File "Kinh-mung-Maria-day-on-phuc.htm"
Full path: E:/sites/Single15/tinmung2007/webroot/SUYNIEM_HANGTUAN/_Nam_C/2013/MV4C/Kinh-mung-Maria-day-on-phuc.htm
File size: 36.4 KiB (37277 bytes)
MIME-type:
Charset: utf-8
<html><head><meta http-equiv="Content-Language" content="en-us"><meta http-equiv="Content-Type" content="text/html; charset=utf-8"><title>
KÍNH MỪNG MA-RI-A ĐẦY ƠN PHÚC</title><base target="main"><meta name="keywords" content="Chúa Nhật III Mùa Vọng - Năm C; suy niệm, tinmung.net, DongCong;"><style>
<!--
.CONTENTS{FONT-SIZE: 11pt;COLOR:Navy;}
span.MsoHyperlink
{color:blue;
text-decoration:underline;
text-underline:single;
text-decoration:none underline;
text-line-through:none;
vertical-align:baseline}
-->
</style>
<!--mstheme--><link rel="stylesheet" type="text/css" href="../../../../_themes/suyniem3/suyn1011-109.css"><meta name="Microsoft Theme" content="suyniem3 1011">
</head><body><table border="0" width="500" cellspacing="12" style="border-color: #FFFFFF; font-family:Arial; font-size:12pt; text-decoration:none" bgcolor="#FFFFFF"><tr><td width="460"><font size="2" color="#FF0000">Chúa Nhật
IV Mùa Vọng - Năm C</font></td></tr><tr><td width="474" style="font-family: Arial; font-size: 12pt; text-decoration: none; font-weight: bold; text-align: center">
KÍNH MỪNG MA-RI-A ĐẦY ƠN PHÚC</td></tr><tr><td width="474" style="font-family: Arial; font-size: 8pt; text-decoration: none; font-style:italic; text-align:right">
Lm Inhaxiô Hồ Thông</td></tr>
<tr>
<td width="474" style="text-align: justify">
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 30px; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<b><span style="font-size: 14pt; font-family: Times New Roman">Thiên
Chúa thực hiện những ý định cao cả của Người dựa trên những con người
phận nhỏ, yếu hèn và khiêm hạ. Đó là giáo huấn của Phụng Vụ Lời Chúa
Chúa Nhật IV Mùa Vọng này.</span></b></p>
<p class="MsoNormal" align="right" style="text-align: right; text-indent: 30px; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<font face="Times New Roman" style="font-size: 14pt"><br>
</font><b><i>
<span style="font-size: 14pt; font-family: Times New Roman">Lm Inhaxiô
Hồ Thông</span></i></b></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 30px; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<b>
<span style="font-size: 14pt; line-height: 150%; font-family: Times New Roman">
Mk 5: 1-5</span></b></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 30px; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<i>
<span style="font-size: 14pt; line-height: 150%; font-family: Times New Roman">
Ngôn sứ Mi-kha loan báo rằng chính ở nơi thị trấn nhỏ bé của miền
Giu-đê, ở đó một thị tộc nhỏ bé nhất trong các thị tộc Giu-đa sinh sống,
mà Đấng Mê-si-a một ngày kia sẽ xuất hiện. Con trẻ này sẽ thống lãnh
Ít-ra-en và quyền lực của Ngài sẽ trải rộng cho đến tận cõi đất.</span></i></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 30px; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<b>
<span style="font-size: 14pt; line-height: 150%; font-family: Times New Roman">
Dt 10: 5-10</span></b></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 30px; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<i>
<span style="font-size: 14pt; line-height: 150%; font-family: Times New Roman">
Ngay từ khi nhập cuộc vào kiếp sống phàm nhân, Đức Giê-su sống khiêm hạ
và vâng phục ý muốn của Thiên Chúa, Cha Ngài. Ngài hằng sống trong tư
thế dâng hiến bản thân mình thành hy lễ để kế hoạch của Cha Ngài được
thành tựu.</span></i></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 30px; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<b>
<span style="font-size: 14pt; line-height: 150%; font-family: Times New Roman">
Lc 1: 39-45</span></b></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 30px; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<i>
<span style="font-size: 14pt; line-height: 150%; font-family: Times New Roman">
Tin Mừng Lu-ca tường thuật cuộc gặp gỡ của Đức Ma-ri-a với người chị họ
mình là bà Ê-li-sa-bét, sau biến cố Truyền Tin. Chính ở nơi người thiếu
