File "Duc-Giuse-ve-tham-Nadaret.htm"

Full path: E:/sites/Single15/tinmung2007/webroot/SUYNIEM_HANGTUAN/_Nam_B/2012/CN XIV TN B/Duc-Giuse-ve-tham-Nadaret.htm
File size: 17.84 KiB (18268 bytes)
MIME-type:
Charset: utf-8

Download   Open   Back

<html><head><meta http-equiv="Content-Language" content="en-us"><meta http-equiv="Content-Type" content="text/html; charset=utf-8"><title>
ĐỨC GIÊSU VỀ THĂM NADARÉT</title><base target="main"><meta name="keywords" content="Chúa Nhật XIII Thường Niên Năm B;  suy niệm, tinmung.net, DongCong, "><style>
<!--
	.CONTENTS{FONT-SIZE: 11pt;COLOR:Navy;}
-->
</style>
<!--mstheme--><link rel="stylesheet" type="text/css" href="../../../../_themes/suyniem3/suyn1011-109.css"><meta name="Microsoft Theme" content="suyniem3 1011">
</head><body><table border="0" width="500" cellspacing="12" style="border-color: #FFFFFF; font-family:Arial; font-size:12pt; text-decoration:none" bgcolor="#FFFFFF"><tr><td width="460"><font face="Arial, Helvetica, sans-serif" size="2" color="#FF0000">Chúa Nhật XIV Thường Niên Năm B</font></td></tr><tr><td width="474" style="font-family: Arial; font-size: 12pt; text-decoration: none; font-weight: bold; text-align: center">
	ĐỨC GIÊSU VỀ THĂM NADARÉT</td></tr><tr><td width="474" style="font-family: Arial; font-size: 8pt; text-decoration: none; font-style:italic; text-align:right">
		<span style="font-size: 8pt; font-style: italic; font-family:Arial,sans-serif" lang="EN-US">
		Lm PX Vũ Phan Long, ofm</span></td></tr><tr><td width="474" style="font-family: Arial; font-size: 12pt; text-decoration: none; text-align:justify">
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		<b>Con người hôm nay, những người Nadarét mới, vẫn đang thấy Đức Giêsu 
		là một cớ gây ngạc nhiên và vấp ngã.</b></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		<b>1.- Ngữ cảnh</b></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		Ngay từ đầu <i>Tin Mừng</i>, tác giả <i>Máccô</i> cho thấy Đức Giêsu 
		hành động với uy quyền trước toàn dân (1,16–3,12). Nhưng sau đó, những 
		trở ngại đã xuất hiện: thân nhân Người đi bắt Người về, vì cho rằng 
		Người đã mất trí (3,21); các kinh sư thì nói rằng Người bị quỷ vương 
		Bêendêbun ám và dùng quyền của nó mà trừ quỷ (3,22); bằng kiểu diễn tả 
		bóng bảy, Người&nbsp; đã nói đến sự cứng lòng của dân Israel (4,11-12); trận 
		bão trên biển không nhận chìm được con thuyền của Người, là một<i> </i>
		hình ảnh cho hiểu là sứ vụ của Người sẽ gặp nhiều khó khăn (4,35t), 
		nhưng vẫn đứng vững; yêu cầu của dân Ghêrasa cũng ở trong chiều hướng ấy 
		(5,17). Bài tường thuật chuyến về thăm Nadarét cũng nói đến thái độ 
		không tin của người dân Nadarét, khiến họ không chấp nhận Đức Giêsu 
		(6,1-6). Như thế, truyện này tóm tắt một vài đề tài đã được triển khai 
		trong các phân đoạn trước: tư cách môn đệ và lòng tin, Đức Giêsu là thầy 
		và là vị làm phép lạ, sự hiểu lầm và sự loại trừ Đức Giêsu.</p>
		<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b>2.- 
		Bố cục</b></p>
		<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Bản văn 
		này có thể chia thành bốn phần:</p>
		<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">1) Đức 
		Giêsu về quê và giảng dạy ngày sa-bát (cc.1-2a);</p>
		<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">2) Các 
		thính giả vấp phạm về Người (cc. 2b-3);</p>
		<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">3) Sự 
		cứng lòng tin: đánh giá và kết quả (cc. 4-6a);</p>
		<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">4) Đức 
		Giêsu tiếp tục ra đi (c. 6b).</p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		<b>3.- Vài điểm chú giải</b></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		- <i>quê quán của Người</i> (1): Đây là Nadarét thuộc miền Galilê (1,9), 
		cách hồ Ghênêsarét khoảng 30 cs về phía tây. Vào thời đó, Nadarét chỉ là 
		một<i> </i>làng nhỏ, không quan trọng gì (x. <i>Ga</i> 1,46). Trong <i>
