File "Su-vu.htm"

Full path: E:/sites/Single15/tinmung2007/webroot/SUYNIEM_HANGTUAN/_Nam_B/2012/CN XV TN B/Su-vu.htm
File size: 40.93 KiB (41914 bytes)
MIME-type:
Charset: utf-8

Download   Open   Back

<html><head><meta http-equiv="Content-Language" content="en-us"><meta http-equiv="Content-Type" content="text/html; charset=utf-8"><title>
SỨ VỤ</title><base target="main"><meta name="keywords" content="Chúa Nhật XIII Thường Niên Năm B;  suy niệm, tinmung.net, DongCong, "><style>
<!--
	.CONTENTS{FONT-SIZE: 11pt;COLOR:Navy;}
-->
</style>
<!--mstheme--><link rel="stylesheet" type="text/css" href="../../../../_themes/suyniem3/suyn1011-109.css"><meta name="Microsoft Theme" content="suyniem3 1011">
</head><body><table border="0" width="500" cellspacing="12" style="border-color: #FFFFFF; font-family:Arial; font-size:12pt; text-decoration:none" bgcolor="#FFFFFF"><tr><td width="460"><font face="Arial, Helvetica, sans-serif" size="2" color="#FF0000">Chúa Nhật XV Thường Niên Năm B</font></td></tr><tr><td width="474" style="font-family: Arial; font-size: 12pt; text-decoration: none; font-weight: bold; text-align: center">
	<p style="text-align: center; margin-top: 0; margin-bottom: 0">SỨ VỤ</td></tr><tr><td width="474" style="font-family: Arial; font-size: 8pt; text-decoration: none; font-style:italic; text-align:right">
		<p style="margin-top: 0; margin-bottom: 0">
		<span style="font-family: Arial,sans-serif">&nbsp;Lm Inhaxiô Hồ Thông</span></td></tr><tr><td width="474" style="font-family: Arial; font-size: 12pt; text-decoration: none; text-align:justify">
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		<b><span style="line-height: 150%; font-family: Arial,sans-serif">Chúng 
		ta có thể gọi Chúa Nhật XV là Chúa Nhật Sứ Vụ. Sứ vụ đem lại cho người 
		lãnh nhận sự cao cả, niềm hân hoan, nhưng cũng không thiếu nỗi buồn 
		phiền, vị đắng cay.</span></b></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		<b><span style="line-height: 150%; font-family: Arial,sans-serif">Am 7: 
		12-15</span></b></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		<i><span style="line-height: 150%; font-family: Arial,sans-serif">Bài 
		đọc I nhắc nhớ rằng ngôn sứ A-mốt, vốn xuất thân từ vương quốc phương 
		Nam, vương quốc Giu-đa, được Thiên Chúa sai đi thông truyền sứ điệp của 
		Ngài cho dân chúng vương quốc phương Bắc, vương quốc Ít-ra-en. Sứ vụ 
		thật khó khăn, dù bị trục xuất trở về vương quốc Giu-đa, nhưng ngôn sứ 
		A-mốt không đi, vì như thế là làm trái với sứ vụ ngôn sứ của mình.</span></i></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		<b><span style="line-height: 150%; font-family: Arial,sans-serif">Mc 6: 
		7-13</span></b></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		<i><span style="line-height: 150%; font-family: Arial,sans-serif">Tin 
		Mừng tường thuật việc Đức Giê-su sai nhóm Mười Hai ra đi thi hành sứ vụ 
		với lời căn dặn phải có tinh thần siêu thoát hoàn toàn, cũng như báo 
		trước những thất bại có thể có.</span></i></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		<b><span style="line-height: 150%; font-family: Arial,sans-serif">Ep 1: 
		3-14</span></b></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		<i><span style="line-height: 150%; font-family: Arial,sans-serif">Trong 
		phần mở đầu&nbsp; thư gởi các tín hữu Ê-phê-sô, thánh Phao-lô cho biết ý định 
		muôn thuở của Thiên Chúa là cứu độ nhân loại. Thiên ý này được Đức Ki-tô 
		mặc khải, hoàn thành và chuyển giao cho Giáo Hội.</span></i></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		<b><span style="line-height: 150%; font-family: Arial,sans-serif">BÀI 
		ĐỌC I (Am 7: 12-15)</span></b></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		<span style="line-height: 150%; font-family: Arial,sans-serif">Các sự 
		việc diễn ra ở vương quốc phương Bắc, dưới triều đại của vua Gia-róp-am 
		II (787-747 BC)</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		<b><span style="line-height: 150%; font-family: Arial,sans-serif">1. 