nữ phận nhỏ và khiêm hạ của làng Na-da-rét này mà bà Ê-li-sa-bét nhận ra
ý định cao cả của Thiên Chúa và niềm vui Thiên Sai khiến con trẻ, Gioan
Tẩy Giả, nhảy lên vui sướng trong dạ mẹ. </span></i><b>
<span style="font-size: 14pt; line-height: 150%; font-family: Times New Roman">
<br>
BÀI ĐỌC I (Mk 5: 2-5)</span></b></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 30px; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 14pt; line-height: 150%; font-family: Times New Roman">
Lời sấm của ngôn sứ Mi-kha này là một trong những bản văn vĩ đại loan
báo Đấng Mê-si-a. Sấm ngôn này đã được trích dẫn hai lần trong các sách
Tin Mừng: một lần trong Tin Mừng Mát-thêu, trong đó các kinh sư trưng
dẫn sấm ngôn này cho vua Hê-rô-đê để báo cho các nhà Chiêm Tinh biết <i>
“Bê-lem”</i> là nơi Vua dân Do thái vừa mới sinh ra (Mt 2: 6); và một
lần khác trong Tin Mừng Gioan, khi đám đông dân chúng tranh luận với
nhau về thân thế của Đức Giê-su, có kẻ lại nói rằng Ngài không thể là
Đấng Thiên Sai bởi vì Ngài không <i>“xuất thân từ Bê-lem”</i> (Ga 7:
42).</span><b><span style="font-size: 14pt; line-height: 150%; font-family: Times New Roman"><br>
1. Thân thế và sự nghiệp:</span></b></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 30px; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 14pt; line-height: 150%; font-family: Times New Roman">
Ngôn sứ Mi-kha thi hành sứ vụ của mình trong vương quốc Giu-đa suốt hậu
bán thế kỷ thứ tám trước Công Nguyên, đồng thời với ngôn sứ I-sai-a.
Nhưng trong khi ngôn sứ I-sai-a thuộc gia đình quý tộc ở Giê-ru-sa-lem,
thì ngôn sứ Mi-kha xuất thân từ hàng dân giả miền Nam, phía tây Khê-ron.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 30px; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 14pt; line-height: 150%; font-family: Times New Roman">
Như các ngôn sứ thuộc thế kỷ thứ tám trước Công Nguyên: A-mốt, Hô-sê,
I-sai-a, ngôn sứ Mi-kha tố cáo những bất công xã hội, nạn áp bức những
người nghèo, tệ nạn tham ô hối lộ của các quan án, các tư tế, các thủ
lãnh, vân vân, những hành vi này tạo nên một đoạn tuyệt với Giao Ước và
dẫn đến những án phạt của Thiên Chúa. Có lẽ ngôn sứ Mi-kha định nghĩa rõ
nét nhất những yêu sách của Giao Ước: <i>“Hỡi người, bạn đã được nói cho
hay điều nào là tốt, điều nào Đức Chúa đòi hỏi bạn: đó chính là thực thi
công bình, quý yêu nhân nghĩa và khiêm nhường bước đi với Thiên Chúa của
bạn”</i> (Mk 6: 8). Ngôn sứ Mi-kha báo trước cho Sa-ma-ri cũng như cho
Giê-ru-sa-lem những bất hạnh kinh khiếp, nhưng ông cũng hé mở những viễn
cảnh chứa chan hy vọng, như bản văn hôm nay làm chứng.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 30px; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 14pt; line-height: 150%; font-family: Times New Roman">
Tác phẩm của ngôn sứ Mi-kha đã chịu nhiều sửa đổi và vài đoạn thêm vào
cuối thời lưu đày hay hậu lưu đày, tức cuối thế kỷ thứ sáu trước Công
Nguyên. Bản văn hôm nay được trích từ chương 5 là một trong những bản
văn nêu lên nhiều vấn đề. Tuy nhiên, cũng vào thế kỷ thứ tám trước Công
Nguyên này, ngôn sứ I-sai-a vang lên cùng một sứ điệp tương tự: ở giữa
lòng những biến cố bi thảm (những đột nhập của quân đội Át-sua, cuộc vây
hãm Giê-ru-sa-lem, sự tàn phá Sa-ma-ri, vân vân), các ngôn sứ nối tiếp
nhau khơi lên niềm hy vọng khi nhắc nhớ lại những lời hứa gắn liền với
nhà Đa-vít. Đó là điểm chung giữa các sấm ngôn của họ.</span><b><span style="font-size: 14pt; line-height: 150%; font-family: Times New Roman"><br>
2. Bê-lem Ép-ra-tha:</span></b></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 30px; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 14pt; line-height: 150%; font-family: Times New Roman">
Hai địa danh Bê-lem và Ép-ra-tha được liên kết với nhau ngay từ những
bản văn cổ xưa nhất, ví dụ: <i>“Bà Ra-khen qua đời và được chôn trên con
đường đi Ép-ra-tha, tức là Bê-lem”</i> (St 35: 9). Thị trấn Bê-lem nhỏ
bé là nơi một thị tộc bé nhỏ, những người Ép-ra-tha, từ miền Nam đến
định cư lập nghiệp; sau đó, họ đã được sáp nhập vào bộ tộc Giu-đa. Tuy
nhiên, <i>“Ép-ra-tha”</i> theo tiếng Do thái có nghĩa <i>“sự màu mỡ”</i>.
