫu</i></b>:
Công thức này được nhắc lại ở các câu 13, 14, 20 và 21, là do tác giả cố
tình chọn để nhắc lại cuộc sinh hạ do mẹ đồng trinh (1,18-25).</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
<span style="font-size: 14.0pt">- <b><i>sấp mình thờ lạy</i></b> (= bái
lạy: cc. 2.8.11): “Bái lạy” hay “sấp mình thờ lạy” (proskyneô) được tác
giả Mt dùng động từ này 13 lần (toàn Tân Ước: 57 lần). Đây là hành vi
sấp mình trên nền nhà để tôn thờ thần thánh hoặc những người có địa vị
cao, chẳng hạn các vua. Tác giả Mt hầu như chỉ dùng động từ này để diễn
tả lòng tôn kính đối với Đức Giêsu bởi những người khẩn cầu (8,2; 9,18;
15,25; x. 20,20) và bởi các môn đệ (14,33: liên kết với việc tuyên xưng
niềm tin vào Con Thiên Chúa), đặc biệt dành cho Đấng Phục Sinh
(28,9.17).</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
<span style="font-size: 14.0pt">- <b><i>lấy vàng, nhũ hương, mộc dược mà
dâng tiến</i></b>: Sau khi bái lạy một vị vua, thường có việc dâng lễ
vật (x. St 43,26; 1 Sm 10,27; 1 V 10,2; Tv 72,10). Ba thứ lễ vật này đều
xứng đáng với một vị vua: x. Tv 72,15 (vàng); Is 60,6 (vàng và nhũ
hương); Tv 45,8 (xức mộc dược cho vua); Dc 3,6 (nhũ hương và mộc dược).
Truyền thống các Giáo Phụ coi các lễ vật này là những biểu tượng về
vương quyền (vàng), thần tính (nhũ hương) và việc mai táng (mộc dược)
của Đức Giêsu. </span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px"><b>
<span style="font-size: 14.0pt">4.- Ý nghĩa của bản văn</span></b></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
<span style="font-size: 14.0pt">* <b><i>Giới thiệu các nhân vật và hoàn
cảnh, với câu hỏi mở đầu của các nhà chiêm tinh</i></b> (1-2)</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
<span style="font-size: 14.0pt">Chỉ trong một câu duy nhất, tác giả đã
giới thiệu được khung cảnh địa lý, hoàn cảnh chính trị, và các nhân vật
sẽ được đề cập đến trong bản văn. Chủ đề của chương 2, “vương quyền của
Đấng Mêsia”, đã được gián tiếp gợi lên qua tước hiệu “vua” gán cho
Hêrôđê, một danh từ liên tục được nhắc lại suốt bài này.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
<span style="font-size: 14.0pt">Chủ đề lại được nêu lên trong câu hỏi
của các nhà chiêm tinh (c. 2). Các vị này là những nhà chiêm tinh văn,
chứ không phải là “vua”. Đặc biệt trong môi trường Mêsôpôtamia, hai
ngành thiên văn và chiêm tinh đã có từ lâu đời và rất được trọng dụng.
