File "06.htm"
Full path: E:/sites/Single15/tinmung2007/webroot/SUYNIEM_HANGTUAN/_Nam_B/2015/Mua-Thuong-Nien/CN II TN/06.htm
File size: 61.81 KiB (63295 bytes)
MIME-type:
Charset: utf-8
<html><head><meta http-equiv="Content-Language" content="en-us"><meta http-equiv="Content-Type" content="text/html; charset=utf-8"><title>
Chúa Nhật II Thường Niên - Năm B</title><base target="main">
<meta name="keywords" content="Chúa Nhật II Thường Niên - Năm B; Tôi đã gặp Ngài; Sứ vụ nhân danh Ngài; Chiên Thiên Chúa; Môn đệ đầu tiên; Hành trình theo Chúa; Đức Kitô là ai?"><style>
<!--
.CONTENTS{FONT-SIZE: 11pt;COLOR:Navy;}
span.MsoHyperlink
{color:blue;
text-decoration:underline;
text-underline:single;
text-decoration:none underline;
text-line-through:none;
vertical-align:baseline}
span.apple-converted-space
{}
div.MsoNormal
{mso-style-parent:"";
margin-top:0cm;
margin-right:0cm;
margin-bottom:10.0pt;
margin-left:0cm;
line-height:115%;
font-size:11.0pt;
font-family:"Calibri","sans-serif";
}
-->
</style>
<meta name="description" content="Chúa Nhật II Thường Niên - Năm B"><!--mstheme--><link rel="stylesheet" type="text/css" href="../../../../../_themes/suyniem3/suyn1011-109.css"><meta name="Microsoft Theme" content="suyniem3 1011">
</head><body><table border="0" width="500" cellspacing="12" style="border-color: #FFFFFF; font-family:Times New Roman; font-size:14pt; text-decoration:none" bgcolor="#FFFFFF"><tr><td width="460"><font size="2" color="#FF0000" face="Arial">
Chúa Nhật II Thường Niên - Năm B</font></td></tr><tr><td width="474" style="font-family: Arial; font-size: 12pt; text-decoration: none; font-weight: bold; text-align: center">
CÁC MÔN ĐỆ ĐẦU TIÊN</td></tr><tr><td width="474" style="font-family: Arial; font-size: 8pt; text-decoration: none; font-style:italic; text-align:right">
<span style="font-size: 8pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black">
Lm FX Vũ Phan Long, ofm</span></td></tr><tr><td width="474" style="font-family: Times New Roman; font-size: 14pt; text-decoration: none; text-align:justify">
<p class="MsoNormal" style="line-height: 17.05pt; margin-bottom: .0001pt; text-indent:36px">
<b>
<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black">
1.- Ngữ cảnh</span></b></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 36px; line-height: 17.05pt; margin-bottom: .0001pt">
<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black">
Trong <i>TM IV</i>, bài tường thuât ơn gọi các môn đệ được ghép vào bên
trong cái khung gọi là “<i>Tuần lễ khai mạc sứ vụ của Đức Giêsu”</i>.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; line-height: 17.05pt; margin-bottom: .0001pt; text-indent:36px">
<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black">
- <i>hai ngày đầu</i> : Gioan làm chứng (phủ định - khẳng định) ;</span></p>
<p class="MsoNormal" style="line-height: 17.05pt; margin-bottom: .0001pt; text-indent:36px">
<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black">
- <i>ngày thứ ba</i> (“hôm sau”, <i>Ga</i> 1,35): lần này Gioan giới
thiệu Đức Giêsu cho hai môn đệ: “Đây là Chiên Thiên Chúa” (cc. 35-36);</span></p>
<p class="MsoNormal" style="line-height: 17.05pt; margin-bottom: .0001pt; text-indent:36px">
<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black">
- đoạn văn của chúng ta (1,35-42) nằm ở vị trí này;</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; line-height: 17.05pt; margin-bottom: .0001pt; text-indent:36px">
<i>
<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black">
- ngày thứ tư</span></i><span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black"> (“hôm
sau”, 1,43): Đức Giêsu gọi Philípphê và Nathanaen;</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; line-height: 17.05pt; margin-bottom: .0001pt; text-indent:36px">
<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black">
- “<i>ngày thứ ba</i>” (2,1): Đức Giêsu “bày tỏ vinh quang” (2,11) tại
Cana miền Galilê.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; line-height: 17.05pt; margin-bottom: .0001pt; text-indent:36px">
<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black">
Các mốc về thời gian này có một ý nghĩa mà chúng ta cần nắm
vững, để hiểu được bản văn. Chúng ta sẽ phân tích các nghĩa
này trong truyện Tiệc cưới Cana (2,1-12).</span></p>
<p class="MsoNormal" style="line-height: 17.05pt; margin-bottom: .0001pt; text-indent:36px">
<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black">
</span></p>
<p class="MsoNormal" style="line-height: 17.05pt; margin-bottom: .0001pt; text-indent:36px">
<b>
<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black">
2.- Bố cục</span></b></p>
<p class="MsoNormal" style="line-height: 17.05pt; margin-bottom: .0001pt; text-indent:36px">
<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black">
Bản văn có thể chia thành ba phần:</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px; line-height: 17.05pt; margin-bottom: .0001pt">
<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black">
1) Hai môn đệ đầu tiên (1,35-39);</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px; line-height: 17.05pt; margin-bottom: .0001pt">
<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black">
2) Anrê (1,40-42a);</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px; line-height: 17.05pt; margin-bottom: .0001pt">
<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black">
3) Simôn (1,42b).</span></p>
<p class="MsoNormal" style="line-height: 17.05pt; margin-bottom: .0001pt; text-indent:36px">
<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black">
</span></p>
<p class="MsoNormal" style="line-height: 17.05pt; margin-bottom: .0001pt; text-indent:36px">
<b>
<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black">
3.- Vài ghi chú về chú giải</span></b></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; line-height: 17.05pt; margin-bottom: .0001pt; text-indent:36px">
<i>
<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black">
- Ông Gioan đang đứng...</span></i><span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black"> (35):
Có một nhóm môn đệ thường xuyên ở quanh Vị Tiền Hô (x. <i>Mc</i> 2,18t; <i>Mt</i> 11,2;
14,12; <i>Lc</i> 11,1; <i>Ga</i> 3,25). Bản văn xác định tiếp rằng một
trong hai môn đệ là Anrê, em của Simôn (c. 41); còn người thứ hai thì vô
danh.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 36px; line-height: 17.05pt; margin-bottom: .0001pt">
<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black">
Tìm cách dung hòa bài tường thuật của <i>TM IV</i> với bài của các <i>TMNL</i> nói
về ơn gọi của các môn đệ (x. <i>Mc</i> 1,16-20) là chuyện vô ích. Chỉ có
một điểm gặp nhau: hai anh em Simôn và Anrê ở trong số những người được
gọi đầu tiên. Còn các khác biệt quá lớn:</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 36px; line-height: 17.05pt; margin-bottom: .0001pt">
<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black">
* Theo <i>Mc</i> 1,29: Simôn ở Caphácnaum; theo <i>Ga</i> 1,44: hai anh
em gốc Bétxaiđa.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 36px; line-height: 17.05pt; margin-bottom: .0001pt">
<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black">
* <i>TM IV</i> không nói gì tới các con ông Dêbêđê, trong khi theo <i>Mc</i> 1,18-20,
họ là cặp môn đệ thứ hai; <i>Mc</i> lại không hề nói đến Philípphê và
Nathanaen.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 36px; line-height: 17.05pt; margin-bottom: .0001pt">
<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black">
* Bối cảnh cũng khác nhau: theo <i>TM IV</i>, các môn đệ đầu tiên thuộc
nhóm của Vị Tiền Hô, đã được ông hướng dẫn tới với Đức Giêsu; theo <i>Mc</i>,
Đức Giêsu chỉ kêu gọi các môn đệ sau khi Gioan bị bắt, và kêu gọi tại bờ
hồ Ghennêsarét, chứ không tại bờ sông Giođan, lúc đó họ đang làm nghề
chài lưới. </span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px; line-height: 17.05pt; margin-bottom: .0001pt">
<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black">
* Ý hướng tổng quát khác nhau: Theo <i>Mc</i>, đây là một biến cố bất
ngờ lôi kéo người ta ra khỏi cuộc sống hằng ngày để thi hành sứ mạng
tông đồ; thật ra bản văn <i>Mc</i>là một bản tóm về thần học ơn gọi.