		Cựu Ước</i>, làng này không bao giờ được nói đến. Vì làng ở đọ cao 
		300-400 m trên mặt biển, người ta có thể nhận ra làng từ xa.&nbsp;&nbsp; </p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		- <i>có các môn đệ đi theo</i> (1): Khi nói đến các môn đệ, tác giả <i>
		Máccô</i> luôn luôn đưa vào đề tài “đi theo” (<i>sequela</i>) (x. 2,15; 
		10,32; 15,41).</p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		- <i>bắt đầu giảng dạy </i>(2) : Ta nhớ lại đoạn 1,21-28 giới thiệu Đức 
		Giêsu là thầy và là người chữa bệnh. Phản ứng đầu tiên trước sự khôn 
		ngoan và những việc lẫy lừng của Người là sự ngạc nhiên. Từ đó, câu hỏi 
		đặt ra “Bởi đâu ông ta được như thế ?” mang tính mỉa mai: trong khi 
		những người đồng hương gắng tìm cho ra danh tánh của con người Giêsu, 
		thì quyền lực của Người lại bắt nguồn từ nơi Thiên Chúa.</p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		<i>- nhiều người nghe rất đỗi ngạc nhiên </i>(2): Phản ứng này thường 
		xảy ra trước lời giảng dạy (1,22; 11,18), một phép lạ (7,37) hoặc một<i>
		</i>câu nói lạ lùng của Đức Giêsu (10,26). Tác giả nhắc đến phản ứng này 
		với nhận định về sự khôn ngoan của Đức Giêsu để cho thấy Người&nbsp; vừa ban 
		một<i> </i>mạc khải, nhưng dân chúng không tin.</p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		<i>- bác thợ</i>&nbsp; (3) : Từ Hy Lạp <i>tektôn</i> (La-tinh <i>faber</i>) 
		có lẽ phản ánh từ A-ram <i>naggârâ </i>có thể là một người thợ đóng đồ 
		mộc hoặc là một người thợ xây dựng. Những người thợ ấy thường đi đây đó. 
		Phải chăng Đức Giêsu cũng đã đi đây đó, ít sống tại Nadarét? Bản văn 
		dùng mạo tự xác định <i>ho</i> cho hiểu rằng dân Nadarét đã quen gọi Đức 
		Giêsu như thế. </p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		<i>- con bà Maria </i>(3): Phải chăng câu này cho phép giả thiết là 
		Giuse đã qua đời? Trong ngữ cảnh ở đây, không có gì bảo đảm là kiểu gọi 
		này có ý nói là Giuse đã chết cả. Chúng ta ghi nhận là trong<i> TM Máccô</i>, 
		Giuse không bao giờ được nêu tên. Dù sao, “con bà Maria” đã trở thành 
		tên gọi của Đức Giêsu. Hoặc tên này được dùng để sỉ nhục, bởi vì người 
		Do Thái được gọi bằng tên của người cha, hoặc để mỉa mai vì muốn ám chỉ 
		đến một<i> </i>cuộc chào đời bất hợp pháp (con hoang). Nếu trường hợp 
		sau là đúng, thì lời sỉ nhục này lại là một<i> </i>khẳng định về cuộc 
		sinh hạ trinh khiết. Để ủng hộ cho cách giải thích này, người ta nêu ra 
		câu hỏi của dân Nadarét về nguồn gốc của Đức Giêsu và sự kiện <i>Mc</i> 
		tránh nhắc đến người cha. </p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		- <i>ngôn sứ có bị rẻ rúng</i> (4): Có lẽ đây là một<i> </i>câu tục ngữ 
		phát xuất từ Do Thái giáo nhằm diễn tả kinh nghiệm của các nhà du thuyết 
		Do Thái. Ta có những câu Hy Lạp tương tự: “Các triết gia khó sống tại 
		quê hương” (Điônê Crisostômô; x. Epittêtô…). Nhưng ở đây <i>Mc</i> mở 
		rộng câu ngạn ngữ mà áp dụng cho cả gia đình dòng họ; như thế là nối dài 
		chiều hướng của sự cố được kể ở 3,20t.&nbsp;&nbsp; </p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		<b>4.- Ý nghĩa của bản văn</b></p>
		<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><i>* Đức 
		Giêsu về quê và giảng dạy ngày sa-bát (1-2a)</i></p>
		<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Đức 
		Giêsu đã rời nhà và vùng ông Gia-ia ở để về quê, tức là Nadarét. Nhân 
		dịp cử hành phụng tự tại hội đường vào ngày sa-bát, Người đã giảng một<i>
		</i>bài. Đó là việc Người vẫn thường làm (x. 1,21.39).</p>
		<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><i>* Các 
		thính giả vấp phạm về Người (2b-3)</i></p>
		<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Phản ứng 
		của các thính giả chứng tỏ Đức Giêsu vừa ban một<i> </i>mạc khải. Họ đã 
		nêu ra năm câu hỏi: ba câu liên hệ đến hoạt động của Đức Giêsu (bản 
		thân; giáo lý; các phép lạ) và hai câu liên hệ đến gia đình dòng họ của 
		Người. Chỉ đức tin mới nhận biết nguồn gốc đích thực của Đức Giêsu. 
