File "LinhmuctruyenthongloiChua.htm"
Full path: E:/sites/Single15/tinmung2007/webroot/SUYNIEM_HANGTUAN/Suy-Niem-Chuyen-De/NamLinhMuc/tin moi ve nam linh muc/LinhmuctruyenthongloiChua.htm
File size: 91.88 KiB (94090 bytes)
MIME-type:
Charset: utf-8
<html>
<head>
<style>
<!--
/* Style Definitions */
div.MsoNormal
{mso-style-parent:"";
margin-bottom:.0001pt;
font-size:12.0pt;
font-family:"Times New Roman";
margin-left:0mm; margin-right:0mm; margin-top:0mm}
li.MsoNormal
{mso-style-parent:"";
margin-bottom:.0001pt;
font-size:12.0pt;
font-family:"Times New Roman";
margin-left:0mm; margin-right:0mm; margin-top:0mm}
p.MsoNormal
{mso-style-parent:"";
margin-bottom:.0001pt;
font-size:12.0pt;
font-family:"Times New Roman";
margin-left:0mm; margin-right:0mm; margin-top:0mm}
p
{margin-right:0mm;
margin-left:0mm;
font-size:12.0pt;
font-family:"Times New Roman";
}
@page Section1
{size:210.0mm 842.0pt;
margin:20.0mm 20.0mm 20.0mm 20.0mm;
mso-header-margin:36.0pt;
mso-footer-margin:36.0pt;
mso-paper-source:0;}
div.Section1
{}
-->
</style>
<meta http-equiv="Content-Language" content="en-us">
<meta http-equiv="Content-Type" content="text/html; charset=utf-8">
<title>Model</title>
<base target="main">
</head>
<body>
<table border="0" width="500" cellspacing="20" style="border-color: #FFFFFF; font-family:Times New Roman; font-size:12pt" bgcolor="#FFFFE6">
<!-- MSTableType="nolayout" -->
<tr>
<td bgcolor="#bdf3fd" height="29">
<p style="text-align: center"><font size="4" color="#FF0000"><b>
NĂM LINH MỤC</b></font></td>
</tr>
<tr>
<td>
<p align="center"><b><font size="4" color="#0000FF">LINH MỤC TRUYỀN
THÔNG LỜI CHÚA</font></b></td>
</tr>
<tr>
<td align="justify">
<div class="contents">
<font size="4">Sứ điệp Ngày Quốc Tế Truyền Thông thứ 43, Đức Thánh
Cha Biển Đức XVI đặc biệt mời gọi <b>người trẻ </b>trở thành các
người loan báo Tin Mừng và các giá trị Kitô trong thế giới vi tính.<br>
<br>
<img border="0" src="PICTURE/LinhmucTruyenthong.jpg" width="125" height="129" align="left">Ngày
24-1-2009 lễ thánh Phanxicô de Sales bổn mạng giới truyền thông công
giáo, Đức Thánh Cha đã cho công bố sứ điệp Ngày Quốc Tế Truyền Thông
thứ 43 tựa đề ”Kỹ thuật mới, tương quan mới. Thăng tiến một nền văn
hóa tôn trọng, đối thoại và thân hữu”.<br>
Trong sứ điệp Đức Thánh Cha khẳng định rằng các phương tiện kỹ thuật
truyền thông tối tân ngày nay là một món qùa qúy báu cho nhân loại,
vì chúng thăng tiến sự cảm thông và tình liên đới giữa con người với
nhau, đặc biệt đối với các cộng đoàn và các người cần được trợ giúp
và dễ bị tổn thương nhất. Hệ thống vi tinh liên mạng và điện thoại
di động cho phép con người liên lạc với nhau và trao đổi tin tức
hình ảnh trong nháy mắt. Chúng giúp con người đối thoại với nhau,
sống tình yêu thương hiệp thông và thân hữu giữa các thành phần
trong đại gia đình của Thiên Chúa. Chúng cũng giúp con người kiếm
tìm chân thiện mỹ, thăng tiến phát triển, công bằng hòa bình, các
quyền con người, việc tôn trọng sự sống và thiên nhiên, cũng như
tinh thần đồng trách nhiệm và sự cộng tác giữa các cá nhân và các
dân tộc. Chúng giúp con người chia sẻ trao đổi các giá trị hay đẹp
giữa các nền văn hóa và qua đó củng cố sự cảm thông, tinh thần đại
đồng và lòng khoan nhượng. Dĩ nhiên cần phải cẩn thận trong việc sử
dụng và có óc phán đoán phân định lành mạnh, vì các phương tiện kỹ
thuật truyền thông tân tiến này cũng có thể bị dùng cho các mục tiêu
xấu xa tha hóa con người. Chúng cũng có nguy cơ khiến cho người trẻ
rơi vào thế giới ảo ảnh, bị cô lập và cắt đứt với thực tại cuộc