Ngôn sứ Mi-kha xem ra chơi chữ: Bê-lem là vùng đất màu mỡ vì nó sẽ sinh
ra Đấng Thiên Sai.</span><b><span style="font-size: 14pt; line-height: 150%; font-family: Times New Roman"><br>
3. Một sự tương phản:</span></b></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 30px; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 14pt; line-height: 150%; font-family: Times New Roman">
Lời sấm của ngôn sứ Mi-kha được xây dựng trên một sự tương phản: sự
tương phản của một thị tộc nhỏ bé nhất trong các thị tộc Giu-đa, giữa
viễn cảnh về một con trẻ chào đời và uy danh cũng như quyền lực của con
trẻ này có sứ mạng thống lãnh Ít-ra-en, quy tụ dân chúng bị phân tán và
trải rộng quyền lực của mình cho đến tận cùng cõi đất.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 30px; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 14pt; line-height: 150%; font-family: Times New Roman">
Câu này được dịch sát nghĩa theo bản văn gốc bằng tiếng Do thái như sau:
<i>“Phần ngươi, hỡi Bê-lem Ép-ra-tha, ngươi quá nhỏ bé đến nổi không thể
là một trong các thị tộc Giu-đa”</i>. Từ <i>“thị tộc”</i> theo tiếng Do
thái có nghĩa <i>“ngàn”</i>, vì nhóm người chỉ có thể hình thành nên một
thị tộc nếu có thể cung cấp một ngàn chiến binh. Vì thế, Bê-lem nhỏ bé
đến nổi nó không thể cung cấp một ngàn chiến binh. Chúng ta cũng gặp
thấy một cách đối lập giữa sự nhỏ bé và sự vĩ đại như thế ở sấm ngôn
I-sai-a đệ tam: <i>“Người nhỏ nhất sẽ có ngàn con cháu, kẻ hèn nhất
thành một dân hùng cường”</i> (Is 60: 22).</span><b><span style="font-size: 14pt; line-height: 150%; font-family: Times New Roman"><br>
4. Bê-lem, thành vua Đa-vít, thành Đấng Thiên Sai:</span></b></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 30px; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<i>
<span style="font-size: 14pt; line-height: 150%; font-family: Times New Roman">
“Từ nơi ngươi, Ta sẽ cho xuất hiện một vị có sứ mạng thống lãnh
Ít-ra-en”</span></i><span style="font-size: 14pt; line-height: 150%; font-family: Times New Roman">:
Lời sấm của ngôn sứ Mi-kha đem đến một sự xác định mới. Nếu lời sấm của
ngôn sứ Na-than khẳng định tính muôn năm bền vững của vương triều
Đa-vít: <i>“Nhà của ngươi và vương quyền của ngươi sẽ tồn tại mãi mãi
trước mặt Ta; ngai vàng của ngươi sẽ vững bền mãi mãi”</i> (2Sm 7: 16),
còn sấm ngôn I-sai-a đệ nhất công bố rằng dòng dõi vua Đa-vít sẽ được
đảm bảo nhờ một con trẻ chào đời, được gọi là Em-ma-nu-en, nghĩa là <i>
“Thiên Chúa ở cùng chúng ta”</i> (Is 7: 14), thì ngôn sứ Mi-kha xác định
Bê-lem là sinh quán của Đấng Thiên Sai. Xưa kia, khi còn niên thiếu, vua
Đa-vít đã chăn dắt đàn chiên trên cánh đồng Bê-lem; Đấng Mê-si-a sẽ là
một Đa-vít mới và sẽ là vị mục tử đích thật của dân Ngài.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 30px; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<i>
<span style="font-size: 14pt; line-height: 150%; font-family: Times New Roman">
“Nguồn gốc của Người có từ thời trước, từ thuở xa xưa”</span></i><span style="font-size: 14pt; line-height: 150%; font-family: Times New Roman">:
Có lẽ đây là lối nói phóng dụ về gia tộc của vua Đa-vít, có nguồn gốc
lâu đời (sách Sử Biên quyển thứ nhất cho gia phả của vua Đa-vít lên đến
tổ phụ Gia-cóp). Nhưng chúng ta cũng có thể nghĩ rằng sấm ngôn này loan
báo cuộc sống tiền hữu của Đấng Thiên Sai.</span><b><span style="font-size: 14pt; line-height: 150%; font-family: Times New Roman"><br>
5. Thời thử thách và thời hy vọng:</span></b></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 30px; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 14pt; line-height: 150%; font-family: Times New Roman">