Dường như bản văn <i>Ga</i> còn ghi giữ lại kỷ niệm lịch sử, đó là các
môn đệ đầu tiên của Đức Giêsu, và có thể chính tác giả, đã có lúc thuộc
về nhóm Gioan Tiền Hô.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; line-height: 17.05pt; margin-bottom: .0001pt; text-indent:36px">
<i>
<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black">
- thấy Đức Giêsu đi ngang qua</span></i><span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black"> (36):
Hôm sau ngày làm chứng (cc. 29-34), trong khi Gioan còn đứng đó, Đức
Giêsu đã bắt đầu tiến đi: thái độ của Gioan tượng trưng rằng sự nghiệp
của ông đã đến lúc chấm dứt; thái độ của Đức Giêsu đánh dấu khởi đầu
cuộc đời của Người là một cuộc tiến bước thiêng liêng, sẽ đưa Người về
với Chúa Cha (x. <i>Ga </i>14,28). Còn Gioan thì tức khắc nói với hai
người trong nhóm môn đệ đã đến để tìm ơn cứu độ nơi ông, rằng: “Đây là
Chiên Thiên Chúa”.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; line-height: 17.05pt; margin-bottom: .0001pt; text-indent:36px">
<i>
<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black">
- Các anh tìm gì thế? </span></i><span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black">(38):
“Tìm” (<i>zeteô</i>: 34 lần trong <i>TM IV</i>) có nghĩa là “tìm cách có
lại những đồ vật đã bị mất hoặc để lạc”. Trong ngôn ngữ Hy Lạp của <i>Bản
LXX</i>, đây là từ ngữ chuyên môn để nói về việc đi tìm Thiên Chúa, đặc
biệt tìm sự Khôn Ngoan của Thiên Chúa (x. <i>Kn</i> 1,1-2a; 8,2.18 …).
Trong tiếng Hípri, “tìm” là <i>darash</i>; <i>darash hattorah</i>, “tìm
Torah”, có nghĩa là giải thích <i>Kinh Thánh</i>.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; line-height: 17.05pt; margin-bottom: .0001pt; text-indent:36px">
<i>
<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black">
- Thưa Rabbi, Thầy ở đâu?</span></i><span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black"> (38): <i>Rabbi</i> là
danh xưng tôn kính để gọi các kinh sư.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; line-height: 17.05pt; margin-bottom: .0001pt; text-indent:36px">
<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black">
- <i>Thầy ở đâu?</i> (38): Trên môi các môn đệ, câu hỏi chỉ nhắm nơi Đức
Giêsu đang sống, để họ đến gặp, nhưng tác giả là người đã quen sử dụng
các từ ngữ theo hai ý, có lẽ cũng hiểu câu hỏi theo một nghĩa sâu hơn:
“Thầy ở đâu về phương diện thiêng liêng?”. Đối với ông, các môn đệ đã
mặc nhiên thưa với Đức Giêsu lời thỉnh cầu của Philípphê và của bất cứ
người nào: “Xin tỏ cho chúng con thấy Chúa Cha (nơi Chúa Cha, Thầy đang
cư ngụ), như thế là chúng con mãn nguyện” (14,8).</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; line-height: 17.05pt; margin-bottom: .0001pt; text-indent:36px">
<i>
<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black">
- Đến mà xem </span></i><span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black">(39):
Dịch sát là “Hãy đến và các anh sẽ xem thấy, <i>erchesthe kai opsesthe</i>. Mệnh
lệnh cách <i>erchesthe </i>có thể hiểu theo nghĩa điều kiện là “nếu như,
với điều kiện”. Còn <i>opsesthe</i> là thì tương lai của động từ <i>horaô</i>,
có thể hiểu như một<i> </i>lời hứa của Đức Giêsu: <i>TM IV</i> có bốn
động từ để diễn tả cái nhìn, từ cái nhìn thể lý nhất đến cái nhìn chiêm
ngưỡng sâu sắc nhất, đó là: <i>blepein</i>, <i>theasthai, theôrein</i>, <i>horan</i> [<i>idein</i>].
Động từ sau cùng thuộc về lãnh vực đức tin. Trong <i>Ga</i> 1,39, Đức
Giêsu mời các ông di chuyển về phía Người và có cái nhìn đức tin.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 36px; line-height: 17.05pt; margin-bottom: .0001pt">
<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black">
Câu trả lời của Đức Giêsu ở đây cũng có một mức độ sâu hơn: việc khám
phá ra nơi ở trần thế của Người tượng trưng và chuẩn bị cho việc khám
phá ra nơi ở thiêng liêng của Người. Bước đi theo Người theo cách thể
lý, các môn đệ thấy nơi trú ngụ của Người; hơn nữa, đã bước đi theo
Người cách thiêng liêng bằng lòng tin, họ cũng bắt đầu thấy được nơi ở
thiêng liêng của Người, tức Chúa Cha: “Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha”
(14,9).</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; line-height: 17.05pt; margin-bottom: .0001pt; text-indent:36px">
<i>
<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black">
- Họ ở lại với Người</span></i><span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black"> (39):
Đây là chặng đầu của một cuộc chung sống đưa tới sự hiệp thông sâu xa
nhất (x. 15,4). Trọn buổi chiều, kể từ 4g, họ xem và ở lại với Đức
Giêsu, về thiêng liêng cũng như về thể lý. Buổi chiều hoặc đêm đáng ghi
nhớ ấy mở đầu cho đời sống đức tin tròn đầy, đã đưa Anrê và người môn đệ
vô danh kia vào trong mầu nhiệm của đời sống Đức Kitô và làm cho họ rất
phấn khởi: “Chúng tôi đã gặp Đấng Mêsia”, Anrê reo lên như thế khi gặp
Simôn. Một niềm vui thiêng liêng bùng ra: theo các <i>TMNL</i>, đây là
niềm vui được ban cho những tâm hồn khám phá ra viên ngọc quý và kho
tàng trên trời (x. <i>Mt</i> 13,44).</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; line-height: 17.05pt; margin-bottom: .0001pt; text-indent:36px">
<i>
<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black">
- Khoảng giờ thứ mười</span></i><span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black"> (39):
tức khoảng 4g chiều. <i>TM IV</i> quen ghi chú về thời gian chính xác
(x. 4,52; 18,28; 19,14; 20,19), nhưng hẳn là có một ý hướng biểu tượng.