		Hoàn cảnh lịch sử.</span></b></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		<span style="line-height: 150%; font-family: Arial,sans-serif">Để hiểu 
		rõ hoàn cảnh lịch sử ở đó ngôn sứ A-mốt được Thiên Chúa sai đi thi hành 
		sứ vụ ngôn sứ của mình, xin được nhắc lại, sau khi vua Sa-lô-mon băng 
		hà, vào năm 931 trước Công Nguyên, mười hai chi tộc Ít-ra-en chia rẽ 
		nhau. Hai chi tộc vẫn trung thành với vương triều Đa-vít, tức vương quốc 
		phương Nam, còn gọi là vương quốc Giu-đa. Mười chi tộc còn lại tách ra 
		khỏi vương triều Đa-vít, tự chọn cho mình một vị vua mới, vua 
		Gia-róp-am, và thiết lập vương quốc phương Bắc, còn gọi là vương quốc 
		Ít-ra-en.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		<span style="line-height: 150%; font-family: Arial,sans-serif">Vương 
		quốc phương Nam có lợi thế là Đền Thờ Giê-ru-sa-lem. Đối lại, vương quốc 
		phương Bắc xây dựng hai đền thánh: đền thánh Ghin-gan, cực bắc xứ 
		Pha-lê-tinh, và đền thánh Bết-En, cực nam cách Giê-ru-sa-lem khoảng 
		chừng 15 cây số. Đền thánh Bết-En có ưu điểm là nhắc nhớ tổ phụ Gia-cóp; 
		chính ở nơi đây mà vị tổ phụ này đã có một giấc mơ được lưu truyền mãi 
		(một chiếc thang nối liền trời với đất) trong đó ông đã nghe tiếng Đức 
		Chúa phán. Vì thế vị tổ phụ đã gọi nơi nầy là Bết-En, nghĩa là <i>“Nhà 
		của Thiên Chúa”</i>.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		<span style="line-height: 150%; font-family: Arial,sans-serif">Hai đền 
		thánh nầy, cũng như các tư tế phục vụ chúng, hoàn toàn phụ thuộc vào 
		vương triều, như ông A-mát-gia, tư tế đền thờ Bết-En, giải thích cho 
		ngôn sứ A-mốt: <i>“Đây là thánh điện của quân vương, đây là đền thờ của 
		vương triều”</i>.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		<b><span style="line-height: 150%; font-family: Arial,sans-serif">2. Sứ 
		vụ ngôn sứ của A-mốt:</span></b></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		<span style="line-height: 150%; font-family: Arial,sans-serif">Vốn là 
		người sinh trưởng ở vương quốc phương Nam; vị ngôn sứ đã được Thiên Chúa 
		sai đến vương quốc phương Bắc để thi hành sứ vụ ngôn sứ của mình. Ngôn 
		sứ xuất thân từ một thị trấn miền Bết-lê-hem; ông làm nghề chăn nuôi súc 
		vật và chăm sóc vườn cây ăn trái, chính xác là châm những trái nho dại 
		để làm cho chúng trở thành trái nho ngọt và mau chín (phải chăng đây 
		cũng chính là ý nghĩa sứ vụ ngôn sứ của ông?).</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		<span style="line-height: 150%; font-family: Arial,sans-serif">Sứ mạng 
		của vị ngôn sứ gặp nhiều khó khăn. Ông phải ngỏ lời với dân chúng đang 
		sống trong cảnh thanh bình, thịnh vượng và phú túc. Tuy nhiên, xã hội 
		đầy dẩy những chuyện bất công. Những kẻ lắm tiền nhiều của liên kết với 
		những kẻ có thế có quyền đàn áp và bốc lột những người nghèo hèn trong 
		xứ. Sứ điệp của ngôn sứ gởi đến vương quốc thịnh vượng nầy thật nghiêm 
		khắc: <i>“Chúng ghét người sửa trị nơi cửa công và thù oán kẻ ăn ngay 
		nói thật. Vậy, bởi các ngươi chà đạp kẻ yếu hèn và đánh thuế lúa mì của 
		họ, nên những ngôi nhà bằng đá đẻo các ngươi đã xây, các ngươi sẽ không 
		được ở; những gốc nho ngon ngọt các ngươi đã trồng, các ngươi sẽ không 
		được uống rượu của chúng. Bởi Ta biết tội ác các ngươi nhiều vô kể, tội 
		lỗi các ngươi nặng tầy trời: nào áp bức người công chính, lại đòi quà 
		hối lộ, nào áp bức kẻ nghèo hèn tại cửa công”</i> (5: 10-12). Vị ngôn sứ 
		phẩn uất trước những lễ hội xa hoa, những đám rước linh đình của những 
		kẻ làm giàu trên xương máu của những người nghèo hèn và nhận thấy ở nơi 
		những lớp vỏ thịnh vượng vật chất giả tạo bên ngoài là thực chất của một 
		xã hội bất công thối nát. Vì thế, vào thời buổi nầy, cách xử thế khôn 
		ngoan nhất là <i>“Dĩ hòa vi quý”</i>:&nbsp; <i>“Bởi thế thời buổi nầy, ai cẩn 
		trọng thì làm thinh, vì đây là một thời khốn quẩn”</i> (5: 13). Bởi thế, 
		vị ngôn sứ nhân danh Thiên Chúa tuyên sấm tố cáo lối sống gian trá của 
		vương quốc nầy: <i>“Vào ngày Ta trị tội Ít-ra-en Ta sẽ triệt hạ các bàn 
		thờ của Bết-Ên: các sừng của bàn thờ sẽ bị bẻ gãy và quăng xuống đất. 
