File "05.htm"
Full path: E:/sites/Single15/tinmung2007/webroot/SUYNIEM_HANGTUAN/_Nam_B/2015/Mua-Chay/TuanThanh B-2015/thu-bay/05.htm
File size: 11.93 KiB (12215 bytes)
MIME-type:
Charset: utf-8
<html><head><meta http-equiv="Content-Language" content="en-us"><meta http-equiv="Content-Type" content="text/html; charset=utf-8"><title>
Tam Nhật Vượt Qua - Năm B - 2015</title><base target="main">
<meta name="keywords" content="Tam Nhật Vượt Qua - Năm B - 2015"><style>
<!--
.CONTENTS{FONT-SIZE: 11pt;COLOR:Navy;}
span.MsoHyperlink
{color:blue;
text-decoration:underline;
text-underline:single;
text-decoration:none underline;
text-line-through:none;
vertical-align:baseline}
span.apple-converted-space
{}
-->
</style>
<meta name="description" content="Tam Nhật Vượt Qua - Năm B - 2015"><!--mstheme--><link rel="stylesheet" type="text/css" href="../../../../../../_themes/suyniem3/suyn1011-109.css"><meta name="Microsoft Theme" content="suyniem3 1011">
</head><body><table border="0" width="500" cellspacing="12" style="border-color: #FFFFFF; font-family:Times New Roman; font-size:14pt; text-decoration:none" bgcolor="#FFFFFF"><tr><td width="460">
<font size="2" color="#FF0000" face="Arial">
Tam Nhật Vượt Qua - Năm B - 2015</font></td></tr><tr><td width="474" style="font-family: Arial; font-size: 12pt; text-decoration: none; font-weight: bold; text-align: center">
SUY NIỆM VỀ NGÀY THỨ BẢY TUẦN THÁNH</td></tr><tr><td width="474" style="font-family: Arial; font-size: 8pt; text-decoration: none; font-style:italic; text-align:right">
<span style="font-size: 8pt; font-style: italic">ĐTC. BENEDICT XVI</span></td></tr><tr><td width="474" style="font-family: Times New Roman; font-size: 14pt; text-decoration: none; text-align:justify">
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px; margin-top: 0; margin-bottom: 0">
Bài II: ƯU TƯ VỀ NỖI CHẾT</p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px; margin-top: 0; margin-bottom: 0">
</p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px; margin-top: 0; margin-bottom: 0">
Việc Thiên Chúa ẩn mình trong thế giới đã tạo nên mầu nhiệm thực sự của
ngày Thứ Bẩy Tuần Thánh, cái mầu nhiệm đã thoát lộ qua những từ ngữ bí
ẩn: Chúa Giêsu “xuống ngục tổ tông.” Cùng lúc ấy, kinh nghiệm thời đại
đã hiến tặng cho ta một lối tiếp cận ngày Thứ Bẩy Tuần Thánh hoàn toàn
mới mẻ, giả định việc Thiên Chúa ẩn mình trong thế giới vốn thuộc về
Ngài, và lẽ ra phải công bố danh thánh Ngài bằng muôn vàn ngôn ngữ, cái
kinh nghiệm về nỗi bất lực của một vị Thiên Chúa toàn năng—chính đây là
kinh nghiệm và nỗi khốn cùng của thời đại chúng ta. </p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px; margin-top: 0; margin-bottom: 0">
</p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px; margin-top: 0; margin-bottom: 0">
Thế nhưng ngay cả khi Thứ Bẩy Tuần Thánh có lôi kéo chúng ta tiến sâu về
phía chiều hướng đó, ngay cả khi ta thấu hiểu vị Thiên Chúa của ngày Thứ
Bẩy Tuần Thánh nhiều hơn là sự mạc khải đầy quyền năng của Thiên Chúa
qua sấm chớp được Cựu Ước nói đến, thì có một câu hỏi vẫn chưa có câu
trả lời—đó là giải thích ý nghĩa chân thực của dòng chữ nhiệm mầu: Chúa
Giêsu “xuống ngục tổ tông.” Ta nên nhớ rõ rằng: chẳng ai thực sự có khả