Trong một số bản văn của <i>Cựu Ước </i>hoặc của Do Thái giáo đương
thời, <i>số 10</i> là con số hoàn hảo; vậy<i> “giờ thứ 10”</i> hẳn là
giờ hoàn tất và đánh dấu khởi đầu công trình của Đức Giêsu. Quả thế, ở
11,9, “ngày” là một hình ảnh được dùng để gọi thời gian Đức Giêsu hoạt
động ở trần gian (x. thêm 9,4-5; 12,35). “Mười” là một<i> </i>con số
hoàn hảo đối với các triết gia phái Pythagore và triết gia Philô khiến
Bultmann gợi ý rằng đây là giờ của sự hoàn tất. Cũng có những tác giả
cho rằng ngay hôm sau, bắt đầu vào lúc mặt trời lặn, là một<i> </i>ngày
sa-bát; do đó hai môn đệ đã phải ở lại với Đức Giêsu để tránh di chuyển
vào ngày ấy. </span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; line-height: 17.05pt; margin-bottom: .0001pt; text-indent:36px">
<i>
<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black">
- Trước hết</span></i><span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black"> (<i>prôton</i>)
(41): Cuộc trò chuyện đã kéo dài trong đêm. Do đó, chúng ta hiểu là sáng
hôm sau, Anrê <i>trước hết</i> vội vã đi tìm anh trước khi làm bất cứ
việc gì.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; line-height: 17.05pt; margin-bottom: .0001pt; text-indent:36px">
<i>
<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black">
- Chúng tôi đã gặp</span></i><span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black"> <i>Đấng
Mêsia</i> (41): Dịch sát là “Chúng tôi đã <i>tìm thấy/tìm ra</i> Đấng
Mêsia” <i>Heuriskein</i>, tìm thấy, được dùng thường xuyên trong phân
đoạn này và phân đoạn sau. Anrê “tìm thấy/ra” Simôn, báo rằng họ đã “tìm
thấy/ra” Đấng Mêsia. Sau được Đức Giêsu “tìm thấy/ra”, Philípphê “tìm
thấy/ra” Nathanaen và bảo rằng đã “tìm thấy/ra” Đấng Mêsia.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; line-height: 17.05pt; margin-bottom: .0001pt; text-indent:36px">
<i>
<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black">
- Anh sẽ được gọi là Kêpha, tức là Phêrô </span></i><span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black">(42): <i>Kêphas</i> là
từ Aram <i>kêpha </i>được hy-hóa, có nghĩa là “tảng đá”. Cũng như từ <i>rabbi</i> (c.
38) và <i>Mêsia</i> (c. 41), <i>kêpha</i> là từ Aram; điều này khiến
chúng ta lưu ý là có ba từ Aram trong cùng một đoạn văn. Hẳn là tác giả
suy tư trong ngôn ngữ này, hay ít ra ngài cũng rất quen thuộc các thuật
ngữ Aram. Bản <i>RSV</i> dịch thành một<i> </i>câu hỏi: “So you are
Simon the son of John? Vậy anh là Simôn con ông Gioan à?”. Thật ra, bản
văn không gợi ý một câu hỏi. Còn việc Đức Giêsu đặt tên cho Simôn thì
chúng ta hiểu: Người ta đặt tên cho những người hoặc những vật thuộc
quyền kiểm soát của mình (x. <i>St</i> 2,20; <i>Dn</i> 1,7); các người
cha đặt tên cho con cái (<i>Mt</i> 1,25; <i>Lc</i> 1,63).</span></p>
<p class="MsoNormal" style="line-height: 17.05pt; margin-bottom: .0001pt; text-indent:36px">
<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black">
</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; line-height: 17.05pt; margin-bottom: .0001pt; text-indent:36px">
<b>
<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black">
4.- Ý nghĩa của bản văn</span></b></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; line-height: 17.05pt; margin-bottom: .0001pt; text-indent:36px">
<i>
<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black">
* Hai môn đệ đầu tiên (35-39)</span></i></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 36px; line-height: 17.05pt; margin-bottom: .0001pt">
<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black">
Truyện hai môn đệ này chắc chắn có dấu vết những hoài niệm về một<i> </i>vài
môn đệ. Nhưng dưới ngòi bút của tác giả, truyện mang tính điển hình để
chia sẻ với độc giả cái nhìn về đời môn đệ. Các biến cố xảy ra rất
nhanh, trong cái khung giả tạo bảy ngày: các môn đệ đầu tiên đến gặp Đức
Giêsu, rồi Đức Giêsu gọi Phêrô, Philípphê, Nathanaen. Cuối cùng toàn
chương kết thúc với lời Đức Giêsu long trọng mạc khải về chính mình:
“Thật, tôi bảo thật các anh, các anh sẽ thấy trời rộng mở, và các thiên
sứ của Thiên Chúa lên lên xuống xuống trên Con Người” (<i>Ga</i> 1,51).</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 36px; line-height: 17.05pt; margin-bottom: .0001pt">
<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black">
Trước khi truyện đạt tới đỉnh cao này, tác giả ghi lại lời chứng của
Gioan. “Thấy Đức Giêsu đi ngang qua, ông lên tiếng nói: ‘Đây là Chiên
Thiên Chúa’” (<i>Ga</i> 1,36). Lời này nhắc lại lời nói trong hoạt cảnh
ở c. 29, chỉ khác là thuộc về ngày hôm sau. Đây là “cấu trúc trôn ốc”
quen thuộc của tác giả. Người thường xuyên trở lại vớinhững đề tài cũ,
cứu xét chúng từ những viễn tượng khác, thăm dò, và chia sẻ với các độc
giả sự phong phú đặc biệt của những thực tại Người đề cập đến (x. <i>Ga</i> 20,19-23).</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 36px; line-height: 17.05pt; margin-bottom: .0001pt">
<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black">
Lúc đó Gioan [và hai môn đệ] được mô tả là “đang đứng” (<i>heistêkei</i>).