		Biệt thự mùa đông, biệt thự mùa hè, Ta sẽ triệt phá; điện ngọc đền ngà 
		sẽ sụp đổ, lâu đài dinh thự cũng tan hoang”</i> (3: 14-15). </span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		<b>
		<span style="line-height: 150%; font-family: Arial,sans-serif" lang="PT-BR">
		3. Sấm ngôn của A-mốt:</span></b></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		<span style="line-height: 150%; font-family: Arial,sans-serif" lang="PT-BR">
		Quả thật, khi thấy hiểm họa xâm lăng của các đạo quân Át-sua, ngôn sứ 
		A-mốt ra sức cảnh báo ngăm đe ngõ hầu vương quốc Ít-ra-en, vương quốc 
		miền Bắc, có thể hồi tâm trở lại cùng Thiên Chúa của mình, thay đổi đời 
		sống mà tránh khỏi án phạt: <i>“Hãy tìm Đức Chúa thì các ngươi sẽ được 
		sống”</i>. Ngôn sứ A-mốt không nêu đích danh Át-sua; ông chỉ nói đơn 
		giản <i>“quân thù”</i>: <i>“Quân thù sẽ bao vây lãnh thổ, sẽ triệt hạ 
		sức mạnh của ngươi, và đền đài của ngươi sẽ bị cướp phá…”</i> (3: 11). 
		Rảo khắp các thành thị và đền thánh, vị ngôn sứ cảnh báo: liệu Thiên 
		Chúa sẽ gìn giữ dân của Ngài, nếu dân vẫn cứ ngoan cố trong tội ác của 
		mình? Sấm ngôn của ông càng lúc càng vang dội lời cảnh báo ngăm đe: <i>
		“Hãy tìm kiếm điều lành chứ đừng tìm điều dữ rồi các ngươi sẽ sống”</i>.&nbsp; 
		Sấm ngôn của ông được ứng nghiệm. Vương quốc phương Bắc bị tiêu diệt 
		dưới những cuộc tấn công của quân Át-sua và biến mất vĩnh viễn khỏi lịch 
		sử vào năm 721 trước Công Nguyên.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		<b>
		<span style="line-height: 150%; font-family: Arial,sans-serif" lang="PT-BR">
		4. Phẩm chất của ngôn sứ A-mốt:</span></b></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		<span style="line-height: 150%; font-family: Arial,sans-serif" lang="PT-BR">
		Trước đó, tư tế A-mát-gia tố cáo vị ngôn sứ với vua Gia-róp-am: <i>
		“A-mốt âm mưu chống đức vua ngay trên lãnh thổ Ít-ra-en, và đất nước nầy 
		không còn chịu nổi bất cứ lời nào của ông ta nữa. Vì A-mốt nói như thế 
		nầy: Gia-róp-am sẽ chết vì gươm, và Ít-ra-en sẽ bị đày biệt xứ”</i> (7: 
		10-11). Trong đoạn trích hôm nay, tư tế A-mát-gia, hoặc thừa hành lệnh 
		vua, hoặc nhân danh quyền của mình là tư tế lãnh đạo thánh địa Bết-Ên, 
		ông truyền lệnh cho ngôn sứ A-mốt ra khỏi thánh địa nầy mà trở về vương 
		quốc Giu-đa: <i>“Nầy thầy chiêm ơi, Mời ông ra khỏi nơi này, cuốn gói về 
		xứ Giu-đa, về đó mà kiếm ăn, về đó mà tuyên sấm!”</i>. </span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		<span style="line-height: 150%; font-family: Arial,sans-serif" lang="PT-BR">
		Tư tế A-mát-gia vu khống ngôn sứ A-mốt khi đồng hóa ông với các ngôn sứ 
		mạo danh, họ xem việc tuyên sấm như một nghề để làm ăn, để kiếm tiền. 
		Trước lời vu khống nầy, ngôn sứ A-mốt đáp lại: ông không phải là ngôn 
		sứ, cũng chẳng phải xuất thân từ trường lớp ngôn sứ, nhưng chỉ là người 
		chăn súc vật và chăm sóc vườn cây. Chính Đức Chúa <i>“đã bắt lấy”</i> 
		ông khi ông đang làm công việc thường ngày của mình, nghĩa là, chính 
		Thiên Chúa đã gọi ông và sai ông đi thi hành sứ vụ của Ngài mà ông không 
		thể cưỡng kháng được. Đó là cứu thoát dân Ít-ra-en khỏi án phạt của 
		Thiên Chúa sắp đến. </span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		<b>
		<span style="line-height: 150%; font-family: Arial,sans-serif" lang="PT-BR">
		5. Sự nghiệp của ngôn sứ A-mốt:</span></b></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		<span style="line-height: 150%; font-family: Arial,sans-serif" lang="PT-BR">
		Phải chăng lệnh truyền của tư tế A-mát-gia đã chấm dứt sự vụ của ngôn sứ 
		A-mốt? Chúng ta không biết chính xác; nhưng xem ra sứ vụ ngôn sứ của 
		A-mốt chỉ kéo dài trong một thời gian ngắn. Tuy nhiên, sứ điệp của ông 
		vẫn lưu danh muôn thuở.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		<span style="line-height: 150%; font-family: Arial,sans-serif" lang="PT-BR">
		Ngôn sứ A-mốt là vị ngôn sứ bút ký sớm nhất mà sứ điệp của ông vẫn còn 
		được bảo tồn bằng văn tự cho đến ngày nay. Ông đã khai sáng độc thần 