sống.<br>
<br>
Dịp Thượng Hội Đồng Giám Mục Thế Giới bàn về Lời Chúa vừa qua, đã có
lời đề nghị Đức Thánh Cha nên thiết lập một “tư trang” (blog) để
giao tiếp trên mạng. Điều ấy cho thấy Liên mạng được coi là quan
trọng như thế nào trong việc phúc âm hóa xã hội ngày nay. Và điều ấy
càng đúng khi Đức Đương Kim Giáo Hoàng thực hiện lời đề nghị ấy.<br>
<br>
Toà thánh phát động một kênh trên YouTube vào ngày 23 tháng 1 năm
2009 tại địa chỉ:www.youtube.com/vatican. <br>
<br>
Theo Cha Lombardi, Đức Thánh Cha là người đầu tiên ủng hộ sáng kiến
này. Dự án đã được chuẩn bị hơn một năm rưỡi kể từ lúc Trung Tâm
Truyền Thanh và Truyền Hình Vatican bắt đầu công bố các trích đoạn
video trên các trang mạng của mình để cho các đài truyền hình và các
trang mạng sử dụng. Theo cha, khắp nơi trên thế giới, có những người
chú tâm tới các sứ điệp và các đề nghị của một thẩm quyền cao về
luân lý, như Đức Giáo Hoàng và nói chung Giáo Hội Công Giáo chẳng
hạn, liên quan tới các vấn đề lớn lao của thời đại. Đó chính là lý
do khiến ta chọn YouTube làm một cái bục thích đáng để hiện diện
trên Mạng, trong một đồi Areopagus vĩ đại (nơi Thánh Phaolô giảng
Đạo tại Athens) của ngành truyền thông thế giới hiện nay, và hiện
diện cách thường xuyên, đem lại một điểm quy chiếu đáng tin, và tiếp
tục vượt qua những rời rạc đầy rẫy trong cách thông tin về Đức Giáo
Hoàng và Tòa Thánh ở trên mạng, vuợt qua một cách nhẹ nhàng, không
trịnh trọng. <br>
<br>
Kênh này cũng giúp người ta khả năng gửi điện thư tới Tòa Thánh. Các
điện thư này sẽ được văn phòng của Cha Lombardi tiếp nhận. Ngài cũng
cho biết việc phát động kênh truyền thông này mới chỉ là bước đầu.
Với sự cộng tác của Google, Toà Thánh còn dự trù nhiều khai triển và
cải thiện khác cả về nội dung lẫn kỹ thuật. <br>
<br>
Năm nay 2010, ĐTC Biển Đức XVI gởi sứ điệp truyền thông đến <b>các
linh mục</b>. “<i>Thật thích hợp được lồng vào trong hành trình của
Năm Linh Mục, và đặt lên hàng đầu suy tư về một lãnh vực mục vụ rộng
lớn và tế nhị như lãnh vực của truyền thông và của thế giới kỹ thuật
số, trong đó người linh mục được ban tặng những khả năng mới mẻ thực
thi thừa tác vụ phục vụ Lời Chúa của mình</i>”. Ngài mời gọi các
linh mục tận dụng các phương tiện truyền thông tân tiến, đặc biệt là
Internet, để làm việc mục vụ và rao giảng Lời Chúa. Ngài bày tỏ lập
trường trên đây trong Sứ điệp công bố ngày 23-1-2010, nhân Ngày Thế
Giới truyền thông xã hội lần thứ 44 sẽ được cử hành vào chúa nhật
16-5 năm nay về đề tài ”Linh mục và việc mục vụ trong thế giới kỹ
thuật số (digital): các phương tiện truyền thông mới phục vụ Lời
Chúa”.<br>
<br>
Trong sứ điệp, ĐTC nói đến nghĩa vụ ưu tiên của LM là rao giảng Chúa
Kitô, Lời của Thiên Chúa nhập thể làm người, và thông truyền ơn
thánh đa dạng của Thiên Chúa, mang lại ơn cứu độ qua các bí tích.
Ngài cũng khẳng định rằng<i>: Để mang lại câu trả lời thích hợp cho
những câu hỏi giữa lòng những thay đổi lớn về văn hóa, rất được giới
trẻ cảm nghiệm thấy, những con đường thông tin do các khám phá kỹ
thuật mở ra ngày nay là một phương thế không thể thiếu được. Thực
vậy, thế giới kỹ thuật số, mang lại những phương tiện giúp người ta
có khả năng diễn tả hầu như vô tận, đang mở ra những viễn tượng quan
trọng và thực hiện lời nhắn nhủ của thánh Phaolô: ”Khốn cho tôi nếu
tôi không rao giảng Tin Mừng” </i>(1 Cr 9,16).<br>
<br>
ĐTC khuyến khích các linh mục hãy nắm giữ chức năng lãnh đạo cả
trong những cộng đoàn thuộc ”thế giới kỹ thuật số”, sử dụng cả các
Blog và Video trực tuyến để rao giảng Tin Mừng và giảng dạy giáo lý.