Có vẻ như thể ông đang chờ chuyện gì đó xảy ra. Trong <i>TM IV</i>, hành
động duy nhất có ý nghĩa mà Gioan làm, đó là <i>làm chứng</i>. Vì lúc
này Đức Giêsu chưa xuất hiện, hành động đó chưa xảy ra được. Như ngày
hôm trước, Gioan thấy Đức Giêsu bước đi và đã giới thiệu Người (<i>Ga</i> 1,29),
sang ngày hôm sau, một lần nữa, Gioan lại công bố Đức Giêsu là Chiên
Thiên Chúa. Hoạt cảnh của ngày hôm qua cho biết ý nghĩa của tên gọi bí
ẩn này; hoạt cảnh hôm nay cho thấy hậu quả của lời loan báo ấy. Ông mời
họ rời xa ông để gắn bó với Đấng Cứu thế duy nhất chân thật.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 36px; line-height: 17.05pt; margin-bottom: .0001pt">
<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black">
Do được thầy giới thiệu, hai môn đệ đã quyết định đi theo Đức Giêsu. Ơn
gọi của họ, cũng như của Samuen, được đánh thức bởi một người khác,
không phải bởi “ánh sáng” nhưng bởi “chứng nhân của ánh sáng” (1,8;
3,3). Tác giả không nói gì đến hoàn cảnh thời gian, không gian, tâm lý
của các nhân vật: đây cũng là một lược đồ.Ý thức về sự khác biệt giữa
tiếng nói và Đấng được tiếng nói làm chứng cho, hai môn đệ bước theo Đức
Giêsu.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 36px; line-height: 17.05pt; margin-bottom: .0001pt">
<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black">
Hẳn là vì nghe tiếng bước chân, Đức Giêsu quay lại, và thấy các ông đi
theo mình. Người hỏi thẳng: “Các anh tìm gì thế?” (<i>Ga</i> 1,38).
Những người đi theo thưa với Người là <i>rabbi</i>, không trả lời câu
hỏi của Người, mà lại hỏi Người ở đâu. Thay vì cung cấp một<i> </i>câu
trả lời trực tiếp, Đức Giêsu mời hai người đến và xem nơi Người ở. Hai
ông đã nhận lời mời và đi với Người đến nơi Người ở, nơi này là nơi nào
chúng ta không biết. Lúc đó vào khoảng giờ thứ 10 (= 4g chiều, hay là
5/6 ngày đã trôi qua), tức đã muộn. Có lẽ họ đã qua đêm với Người. Chi
tiết về thời gian này có ý nghĩa gì với tác giả không? Rất có thể chi
tiết này gợi ý rằng đây là giờ của sự hoàn tất. Điều đánh động trong mẩu
đối thoại giữa Đức Giêsu và các môn đệ đầu tiên của Gioan, đó là họ xưng
hô với Đức Giêsu là <i>rabbi</i>. “Thưa <i>rabbi</i>”. <i>Rabbi</i> là
từ ngữ thường được dùng để bày tỏ lòng tôn kính;<i> TM IV</i> thường
dùng từ ngữ này vào những dịp tường thuật các cuộc gặp gỡ của Đức Giêsu
với người khác. Những người được hưởng nhờ quyền lực siêu phàm của Đức
Giêsu cũng gọi Người là <i>Rabbi</i>. <i>Rabbi</i> có nghĩa chữ là “thầy
tôi” (<i>didaskalos</i>), thường được các môn sinh dùng để gọi vị thầy
họ trân trọng, nhưng sau này chỉ còn nghĩa là “thầy”.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 36px; line-height: 17.05pt; margin-bottom: .0001pt">
<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black">
Trong <i>TM IV</i> từ đầu cho đến đây, không chi tiết nào cho thấy Đức
Giêsu là một thầy giáo. Không một<i> </i>điều gì gợi ý là dân chúng mong
ước Đấng đang đến là mộtthầy dạy. Trong <i>TM</i> này, từ ngữ <i>rabbi</i> cũng
không được sử dụng nhiều: 7 trên 8 lần được các môn đệ Đức Giêsu sử dụng
(1,38.49; 3,2; 4,31; 6,25; 9,2; 11,8); lần còn lại được đặt trên môi của
các môn đệ nhìn nhận Gioan là thầy họ (3,26).</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 36px; line-height: 17.05pt; margin-bottom: .0001pt">
<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black">
Hai môn đệ vô danh “bước theo” Đức Giêsu. Trong hy-ngữ, “bước theo” (<i>akoloutheô</i>)
có nghĩa là “đi đàng sau một người”; “trở thành môn đệ” (nghĩa ẩn dụ).
Thay vì theo Gioan, bây giờ họ bước theo Đức Giêsu. Họ đã học với Gioan;
nay họ phải học với Đức Giêsu. Chính vì thế, họ gọi Người là <i>rabbi</i>.
Đây là cách tác giả diễn tả đòi hỏi từ bỏ tận căn được nói đến trong
các <i>TMNL</i> (x. <i>Mt</i> 19,21; <i>Mc</i> 10,21; <i>Lc</i> 18,22):
hoặc họ là môn đệ của Đức Giêsu hoặc họ là môn đệ của Gioan. Không thể
có thỏa hiệp. Đây không còn phải là quyết định triệt để trở thành môn đệ
bằng cách từ bỏ những của cải vật chất nữa để đi theo một<i> </i>vị thầy
du thuyết; đúng hơn, đây là từ bỏ mộtdấn thân đầu tiên trong đức tin của
mình.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 36px; line-height: 17.05pt; margin-bottom: .0001pt">
<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black">
Nhưng ở đây không chỉ có vấn đề một<i> </i>dấn thân tận căn. Tác giả
diễn tả xác tín của mình là những ai đã thật sự học nơi Gioan, những ai
đã thật sự hiểu ý nghĩa của lời chứng của Gioan, thì trở thành môn đệ
của Đức Giêsu. Các môn đệ của Gioan tìm được vị trí đúng đắn của họ
trong cuộc đời khi họ trở thành môn đệ của Đức Giêsu. Những ai đã chú ý
thật sự đến lời chứng của Gioan thì phải đi vào nhóm môn đệ của Đức
Giêsu. Đây là ý nghĩa biểu tượng và cũng là ý nghĩa đích thật của bài
tường thuật.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 36px; line-height: 17.05pt; margin-bottom: .0001pt">
<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black">
Câu hỏi mở đầu của Đức Giêsu cũng lạ: “Các anh tìm gì thế?”, một câu hỏi
trên bình diện tường thuật thuần túy chỉ có nghĩa là “Các anh muốn gì?”.