Các biến cố xảy ra trên bầu trời và trong thế giới loài người được coi
là có liên hệ chặt chẽ với nhau. Người ta xác tín rằng ai hiểu các hiện
tượng của bầu trời thì cũng hiểu lịch sử loài người và có thể ban các
lời khuyên và những định hướng về lịch sử này. Các nhà chiêm tinh này có
khả năng giải thích các giấc mộng và thấy trước tương lai bằng cách nhìn
xem các vì tinh tú và quan sát cánh chim bay. Các vị cũng có khả năng
biện phân ra ý muốn của Thiên Chúa.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
<span style="font-size: 14.0pt">Tuy nhiên, làm thế nào mà các nhà chiêm
tinh vừa ngoại quốc vừa ngoại giáo lại có thể đi tìm vua dân Do Thái như
thế, trên đất Paléttina? Vào thời cổ, có một niềm tin nói rằng cuộc chào
đời của một nhân vật quan trọng sẽ được báo cho biết bởi một ngôi sao
trên trời. Trong lãnh vực nghiên cứu của họ, các nhà chiêm tinh nhận
được một thông tin cho biết Đấng Mêsia đã chào đời và họ được thúc đẩy
lên đường. Các nhà chiêm tinh đã thấy ngôi sao được Kinh Thánh nhắc tới,
chứ không phải là một ngôi sao chổi hay một ngôi sao nào trong bầu trời
vật lý. Các vị biết rằng, một đàng, Ds 24,17 khẳng định về Đấng Mêsia
xuất thân từ nhà Giacóp, đàng khác, có một truyền thống song song, dựa
trên Ds 24,7 (bản dịch Hy Lạp LXX), khẳng định rằng Đấng Mêsia sẽ trị vì
trên nhiều dân tộc. Các vị biết rằng dân Do Thái đang chờ đợi Đấng
Mêsia. Từ thời Lưu đày Babylon, đã có nhiều người Do Thái sống trên đất
Mêsôpôtamia; nhờ họ, người ta biết tôn giáo và các niềm chờ mong Do
Thái.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
<span style="font-size: 14.0pt">Khi kể câu truyện Các nhà chiêm tinh,
tác giả Mátthêu không quan tâm đến cuộc hành trình của các vị ấy; ngài
chỉ chú ý đến cuộc đối đầu của các vị ấy với vua Hêrôđê. Ngài cũng muốn
nói với chúng ta rằng cuối cùng Đấng giải phóng nhà Giacóp đã tới. Các
nhà chiêm tinh nhận ra Người và thờ lạy Người. Đức Giêsu chính là ngôi
sao ấy. Chúng ta đọc diễn tiến câu truyện.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
<span style="font-size: 14.0pt">Đến Giêrusalem, các vị ấy tưởng là đã
đạt mục tiêu, nhưng lại được gửi đi đến một nơi khác. Nhưng bây giờ các
vị ấy đã biết mục tiêu cách chính xác hơn. Các kinh sư là những chuyên
viên Kinh Thánh (x. 23,2t), đã có thể suy ra là Đấng Mêsia chào đời tại
Bêlem xứ Giuđê. Trong Mk 5,1-3, Đấng Mêsia được giới thiệu như là Thủ
Lãnh và Mục tử của dânIsrael. Người sẽ chỉ cho dân Người biết con đường
ngay thẳng và sẽ lo lắng chăm sóc họ, như một mục tử săn sóc các chiên
mình. Chúng ta lưu ý là các nhà chiêm tinh hỏi nơi sinh của “vua dân Do
Thái”, chứ không phải là “vua Israel”. Các kinh sư của dân (Mt 2,4) được
Đấng Mêsia đến chiếu cố, đã ở lại Giêrusalem; trong khi đó, các nhà
chiêm tinh, là những người ngoại giáo, đã kiên trì theo đuổi mục tiêu,
họ tiếp tục cuộc hành trình.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
<span style="font-size: 14.0pt">Hai phần sau đây tương ứng với hai
“chương trình xung đột” (cũng có trong cc. 13-23) tác giả muốn tường
thuật: sự đối lập giữa hai nơi, Bêlem/Nadarét và Giêrusalem; một bên là
chiến lược của vua Hêrôđê tại Giêrusalem, bên kia là chiến lược của
Thiên Chúa; vua Hêrôđê không những đối lập với Đức Giêsu, mà cũng đối