Trước khi Đấng Thiên Sai giáng sinh ở Bê-lem, Ít-ra-en sẽ phải trải qua
một thời gian đầy thử thách cam go, thời <i>“Đức Chúa sẽ bỏ mặc
Ít-ra-en”</i>. Trước đó, ngôn sứ đã khai triển những tiên báo kinh khiếp
liên quan đến vương quốc miền Bắc cũng như vương quốc miền Nam. Nhưng
những trừng phạt không bao giờ là tiếng nói cuối cùng của Thiên Chúa: <i>
“Cho đến thời một phụ nữ sinh con”</i>. Con trẻ kỳ diệu sinh ra từ một
người nữ này sẽ cai trị Ít-ra-en và thế giới. Bản văn không nói một chút
gì về cha của con trẻ này.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 30px; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 14pt; line-height: 150%; font-family: Times New Roman">
Toàn thể đoạn văn nhắc nhớ lời sấm của ngôn sứ I-sai-a được công bố hai
mươi năm trước đó: <i>“Này đây người thiếu nữ mang thai, sinh hạ con
trai, và đặt tên là Em-ma-nu-en. Con trẻ sẽ ăn sữa chua và mật ong cho
tới khi biết bỏ cái xấu mà chọ cái tốt. Vì trước khi con trẻ biết bỏ cái
xấu mà chọn cái tốt, thì đất đai…đã bị bỏ hoang. Thiên Chúa sẽ đem lại
cho ngài, cho dân ngài, cho thân phụ ngài những ngày như chưa từng có,
kể từ khi Ép-ra-im tách khỏi Giu-đa”</i> (Is 7: 14-17)</span><b><span style="font-size: 14pt; line-height: 150%; font-family: Times New Roman"><br>
6. Quy tụ những người tản mác khắp nơi:</span></b></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 30px; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<i>
<span style="font-size: 14pt; line-height: 150%; font-family: Times New Roman">
“Bấy giờ những anh em sống sót của người con đó sẽ trở về với con cái
Ít-ra-en”</span></i><span style="font-size: 14pt; line-height: 150%; font-family: Times New Roman">:
Chúng ta nhận ra ở đây nỗi bận lòng quy tụ những người Do thái bị tản
mắc khắp nơi, nỗi ám ảnh xuất hiện nhất là vào thời lưu đày Ba-by-lon
cũng như vào thời hậu lưu đày. Có nhiều lý do xác đáng để nghĩ rằng đoạn
văn này được thêm vào sau này. </span><b>
<span lang="FR" style="font-size: 14pt; line-height: 150%; font-family: Times New Roman">
<br>
7. Vị Mục Tử của Ít-ra-en:</span></b></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 30px; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="FR" style="font-size: 14pt; line-height: 150%; font-family: Times New Roman">
Đấng Thiên Sai sẽ lãnh nhận từ chính Thiên Chúa sứ mạng chăn dắt
Ít-ra-en: <i>“Ngài sẽ dựa vào quyền lực Đức Chúa, vào uy danh Đức Chúa,
Thiên Chúa của Ngài mà đứng lên chăn dắt họ”</i>. Bản văn tiên báo hay
nhắc nhớ một đoạn văn nổi tiếng của ngôn sứ Ê-dê-ki-en về <i>“vị mục tử
nhân lành”</i> (Ed 34: 23). Việc gợi lên quyền năng hoàn vũ và nền hòa
bình viên mãn của Đấng Thiên Sai tương lai mang đậm nét I-sai-a (Is 9:
5), nhưng cũng có thể mang dấu ấn Mi-kha, trừ phi đây là một bản văn
được hiệu đính lại.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 30px; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="FR" style="font-size: 14pt; line-height: 150%; font-family: Times New Roman">
Từ phận nhỏ đến địa vị vĩ đại, rõ ràng đây là bài học mà bản văn Tin
Mừng hôm nay đưa ra: Đức Ma-ri-a, một thiếu nữ khiêm hạ làng Na-da-rét
được người chị họ của mình, bà Ê-li-sa-bét, hoan hĩ chào đón như <i>
“Thân Mẫu Chúa tôi”</i>.</span><b><span lang="FR" style="font-size: 14pt; line-height: 150%; font-family: Times New Roman"><br>
BÀI ĐỌC II (Dt 10: 5-10)</span></b></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 30px; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="FR" style="font-size: 14pt; line-height: 150%; font-family: Times New Roman">