		giáo luân lý, đây là nét đặc trưng của truyền thống ngôn sứ Ít-ra-en: <i>
		“đưa đạo vào đời”</i>. Ở nơi sứ điệp của ông chúng ta gặp thấy âm vang 
		lời dạy của Công Đồng Va-ti-can II trong Hiến Chế “Vui Mừng và Hy Vọng”:
		<i>“Vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của con người ngày nay, nhất 
		là của người nghèo và những ai đau khổ, cũng là vui mừng và hy vọng, ưu 
		sầu và lo lắng của các môn đệ Chúa Ki-tô, và không có gì thật sự là của 
		con người mà lại không gieo âm hưởng trong lòng họ. Thật vậy, cộng đoàn 
		của họ được cấu tạo bằng những con người đã được quy tụ trong Chúa Ki 
		tô, được Chúa Thánh Thần hướng dẫn trong cuộc lữ hành về Nước Cha và đã 
		đón nhận Tin Mừng cứu rỗi đem đến cho mọi người. Vì thế, cộng đoàn ấy 
		mới nhận thấy mình thực sự liên đới mật thiết với loài người và lịch sử 
		loài người”</i> (1). </span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		<b>
		<span style="line-height: 150%; font-family: Arial,sans-serif" lang="PT-BR">
		BÀI ĐỌC II (Ep 1: 3-14)</span></b></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		<span style="line-height: 150%; font-family: Arial,sans-serif" lang="PT-BR">
		Thánh Phao-lô đã viết bức thư nầy khi ngài bị giam cầm ở Rô-ma vào những 
		năm 61-63. Chủ đề của bức thư là ý định muôn thuở của Thiên Chúa không 
		gì khác hơn là cứu độ nhân loại. Thiên ý này được Đức Giê-su mặc khải, 
		hoàn thành và chuyển giao cho Giáo Hội.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		<b>
		<span style="line-height: 150%; font-family: Arial,sans-serif" lang="PT-BR">
		1. “Chúc tụng Thiên Chúa…”</span></b></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		<span style="line-height: 150%; font-family: Arial,sans-serif" lang="PT-BR">
		Đoạn văn mà chúng ta đọc là phần đầu của bức thư ngay sau lời chào hỏi 
		mở đầu. Thánh nhân diễn tả tâm tình tạ ơn theo cách thức cầu nguyện của 
		truyền thống Do thái, được gọi <i>“berakah”</i>: <i>“Chúc tụng Thiên 
		Chúa”</i>. Dù tư cách cá nhân hay cộng đoàn, lời nguyện nầy bày tỏ lòng 
		biết ơn đối với Thiên Chúa, không trừu tượng, nhưng luôn luôn vì những 
		ân phúc rõ ràng. <i>“Lời chúc tụng”</i> nầy có thể là lời cầu nguyện tự 
		phát của cá nhân mà những lời kinh nguyện <i>“magnificat”</i> của bà 
		An-na, mẹ ông Sa-mu-en, của ông Tô-bi-a, của Đức Trinh Nữ Ma-ri-a cung 
		cấp cho chúng ta những ví dụ điển hình. Đây cũng là lời kinh nguyện gia 
		đình trước bữa ăn và đặc biệt long trọng vào bữa ăn vượt qua. Đức Giê-su 
		đã đọc <i>“lời chúc tụng”</i> trên bánh và rượu. Sau cùng, lời chúc tụng 
		là hình thức tuyệt vời nhất của kinh nguyện hội đường.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		<span style="line-height: 150%; font-family: Arial,sans-serif" lang="PT-BR">
		Thánh Phao-lô, trước đây là kinh sư, vẫn trung thành với hình thức chúc 
		tụng nầy. Toàn bộ bài thánh thi nầy kể ra muôn phúc lộc mà Thiên Chúa đã 
		tuôn xuống cho nhân loại. Thánh nhân cũng bắt đầu thư thứ hai gởi các 
		tín hữu Cô-rin-tô theo cùng một cách như vậy: <i>“Chúc tụng Thiên Chúa 
		là Thân Phụ Đức Giê-su Ki tô, Chúa chúng ta. Người là Cha giàu lòng từ 
		bi nhân ái, và là Thiên Chúa hằng sẳn lòng ủi an những ai lâm cảnh gian 
		nan khốn khó…”</i> (2Cr 1: 3). </span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		<b>
		<span style="line-height: 150%; font-family: Arial,sans-serif" lang="PT-BR">
		2. Ý định muôn thuở của Thiên Chúa.</span></b></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		<span style="line-height: 150%; font-family: Arial,sans-serif" lang="PT-BR">
		Trước tiên, thánh Phao-lô nhắc nhở rằng Thiên Chúa là nguyên lý và nguồn 
		mạch của muôn phúc lộc và Ngài đã chuẩn bị từ muôn thuở kế hoạch của 
		Ngài trên nhân loại. </span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		<span style="line-height: 150%; font-family: Arial,sans-serif" lang="PT-BR">
		Chúng ta ghi nhận rằng <i>“lời chúc tụng”</i> này được xây dựng theo kỷ 
		thuật đóng khung rất quen thuộc với thánh Phao-lô, bắt đầu: <i>“Trong 
		Đức Ki-tô, từ cõi trời, Người đã thi ân giáng phúc cho ta hưởng muôn vàn 