lập với các nhà chiêm tinh nữa. Sự đối lập giữa hai vị vua được nêu bật
bởi ngôi sao: ngôi sao không được nhắc đến ở Giêrusalem, nhưng dẫn đường
cho các nhà chiêm tinh sau khi họ rời Giêsusalem. </span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
<span style="font-size: 14.0pt">* <b><i>Gặp gỡ Hêrôđê, vị vua “giả hiệu”
của người Do Thái</i></b> (3-9a)</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
<span style="font-size: 14.0pt">Sự việc xảy ra ở đền vua Hêrôđê gián
tiếp giới thiệu Đấng Mêsia vương giả bằng câu sấmMk 5,1-3 kết hợp với 2
Sm 5,2. Bây giờ vua Hêrôđê và “cả thành Giêrusalem” được đặt trong thế
đối lập với các nhà chiêm tinh. Phản ứng bối rối dao động của họ là một
bằng chứng cho thấy họ hiểu tính nghiêm trọng của hoàn cảnh. Vua Hêrôđê
và toàn dân Giêrusalem thuộc nhóm loại trừ vị tân ấu vương.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
<span style="font-size: 14.0pt">Một vài điểm không thật (vua Hêrôđê và
dân Giêrusalem không ưa gì nhau nên hẳn là dân chúng hẳn phải vui mừng
khi biết Đấng Mêsia vừa chào đời thì mới hợp lý – Nhà vua phải hỏi về
nơi Đấng Mêsia sinh ra, mà nơi này thì mọi người đều biết, vậy mà không
một ai tò mò đi với các nhà chiêm tinh đến Bêlem cả – Vua Hêrôđê triệu
tập toàn thể Thượng Hội Đồng Do Thái chỉ để xin một thông tin – Ngôi sao
chỉ đúng nhà của Đức Giêsu – Dân cư Giêrusalem “xôn xao”…) khiến nhiều
tác giả cho rằng đây chỉ là một sáng tác văn chương mà thôi. Nhưng dù
được tưởng tượng hay không, câu chuyện này minh họa thật rõ việc dân Do
Thái loại trừ Đức Giêsu và Dân ngoại đón tiếp Người. Đối với tác giả Mt,
Giêrusalem là thành sẽ xảy ra cuộc đóng đinh; dân Giêrusalem là những
người sẽ nói về cuối quyển Tin Mừng, “Máu hắn cứ đổ xuống đầu chúng tôi
và con cháu chúng tôi” (27,25). Sự bối rối của vua Hêrôđê và dân
Giêrusalem ở đây báo trước thái độ thù nghịch trong cuộc Thương Khó (x.
27,11.29.37.42). Ở đây, vua Hêrôđê, các thượng tế và kinh sư đã hiểu
“Vua dân Do Thái” chính là “Đấng Kitô [Mêsia]”.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
<span style="font-size: 14.0pt">Câu trả lời về “Đức Vua dân Do Thái” là
câu trích Mk 5,1, nhưng tác giả đặt trên môi các kinh sư, chứ không dùng
công thức về hoàn tất Lời Chúa. Câu này cung cấp một nền móng Cựu Ước
cho khởi đầu cuộc đời của Đức Giêsu về mặt lịch sử và tiểu sử. Nhưng đây
không phải là điều ngài quan tâm đầu tiên. Điều ngài chú ý hơn, đó là
dùng hai lần từ “Giuđa” và thêm 2 Sm 5,2 (x. 1 Sbn 11,2) vào với từ móc
laos (“dân chúng”) để khẳng định quan điểm chống Do Thái của ngài: các
kinh sư Do Thái nhìn nhận rằng đây là vấn đề về vị mục tử thiên sai vẫn
từng mong đợi của dân Thiên Chúa là Israel, nhưng họ không rút ra các hệ
luận; vì vậy họ gián tiếp trở thành đồng lõa của vua Hêrôđê.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
<span style="font-size: 14.0pt">Thế là vua Hêrôđê “hỏi cặn kẽ về ngày
giờ ngôi sao đã xuất hiện”. Câu 7 này đưa chúng ta đến với câu 16 được
viết tương tự. Độc giả có linh cảm một chuyện chẳng lành sắp xảy ra, khi
thấy nhà vua hỏi chi tiết về nơi Hài Nhi ở. Câu trả lời chính là sự tàn
bạo bí hiểm của nhà vua được chứng tỏ sau đó. Câu 8 lại cho độc giả nhận