Ngài cũng nhắc nhở rằng: <i>Các linh mục được yêu cầu có khả năng
hiện diện trong thế giới kỹ thuật số, với lòng trung thành liên lỷ
đối với sứ điệp Tin Mừng, để thực thi vai trò linh hoạt cộng đoàn;
ngày nay họ lên tiếng qua bao nhiêu ”tiếng nói” nảy sinh từ thế giới
kỹ thuật số, và rao giảng Tin Mừng, bằng cách sử dụng các phương
tiện truyền thông mới mẻ, bên cạnh những phương tiện truyền thống.
Qua các phương tiện tối tân này, linh mục có thể phổ biến đời sống
Giáo Hội và giúp con người ngày nay khám phá tôn nhan Chúa Kitô...
Cả trong thế giới kỹ thuật số, cần làm sao để sự quan tâm yêu thương
của Thiên Chúa trong Chúa Kitô đối với chúng ta không phải là một
điều quá khứ, hay là một lý thuyết uyên bác, nhưng là một thực tại
rất cụ thể và thời sự. Thực vậy, việc mục vụ trong thế giới kỹ thuật
số phải có thể tỏ cho con người ngày nay, và cho nhân loại lạc hướng
ngày nay, biết rằng ”Thiên Chúa ở gần bên, và trong Chúa Kitô, tất
cả chúng ta thuộc về nhau</i>”. (Biển Đức 16, Dv với giáo triều
Roma, Oss.Rom. 21-22/12/2009, p.6).<br>
<br>
Sau cùng, ĐTC kêu gọi đưa việc huấn luyện về các kỹ thuật truyền
thông tân tiến vào trong việc đào tạo linh mục. Các kiến thức thực
hành này phải được liên kết với sự chuẩn bị chắc chắn về thần học và
tu đức. (SD 23-1-2010). (Lm G.Trần Đức Anh OP,CN, 24/01/2010)<br>
<br>
Đức Thánh Cha cũng đã từng mời gọi <b>các Giám mục </b>sử dụng các
phương tiện truyền thông xã hội như không gian của sứ vụ. Nhân Ngày
Thế giới Truyền thông (Chúa nhật 20/5/2007) với chủ đề ”Trẻ em và
những phương tiện truyền thông: một thách thức cho sự giáo dục”, ĐGM
John Foley, chủ tịch Bộ Truyền thông Xã hội đã trả lời những câu hỏi
của thông tấn Fides tại Aparecida, nơi diễn ra Hội nghị các Giám mục
châu Mỹ La tinh lần thứ năm.<br>
<br>
<i>Câu hỏi: Trong bài diễn văn khai mạc Hội nghị Aparecida, ĐGH
Bênêđictô XVI đã mời gọi một cách rõ ràng các giám mục xử dụng các
phương tiện truyền thông xã hội như không gian của sứ vụ. Đâu là vai
trò của truyền thông trong văn hoá hiện đại, thưa ĐC ?</i><br>
<br>
ĐGM Foley: Văn hoá hiện đại không thể hiểu được nếu người ta không
biết hiện thực của truyền thông. Học thuyết Giáo Hội rất rõ ràng về
đề tài này ngay từ Công đồng Vatican II và trở nên mạnh mẽ đặc biệt
với ĐGH Gioan Phaolô II và hiện nay với ĐGH Bênêđictô XVI. Chúng ta
được mời gọi phải ý thức rằng những người mà sứ điệp của Đức Kitô
nhắm tới hôm nay, họ suy nghĩ và hiểu biết thế giới theo thể loại mà
các phương tiện truyền thông cung cấp, đôi khi trong một mức độ to
lớn hơn là những điều đến từ gia đình, trường học, đảng phái chính
trị hay các Giáo Hội. Chúng ta không thể nghĩ đến một sứ vụ hữu hiệu
nếu không đi theo thực tại ăn sâu trong não trạng của con người hiện
đại này.<br>
<br>
<i>Câu hỏi: Giáo Hội châu Mỹ La tinh trông cậy nhiều vào các phương
tiện này để quảng bá sứ điệp của mình. ĐC gợi ý gì với các giám mục
để lợi dụng tối đa những không gian văn hoá này ?</i><br>
<br>
ĐGM Foley: Chính các giám mục châu Mỹ La tinh đã bảo vệ và khuyến
khích ngày càng nhiều các phương tiện truyền thông trên lục địa với
nhiều cố gắng và can đảm. Chắc chắn các ngài biết dùng phương tiện
lớn này, nhưng có lẽ phải cần liên kết nó với công việc truyền giáo
hơn thôi, để truyền thông và mục vụ không phải là hai thế giới riêng
biệt, nhưng truyền thông hữu hiệu củng cố tất cả các phần trong công
việc của chúng ta và tạo nên những không gian truyền thông. Chúng ta
đừng quên rằng truyền giáo tự nó là một sự truyền thông ! <br>
<br>