		ơn phúc của Thánh Thần” </i>(1: 3) và kết thúc: <i>“Trong Đức Ki-tô, cả 
		anh em nữa, anh em đã nghe chân lý là Tin Mừng cứu độ anh em; vẫn trong 
		Đức Ki-tô, một khi đã tin, anh em đã được đóng ấn Thánh Thần, Đấng Thiên 
		Chúa đã hứa. Thánh Thần là bảo chứng phần gia nghiệp của chúng ta, chờ 
		ngày dân riêng của Thiên Chúa được cứu chuộc, để ngợi khen vinh quang 
		Thiên Chúa”</i> (1: 13-14).&nbsp; Như vậy, lời chúc tụng này bắt đầu trong 
		Đức Ki-tô mà Thiên Chúa ban xuống muôn vàn phúc lộc của Thánh Thần cho 
		chúng ta để rồi kết thúc cũng trong Đức Ki-tô mà chúng ta nghe được Tin 
		Mừng cứu độ và cũng trong Đức Ki-tô mà Thiên Chúa đóng ấn chúng ta bằng 
		Thánh Thần, là bảo chứng phần gia nghiệp của chúng ta. Nói theo ngôn ngữ 
		của Tin Mừng Gioan: <i>“Từ nguồn sung mãn của Ngài, tất cả chúng ta đã 
		lãnh nhận hết ơn này đến ơn khác”</i> (Ga 1: 16). </span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		<b>
		<span style="line-height: 150%; font-family: Arial,sans-serif" lang="PT-BR">
		3. Đức Ki-tô và kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa.</span></b></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		<span style="line-height: 150%; font-family: Arial,sans-serif" lang="PT-BR">
		Trong nhiệm cục xưa, mọi sự đều nhằm chuẩn bị cho cuộc giáng trần của 
		Đức Giê-su; trong nhiệm cục mới, mọi sự đều khởi đi từ Đức Ki-tô. Thánh 
		Phao-lô đặt ở trung tâm lời chúc tụng của mình công trình cứu độ của Đức 
		Ki-tô. Chính nhờ Đức Ki-tô, Thánh Tử của Người mà kế hoạch cứu độ của 
		Thiên Chúa đã được thực hiện. Việc mặc khải thiên ý mầu nhiệm nầy là một 
		sự khai mở diệu kỳ, cao vời khôn dò và khôn ví, vượt quá sự khôn ngoan 
		thông hiểu của loài người (chúng ta nhận ra ở đó một đề tài rất tâm đắc 
		của thánh nhân trong thư gởi tín hữu Ê-phê-sô nầy). </span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		<span style="line-height: 150%; font-family: Arial,sans-serif" lang="PT-BR">
		Sau cùng, thánh nhân gợi lên vai trò của Đức Giê-su, <i>“Đó là đưa thời 
		gian tới hồi viên mãn là quy tụ muôn loài trong trời đất dưới quyền một 
		thủ lãnh là Đức Ki-tô”</i>. Động từ Hy lạp <i>“ana-kephalaïô”</i>, ở đây 
		được dịch <i>“quy tụ”</i>, được thánh Phao-lô dùng một lần khác trong 
		thư gởi cho các tín hữu Rô-ma để nói lên rằng giới luật Đức Ái <i>“thâu 
		tóm”</i> tất cả mọi giới luật khác (Rm 13: 9). Trong đoạn trích này, ý 
		nghĩa cũng như vậy. Đức Giê-su <i>“thâu tóm”</i> toàn thể vũ trụ vì ở 
		nơi Ngài mà muôn loài trong trời đất đều quy hướng về Ngài để gặp thấy 
		sự hiện hữu của chính mình và ý nghĩa sự hiện hữu của mình. Theo sau 
		thánh Phao-lô, động từ <i>“thâu tóm”</i> đã đi vào trong từ vựng thần 
		học, nhất là với thánh I-rê-nê, và trở thành đối tượng của biết bao sự 
		khai triển.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		<span style="line-height: 150%; font-family: Arial,sans-serif" lang="PT-BR">
		Nói một cách chính xác, thánh Phao-lô không gán cho Đức Ki-tô vai trò vũ 
		trụ, nhưng triển khai khái niệm <i>“Nhiệm Thể”</i>. Theo cách nầy, thánh 
		nhân đáp trả vũ trụ quan của Do thái, mà ngài đã chống lại rồi trong thư 
		gởi các tín hữu Cô-lô-sê, đồng thời cũng đáp trả vũ trụ quan của phái 
		khắc kỷ.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		<span style="line-height: 150%; font-family: Arial,sans-serif" lang="PT-BR">
		Xin nhắc lại rằng trong vài môi trường Do thái, người ta gán cho các 
		thiên thần một vai trò đặc biệt và xem các ngài là những người tổ chức 
		và điều hành vũ trụ. Các Ki-tô hữu xuất thân từ Do thái giáo duy trì 
		những niềm tin như thế nên giảm nhẹ vai trò của Đức Ki tô. Thánh Phao-lô 
		sửa sai vũ trụ quan này.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		<span style="line-height: 150%; font-family: Arial,sans-serif" lang="PT-BR">
		Đối với phái khắc kỷ, họ thấy sự hòa điệu và trật tự của vũ trụ do bởi 
		tác động của sức mạnh thần thiêng. Những biểu ngữ của thánh Phao-lô rất 
		gần với phái khắc kỷ, nhưng thánh nhân loại bỏ tất cả khuynh hướng phiếm 