Họ không đáp lại bằng một<i> </i>câu trả lời, nhưng bằng một câu hỏi:
“Thầy ở đâu?”. Nếu so sánh với ba <i>TMNL</i>, ta thấy những lời đầu
tiên Đức Giêsu nói công khai được các <i>TM</i> ấy ghi lại đều có chất
chứa một<i> </i>chương trình cho toàn thể <i>TM</i> (<i>Mt</i> 3,15; <i>Mc</i> 1,15; <i>Lc</i> 4,21),
còn <i>TM IV</i> thì thế nào?</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 36px; line-height: 17.05pt; margin-bottom: .0001pt">
<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black">
Có thể cho rằng tác giả trình bày các môn đệ đầu tiên của Gioan như là
những cá nhân đang theo đuổi sự Khôn Ngoan thần linh. Tuy nhiên, Đức
Giêsu chính là hiện thân của sự Khôn Ngoan thần linh. Thật khôi hài,
những người đi tìm sự Khôn Ngoan thần linh lại tìm thấy sự Khôn Ngoan
hiện thân khi họ bước theo Đức Giêsu. Rồi tác giả cũng cho thấy Đức
Giêsu giải thích <i>Kinh Thánh</i>, và thường quy chiếu về bản thân
Người. Chẳng hạn, Người thực hiện một<i> midrash</i></span><a name="_ftnref1"><b><i><span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: #0068CF">[1]</span></i></b></a><span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black"> về <i>Tv</i> 78,24
trong Diễn từ về bánh ban sự sống (<i>Ga</i> 6,26-51). Từ cách hiểu tổng
quát về Đức Giêsu như thế, rất có thể tác giả mô tả hai môn đệ đi đến
với Đức Giêsu như đến với người có thể giải thích<i>Kinh Thánh</i>. Nếu
vậy, hẳn là họ đã có lý khi thưa <i>rabbi</i> (<i>Ga</i> 1,38), nhưng
danh hiệu này cũng phản ánh cách các thành viên của cộng đoàn tác giả
hiểu về Đức Giêsu. Do đó, câu hỏi của hai ông “Thầy ở đâu?” đã được Đức
Giêsu nâng lên một<i> </i>bình diện ý nghĩa khác (x. phản ứng của Đức
Giêsu đối với câu nói của Đức Maria tại tiệc cưới Cana: <i>Ga</i> 2,3-4),
khi Người bảo các ông bằng một<i> </i>câu nặng chất đức tin: “Hãy đến và
các anh sẽ xem thấy”.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 36px; line-height: 17.05pt; margin-bottom: .0001pt">
<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black">
Hai môn đệ hỏi: “Thầy ở đâu?”. Câu hỏi này không đơn giản như thoạt
nhìn. “Ở/ở lại”, <i>menô</i>, là một động<i> </i>từ tác giả rất ưa
chuộng (<i>Ga</i>: 40 lần; truyền thống <i>Gioan</i>28 lần (<i>1 Ga</i>:
24x; <i>2 Ga</i>: 3x; <i>Kh</i>: 1x)</span><a name="_ftnref2"><span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: #0068CF">[2]</span></a><span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black">.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 36px; line-height: 17.05pt; margin-bottom: .0001pt">
<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black">
Động từ này được <i>TM Ga</i> dùng theo các nghĩa sau</span><a name="_ftnref3"><span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: #0068CF">[3]</span></a><span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black">:
(1) Nghĩa thông thường: “Ở lại” hoặc “sống” tại một nơi nào đó (1,39;
2,12; 4,40; 12,24). Thường, ý nghĩa địa dư này chuyển sang nghĩa thần
học; (2) Nghĩa thần học: “Ở lại” thường gợi lên một<i> </i>khoảnh khắc
đặc biệt quan trọng trong lịch sử cứu độ. Đức Giêsu “ở lại” với các môn
đệ đang tin vào Người (<i>Ga</i> 2,12; 4,40; 7,9; 10,40; 11,6.54;
14,25). Đám đông nói rằng Đấng Kitô “ở lại” (tồn tại) mãi mãi (<i>Ga</i> 12,34),
nhưng tác giả gợi ý rằng Đức Giêsu ở lại Nhà của Cha Người (<i>Ga</i> 8,35).
Trong các bài diễn từ cáo biệt (<i>Ga</i> ch. 13–17), tác giả trình bày
rộng rãi ý nghĩa đích thực của “ở lại”. Đức Giêsu trở về với Chúa Cha để
chuẩn bị một<i> </i>chỗ cho các môn đệ để họ được ở với Người (<i>Ga</i> 14,2-3).
Chúa Cha ở lại trong Đức Giêsu (<i>Ga</i> 14,10) và Thánh Thần ở lại
trong các môn đệ của Đức Giêsu (<i>Ga</i> 14,17). “Ở lại” không chỉ là
“ở với”, mà còn có nghĩa là “ở trong”. Trong thực tế, có một<i> </i>sự
“ở lại trong nhau” giữa Đức Giêsu và các môn đệ. Họ ở lại trong Người và
Người ở lại trong họ (<i>Ga</i> 15,4.5.7). Ý nghĩa tối hậu của bí tích
Thánh Thể là: đây là một<i> </i>phương tiện để ở trong nhau và hiến mạng
sống cho nhau (<i>Ga</i>6,56). Đây là một tình trạng cánh chung mà mọi
tín hữu có thể sống ngay lúc này, nếu tuân giữ giới răn yêu thương (<i>Ga</i> 15,10;
x. <i>1 Ga</i> 4,12.16).</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 36px; line-height: 17.05pt; margin-bottom: .0001pt">
<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black">
Tất cả những điều này đã được tiên báo khi Đức Giêsu mời hai môn đệ vô
danh đến và xem Người ở đâu. Không phải là Người muốn họ đến mà thăm cái
lều người Ả Rập du cư (bedouin) hoặc một<i> </i>nhà trọ nào bên đường.
Người mời họ đến mà nhận thấy rằng Người đang ở với Chúa Cha và Chúa Cha
đang ở với Người. Họ đến mà trải nghiệm rằng sống chung với Người chính
là điều duy nhất quan trọng của đời sống Kitô hữu.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 36px; line-height: 17.05pt; margin-bottom: .0001pt">
<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black">
Cũng như Gioan đã thấy (<i>horaô</i>) Thần Khí ở lại (<i>menơ</i>) trên
Đức Giêsu, các môn đệ được mời xem/thấy (<i>horaô</i>) nơi Đức Giêsu ở (<i>menô</i>).