<i>Câu hỏi: Thưa ĐC, ĐC có nghĩ là các linh mục, các tu sĩ nam nữ và
các giáo dân mục vụ đã được chuẩn bị để đối đầu với thách thức của
nền văn hoá truyền thông trong thời đại này không ? </i><br>
<br>
ĐGM Foley: Trong hội nghị của Bộ Truyền thông Xã hội, nhu cầu thiết
lập một cơ quan thụ huấn trong lãnh vực này đã được mang ra ánh
sáng. Tất cả đã được khuyến khích đề nghị loại sáng kiến này để các
nhân viên mục vụ, nhất là các linh mục và các tu sĩ hiểu biết những
chìa khoá của nền văn hoá mới này và biết sử dụng hữu hiệu các loại
ngôn ngữ của nó, nhất là trong giới trẻ và các em nhỏ. Chúng ta đặc
biệt phải nhắm đến chúng, đó là điều mà ĐGH đã nhắc nhở trong sứ
điệp của ngài…(Thông tấn Zenit, Lang Biang dịch).<br>
<br>
Như thế, trong những năm qua Đức Thánh Cha đã gởi sứ điệp truyền
thông mời gọi các Giám mục rồi giới trẻ và linh mục sử sụng các
phương tiện truyền thông phục vụ Lời Chúa.<br>
<br>
Hiệu năng của thừa tác vụ Lời Chúa tùy thuộc thiết yếu vào sự trợ
giúp của Chúa, nhưng nó cũng đòi hỏi sự hoàn hảo thuộc bình diện
nhân loại ở trình độ cao nhất có thể. Ngày 19.3.1999, Bộ Giáo Sĩ đã
đưa ra tài liệu“Linh mục và ngàn năm Kitô giáo thứ ba: Thầy dạy Lời
Chúa, Thừa tác viên bí tích và người lãnh đạo cộng đoàn”, nói đến
một số điều kiện để rao giảng Lời Chúa có kết quả: Việc giảng dạy
đòi hỏi linh mục phải đặc biệt lưu ý đến tầm quan trọng của sự chuẩn
bị xa. Việc chuẩn bị này được cụ thể hóa qua việc học hỏi và tìm tòi
những gì có thể giúp các linh mục trong khi chuẩn bị. Là thầy dạy
Lời Chúa, linh mục phải có tính nhạy cảm mục vụ để nhận thức các vấn
đề thế giới ngày nay đang quan tâm và còn có thể đề ra những giải
pháp cho họ, như Sắc Lệnh “về thừa tác vụ và đời sống linh mục” của
Công Đồng Vatican II đã nêu ra: “Ngoài ra, để trả lời thỏa đáng
những vấn đề do người thời nay nêu lên, các linh mục phải hiểu cho
thấu đáo những tài liệu của Huấn Quyền, nhất là của các Công Đồng và
của các Đức Giáo Hoàng, cũng như phải tham khảo những tác giả thần
học thời danh nhất và đã được thừa nhận” cũng như “sách Giáo Lý Hội
Thánh Công Giáo”.<br>
<br>
Truyền thông là một vấn đề thời đại. Đức Thánh Cha mời gọi: <i>Các
linh mục rất quý mến, tôi lặp lại lời mời gọi nắm bắt cách khôn
ngoan những cơ hội đặc biệt mà truyền thông hiện đại mang lại. Xin
Chúa biến anh em thành những người loan báo say mê Tin Mừng ngay cả
trong “công trường” do các phương tiện truyền thông hiện nay tạo nên</i>.<br>
<br>
Sử dụng truyền thông để rao giảng Lời Chúa, các linh mục cần dựa vào
nền tảng thần học truyền thông. Linh mục Paul A. Soukup, S.J.Trưởng
khoa Phân khoa Truyền thông của đại học Santa Clara, tại Santa
Clara, California, Hoa Kỳ, đã viết bài khảo luận “Thần học truyền
thông, nền tảng cho việc đào tạo truyền thông xã hội”. Ngài trình
bày ảnh hưởng của việc truyền thông trong Giáo Hội và xã hội;liệt kê
một số hệ quả của việc truyền thông đối với thần học; liệt kê một số
hệ quả của việc truyền thông đối với tác vụ linh mục; liệt kê một số
hệ quả của thần học truyền thông đối với đời sống con người.<br>
<br>
<b>1. Ảnh hưởng của việc truyền thông</b><br>
<br>
Trong vòng 20 năm qua, chúng ta đã chứng kiến sự phát triển nhanh
chóng của các phương tiện truyền thông trên hầu hết các khu vực của
toàn thế giới. Nhờ phát minh được con chíp cực nhỏ mà các thiết bị
viễn thông trở nên rẻ, nhỏ và dễ sử dụng hơn. Được sự hỗ trợ của các
hệ thống truyền thông đang phát triển trên khắp thế giới, các phương
tiện truyền thông này đã liên kết được với nhau, nối kết mọi người
và mọi địa điểm thông qua các mạng thông tin toàn cầu (Internet),