		Người là Con Thiên Chúa. Đối với những người đồng hương, sự hiểu biết về 
		môi trường sinh sống của Đức Giêsu là biến thành một<i> </i>trở ngại 
		không thể vượt qua. Họ từ khước Đức Giêsu và không chấp nhận giáo huấn 
		của Người. Sự vấp phạm đó chính là sự cứng lòng tin của họ.</p>
		<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><i>* Sự 
		cứng lòng tin: đánh giá và kết quả (4-6a)</i></p>
		<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Đức 
		Giêsu xác định lập trường bằng một<i> </i>câu ngạn ngữ. Câu này vừa giúp 
		Người biện minh cho mình vừa giảm nhẹ tầm mức của các sự kiện. Các môn 
		đệ (theo <i>Mc</i>, các ông lúc nào cũng đi theo Người) phải học lấy bài 
		học kinh nghiệm này: không bao giờ được để cho nỗi thất vọng vì bị từ 
		khước đánh ngã mình. Con Thiên Chúa bị mọi người kể cả gia đình, hiểu 
		lầm, và bị bỏ cô đơn trong thế gian này. Sự kiện Người không thể làm 
		được phép lạ nào ở quê hương cho thấy tương quan giữa phép lạ và đức 
		tin. Điều này không có nghĩa là quyền lực của Đức Giêsu bị hạn chế nhưng 
		có nghĩa là khi ơn cứu độ được ban tặng trong phép lạ bị từ chối, thì 
		không thể xảy ra phép lạ được. Nếu Đức Giêsu làm khác là Người không 
		trung thành với sứ mạng của Người. Lời ghi thêm “Người chỉ đặt tay trên 
		một<i> </i>vài bệnh nhân và chữa lành họ” nhằm làm giảm nhẹ nét tiêu cực 
		nơi những gì được nói trước. Nhưng c. 6a kết luận vẫn ghi nhận sự cứng 
		lòng tin và sự ngạc nhiên của Đức Giêsu.</p>
		<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><i>* Đức 
		Giêsu tiếp tục ra đi (6b)</i></p>
		<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Tuy 
		nhiên, thất bại này vẫn không làm Đức Giêsu chán nản chùn bước. Người 
		tiếp tục ra đi như Người đã nói với các môn đệ: “Chúng ta hãy đi nơi 
		khác, đến các làng xã chung quanh, để Thầy còn rao giảng ở đó nữa, vì 
		Thầy ra đi cốt để làm việc đó” (1,38). </p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		<i>+ Kết luận</i></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		Đức Giêsu trở lại quê hương Nadarét. Người vào hội đường để giảng dạy, 
		tức là thi hành sứ mạng ngôn sứ của Thiên Chúa. Tuy nhiên, dù đã biết 
		các phép lạ Đức Giêsu làm và nay vừa nghe Người giảng, dân làng Nadarét 
		lại chỉ coi Người như là “bác thợ, con bà Maria, anh em của các ông 
		Giacôbê, Giôxết, Giuđa và Simôn” (c. 3a) mà thôi. <i>TM Mc</i> cho thấy 
		liên hệ huyết thống cũng như tình đồng hương không giúp người ta nhận 
		biết Đức Giêsu trong chân tính của Người. Muốn khám phá ra mầu nhiệm Đức 
		Giêsu, người ta phải để cho chính Người dẫn dắt và giáo huấn ngày qua 
		ngày.</p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		<b>5.- Gợi ý suy niệm</b></p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		1. Vấn đề trọng tâm của bản văn là đức tin. Đức tin giúp con người có sự 
		khiêm tốn và sẵn sàng lắng nghe giáo huấn của Thiên Chúa và của các vị 
		sứ giả của Ngài. Cũng chính đức tin giúp người ta nhận biết các việc kỳ 
		diệu Thiên Chúa đã và vẫn đang làm trong thế giới, để ban ơn cứu độ cho 
		mọi người. Tại nơi nào con người khép kín lại với Thiên Chúa, khi Ngài 
		đang ngỏ với họ trong phép lạ, thì phép lạ trở thành chuyện phi lý. Cũng 