		thần. Về điểm nầy, thánh nhân định vị tư tưởng của mình vào trong truyền 
		thống minh triết Cựu Ước, nghĩa là thánh nhân mượn vài đề tài ở nơi 
		trường phái khắc kỷ nhưng định vị chúng vào trong viễn cảnh của Đức Chúa 
		cao siêu mầu nhiệm (Hc 43: 26-28; Kn 1: 7; 7: 22-23; 12: 1, vân vân).</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		<b>
		<span style="line-height: 150%; font-family: Arial,sans-serif" lang="PT-BR">
		3. Kế hoạch của Thiên Chúa được diễn tiến trong lịch sử: </span></b></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		<span style="line-height: 150%; font-family: Arial,sans-serif" lang="PT-BR">
		Lúc đó thánh Phao-lô nhắm đến kế hoạch của Thiên Chúa đối với nhân loại 
		được diễn tiến trong lịch sử, được gọi Lịch Sử Cứu Độ. Lịch sử cứu độ 
		này được bày tỏ qua ba giai đoạn: hành động của Chúa Cha, hành động của 
		Chúa Con, hành động của Chúa Thánh Thần.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		<span style="line-height: 150%; font-family: Arial,sans-serif" lang="PT-BR">
		Trước tiên, thánh nhân gợi lên việc tuyển chọn Ít-ra-en, dân Chúa chọn, 
		để làm nhân chứng về việc trông đợi Con của Người. Ở đây, thánh nhân ngỏ 
		lời với các tín hữu gốc Do thái mà ngài kể mình vào trong số họ với đại 
		từ <i>“chúng tôi”</i>: <i>“Thiên Chúa là Đấng làm nên mọi sự theo quyết 
		định và ý muốn của Người, đã tiền định cho <b>chúng tôi</b> đây…”</i>. 
		Tiếp đó, thánh nhân nói với các Ki-tô hữu gốc lương dân bằng đại từ <i>
		“anh em”</i>: <i>“Trong Đức Ki-tô cả <b>anh em</b> nữa, <b>anh em</b> đã 
		được nghe lời chân lý là Tin Mừng cứu độ <b>anh em</b>…”</i>. Sau cùng, 
		thánh nhân đề cập đến việc Chúa Cha sai phái Chúa Thánh Thần một cách 
		nào đó như là thực hiện lời cam kết theo đó Người đã hứa ban gia nghiệp, 
		nghĩa là được sống bên Ngài để <i>“ngợi khen vinh quang Thiên Chúa”</i>.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		<span style="line-height: 150%; font-family: Arial,sans-serif" lang="PT-BR">
		Diễn ngữ <i>“ngợi khen vinh quang Thiên Chúa”</i> lập lại đến ba lần (1: 
		6, 12, 14) như một điệp khúc trong lời chúc tụng nầy. Đó là mục đích tối 
		hậu của kế hoạch Thiên Chúa: đó là cứu cánh của nhân loại.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		<b>
		<span style="line-height: 150%; font-family: Arial,sans-serif" lang="PT-BR">
		TIN MỪNG (Mc 6: 7-13)</span></b></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		<span style="line-height: 150%; font-family: Arial,sans-serif" lang="PT-BR">
		Trong chương trước, thánh Mác-cô đã tường thuật việc Đức Giê-su chọn 
		nhóm Mười Hai và xác định sứ vụ của họ: <i>“Ngài thiết lập nhóm Mười 
		Hai, để các ông ở với Ngài và để Ngài sai các ông đi rao giảng, với 
		quyền trừ quỷ”</i> (3: 14). Thánh Lu-ca tường thuật cùng một sự kiện và 
		nói thêm: <i>“Đến sáng, Ngài kêu các môn đệ lại, chọn lấy mười hai ông 
		và <b>gọi là Tông Đồ</b>”</i> (Lc 6: 13). Thật ra, các tác giả Tin Mừng 
		Nhất Lãm đã tránh dùng danh xưng <i>“Tông Đồ”</i> cho các môn đệ – thánh 
		Gioan không bao giờ dùng thuật ngữ nầy – vì <i>“Tông Đồ”</i> tức là <i>
		“người được sai đi” </i>mà chỉ mình Đức Giê-su xứng đáng với danh xưng 
		này: Ngài là Đấng được sai đi từ Chúa Cha. Chung chung các thánh ký 
		thường nói: <i>“nhóm Mười Hai”</i> hay đơn giản <i>“các môn đệ”</i>.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		<b>
		<span style="line-height: 150%; font-family: Arial,sans-serif" lang="PT-BR">
		1. Nguồn gốc sứ vụ của các môn đệ: </span></b></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		<span style="line-height: 150%; font-family: Arial,sans-serif" lang="PT-BR">
		Sau một thời gian chuẩn bị: <i>“nhóm Mười Hai”</i> đã sống với Ngài, đã 
		nghe giáo huấn của Ngài, đã thấy các phép lạ của Ngài, cũng như sự thất 
		bại của Ngài ở Na-da-rét, Đức Giê-su cho rằng đã đến lúc đặt các ông vào 
		trong thử thách khi sai các ông đi thi hành sứ vụ.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		<span style="line-height: 150%; font-family: Arial,sans-serif" lang="PT-BR">