các mạng truyền thanh và các mạng truyền hình. Song song với sự phát
triển cơ sở hạ tầng ấy, người ta cũng thấy việc thương mại hoá các
mạng và các thiết bị tăng lên, kéo theo các cơ chế lập trình, quảng
cáo và cả một nền văn hoá truyền thông đại chúng. Dựa trên những gì
các nhà nghiên cứu đã khám phá về ảnh hưởng của các phương tiện
truyền thông tương đối “cũ” như truyền hình, chúng ta có thể biết
được tại sao một thế giới truyền thông đang phát triển đã tác động
lên xã hội loài người nói chung và thần học nói riêng bằng cách điểm
qua chín lĩnh vực này1.<br>
<br>
<i>a. Các nguồn kiến thức</i><br>
<br>
Con người hôm nay có thể tiếp cận một lượng thông tin khổng lồ về
thế giới qua các bản tin từng giờ hay nhanh hơn nữa, các bài tường
thuật từ mọi ngõ ngách trên thế giới, những bài bình luận và thảo
luận từ vấn đề này tới vấn đề khác. Trong quá khứ, người ta chỉ biết
những gì mình đã trải nghiệm, những gì hàng xóm nói và những gì nghe
được tại các nơi tụ tập đông người như nhà thờ hay quán rượu. Còn
bây giờ, chúng ta có kinh nghiệm gián tiếp về một thế giới rộng lớn
hơn nhiều - thế giới được truyền thông. Chúng ta càng ngày càng thu
thập được nhiều kiến thức qua các mạng truyền thông hơn là trực tiếp
thu được qua nghiên cứu, học hỏi. Vì tiến trình ấy quá hiển nhiên,
rõ ràng nên nhiều khi chúng ta quên mất đó là những kiến thức tiếp
nhận được qua các phương tiện truyền thông. Nó được chọn lọc bởi các
phóng viên, nhà xuất bản, nhà sản xuất và hệ thống các phương tiện
truyền thông. Dù sao, bất kể theo phương cách nào, số thông tin về
thế giới mà chúng ta thu được hiện nay lớn hơn bất cứ kỳ thời đại
nào trước đây. <br>
<br>
<i>b. Sử dụng thời giờ</i><br>
<br>
Tất cả chúng ta chỉ có một lượng thời gian hữu hạn, vì thế, chúng ta
phải phân chia thời gian ra cho nhiều công việc khác nhau, kể cả
giải trí và thư giãn. Các nhà nghiên cứu đã lập biểu đồ để biết được
số lượng thời gian chúng ta dành cho việc sử dụng các phương tiện
truyền thông đại chúng. Nhật báo, tạp chí, phim ảnh, phát thanh và
truyền hình đã chiếm khá nhiều thời giờ của chúng ta, thường được
xếp hàng thứ ba sau ngủ nghỉ và làm việc trong tổng số thời gian
chúng ta phân phối. Một người lớn tiêu biểu ở phương Tây trung bình
mỗi ngày xem truyền hình trên ba giờ đồng hồ. Truyền hình đã làm
thay đổi cách người ta sử dụng thời gian rảnh của mình: người ta đã
bỏ những công việc của cộng đồng, các việc đạo đức ở nhà thờ, các
trò giải trí tại gia đình và nhiều hoạt động trao đổi trực tiếp khác
để xem các chương trình ưa thích trên truyền hình hay chỉ để thư
giãn với các phương tiện truyền thông. Những nghiên cứu gần đây cho
thấy việc sử dụng Internet đã lấn vào số thời gian chúng ta quen
dành cho các phương tiện truyền thông khác. Lần đầu tiên trong nhiều
thập niên, việc xem truyền hình tại Hoa Kỳ chẳng hạn đã bị xếp sau
các trò chơi điện tử, trao đổi thư điện tử và những hoạt động khác
của Internet. <br>
<br>
<i>c. Đo lường tầm mức quan trọng</i><br>
<br>
Người ta đang dựa vào các phương tiện truyền thông để biết đâu là
điều quan trọng trên thế giới. Các bài tường thuật tin tức sẽ đặc
biệt quan tâm đến một số sự kiện và biến cố, gián tiếp cho thấy rằng
đó là những điều xứng đáng được văn hoá quan tâm. Nhà Xã hội học
Bernard Cohen, người Hoa Kỳ, đã lưu ý điều này cách đây gần 40 năm,
khi ông viết rằng các phương tiện truyền thông “có lẽ không thành
công nhiều lắm khi muốn cho người ta biết phải suy nghĩ thế nào, mà
chỉ thành công khi cho người ta biết phải suy nghĩ về điều gì”2.