năng giải thích được câu nói trên. Tình trạng cũng chẳng khả quan gì hơn
nếu bảo rằng “ngục tổ tông” chỉ là lối dịch tồi tệ từ ngữ “shê-ol” trong
tiếng Do Thái, vốn chỉ có nghĩa là vương quốc của thần chết. Như thế,
cái công thức ấy nguyên thủy chỉ có nghĩa là Chúa Giêsu đã bước xuống
tận đáy thẳm của nỗi chết; Ngài đã chết thưc sự để chia sớt với ta cái
hố thẳm định mệnh của sự chết. Thực ra, câu hỏi là thế này: chết thực sự
có ý nghĩa gì? Cái gì sẽ thực sự xẩy ra khi ta bước xuống tận đáy thẳm
của cái chết? Ta còn phải ghi nhận sự kiện là: sự chết đã không còn như
trước nữa, nó đã khác đi kể từ ngày Chúa Kitô chịu chết, chấp nhận cái
chết, và đi vào cõi chết. Y như sự sống cũng thế: nó không còn giống như
trước đây nữa, kể từ khi Chúa Kitô đến với con người, lấy cuộc hiện hữu
thần linh hòa nhập với hiện hữu con người. Trước đây, chết chỉ đơn thuần
là chết, là cách biệt với cõi sống, cho dù ở những độ sâu khác nhau, một
cái gì như thể là cõi địa ngục, khía cạnh tối đen của vùng bóng tối sinh
động và bất khả thấu nhập. Thế nhưng, từ đây, chết cũng chính là sống,
và khi ta bước qua ngưỡng cửa của sự chết, như một vùng hoang mạc giá
băng, ta sẽ luôn gặp lại được đấng hiện thân cho sự sống; Ngài luôn ấp ủ
ước muốn trở thành người bạn đường cùng đi với ta vào cõi cô đơn cuối
cùng. Trong cuộc thống khổ nơi vườn Cây Dầu, giữa cảnh cô đơn tuyệt cùng
nhuốm mầu tang tóc, khiến Chúa thảm thiết thốt lên lời này từ trên thánh
giá: “Lậy Chúa, lậy Chúa Trời con, sao nỡ bỏ rơi con thế này?” Chúa
Giêsu đã trở thành đấng thông chia nỗi cô đơn khổ sầu với ta. Vào một
đêm tối, khi em nhỏ phải một mình băng qua một cánh rừng già, thì chắc
hẳn em sẽ sợ hãi, cho dù ta có trấn an em cả trăm lần rằng không có gì
phải sợ đâu. Thực ra, em không sợ một cái gì rõ rệt, nỗi sợ của em là
nỗi sợ không tên, nhưng trong bóng đêm rợn rùng, em không khỏi cảm thấy
bất an, cô độc, có cái gì đó nguy hiểm đang rình chờ đâu đây. Chỉ một
giọng nói của một ai đó mới có thể an ủi em; chỉ có bàn tay của một
người nào đó em yêu thương mới ngăn chận được nỗi ưu tư trĩu nặng như
một cơn ác mộng. Một nỗi ưu tư chính hiệu vừa khai sinh từ đáy sâu của
niềm cô đơn; không thể dùng lý trí mà xua tan đi được; chỉ sự có mặt của
một ai đó hằng thương yêu ta mới trị được nó mà thôi. Nỗi ưu tư này thực
ra là nỗi ưu tư không tên. Nó chính là biểu hiệu kinh khủng của niềm cô
đơn tối hậu. Ai trong chúng ta chưa từng trải nghiệm cái cảm giác bị
chối từ đầy hãi hùng này? Ai chưa hề nghe thấy phép lạ đầy ủi an và phúc
lành xẩy ra trong những hoàn cảnh như thế xuất phát từ một câu nói ân
cần? Thế nhưng, chính ở nơi nào phủ ngập cô đơn mà lại không thể nghe
được những lời nói yêu thương có mãnh lực biến đổi, thì nơi đó chính là
địa ngục rồi đấy. Trong thời đại chúng ta, không phải là có ít người,
đầy vẻ lạc quan, nhưng lại chủ trương rằng cuộc gặp gỡ nào cũng đều hời
hợt nông cạn hết thảy; họ cho rằng chẳng ai thấu đạt được cõi sâu thẳm
chân thực của người khác, và do đó, ngay trong đáy sâu tột cùng của mọi
hiện hữu đều thấy chực chờ một nỗi tuyệt vọng, một nền địa ngục. Jean
Paul Sartre đã diễn tả tình trạng này một cách thi vị trong một vở kịch
của ông và đồng thời cũng bộc lộ cái cốt lõi của lý thuyết ông có về con