ra nhà vua là một kẻ đạo đức giả. Đồng thời, nền tảng của c. 12 được
cung cấp: vua Hêrôđê muốn kéo các nhà chiêm tinh vào trò chơi của ông;
nhưng ý định xấu xa của ông sẽ bị Thiên Chúa can thiệp tiêu hủy. </span>
</p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
<span style="font-size: 14.0pt">* <b><i>Gặp gỡ Ấu Vương “chân chính” tại
Bêlem</i></b> (9-12)</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
<span style="font-size: 14.0pt">Các nhà chiêm tinh ra đi ngay ban đêm,
không phải vì đó là thói tục của Đông phương, nhưng để tác giả lại có cơ
hội nói về ngôi sao. Tại đây, độc giả lại nhận ra Thiên Chúa ra tay
hướng dẫn toàn thể biến cố, và được mời gọi chia sẻ niềm vui chan hòa
các nhà chiêm tinh đang trải nghiệm.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
<span style="font-size: 14.0pt">Chủ đề của bài Tin Mừng được trình bày
rõ ràng qua việc các nhà chiêm tinh bái lạy Hài Nhi Giêsu và dâng các lễ
vật (c. 11). Đây mới là vị vua chân chính mà muôn dân vẫn trông đợi, dù
tước “vua” không hề được dùng mà gọi Người. Nhưng chủ đề “vị vua thật”
chạy xuyên suốt bản văn do các từ ngữ (“Vua dân Do Thái”: c. 2; “vì sao
của Người”: cc. 2.7.9.10; “vua Hêrôđê: c. 3; “Hêrôđê”: cc. 7.12; “bái
lạy”: c. 8; “nhà vua”: c. 9) và các cụm từ (“vì ngươi là nơi vị lãnh tụ
chăn dắt Israel dân Ta sẽ ra đời”: c. 6; “sấp mình thờ lạy”: c. 11; “lấy
vàng, nhũ hương, mộc dược mà dâng tiến”: c. 11)[1] liên hệ.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
<span style="font-size: 14.0pt">Các nhà chiêm tinh, là những người khôn
ngoan và giàu kinh nghiệm, đã phủ phục (proskyneô) trước Hài Nhi, một
trẻ sơ sinh không hề tỏ ra có chút uy hùng hay quyền lực gì. Đây là cách
người Đông phương nhìn nhận Đấng có quyền trên mình, mình lệ thuộc phần
nào hay hoàn toàn vào đấng ấy (là vua chúa hay thần linh). Nhưng chúng
ta nhớ Đức Giêsu đã được giới thiệu là “con cháu vua Đavít” (1,1), “Con
Thiên Chúa” (x. 1,21; 2,15) và Emmanuel (1,23). Hài Nhi không nói gì với
các vị ấy và cũng chẳng cho các vị ấy món gì cả. Các vị không thấy vẻ
huy hoàng chúa tể của Người, cũng chẳng trải nghiệm về quyền lực của
Người, nhưng các vị nhận biết Người nhờ lòng tin. Tác giả bỏ qua ông
Giuse để nêu bật địa vị đặc biệt của bà Maria theo chiều hướng của Mt
1,18-25. Các lễ vật quý giá (vàng, nhũ hương và mộc dược) các vị dâng là
một dấu chỉ khác chứng tỏ các vị nhìn nhận Hài Nhi là Chúa tể.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
<span style="font-size: 14.0pt">Chủ đề được khóa lại với tên “Hêrôđê”,
vị vua đương trị, được nhắc lại lần nữa và với việc các nhà chiêm tinh
từ biệt Hài Nhi. Vua Hêrôđê đã muốn nối kết các nhà chiêm tinh vào các
kế hoạch của ông, và các kế hoạch này là thế nào thì cuộc sát hại các
hài nhi Bêlem sẽ cho biết; và hẳn là các nhà chiêm tinh sẽ chịu cùng một
số phận như các hài nhi. Tuy nhiên, Thiên Chúa đã can thiệp, để đưa các
nhà chiêm tinh về quê theo đường khác. </span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px"><b>
<span style="font-size: 14.0pt">+ Kết luận</span></b></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
<span style="font-size: 14.0pt">Đọc bài Tin Mừng này, chúng ta nhận ra
có sự đối đầu của hai vương quyền, vương quyền của Thiên Chúa và vương