Chúng ta càng nghe nói nhiều về đề tài nào trên đài phát thanh, càng
xem chương trình nào được trình diễn nhiều trên truyền hình hay càng
đọc đề tài nào được viết nhiều trên báo, chúng ta càng cho đó là
những vấn đề quan trọng. Một hiện tượng tương tự cũng xảy ra đối với
điện ảnh: chúng ta thần tượng hoá các ngôi sao điện ảnh và trân
trọng các vai họ diễn trong phim, không phải do phê phán một cách có
lý luận mà chỉ vì họ đã xuất hiện nhiều trên các phương tiện truyền
thông. Một số người, đặc biệt là Gaye Tuchmann, đã lý luận rằng có
thể áp dụng cách đo lường này một cách ngược lại: cái gì không xuất
hiện trên các phương tiện truyền thông thì đó là điều không quan
trọng; và điều này có thể dẫn tới tình trạng “triệt tiêu một cách
tượng trưng” các nhóm sắc tộc khác nhau, các phụ nữ và các ngành
nghề khác. Cũng thế, nếu Chúa hay Giáo Hội không tìm được chỗ đứng
trên thế giới này, thì đó là dấu chứng tỏ Chúa và Giáo Hội không còn
quan trọng nữa đối với nhiều thành phần trong văn hoá truyền thông.<br>
<br>
<i>d. Hiểu biết đối kháng với thực tiễn</i><br>
<br>
Nói tới truyền thông, nhiều người thường nghĩ tới việc chuyển giao
một thông điệp, một hiểu biết hay một ý nghĩa từ chỗ này sang chỗ
khác. Một nhà nghiên cứu khác, James Carey, người Hoa Kỳ, nhắc chúng
ta rằng trình bày việc truyền thông theo “mô hình di chuyển” như thế
sẽ khiến người ta có một cái nhìn về truyền thông không khác gì một
công cụ và không thể hiểu hết kinh nghiệm con người trong đó. Ông đề
xuất cái gọi là “mô hình nghi thức” để đưa việc truyền thông vào
đúng chức năng của nó3. Việc truyền thông của con người là một cái
gì còn hơn thế nữa, chứ không chỉ là gửi những thông điệp hay một mớ
kiến thức từ chỗ này sang chỗ khác. Ngay cả khi chúng ta sử dụng các
phương tiện truyền thông, chúng ta cũng đang cử hành một nghi thức:
đọc báo vào buổi sáng, xem một chương trình nào đó mình thích trên
truyền hình, nghe đài trong khi lái xe - tất cả những việc ấy đều là
những nghi thức nối kết chúng ta với một cộng đồng lớn hơn. Bên cạnh
việc xử lý kiến thức, truyền thông còn giúp xây dựng cộng đồng, một
việc đưa chúng ta đến những cách thức gián tiếp hiểu biết của riêng
mỗi cộng đồng.<br>
<br>
<i>e. Phát biểu cho có hiệu quả</i><br>
<br>
Các phương tiện truyền thông cũng dạy người ta biết phải làm gì để
phát ngôn cho có hiệu quả. Truyền hình dạy chúng ta những cách nói
ngắn gọn, rõ ràng để cuốn hút sự chú ý của khán giả hoặc tóm tắt một
quan điểm hay một lập trường. Hiện nay, rất ít người thuyết phục
được người khác bằng lập luận dài dòng; chỉ có một số thành phần ưu
tú còn được báo chí đề cao mới làm thế. Nhưng nói như thế không có
nghĩa là các phương tiện truyền thông đại chúng không thể đề cập đến
những vấn đề nghiêm túc hay phức tạp. Chúng vẫn làm được việc ấy,
nhưng trình bày theo những cách thức phù hợp hơn với bản chất của
các phương tiện ấy như kể truyện, cung cấp hình ảnh và trình bày với
đầy cảm xúc. Khi đưa các vấn đề nghiêm túc đến với quần chúng theo
những phương cách có thể tiếp cận được, các phương tiện truyền thông
đại chúng đã trở thành một “diễn đàn văn hoá” cho mọi người tự do
thảo luận và bàn bạc các vấn đề nóng bỏng4. Một cách thức bổ sung
cho các hình thức ấy ít hấp dẫn hơn, là trình bày các vấn đề thành
những bài viết, những bài nói chuyện có lý luận chặt chẽ, có lẽ
không được công chúng dễ dàng tiếp nhận.<br>
<br>
<i>g. Thay đổi vị trí</i><br>
<br>
Các phương tiện truyền thông còn có một ảnh hưởng sâu xa hơn trên xã
hội, chứ không chỉ tạo ra kiến thức hay phát biểu tư tưởng. Joshua
Meyrowitz5 đã cho thấy các phương tiện truyền thông như truyền hình,
phim ảnh và phát thanh làm thay đổi “ý thức về nơi chốn” của chúng
ta theo hai cách. Trước hết, chúng ta cảm nghiệm như mình đang cùng
một lúc ở hai nơi, dù chỉ là tưởng tượng: trong khi ngồi thoải mái
tại nhà, chúng ta có thể đồng thời nắm bắt những gì đang diễn ra
trên khắp thế giới. Nhưng cái cảm nghiệm mình đang ở một thế giới xa
hơn chung quanh mình cũng đưa chúng ta tới chỗ mong muốn được trông
thấy, được tiếp cận những gì mà trước đây mình không thể trông thấy
hay tiếp cận. Cách đây nhiều thế hệ, con người chỉ kinh nghiệm được
những gì mà vị trí xã hội của mình cho phép. Dân thường không thể