người. Có một điều chắc chắn sẽ xẩy ra: đó là sẽ có một đêm khi không
một lời nói ủi an nào có thể thấu nhập vào sự chối từ tăm tối, để rồi
một cánh cửa sẽ mở ra cho ta bước qua trong tuyệt cùng cô đơn: đó là
cánh cửa của nỗi chết. Rốt cuộc, tất cả mọi ưu tư trên cõi đời này đều
xuất phát từ nỗi cô đơn tuyệt cùng ấy. Chính vì thế mà trong Cựu Ước, từ
ngữ ám chỉ vương quốc của thần chết cũng chính là từ ngữ ám chỉ địa
ngục: shê-ol. Chết, thực ra, chính là niềm cô đơn tuyệt đối. Thế nhưng,
nỗi cô đơn nào đã chìm quá sâu đến nỗi không một tia sáng tình yêu nào
dọi thấu, thì đó chính là địa ngục vậy. </p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px; margin-top: 0; margin-bottom: 0">
</p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px; margin-top: 0; margin-bottom: 0">
“Xuống ngục tổ tông”--lời thú nhận này của ngày Thứ Bẩy Tuần Thánh có
nghĩa là Chúa Kitô đã bước qua cánh cửa cô đơn, rồi Ngài đã đi xuống
sâu, thật sâu đến độ thân phận cô đơn của ta không sao dò thấu, không
sao tiến đến gần được. Thế nhưng đó cũng có nghĩa là, ngay trong khi bức
màn đêm mù đặc khiến cho không lời nào thấu nhập vào được, và khi tất cả
chúng ta đây chẳng khác gì lũ trẻ bị đuổi xua, nức nghẹn, thì bỗng vang
lên một giọng nói, gọi đúng tên ta, một cánh tay vươn ra nắm lấy tay ta
và dẫn ta đi. Niềm cô đơn bất khuất đã bị khuất phục ngay từ giây phút
Ngài bước vào đó. Địa ngục đã bị đánh bại ngay từ khoảnh khắc tình yêu
bước nhẹ vào cõi chết và vùng đất cô đơn hoang lạnh có Ngài cắm lều định
cư. Tự đáy sâu thăm thẳm, con người không sống bằng cơm bánh. Trong chân
tính hữu thể của mình, con người sống bằng sự kiện mình được thương yêu,
và được trao cho khả năng yêu thương. Ngay từ cái khoảnh khắc có tình
yêu hiện diện trong cõi chết, thì sự sống thấu nhập sự chết: “Sự sống
các tín hữu Ngài không bị tước đoạt, lậy Chúa, mà được biến đổi,” đó là
điều Hội Thánh cầu xin trong phụng vụ lễ an táng. </p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px; margin-top: 0; margin-bottom: 0">
</p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px; margin-top: 0; margin-bottom: 0">
Rốt cuộc, chẳng ai có thể đo lường được tầm mức của những lời “xuống
ngục tổ tông.” Thế nhưng khi nào đã gần đến giờ bước vào niềm cô đơn
tuyệt cùng, chắc hẳn chúng ta sẽ được ban cho ơn hiểu biết một cách rõ
ràng cái mầu nhiệm tăm tối này. Ta có thể tin chắc rằng khi đã đến giờ
phút cô đơn tột cùng, ta sẽ không đơn độc, bởi vì ngay từ bây giờ, ta đã
có thể mường tượng điều gì sẽ xẩy ra. Chính trong cơn thống khổ vì phải
đối chọi với bóng tối sự chết của Chúa mà ta bắt đầu biết cảm tạ hồng ân
vì đã nhìn thấy ánh sáng tỏa ra từ chính vùng tăm tối ấy. </p>
</td></tr><tr>
<td width="474" height="56"><p style="text-align: center"> <a target="_top" href="http://tinmung.net"><img border="0" src="../../../../../../logo/LOGOtinmung.gif" width="67" height="40"></a> <a style="text-decoration: none; font-family: Arial; font-size: 10pt" target="_top" href="http://www.tinmung.net/SUYNIEM_HANGTUAN/SuyniemINDEX.htm"><img border="0" src="../../../../../_Nam_A/2011/MuaThuongNien/VuaVuTru/LOGOtinmung2.gif" width="68" height="42"></a> </td></tr></table><p style="text-align: center">
</p>