Lễ Giáng Sinh sắp đến gần, Phụng Vụ Lời Chúa dâng hiến cho chúng ta suy
niệm một bản văn trình bày một cách thống thiết mục đích biến cố Nhập
Thể; Đức Ki-tô đảm nhận một thân thể nhằm dâng hiến thân mình thành hiến
lễ và biến cuộc Tử Nạn của mình thành hy lễ để thánh hóa con người.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 30px; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="FR" style="font-size: 14pt; line-height: 150%; font-family: Times New Roman">
Chúng ta không biết lai lịch tác giả thư gởi tín hữu Do thái (chắc chắn
một môn đệ của thánh Phao-lô); bản văn của ông gần với văn phong bài
giảng hơn là thư tín; ông ngỏ lời với các Ki-tô hữu gốc Do thái, họ đã
biết và đã thực hành phụng tự Mô-sê và xem ra luyến nhớ sự uy nghi trang
trọng của nền phụng tự này. Tác giả chứng minh cho họ chức tư tế của Đức
Giê-su còn cao vời hơn chức tư tế Cựu Ước và hy lễ của Đức Ki tô thì độc
nhất, vô giá và có hiệu quả khôn sánh so với các hy lễ của Luật cũ.</span><b><span lang="FR" style="font-size: 14pt; line-height: 150%; font-family: Times New Roman"><br>
1. Phụng Tự tinh thần:</span></b></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 30px; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="FR" style="font-size: 14pt; line-height: 150%; font-family: Times New Roman">
Để giải thích bản chất rất đặc biệt và đặc thù của hy lễ Đức Ki tô, tác
giả dựa trên thánh vịnh 40, thánh vịnh mang chiều kích Thiên Sai. Thánh
vịnh này diễn tả tâm tình của một người công chính. Từ cuộc sống đạo
hạnh của mình, ông hiểu rằng vâng phục thánh ý Thiên Chúa và sẵn sàng
dâng hiến thân mình thì cao vời hơn bất cứ hy lễ nào.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 30px; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="FR" style="font-size: 14pt; line-height: 150%; font-family: Times New Roman">
Một viễn cảnh như vậy không hoàn toàn đơn độc lẽ loi trong Cựu Ước.
Chúng ta gặp thấy viễn cảnh này trên môi miệng của các ngôn sứ (x. Is 1:
11-16), các ngài công bố rằng các hy lễ sẽ là vô ích nếu thiếu tấm lòng;
điều này cũng được khẳng định trong các Thánh Vịnh, hai sách Sa-mu-en
(x. 1Sm 15: 22), và các tác phẩm Minh Triết (x. Hc 34: 19 và 35: 2-3).
Vị thế hàng đầu của phụng tự tinh thần này là một sợi chỉ đỏ chạy xuyên
suốt cái cốt lõi mặc khải Kinh Thánh và chuẩn bị cho sứ điệp Tin Mừng.</span><b><span lang="FR" style="font-size: 14pt; line-height: 150%; font-family: Times New Roman"><br>
2. Ơn gọi của Đức Ki-tô:</span></b></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 30px; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="FR" style="font-size: 14pt; line-height: 150%; font-family: Times New Roman">
Chính ở nơi Người Công Chính này mà tác giả thư gởi các tín hữu Do thái
tái khẳng định tư thế sẵn sàng dâng hiến trọn vẹn bản thân mình của Đức
Ki-tô, ngay từ giây phút đầu tiên của biến cố Nhập Thể: <i>“Ngay khi vào
trần gian…”</i>. Đồng thời tác giả cũng muốn nói đến cuộc sống tiền hữu
của Đức Ki tô.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 30px; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<i>
<span lang="FR" style="font-size: 14pt; line-height: 150%; font-family: Times New Roman">
“Chúa không ưa hy lễ và hiến lễ, nhưng đã tạo cho con một thân thể”</span></i><span lang="FR" style="font-size: 14pt; line-height: 150%; font-family: Times New Roman">:
Thánh vịnh được trích dẫn ở đây nhấn mạnh tính chất hiến lễ tự thân qua
những lời: <i>“Chúa đã tạo cho con một thân thể”</i>. Tác giả thư gởi
các tín hữu Do thái đã đọc thấy ở đây lời tiên báo về biến cố Nhập Thể.