trao đổi với các nhà lãnh đạo hay với các chức sắc cao cấp của Giáo
Hội. Nhưng cứ quen nhìn mọi thứ (khắp thế giới, đằng sau sân khấu,
chỗ thân mật riêng tư của người khác như phim ảnh và truyền hình đã
dàn dựng), chúng ta sẽ khao khát được trông thấy tất cả mọi sự. Và
thế là, người ta đánh mất đi cái ý thức về vị trí, mà qua đó chúng
ta đã từng tôn trọng sự riêng tư của người khác hay mặc nhiên tôn
kính các vị có thẩm quyền. Ngày nay, người ta mong muốn được biết cả
những chi tiết riêng tư nhất của đời sống các nhà chính trị, các
diễn viên và cả các giáo sĩ.<br>
<br>
<i>h. Kiểm soát</i><br>
<br>
Sự xuất hiện của các phương tiện truyền thông, và hiện nay là sự
xuất hiện của các ngành công nghệ kỹ thuật số đã làm thay đổi việc
kiểm soát thông tin. Trong quá khứ, các chính phủ và các tổ chức như
Giáo Hội thường kiểm soát các thông tin ở một mức độ nào đó, như
quyết định những gì người ta có thể xuất bản hay những gì công dân
có thể phát hành. Thế nhưng, các tập đoàn công nghệ thông tin và
giải trí hiện nay đã tước mất quyền kiểm soát khỏi tay các chính phủ
và đòi quyền tự do phổ biến hay không phổ biến những thông tin mình
đang có. Đã được tự do khỏi bị lề luật chèn ép, người ta cũng đòi
quyền tác giả để bảo vệ những gì mình đã đầu tư trong lĩnh vực thông
tin. Tuy nhiên, ngay cả điều này cũng đang bị công nghệ kỹ thuật số
phá vỡ, như các vụ án gần đây liên quan đến chương trình Napster và
nhiều chương trình thưởng thức âm nhạc chung đã cho thấy. Giáo Hội
cũng mất hầu hết sự kiểm soát trên sách báo; rất ít người xin
“Imprimatur” (xác nhận: được phép in); Internet cũng giúp người ta
tự do phổ biến các tin tức tôn giáo bằng con đường trực tuyến.<br>
<br>
<i>i. Một cử toạ ngày càng khó tính</i><br>
<br>
Sau 50 năm truyền hình và hơn 100 năm điện ảnh ra đời, khán giả bây
giờ đã trở nên rất khó tính. Người ta không còn tiếp nhận một cách
ngây thơ bất cứ điều gì được trình chiếu. Thay vào đó, họ lựa chọn
các chương trình theo nhu cầu của mình và bình luận các chương trình
ấy tuỳ theo quan điểm riêng của mình về xã hội, kinh tế, giáo dục
hay giới tính. Nhiều khán giả tiếp nhận các sản phẩm của truyền
thông với một chút nghi ngờ - nghi ngờ về động cơ của các nhà sản
xuất, các nhà quảng cáo, các nhà điều hành chính phủ và của bất cứ
ai muốn lợi dụng một điều gì đó nơi họ. So với trước đây, các nhà
sáng tạo và sản xuất chương trình hiện nay không còn nhiều quyền ấn
định thông điệp mình muốn chuyển tải nữa. Mà đúng hơn, ngay trong
chương trình họ làm ra, họ phải tranh đua với khán giả để tìm ra
cách minh giải. Nói thế không có nghĩa là khán giả bây giờ không thể
nào bị lèo lái hay điều khiển nữa, nhưng chỉ muốn cho thấy rằng khán
giả hôm nay bước một cách thận trọng theo hướng mà nhà sản xuất
chương trình vạch ra. Khán giả có thể mang theo mình nhiều kỹ năng
và tài cán, khiến cho Giáo Hội cũng có thể bị nghi ngờ và bị yêu
sách khi làm công tác truyền thông của mình.<br>
<br>
<i>j. Những thay đổi trong nhận thức</i><br>
<br>
Thay vì chỉ truyền đạt một thông điệp hay miêu tả một số nghi thức
phải làm, các phương tiện truyền thông còn tác động lên cả cách thức
suy nghĩ của người khác nữa. Khi nghiên cứu các nền văn hoá truyền
khẩu và thành văn, người ta khám phá được việc làm thế nào để một
thói quen căn bản như viết lách có thể tác động lên cách mỗi cá nhân
hình thành nên kiến thức và tổ chức thế giới6. Đối với các nền văn
hoá truyền khẩu, để nhớ những gì mình cho là có giá trị, người ta sẽ
lưu ý tới trí nhớ và tìm cách xây dựng kiến thức bằng những truyện
kể, dùng những nhân vật đặc biệt để nối kết các câu chuyện lại với
nhau. Người ta cô đọng những gì mình biết thành những công thức và
vần điệu dễ nhớ. Người ta bám vào những biến cố và những con người
cụ thể, tìm cách làm cho chúng diễn lại trong hiện tại. Lịch sử của
một nền văn hoá truyền khẩu phải có mặt thật sự đối với các thành
viên vì đó chính là cách giúp các thành viên của nền văn hoá ấy giữ
lại trong ký ức của mình những biến cố đã qua. Nền văn hoá truyền
khẩu tìm cách triển khai các lược đồ dễ nhớ và các nghi thức tập thể
để bảo đảm không bị tam sao thất bổn khi truyền thông.<br>
<br>
Còn các nền văn hoá thành văn lại tìm hiểu thế giới cách khác hẳn.