		như quyền lực của Ngài là ơn cứu độ cho chúng ta, thì sự cứng lòng tin 
		của chúng ta là sự bất lực của Ngài. Điều đó đã được chứng thực tại cuộc 
		gặp gỡ của Đức Giêsu với dân làng Nadarét: họ đã ngạc nhiên về những gì 
		Đức Giêsu nói, và thế là để vuột mất ý nghĩa của các lời Người loan báo.</p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		2. Sự từ khước ở Nadarét vẫn tồn tại. Con người hôm nay, những người 
		Nadarét mới, vẫn đang thấy Đức Giêsu là một cớ gây ngạc nhiên và vấp 
		ngã. Do sự từ khước của con người hôm nay, hoạt động cứu thế của Thiên 
		Chúa như bị tắc nghẽn. Bị giam hãm trong các định kiến, họ không hiểu 
		được cốt lõi tinh túy của sứ điệp, cũng không tạo cơ hội cho các việc kỳ 
		diệu có thể xảy ra hay cho ơn Chúa có thể đến được với chính họ và người 
		khác. Từ đây, chúng ta có thể đi đến một<i> </i>nhận định: cộng đoàn 
		Kitô hữu có hai trách nhiệm, bởi vì phải vừa biết nhận ra các ngôn sứ 
		được Thiên Chúa cho xuất hiện giữa các thành viên của mình, vừa phải hỗ 
		và làm gia tăng ơn Chúa mà sự hiện diện của họ mang lại. Ý thức này đòi 
		hỏi cộng đoàn phải trở thành một<i> </i>tập thể sẵn sàng, trong tư thế 
		cầu nguyện, có cái nhìn khôn ngoan, để nhận ra các dấu chỉ của Thiên 
		Chúa. Tất cả các điều này không đơn giản: trong đời sống mỗi ngày, chúng 
		ta ghi nhận rằng cộng đoàn chúng ta đang bước đi giữa hai đe dọa: một 
		bên, cộng đoàn có thể rơi vào một<i> </i>thứ hứng khởi dễ dãi mà chạy 
		theo bất cứ một chủ trương đổi mới nào, để rồi cuối cùng bị lạc hướng và 
		bị phân tán; một bên, cộng đoàn dễ bị thu hút bởi xu hướng bất động và 
		sự cứng ngắc do bám vào một vài điều xác tín nào đó.</p>
		<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		3. Người môn đệ của Đức Giêsu không được nản chí khi gặp thất bại hay 
		chống đối. Nhiệm vụ của họ là cứ ra đi để rao giảng Lời Chúa, để làm 
		chứng, không nên bận tâm (và nặng lòng) với kết quả. Họ cần phải nhìn 
		vào Thầy Giêsu mà dấn thân. Như Đức Giêsu, họ cứ quảng đại làm việc, 
		“lúc thuận tiện cũng như lúc không thuận tiện” (2 <i>Tm</i> 4,2). Niềm 
		vui họ sẽ nhận được khơng phải do kết quả kiểm chứng được, nhưng là do 
		biết rằng họ đã kiên trì thực huện những điều Thiên Chúa muốn.
		<span style="font-size: 12.0pt"><br>
		<br>
		</span>4. Thành kiến là một tật xấu nằm sâu trong tâm khảm con người. 
		Chính tật xấu này làm cho khả năng đón nhận và loan truyền Lời Chúa bị 
		giới hạn lại. Các Kitô hữu cần học lấy bài học của thánh Phaolô: “vui 
		khi thấy điều chân thật” (<i>1 Cr</i> 13,6). Đấy là khả năng nhận ra sự 
		thiện hảo tại bất cứ nơi nào nó xuất hiện, và sẵn sàng nêu lên.</td></tr><tr><td width="474"><p style="text-align: center">&nbsp;&nbsp; <a target="_top" href="http://tinmung.net"><img border="0" src="../../../../logo/LOGOtinmung.gif" width="67" height="40"></a>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;<a style="text-decoration: none; font-family: Arial; font-size: 10pt" target="_top" href="http://www.tinmung.net/SUYNIEM_HANGTUAN/suyniemINDEX.htm"><img border="0" src="../../../_Nam_A/2011/MuaThuongNien/VuaVuTru/LOGOtinmung2.gif" width="68" height="42"></a>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;</td></tr></table><p style="text-align: center">&nbsp;</p>

PHP File Manager