		Cử chỉ nầy của Đức Giê-su thật sự là mới mẽ. Vào thời của Ngài, các kinh 
		sư quy tụ chung quanh mình một nhóm môn đệ, để chia sẻ cuộc sống của 
		thầy; tuy nhiên, họ không bao giờ nghĩ đến việc sai các môn đệ ra đi và 
		ủy quyền cho họ thi hành sứ vụ. Chính Đức Giê-su đích thân sai các ông 
		đi, như sau nầy Ngài sẽ nói với họ trước khi từ giả các ông: <i>“Như Cha 
		đã sai Thầy, Thầy cũng sai anh em đi”</i> (Ga 20: 21).</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		<b>
		<span style="line-height: 150%; font-family: Arial,sans-serif" lang="PT-BR">
		2. Sai đi từng hai người một.</span></b></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		<span style="line-height: 150%; font-family: Arial,sans-serif" lang="PT-BR">
		Chúa Giê-su sai các ông đi từng hai người một. Thánh Mát-thêu đã bảo tồn 
		cho chúng ta nhóm từng hai người một nầy: Phê-rô và An-rê, Gia-cô-bê và 
		Gioan, Phi-líp-phê và Ba-tô-lô-mê-ô, Tô-ma và Mát-thêu, Gia-cô-bê và 
		Ta-đê-ô, Si-mon và Giu-đa.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		<span style="line-height: 150%; font-family: Arial,sans-serif" lang="PT-BR">
		Có phải ở đây Đức Giê-su quan tâm đến tâm lý? Chắc chắn, công việc dể 
		dàng hơn nếu có hai người cùng nhau bàn bạc, bổ sung và giúp đỡ nhau 
		trên dặm đường truyền giáo, nhưng, con số <i>“hai”</i> cũng là biểu 
		tượng cộng đoàn, nghĩa là các vị thừa sai không làm việc đơn lẻ một 
		mình, nhưng cùng nhau chung sức theo từng nhóm. Ngoài ra, theo quy định 
		của Lề Luật, một lời chứng chỉ có giá trị nếu có hai nhân chứng (x. Đnl 
		17: 6; 19: 15; Ds 35: 30). Các môn đệ sẽ làm chứng từng hai người một về 
		những dấu chỉ của Vương Quốc Thiên Chúa: trước hết, quyền năng trên 
		những thế lực sự Dữ; thứ nữa, siêu thoát khỏi những bận lòng trần thế để 
		nhắm đến những của cải tinh thần.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		<b>
		<span style="line-height: 150%; font-family: Arial,sans-serif" lang="PT-BR">
		3. Hành trang của vị thừa sai.</span></b></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		<span style="line-height: 150%; font-family: Arial,sans-serif" lang="PT-BR">
		Những căn dặn của Đức Giê-su cho các vị thừa sai nhắm đến hành trang 
		thật gọn nhẹ, hay đúng hơn không trang bị gì cả: không lương thực, không 
		bao bị, không tiền giắc lưng, không áo để thay đổi. Có vài chi tiết khác 
		biệt giữa các Tin Mừng Nhất Lãm, tuy nhiên bài học thì rõ ràng: đức khó 
		nghèo và sự phó thác hoàn toàn vào ơn Quan Phòng phải là những dấu ấn mà 
		các vị thừa sai để lại trong lòng mọi người. Phong thái của họ cực kỳ 
		đơn giản giống như những lữ khách lòng không vương vấn bất cứ điều gì 
		cả. Họ được mô tả như những lữ khách luôn luôn sống trong tư thế lên 
		đường, không tìm cách định cư ở một nơi nào nhất định, bởi vì còn có 
		những nơi khác nữa cần đến sứ điệp của họ. Vào lúc dùng bữa sau cùng với 
		các môn đệ, Đức Giê-su sẽ hỏi các ông: <i>“Khi Thầy sai anh em ra đi, 
		không túi tiền, không bao bị, không giày dép, anh em có thiếu thốn gì 
		không?”</i>. Mọi người đồng thanh đáp: <i>“Thưa không”</i> (Lc 22: 35).</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		<span style="line-height: 150%; font-family: Arial,sans-serif" lang="PT-BR">
		Quả thật truyền thống hiếu khách Đông Phương tạo cơ hội thuận tiện cho 
		việc thi hành sứ vụ của các các môn đệ lữ hành. Tuy nhiên Đức Giê-su căn 
		dặn họ một sự ổn định nào đó: <i>“Khi anh em vào nhà nào mà người ta đón 
		tiếp, thì cứ ở lại đó cho đến lúc ra đi”</i>. </span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		<b>
		<span style="line-height: 150%; font-family: Arial,sans-serif" lang="PT-BR">
		4. Giũ bụi chân.</span></b></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		<span style="line-height: 150%; font-family: Arial,sans-serif" lang="PT-BR">
		Vì là những người được sai đi rao truyền sứ điệp một cách vô vị lợi, nên 
		họ được hưởng quyền được tiếp đón một cách vô vị lợi từ những gia đình 
		mà họ viếng thăm. Nhưng Đức Giê-su cũng tiên liệu sứ điệp kêu gọi hoán 