Thân thể của Đấng Thiên Sai đã được Chúa Cha yêu thương chuẩn bị nhằm
hướng đến một hiến lễ cao vời.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 30px; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="FR" style="font-size: 14pt; line-height: 150%; font-family: Times New Roman">
Với những thuật ngữ: <i>“Hy lễ và hiến lễ”</i>, tác giả tập hợp hai loại
lễ tế vĩ đại, đổ máu và không đổ máu. Đoạn, ông thêm vào đây lễ toàn
thiêu theo đó thân thể tế vật hoàn toàn bị hỏa tế, và lễ xá tội theo đó
máu tế vật hoàn toàn được hiến dâng. Tất cả những lễ tế này được Lề Luật
quy định nhưng không được Thiên Chúa ưa thích. Bản văn để cho hiểu rằng
chính vì tính chất duy luật của chúng. Đức Ki-tô bãi bỏ phụng tự duy
hình thức và đề cao hiến lễ tinh thần.</span><b><span lang="FR" style="font-size: 14pt; line-height: 150%; font-family: Times New Roman"><br>
3. Cái chết thành hiến lễ:</span></b></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 30px; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<i>
<span lang="FR" style="font-size: 14pt; line-height: 150%; font-family: Times New Roman">
“Lạy Thiên Chúa, này con đây, con đến để thực thi ý Ngài”</span></i><span lang="FR" style="font-size: 14pt; line-height: 150%; font-family: Times New Roman">:
Đối với Đức Ki-tô không cốt tuân giữ những huấn lệnh mà ông Mô-sê
truyền, nhưng chấp nhận quyết định của Thiên Chúa, đó là dẫn dắt nhân
loại đến ơn cứu độ qua con đường đau khổ và tử nạn của Ngài.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 30px; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="FR" style="font-size: 14pt; line-height: 150%; font-family: Times New Roman">
Thư gởi tín hữu Do thái là một trong những bản văn Tân Ước giải thích rõ
nhất tại sao cuộc tử nạn của Đức Ki tô có thể được xem như một hy lễ.
Xét trên thực tại hữu hình, cuộc tử nạn của Đức Ki-tô không là một hy
lễ, nhưng do kết quả của một sự xét xử sai lầm, hay, chính xác hơn, do
sự thù hận quá độ; không có bàn thờ, không người dâng hiến, không sự
thanh tẩy, không tế vật. Nhưng xét trên thực tại vô hình, cái chết này
có giá trị của một hy lễ vì đây là hiến lễ tự nguyện, tự ý và tự thân,
vì thế nó có một hiệu quả tinh thần: vả lại đã có một thân thể bị giết
chết và máu đã hoàn toàn đổ ra. </span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 30px; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="FR" style="font-size: 14pt; line-height: 150%; font-family: Times New Roman">
Tuy nhiên, có một hy tế chỉ vì có tội lỗi của con người. Đây là bằng
chứng bi thảm. Suốt bức thư của mình, tác giả chứng mình rằng con người
hưởng được hy tế của Đức Ki-tô, dưới ba khía cạnh liên tục: thanh tẩy,
thánh hóa, và hiệp nhất với Thiên Chúa. Như vậy trong lời <i>“Xin vâng”</i>
của mầu nhiệm Nhập Thể hàm chứa rồi lời xin vâng của cuộc Khổ Nạn: <i>
“Xin đừng làm theo ý con, mà làm theo ý Cha”</i> (Lc 22: 42).</span><b><span lang="FR" style="font-size: 14pt; line-height: 150%; font-family: Times New Roman"><br>
TIN MỪNG (Lc 1: 39-45)</span></b></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 30px; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="FR" style="font-size: 14pt; line-height: 150%; font-family: Times New Roman">
Trong sách Tin Mừng Lu-ca, chuyện tích Viếng Thăm tiếp liền sau chuyện
tích Truyền Tin, như vậy, lời chào của sứ thần tiếp liền theo sau lời
chào của bà Ê-li-sa-bét. Rất sớm các Ki-tô hữu đã liên kết hai lời chào
này. Chúng ta gặp thấy chúng trong những bản văn thuộc thế kỷ thứ năm:
<i>“Kính mừng Ma-ri-a đầy ơn phúc. Thiên Chúa ở cùng bà. Bà có phúc lạ