Đây không phải là mộtvấn đề nhìn xem bằng cặp mắt thể lý, mà là một<i> </i>nhận
thức nhờ đức tin. Như Gioan đã trải nghiệm cái nhìn mà Thiên Chúa đã hứa
(cc. 32.34), các môn đệ cũng chấp nhận lời mời của Đức Giêsu: “Hãy đến
và các anh sẽ xem thấy, <i>erchesthe kai opsesthe</i>” (1,39). Một lời
mời gọi (<i>các anh hãy đến</i>) và một<i> </i>lời hứa (<i>các anh sẽ
thấy</i>). Họ đã đến, tức là rời bỏ vị trí, quan điểm, lập trường của
họ, để đi vào vị trí, quan điểm, lập trường của Đức Giêsu, và họ đã “xem
thấy”. Họ đã nhận ra nơi Đức Giêsu đang ở thật sự.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="line-height: 17.05pt; margin-bottom: .0001pt; text-indent:36px">
<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black">
</span></p>
<p class="MsoNormal" style="line-height: 17.05pt; margin-bottom: .0001pt; text-indent:36px">
<i>
<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black">
* Anrê (40-42a)</span></i></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 36px; line-height: 17.05pt; margin-bottom: .0001pt">
<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black">
Đến đây, tác giả cho biết một<i> </i>trong hai môn đệ ấy là Anrê, em của
Simôn Phêrô. Truyền thống và nhiều nhà chú giải hiện đại nghĩ rằng người
môn đệ vô danh kia chính là người môn đệ Chúa thương mến. Truyền thống
cũng đã đồng hóa tác giả <i>TM IV</i> với người môn đệ Chúa thương mến
và đồng hóa người môn đệ Chúa thương mến với Gioan, con ông Dêbêđê. Các
học giả <i>Kinh Thánh</i> hiện đại khá dè dặt đối với các kiểu đồng hóa
này. Dù sao, không có gì chắc chắn để chúng ta có thể đồng hóa người môn
đệ vô danh trong <i>Ga</i> 1,35-39 với con ông Dêbêđê (Giáo sư Boismard
nghĩ là Philípphê). Quả thế, nếu con ông Dêbêđê là bạn của Anrê vào dịp
họ được gọi làm môn đệ, thì đây hẳn là lần duy nhất trong toàn bộ <i>Tân
Ước</i>, Gioan con ông Dêbêđê đi đôi với Anrê. Thông thường Gioan đi đôi
với anh là Giacôbê (x. chẳng hạn <i>Mt</i> 4,21; <i>Mc</i>3,17; <i>Lc</i> 5,10…),
còn Anrê thì đi đôi với anh là Phêrô (x. <i>Ga</i> 1,40-42). Simôn Phêrô
chưa xuất hiện, nhưng vì ông được biết nhiều, nên chỉ cần nêu tên ông ra
là có thể xác định được Anrê. Trong truyền thống của Hội Thánh sơ khai,
Anrê chỉ là em của Phêrô thôi (<i>Mt</i> 4,18; 10,2; <i>Mc</i> 1,16
(29); <i>Lc</i> 6,14). Tuy nhiên tác giả <i>TM IV</i> có cách phác họa
riêng Anrê.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 36px; line-height: 17.05pt; margin-bottom: .0001pt">
<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black">
Trong các <i>TMNL</i>, tên Anrê luôn xuất hiện trong một<i> </i>danh
sách. Danh sách này có khi chỉ có hai tên (<i>Mt</i> 4,18; <i>Mc</i> 1,16.29),
có khi bốn tên (<i>Mc</i> 3,18; <i>Cv</i> 1,13), có khi mười hai tên (<i>Mt</i> 10,2; <i>Mc</i> 3,13; <i>Lc</i> 6,14),
nhưng không cho thấy Anrê có phận vụ gì cả. Anrê chỉ là em và bạn đồng
hành của Phêrô hoặc là một<i> </i>trong Nhóm Mười Hai. Nhưng với <i>TM
IV</i>, Anrê được phác họa ra như một<i> </i>người môn đệ đích thực của
Đức Giêsu. Thậm chí ông còn là một<i> </i>môn đệ có điều gì đó mà nói
ra. Ông nói với anh mình (<i>Ga</i> 1,41), và ông nói với Đức Giêsu (<i>Ga</i> 6,9;
x. 12,22). Rõ ràng là tác giả có một<i> </i>“luận đề về đời môn đệ” (<i>Ga</i> 1,35-39)
và ngài tìm cách minh họa luận đề này bằng “ví dụ Anrê”.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 36px; line-height: 17.05pt; margin-bottom: .0001pt">
<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black">
Đối với ngài, Anrê là một<i> </i>con người bằng xương bằng thịt, xuất
thân từ một<i> </i>thành phố có thật: Bétxaiđa (<i>Ga</i> 1,44), một<i> </i>thành
của miền Galilê (<i>Ga</i> 12,21). Anrê là một<i> </i>môn đệ đã đi theo
trọn chương trình về đời môn đệ. Ông đã nghe lời chứng về Đức Giêsu. Ông
đã bước theo Đức Giêsu. Ông đã nêu chứng từ về Đức Giêsu cho những người
khác. Nhận lời chứng về Đức Giêsu, trở thành một<i> </i>môn đệ, và cống
hiến chứng từ về Đức Giêsu cho những người khác như một<i> </i>cách diễn
tả đời môn đệ của mình, đây là cái mô hình đơn giản (<i>pattern</i>)
thông thường về đời môn đệ theo cái nhìn của <i>TM IV</i>. Cũng như Anrê
có điều gì đó mà nói về Đức Giêsu cho anh mình (<i>Ga</i>1,41),
Philípphê cũng có điều gì đó mà nói về Đức Giêsu cho Nathanaen (1,45),
và người phụ nữ Samari cũng có điều gì đó mà nói về Đức Giêsu cho các
dân trong thành của bà (4,29.39). Trong cái chuỗi phản ứng từ chứng từ
đến chứng từ này, Tin Mừng tiếp tục được loan báo và người ta có thể
tin.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 36px; line-height: 17.05pt; margin-bottom: .0001pt">
<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black">
Tác giả ghi nhận là “trước hết (<i>prôton</i>), ông đi tìm gặp (<i>heuriskei</i>)
anh mình” (<i>Ga</i> 1,41). Điều đầu tiên mà người môn đệ mới này đã làm
là đi tìm anh mình và nói về Đức Giêsu cho anh. Đã được đưa vào trong
“phong trào” của các môn đệ Đức Giêsu, Anrê phải kể cho ai đó về Đức
Giêsu, và anh ông là Simôn là người may mắn hưởng nhờ chứng từ của ông
đầu tiên. “Chúng tôi đã tìm thấy Đấng Mêsia (<i>messian</i>)”. Một lần
nữa, tác giả dịch một<i> </i>công thức Hípri (<i>mashiah</i>) ra
tiếng Hy Lạp: “nghĩa là Đấng Kitô (<i>christos</i>)”. Vì tác giả cho
thấy Anrê làm chứng cho Đức Giêsu là Đấng Mêsia (Kitô), ta có một<i> </i>sự
xác nhận là lời chứng của Gioan nói rằng Đức Giêsu là Con Thiên Chúa (<i>Ga</i> 1,34)
là chứng từ về tư cách Mêsia của Người. Qua cuộc gặp gỡ với Đức Giêsu,
Anrê đã nhận ra sự thật của lời chứng của Gioan. Trước đây, Anrê đã được
mô tả như là một<i> </i>người đang đi tìm (1,38); bây giờ ông được giới
thiệu như là người đã tìm thấy. Kẻ đi tìm đã tìm thấy nơi Đức Giêsu điều
ông vẫn đang đi tìm lâu nay.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 36px; line-height: 17.05pt; margin-bottom: .0001pt">
<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black">
Lúc đầu Anrê đã gọi Đức Giêsu là <i>Rabbi</i>, “thầy của con”, bây giờ
ông gọi Người là <i>Mêsia</i>, “Đấng được xức dầu”. Khi tác giả phác họa
các môn đệ thưa với Đức Giêsu như một<i> rabbi</i>, thường ngài mô tả
cho thấy các môn đệ này đến với Đức Giêsu và đặt một<i> </i>câu hỏi (<i>Ga</i> 1,38;
6,25; 9,2;11,8) để được chỉ giáo thêm. Đấy là thói quen của các học trò
Do Thái. Các môn đệ ra khỏi cuộc gặp gỡ, đã học thêm được điều gì từ nơi
thầy. Đây là trường hợp của Anrê, cũng như sau này là trong của
Nathanaen (1,49) và Maria Mácđala (20,16.18).</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 36px; line-height: 17.05pt; margin-bottom: .0001pt">
<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black">
Nói rằng tác giả coi Anrê là một<i> </i>môn đệ đích thực của Đức Giêsu,
điều này được nêu rõ qua lời tuyên xưng đức tin của ông vào Đức Giêsu.