		cải mà họ rao giảng có thể có những người khước từ: <i>“Còn nơi nào 
		người ta không đón tiếp và nghe lời anh em, thì khi ra khỏi đó, hãy giũ 
		bụi chân để tỏ ý phản đối họ”</i>.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		<span style="line-height: 150%; font-family: Arial,sans-serif" lang="PT-BR">
		Đây là tập tục của người Do thái sau cuộc hành trình trở về. Khi đặt 
		chân lên miền đất Pha-lệ-tinh, họ giũ bụi đường khỏi giày dép để không 
		đưa bụi phàm trần vào đất thánh của mình. Trong lời căn dặn của Đức 
		Giê-su, không có bất kỳ một sự khinh bĩ nào đối với những người khước từ 
		sứ điệp, nhưng hành động <i>“giũ bụi chân”</i> nói lên sự tuyệt giao.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		<span style="line-height: 150%; font-family: Arial,sans-serif" lang="PT-BR">
		Lời rao giảng của các môn đệ chưa trọn vẹn vì họ chưa rao giảng con 
		người của Đức Giê-su – vã lại vào giây phút này họ chưa có thể hiểu đầy 
		đủ về Ngài – nhưng chỉ chuẩn bị các tâm hồn: kêu gọi hoán cải. Như Đức 
		Giê-su, lời rao giảng của họ kèm theo những dấu chỉ: trừ quỷ, xức dầu 
		bệnh nhân và chữa lành bệnh tật.&nbsp; </span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		<b>
		<span style="line-height: 150%; font-family: Arial,sans-serif" lang="PT-BR">
		5. Xức dầu bệnh nhân:</span></b></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		<span style="line-height: 150%; font-family: Arial,sans-serif" lang="PT-BR">
		Vào thời Cựu Ước, người ta xức dầu để làm dịu vết thương; các tông đồ 
		xức dầu, không như một phương thuốc, nhưng như dấu chỉ biểu tượng của 
		một tác động siêu nhiên. Công Đồng Tren-tô đã thấy trong cử chỉ của các 
		tông đồ nầy một trực giác, một phác thảo bí tích xức dầu bệnh nhân. Thư 
		thánh Gia-cô-bê chứng thực rằng bí tích nầy đã được thực hành ngay từ 
		thời các tông đồ: <i>“Ai trong anh em đau yếu ư? Người ấy hãy mời các kỳ 
		mục của Hội Thánh đến; họ sẽ cầu nguyện cho người ấy, sau khi xức dầu 
		nhân danh Chúa. Lời cầu nguyện do lòng tin sẽ cứu người bệnh; người ấy 
		được Chúa nâng dậy, và nếu người ấy đã phạm tội , thì sẽ được Chúa tha 
		thứ”</i> (Gc 5: 14-15).</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		<span style="line-height: 150%; font-family: Arial,sans-serif" lang="PT-BR">
		Bệnh nhân được chữa lành, ma quỷ bị trục xuất, những cử chỉ này của các 
		tông đồ được ghi khắc trên cùng bình diện với các cử chỉ của Đức Giê-su. 
		Các sự dữ được gán cho tội lỗi, vì thế, việc chúng bị giảm đi loan báo 
		thời đại lòng xót thương của Chúa.</span></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		<b>
		<span style="line-height: 150%; font-family: Arial,sans-serif" lang="PT-BR">
		6. Ý nghĩa:</span></b></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		<span style="line-height: 150%; font-family: Arial,sans-serif" lang="PT-BR">
		Bài diễn từ sai các môn đệ lên đường nầy rất cổ kính vì mang đậm nét các 
		phong tục thời xưa. Tuy nhiên, sứ điệp của nó rất hiện </span>
		<span style="line-height: 150%; font-family: Arial,sans-serif">thực. Tin 
		Mừng được truyền bá bằng những cuộc sống đơn sơ giản dị và trao ban một 
		cách vô vị lợi, vì thế, mời gọi mọi người đón nhận nó cũng một cách vô 
		vị lợi. Sứ điệp được đi kèm theo các dấu chứng chiến thắng của Đức Ki-tô 
		trên sự Ác và Tử Thần là sứ điệp muôn thuở của bài trình thuật cổ kính 
		nầy.</span></td></tr><tr><td width="474"><p style="text-align: center">&nbsp;&nbsp; <a target="_top" href="http://tinmung.net"><img border="0" src="../../../../logo/LOGOtinmung.gif" width="67" height="40"></a>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;<a style="text-decoration: none; font-family: Arial; font-size: 10pt" target="_top" href="http://www.tinmung.net/SUYNIEM_HANGTUAN/suyniemINDEX.htm"><img border="0" src="../../../_Nam_A/2011/MuaThuongNien/VuaVuTru/LOGOtinmung2.gif" width="68" height="42"></a>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;</td></tr></table><p style="text-align: center">&nbsp;</p>

PHP File Manager