hơn mọi người nữ”</i>. Đây sẽ là khởi điểm của Kinh Kính Mừng.</span><b><span lang="FR" style="font-size: 14pt; line-height: 150%; font-family: Times New Roman"><br>
1. Đức Ma-ri-a vội vã lên đường:</span></b></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 30px; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="FR" style="font-size: 14pt; line-height: 150%; font-family: Times New Roman">
Lý do đầu tiên của sự kiện <i>“Đức Ma-ri-a vội vã lên đường”</i> có thể
nhằm kiểm chứng những lời của sứ thần đã cho Mẹ biết rằng chị họ của Mẹ,
tuy đã già rồi mà cũng đã được cưu mang một người con trai. Đây là một
<i>“dấu lạ”</i> đã được ban cho Mẹ để nâng đỡ mặc khải làm xáo động cuộc
đời của Mẹ và cho Mẹ hiểu rằng đối với Thiên Chúa không có gì là không
thể. Nhưng đây không là lý do chính yếu. Đức Ma-ri-a đã tin rồi; Mẹ đã
không một mảy may nghi ngờ gì về sứ điệp của thiên sứ; sự vội vã của Mẹ
là diễn tả niềm vui của Mẹ; Mẹ muốn đi chúc mừng người chị họ của Mẹ và
chia vui với chị vì được làm mẹ như một thiên ân trong khi bà chị này
không còn một chút hy vọng gì. Chắc chắn Đức Ma-ri-a cũng muốn giúp đỡ
bà chị họ của mình <i>“nay đã có thai được sáu tháng”</i>. Quả thật,
thánh ký viết ở cuối chuyện tích của mình: <i>“Bà Ma-ri-a ở lại với bà
Ê-li-sa-bét độ ba tháng”</i>, nghĩa là cho đến khi con trẻ chào đời.</span><b><span lang="FR" style="font-size: 14pt; line-height: 150%; font-family: Times New Roman"><br>
2. Niềm vui thời Thiên Sai:</span></b></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 30px; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="FR" style="font-size: 14pt; line-height: 150%; font-family: Times New Roman">
Đức Ma-ri-a <i>“vào nhà ông Da-ca-ri-a và chào hỏi bà Ê-li-sa-bét”</i>.
Vì là vai em nên Đức Ma-ri-a là người đầu tiên chào hỏi bà chị họ mình.
Nhưng đột nhiên vai trò của hai chị em bị đảo ngược. Dưới tác động Chúa
Thánh Thần, bà Ê-li-sa-bét phát hiện bí mật của người em họ mình và thốt
lên lời <i>“Chúc Tụng”</i>: <i>“Em được chúc phúc hơn mọi người nữ!”</i>.
Đây là cách thức người Do thái diễn tả tuyệt đối mà chúng ta gặp thấy
nhiều lần trong Cựu Ước (Tl 5: 24; Gđt 15: 10): Đức Ma-ri-a là người nữ
tuyệt vời nhất bởi vì Mẹ được Thiên Chúa chọn làm Mẹ Đấng Cứu Thế.
</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 30px; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<i>
<span lang="FR" style="font-size: 14pt; line-height: 150%; font-family: Times New Roman">
“Người con em đang cưu mang cũng được chúc phúc. Bởi đâu tôi được Thân
Mẫu Chúa tôi đến với tôi thế này?”</span></i><span lang="FR" style="font-size: 14pt; line-height: 150%; font-family: Times New Roman">
Danh hiệu <i>“Chúa tôi”</i> thường được dành riêng cho Đức Chúa, tuy
nhiên cũng được gán cho Đấng Thiên Sai trong vài bản văn ngôn sứ. Chắc
hẳn bà Ê-li-sa-bét không nghi ngờ gì về thần tính của Đấng Thiên Sai;
nhưng chính xác hơn, các Ki-tô hữu tiên khởi sẽ dùng danh hiệu này cho
Đức Ki-tô để tuyên xưng thần tính của Ngài. Danh xưng <i>“Thân Mẫu Chúa
tôi”</i> chắc chắn là nền tảng cho tước hiệu đầu tiên mà Giáo Hội sau
này dùng để tôn vinh Đức Ma-ri-a, <i>“Theotokos”</i>, Mẹ Thiên Chúa,
cũng như hình thành nên phần thứ hai của Kinh Kính Mừng: <i>“Thánh
Ma-ri-a Đức Mẹ Chúa Trời…”</i>.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 30px; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<i>
<span lang="FR" style="font-size: 14pt; line-height: 150%; font-family: Times New Roman">
“Em thật có phúc, vì đã tin rằng Chúa sẽ thực hiện những gì Người đã nói
với em”</span></i><span lang="FR" style="font-size: 14pt; line-height: 150%; font-family: Times New Roman">.