Ông công bố: “Chúng tôi đã đã tìm thấy (<i>heurêkamen</i>) Đấng Mêsia” (<i>Ga</i> 1,41).
Ở bình diện tường thuật, “chúng tôi” đây là Anrê và người môn đệ vô
danh. Ở một<i> </i>bình diện sâu hơn, “chúng tôi” đây, theo truyền thống
Gioan, là toàn thể nhóm của tác giả đang tuyên xưng niềm tin vào Đức
Giêsu Mêsia qua môi miệng Anrê.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 36px; line-height: 17.05pt; margin-bottom: .0001pt">
<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black">
Như thế, trong bài tường thuật rất ngắn về vai trò của Anrê (<i>Ga</i> 1,[35-39].40-41),
tác giả phác họa Anrê như là người môn đệ đích thật. Điều đáng lưu ý, đó
là Anrê được thúc đẩy mạnh mẽ bởi lý tưởng dấn thân làm môn đệ đến nỗi
ông đi tìm anh để kể về Đức Giêsu và đưa anh tới với Đức Giêsu. Nếu có
một nét căn bản, không thay đổi, mà <i>TM IV</i> rút ra được từ dung mạo
Anrê, đó là Anrê đưa người ta đến với Đức Giêsu.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; line-height: 17.05pt; margin-bottom: .0001pt; text-indent:36px">
<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black">
</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; line-height: 17.05pt; margin-bottom: .0001pt; text-indent:36px">
<i>
<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black">
* Simôn (42b)</span></i></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 36px; line-height: 17.05pt; margin-bottom: .0001pt">
<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black">
Simôn Phêrô là một<i> </i>dung mạo quen thuộc với độc giả, vì ông được
nêu tên như thế (<i>Ga</i> 1,40), dù sau đó hai câu, tác giả xác định là
tên thật của ông là Simôn (1,42), còn Phêrô là biệt danh Đức Giêsu ban
cho ông.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 36px; line-height: 17.05pt; margin-bottom: .0001pt">
<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black">
Simôn được em là Anrê giới thiệu về Đức Giêsu là Đấng Mêsia rồi cũng
được em giới thiệu với Đức Giêsu. Như thế, con đường Simôn Phêrô theo để
đến với Đức Giêsu là con đường thông thường: ông được một<i> </i>người
đã tin làm chứng và đưa đến với Đức Giêsu; ông chấp nhận chứng từ đó và
đích thân đến gặp Đức Giêsu và khám phá ra quan hệ duy nhất giữa ông với
Người.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 36px; line-height: 17.05pt; margin-bottom: .0001pt">
<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black">
Vậy Simôn Phêrô là một<i> </i>môn đệ khác của Đức Giêsu. Nhưng có điều
gì đó chỉ có nơi người môn đệ này. Được đưa đến với Đức Giêsu nhờ lời
tuyên xưng của em vào Đấng Mêsia, Phêrô được Đức Giêsu ngỏ lời với theo
cách huyền bí: “Anh là Simôn, con ông Gioan, anh sẽ được gọi là Kêpha” (<i>Ga</i> 1,42).
Công thức này, được Đức Giêsu nói ra trong khi Người nhìn ông, tương tự
công thức mạc khải có ở <i>Ga</i> 1,29.36.47; 19,26-27.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 36px; line-height: 17.05pt; margin-bottom: .0001pt">
<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black">
Đức Giêsu đặt cho Simôn một<i> </i>tên mới, tác giả ghi nhận điểm này để
nêu bật quan hệ có một<i> </i>không hai giữa Simôn Phêrô và Đức Giêsu,
nhưng cũng để cho thấy Đức Giêsu có một<i> </i>uy quyền. Khi đặt tên cho
Phêrô, Đức Giêsu cũng còn muốn xác định cho ông một căn tính mới, một<i> </i>vai
trò mới trong cuộc sống, thậm chí một<i> </i>định mệnh mới (x. Abram và
Giacóp: <i>St</i> 32,38; 35,10). Nói đến tầm quan trọng của tên mới của
Simôn, chúng ta đều nhớ đến đoạn văn <i>Mt</i> 16,15-19. So với hoạt
cảnh tương đối dài đó được <i>Mt</i> mô tả, bản văn của <i>TM IV</i> thật
quá ngắn; nó chỉ tương tự với những câu ngắn nói về việc đổi tên ở <i>Mt</i> 10,2; <i>Mc</i> 3,16
và <i>Lc</i> 6,14, chứ không sánh được với bản văn <i>Mt</i> 16. Có thể
nói kịch bản này là do tác giả <i>TM IV</i> sáng tác ra cho phù hợp với
phần tường thuật của chương 1 của <i>TM</i>. Tuy nhiên, tác giả không
suy diễn gì về việc đổi tên hay về ý nghĩa của tên mới cả. Ngài chỉ dịch
tên Aram mới <i>Kepha’</i> thành một<i> </i>tên Hy Lạp mới tương đương
là “Phêrô” (<i>Petros</i>) thôi. Ngài cũng chẳng nói gì đến tảng đá, và
càng không nói đến Hội Thánh xây trên một<i> </i>tảng đá. Ngài cũng
không có một<i> </i>suy tư gì về vai trò của Phêrô như người giữ cửa với
quyền chìa khóa. Dù sao, đối với tác giả, tên mới này quan trọng, bởi vì
ngài thường xuyên gắn nó vào tên Simôn (trừ hai lần chỉ có tên Simôn,
tất nhiên: <i>Ga</i> 1,41.42, và vài lần chỉ có tên Phêrô: 1,44; 13,37;
18,11.16.17.18.26.27; 20,3.4; 21,7.17.20.21). Chúng ta sẽ có một<i> </i>dung
mạo Simôn rõ ràng hơn khi đọc trọn <i>TM IV</i>.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="line-height: 17.05pt; margin-bottom: .0001pt; text-indent:36px">
<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black">
</span></p>
<p class="MsoNormal" style="line-height: 17.05pt; margin-bottom: .0001pt; text-indent:36px">
<i>
<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black">
+ Kết luận </span></i></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; text-indent: 36px; line-height: 17.05pt; margin-bottom: .0001pt">
<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black">
Trong bài tường thuật này, có những yếu tố chính của một ơn gọi làm môn
đệ: 1) gặp gỡ đích thân Đức Giêsu; 2) khám phá ra Đức Giêsu là một con
người siêu phàm; 3) cuối cùng, thay đổi định mệnh. Cuộc đời mỗi người
là một<i> </i>chuyến “đi tìm” Đức Giêsu, được Người dẫn dắt, rồi sau khi
đã thực sự “tìm ra, tìm thấy” Người, thì đi giới thiệu cho người khác.