quyền của loài người. Bản văn cũng nêu bật hai nỗi lo lắng: nỗi lo của
những con người đói khát ơn cứu độ, đang ra sức đi tìm; nỗi lo của con
người sợ cuộc sống mình bị đặt thành vấn đề. Hai bên đều tiến đi, để rồi
đến cuối con đường, một bên được hưởng niềm vui cứu độ, một bên co quắp
lại trong thái độ thù nghịch. Chỉ khi vương quyền của con người biết
nhìn nhận mình phát xuất từ vương quyền của Thiên Chúa, khi đó mới có sự
“bình an dưới thế cho loài người Chúa thương”.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px"><b>
<span style="font-size: 14.0pt">5.- Gợi ý suy niệm</span></b></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
<span style="font-size: 14.0pt">1. Truyện này gây ra hai ấn tượng. Một
bên, chúng ta muốn coi toàn bộ như một huyền thoại: cuộc hành trình dài
ngày của các nhà chiêm tinh, ngôi sao dẫn đường, nỗi bối rối của nhà vua
và toàn thể dân thành Giêrusalem, mưu mô của vua Hêrôđê, cuối cùng lệnh
của Thiên Chúa ban cho các nhà chiêm tinh trong mộng, tất cả những nét
này khiến chúng ta có ấn tượng là truyện không thật. Nhưng ngược lại,
nếu so sánh truyện này với những gì ta biết về vua Hêrôđê và xứ
Paléttina thời ấy, chúng ta lại phải nhìn nhận truyện có màu sắc lịch
sử: sự lưu tâm của các nhà chiêm tinh phương Đông về một vị vua cứu thế
và những cơn điên khùng bệnh tật của vua Hêrôđê hoàn toàn phù hợp với
truyện. Nhưng “đúng” không nhất thiết là “thật” về lịch sử. Cho dù các
biến cố đã xảy ra thật, các truyện trong chương 2 Mt cũng không mang
tính lịch sử theo nghĩa hẹp. Dường như tác giả đã sử dụng thể văn
midrash haggada để giải thích các sự kiện có thật hầu rút ra một áp dụng
Kinh Thánh, để đi tới việc ca tụng Thiên Chúa, khám phá ra một mạc khải
về những chương trình của Thiên Chúa trong quá khứ và cho tương lai,
nhằm xây dựng cọng đoàn.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
<span style="font-size: 14.0pt">2. Có những điểm “khôi hài” trong bài:
Sự khôn ngoan của Dân ngoại mà người Do Thái vẫn loại trừ hoặc khinh bỉ
cũng có thể đưa người ta đến với Đức Kitô. Đấy là khi các nhà chiêm tinh
đến đền vua Hêrôđê và hỏi về nơi trú ngụ của “Đức Vua mới sinh”. Đàng
khác, chính một vị vua gian ác ngoại quốc (vì Hêrôđê thuộc gốc dân
Iđumê) cũng có thể trở thành trung gian cung cấp cho người ta những
thông tin chính xác. Đấy là khi vua Hêrôđê triệu tập các thượng tế và
kinh sư lại để hỏi cho biết Đấng Kitô sinh ra ở đâu.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
<span style="font-size: 14.0pt">3. Có hai chuyển động ngược chiều trong
bài: Vua Hêrôđê càng ngày càng co quắp lại trong thái độ cứng tin và từ
khước, và cùng với nhà vua là Thượng Hội Đồng Do Thái và dân Giêrusalem,
còn các nhà chiêm tinh thì đã từ những bước mò mẫm mơ hồ đi đến chỗ bày
tỏ tất cả lòng tin kính đối với Đấng Mêsia. Vì thế sau đó, các vị “đã đi
lối khác mà về xứ mình” (c. 12). Cũng nên dừng lại suy nghĩ về lối ứng
xử của các kinh sư: họ đã có thể trích và giải thích đúng Kinh Thánh,
nhưng họ không hề lên đường. Thánh Âutinh bảo rằng họ là “những cột cây
số”; họ chỉ đúng đường, nhưng họ không di chuyển!</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
<span style="font-size: 14.0pt">4. Các nhà chiêm tinh đã nhận được sự