Đây là mối phúc đầu tiên của Tân Ước. Ân phúc này liên quan đến lòng tin
của Đức Ma-ri-a đã được thể hiện ở nơi biến cố Truyền Tin.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 30px; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="FR" style="font-size: 14pt; line-height: 150%; font-family: Times New Roman">
Thánh Lu-ca quy tụ vào trong lời chúc tụng của bà Ê-li-sa-bét (1: 42-45)
hai ân phúc của Đức Ma-ri-a: phúc được làm Mẹ Đấng Cứu Thế và phúc vì đã
tin vào mọi lời Chúa phán. </span>
<span style="font-size: 14pt; line-height: 150%; font-family: Times New Roman">
Chính hai ân phúc này mà thánh ký chủ ý tách rời ra ở 11: 27-28, ở đó
một người phụ nữ giữa đám đông ca ngợi người mẹ của Đức Giê-su: <i>“Phúc
thay người mẹ đã cưu mang và cho Thầy bú mớn”</i> và Đức Giê-su đáp trả:
<i>“Đúng hơn phải nói rằng: Phúc thay kẻ lắng nghe và tuân giữ lời Thiên
Chúa”</i>. Ở nơi Đức Ma-ri-a hai ân phúc này trở thành một: ngay khi tin
rằng mọi lời Thiên Chúa phán sẽ được thực hiện, Đức Ma-ri-a trở thành Mẹ
của Đấng Cứu Thế. Rõ ràng đức tin của Mẹ là điều kiện tất yếu nhất cho
mọi lời Chúa phán được thực hiện.</span><b><span style="font-size: 14pt; line-height: 150%; font-family: Times New Roman"><br>
3. Bài ca “Ngợi Khen” (Mangificat):</span></b></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 30px; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 14pt; line-height: 150%; font-family: Times New Roman">
Tất cả lời chào của bà Ê-li-sa-bét tràn đầy niềm vui thời Mê-si-a. Đức
Ma-ri-a được công bố là có phúc; niềm hạnh phúc ở với bà Ê-li-sa-bét,
đứa con trong bụng bà đã nhảy lên vui sướng. Sứ thần cũng đã nói: <i>
“Mừng vui lên, hỡi Đấng đầy ân sủng”</i> và Đức Trinh Nữ xướng lên bài
ca <i>“Ngợi Khen”</i> của mình. Đây là bài thánh ca thứ nhất trong bốn
bài thánh ca của Tin Mừng Thời Thơ Ấu của Lc 1-2. Bài thánh ca này mô
phỏng bài thánh ca của bà An-na (1Sm 2: 1-10), gồm có ba phần: </span>
</p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 30px; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 14pt; line-height: 150%; font-family: Times New Roman">
- Phần thứ nhất (1: 46-50): Đức Ma-ri-a ngợi khen Thiên Chúa vì đã đoái
thương ban cho Mẹ được làm Mẹ Đấng Mê-si-a, dẫu Mẹ chỉ là phận nữ tì hèn
mọn, chẳng có công trạng gì.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 30px; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 14pt; line-height: 150%; font-family: Times New Roman">
- Phần thứ hai (1: 51-53): một sự đảo ngược cảnh sống và bậc thang giá
trị vào thời Thiên Sai giữa những người thấp hèn, bị áp bức chà đạp và
những kẻ quyền thế kiêu căng, tự cao tự đại.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 30px; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 14pt; line-height: 150%; font-family: Times New Roman">
- Phần kết (1: 54-55): Đức Ma-ri-a cảm tạ Thiên Chúa vì Người vẫn hằng
trung tín với những gì Người đã hứa.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 30px; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-size: 14pt; line-height: 150%; font-family: Times New Roman">
Thánh Lu-ca là thánh ký gợi lên rõ nét nhất niềm vui cứu độ được đem đến
cho loài người qua biến cố Đấng Thiên Sai ngự đến. Ngoài ra, chuyện tích
Viếng Thăm của thánh ký đem đến một lời chứng quý giá về tâm tình cảm tạ
tri ân của người Ki-tô hữu tiên khởi đối với đức tính cao vời khôn sánh
của <i>“Thân Mẫu Chúa chúng ta”</i>. </span></td>
</tr>
<tr><td width="474"><p style="text-align: center"> <a target="_top" href="http://tinmung.net"><img border="0" src="../../../../logo/LOGOtinmung.gif" width="67" height="40"></a> <a style="text-decoration: none; font-family: Arial; font-size: 10pt" target="_top" href="http://www.tinmung.net/SUYNIEM_HANGTUAN/suyniemINDEX.htm"><img border="0" src="../../../_Nam_A/2011/MuaThuongNien/VuaVuTru/LOGOtinmung2.gif" width="68" height="42"></a> </td></tr></table><p style="text-align: center"> </p>