Đấy là một chu kỳ giúp mọi người tin Đức Giêsu và được cứu độ.<i> </i> </span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; line-height: 17.05pt; margin-bottom: .0001pt; text-indent:36px">
<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black">
</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; line-height: 17.05pt; margin-bottom: .0001pt; text-indent:36px">
<b>
<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black">
5.- Gợi ý suy niệm</span></b></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; line-height: 17.05pt; margin-bottom: .0001pt; text-indent:36px">
<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black">
1. Chúng ta nghĩ đến sự thẳng thắn và cương trực của Gioan Tiền Hô. Ông
đã làm chứng về Đức Giêsu, đã giới thiệu Người là Đấng Mêsia. Sau đó,
ông đã chứng kiến các môn đệ rời bỏ ông mà đi theo Đức Giêsu: điều ông
nói đang được thể hiện, “Người phải nổi bật lên, còn thầy phải lu mờ đi”
(<i>Ga</i> 3,30). Báo trước những thất thế của mình đã là khó, nhưng vẫn
còn dễ hơn là bình thản sống những thất thế đó khi chúng xảy đến. Gioan
biết mình là ai và đã can đảm sống sứ mạng cho đến cùng.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; line-height: 17.05pt; margin-bottom: .0001pt; text-indent:36px">
<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black">
2. Lời mời gọi và lời hứa của Đức Giêsu hết sức quan trọng: “Hãy đến và
các anh sẽ thấy!”. Tất cả mọi chuyện đều nhắm đến cuộc gặp gỡ sống động
và riêng tư. Đức Giêsu không giao cho những kẻ đi theo Người một<i> </i>quyển
sách chứa đựng các giáo thuyết và điều luật phải học và phải tuân giữ,
nhưng Người kêu gọi họ đi vào một<i> </i>tương quan riêng tư với Người,
đi vào hiệp thông với Người. Phần họ, họ không được giữ một<i> </i>khoảng
cách an toàn với Người để mà chỉ việc quan sát, nhưng phải dấn thân vào,
phải đi với Người, phải đưa bước trên nẻo đường Người đi.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; line-height: 17.05pt; margin-bottom: .0001pt; text-indent:36px">
<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black">
3. Có những thành kiến nào có thể ngăn cản người ta nhận biết Đức Giêsu?
Có điều gì đang ngăn cản tôi, về phương diện trí thức hoặc tình cảm,
khiến tôi không nhận ra Người là Con Thiên Chúa, ngang bằng với Thiên
Chúa? Lâu nay tôi tự hào là mình đi theo Đức Giêsu, mình là môn đệ của
Người, thật ra quan hệ của tôi với Người có thật sự sống động không?
Nếu không, vì sao? Dường như tôi chưa thật sự “đến” với Người, nên cũng
chưa thật sự “thấy” được điều Người muốn mạc khải cho?</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; line-height: 17.05pt; margin-bottom: .0001pt; text-indent:36px">
<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black">
4. Anrê không gặp Simôn Phêrô tình cờ, nhưng đã chủ ý đi tìm ông này, để
đưa ông tham dự vào kinh nghiệm mới mẻ và lạ lùng của ông: “Chúng tôi đã
gặp Đấng Mêsia”. Anrê không chỉ giới hạn vào việc làm chứng, ông còn dẫn
Simôn đến gặp Đức Giêsu. Có vô số nẻo đường cụ thể đưa người ta đến với
Đức Giêsu: tôi nghĩ đến những nẻo đường đã đưa tôi đến với Người. Trên
các nẻo đường này, có lời chứng và gương sáng của những người khác góp
vào. Nhưng chắc chắn phần quan trọng vẫn là kinh nghiệm thiết thân tôi
có về Đức Giêsu. Hôm nay, phải chăng tôi là một<i> </i>Anrê đưa được
người khác đến với Đức Giêsu, không phải chỉ bằng lời nói suông, mà bằng
chính kinh nghiệm sống tôi đã và vẫn đang có?</span></p>
<p class="MsoNormal" style="line-height: 17.05pt; margin-bottom: .0001pt; text-indent:36px">
<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black">
</span></p>
<div class="MsoNormal" style="line-height: 17.05pt; margin-bottom: .0001pt">
<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black">
<hr size="1" width="33%" align="left"></span></div>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; line-height: 17.05pt; margin-bottom: .0001pt; text-indent:36px">
<a name="_ftn1">
<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: #0068CF">
[1]</span></a><span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black"> <i>Midrash</i>:
Một cách chú giải <i>Kinh Thánh</i> theo kiểu các kinh sư. Thường các
kinh sư lấy các câu văn Cựu Ước rồi diễn dịch, và ghép vào bản dịch của
mình những chi tiết mang tính huyền thoại hoặc tưởng tượng, để giáo dục
dân chúng.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; line-height: 17.05pt; margin-bottom: .0001pt; text-indent:36px">
<a name="_ftn2">
<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: #0068CF">
[2]</span></a><span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black"> X. <span style="font-variant: small-caps">Morgenthaler</span>, <i>Statistik</i>,
119, và R. E. <span style="font-variant: small-caps">Brown</span>, <i>John
I</i>, 510. Các tác phẩm <i>Tân Ước</i> khác: <i>TMNL</i>: 12x [<i>Mt</i> 3x; <i>Mc</i> 2x; <i>Lc</i> 7x]; <i>Cv</i>:
13x; <i>Phaolô</i>: 17x (<i>Rm</i> 1x; <i>1 Cr</i> 8x; <i>2 Cr</i> 3x; <i>Pl</i>1x; <i>1
Tm</i> 1x; <i>2 Tm</i> 3x); <i>Dt</i>: 6x; 1<i> Pr</i>: 2x.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; line-height: 17.05pt; margin-bottom: .0001pt; text-indent:36px">
<a name="_ftn3">
<span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: #0068CF">
[3]</span></a><span style="font-size: 14.0pt; font-family: 'Times New Roman',serif; color: black"> Có
thể đọc những gợi ý phong phú về ý nghĩa của <i>menô</i> trong <span style="font-variant: small-caps">Lê
Minh Thông</span>, <i>Tình yêu và tình bạn</i>, 65-78. </span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
<span style="font-size: 14.0pt; line-height: 115%; font-family: 'Times New Roman',serif">
</span></p>
</td></tr><tr>
<td width="474" height="56"><p style="text-align: center"> <a target="_top" href="http://tinmung.net"><img border="0" src="../../../../../logo/LOGOtinmung.gif" width="67" height="40"></a> <a style="text-decoration: none; font-family: Arial; font-size: 10pt" target="_top" href="http://www.tinmung.net/SUYNIEM_HANGTUAN/SuyniemINDEX.htm"><img border="0" src="../../../../_Nam_A/2011/MuaThuongNien/VuaVuTru/LOGOtinmung2.gif" width="68" height="42"></a> </td></tr></table><p style="text-align: center">
</p>