thúc đẩy đầu tiên khi nghiên cứu thiên văn. Đến Giêrusalem, các vị lại
nhận được một thông tin chính xác hơn rút từ Kinh Thánh. Các vị đã can
đảm lấy quyết định lên đường và cứ dò dẫm từng bước, và Thiên Chúa đã
dẫn dắt các vị đạt tới mục tiêu bằng “ngôi sao” dẫn đường. Bởi vì các vị
không kháng cự lại và không quản ngại mệt nhọc, trái lại đã chấp nhận
được hướng dẫn, các vị đã vui sướng đạt tới mục tiêu. Thiên Chúa luôn
đáp ứng những ai tha thiết tìm ơn cứu độ, dù đôi khi người trong cuộc
cảm thấy đường đi không rõ và mục tiêu mịt mù.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
<span style="font-size: 14.0pt">5. Các nhà chiêm tinh không thấy vinh
quang hay uy quyền của Hài Nhi Giêsu, nhưng các vị đã bái lạy mà nhìn
nhận Người là Chúa tể, là Đức Vua và vị Mục Tử của Dân ngoại, vì các vị
tin. Đức tin cần thiết cho từng bước đi tới chỗ nhận biết Đức Chúa, ở
đây được các nhà chiêm tinh diễn tả ra trong tình trạng tinh trong. Dựa
vào ba lễ vật, qua các thời đại, người ta đã tưởng tượng là có ba nhà
chiêm tinh, có tên rõ ràng, một vị trẻ tuổi, một vị đứng tuổi và một vị
đã già; một vị là người châu Á, một vị là người châu Âu và một vị châu
Phi. Cách làm này không tương ứng với chữ viết của bản văn nhưng phù hợp
với tinh thần của Tin Mừng. Tất cả các lứa tuổi và con người của mọi
châu lục đều đạt tới mục tiêu khi gặp Hài Nhi này, nhất là khi nhìn nhận
Người là Đức Vua và Đức Chúa của họ. Người đã đến cho mọi người, cho
người trẻ cũng như cho người già, cho người thông thái cũng như người
chất phác ít học, cho mọi màu da và mọi lối sống, để giúp họ nhận biết
Thiên Chúa là Cha và đưa vào cuộc đời họ một ánh sáng chói chan. Như các
nhà chiêm tinh, loài người không được để mình đi trệch đường về với Đức
Giêsu, mà phải để cho Thiên Chúa hướng dẫn, cho đến khi tới đích. </span>
</p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
<span style="font-size: 14.0pt">6. Phải chăng nên gỡ bỏ các ngôi sao tại
các máng cỏ? Không cần! Chúng ta cứ việc ngắm nhìn ngôi sao ấy, cứ chỉ
cho con em thấy, nhưng bảo các em rằng ngôi sao đích thật là Đức Giêsu.
Người chính là ánh sáng soi chiếu mọi dân tộc. Cũng giải thích cho chúng
biết rằng các nhà chiêm tinh là đại diện cho các dân tộc trên thế giới
đang để cho sứ điệp hòa bình và tình yêu của Đức Giêsu hướng dẫn. Họ
chính là hình ảnh của Hội Thánh, được tạo nên do các dân tộc thuộc mọi
giống nòi và mọi ngôn ngữ. Trở nên một thành viên của Hội Thánh không có
nghĩa là đánh mất hoặc bỏ đi chân tính của mình, không có nghĩa là phải
quy phục một thứ “đồng nhất” giả tạo và bất công. Các dân tộc cần phải
duy trì nền văn hóa của họ và làm giàu cho Hội Thánh bằng nền văn hóa
riêng này</span></p>
</td></tr><tr>
<td width="474" height="56"><p style="text-align: center"> <a target="_top" href="http://tinmung.net"><img border="0" src="../../../../../logo/LOGOtinmung.gif" width="67" height="40"></a> <a style="text-decoration: none; font-family: Arial; font-size: 10pt" target="_top" href="http://www.tinmung.net/SUYNIEM_HANGTUAN/SuyniemINDEX.htm"><img border="0" src="../../../../_Nam_A/2011/MuaThuongNien/VuaVuTru/LOGOtinmung2.gif" width="68" height="42"></a> </td></tr></table><p style="text-align: center">
</p>