Các nền văn hoá ấy mang tính phân tích nhiều hơn vì chúng tách những
kiến thức ra khỏi trí nhớ bằng cách ghi chép các kiến thức ấy. Nhờ
khoảng cách mà một bản văn viết có thể mang lại, người ta sẽ có thể
xem xét tỉ mỉ những gì mình biết. Người ta cũng có thể mở rộng kiến
thức của mình bằng cách chia sẻ những thông tin đã viết ấy vượt khỏi
không gian địa lý và bằng cách gia tăng số người cùng với mình xây
dựng kho tàng kiến thức. Người ta không còn cần phải có mặt tại chỗ
để có thể tham gia vào kiến thức của tập thể. Văn hoá chữ viết cũng
sẽ giúp tổ chức các sự việc một cách khác. Muốn tổ chức các sự việc,
người ta không cần phải theo các vần điệu hay những sự gom góp cụ
thể. Thay vào đó, người ta có thể tổ chức các sự việc một cách trừu
tượng hơn, theo thứ tự các mẫu tự chẳng hạn. Vì đọc và viết sẽ trở
nên phổ biến rộng rãi hơn nhờ có sẵn vô số sách báo rẻ do các nhà in
phát hành, nên văn hoá chữ viết sẽ càng phát huy nhiều tác dụng.
Chẳng hạn học hành bây giờ không còn phải là luyện tập từng li từng
tí hay học thuộc lòng từng điều một, mà đã chuyển sang đọc sách báo.
Việc học trở nên cá nhân hơn, các tập quán mới để tư duy cũng được
phổ biến, như các nước Tây Âu đã chứng kiến trong thời kỳ Ánh Sáng.<br>
<br>
Điều này, cũng như những điều đã đề cập trước, sẽ ảnh hưởng tới thần
học. Trong kỷ nguyên Kitô giáo, thần học đã chuyển từ một di sản
truyền khẩu gồm các truyện kể của Thánh Kinh sang một lô công thức
tín điều đã được các nhà thần học Trung Cổ bàn cãi. Rồi, khi chữ
viết đã được phổ biến, người ta lại chuyển thần học thành một khoa
học lý luận chặt chẽ, phân tích thấu đáo và có văn bản hẳn hoi7. Đến
khi nền văn hoá đương đại tiếp xúc với các phương tiện truyền thông
đại chúng, chúng ta lại chứng kiến một sự thay đổi nữa trong tư duy
và trong cách tổ chức kiến thức, một phần trở lại với vài mô hình
truyền khẩu như kể truyện, còn thì đa số dựa trên các bản văn viết.
Sự xuất hiện của Internet là một nỗ lực khác của nền văn hoá đương
đại muốn tổ chức các kiến thức của mình thông qua việc kết nối vô số
bản văn và thông qua những thiết bị khác.<br>
<br>
Tất cả những sự kiện này sẽ dẫn thần học đi đến đâu? Trước hết, là
một môn học dựa trên văn bản, thần học không còn khả năng ảnh hưởng
trực tiếp trên nhiều nền văn hoá lấy hình ảnh và truyện kể làm những
phương cách gia tăng hiểu biết và tìm hiểu thế giới. Thứ đến, thần
học không còn là nguồn hiểu biết cho những ai không coi đó là nguồn
hiểu biết quan trọng, vì thần học hàn lâm không còn xuất hiện trong
thế giới truyền thông nơi họ sinh sống nữa. Sau cùng, khi nhấn mạnh
hiểu biết hơn thực tiễn và khi đòi khán giả phải toàn tâm toàn ý tin
theo, thần học đã làm cho mình trở nên không còn thích hợp nữa với
thế giới hôm nay.<br>
<br>
Tuy nhiên, nói thế không có nghĩa là người ta đã mất hết sự quan tâm
đối với thần học. Con người vẫn đi tìm câu trả lời cho những vấn nạn
thần học hết sức căn bản, nhưng người ta sẽ tìm chúng trong thế giới
truyền thông. Có bao nhiêu nhà thần học (hay chức sắc Giáo Hội),
cách đây 10 năm, dám tiên đoán rằng người ta sẽ rất quan tâm tới
khoa thiên thần học, như trong một chương trình truyền hình đang
được nhiều người theo dõi, mang tên “Được một thiên thần chạm đến”
(Touched by an Angel)? Điện ảnh và truyền hình liên tục nêu ra vấn
đề sự dữ trên thế giới (qua hình ảnh của ma quỷ và các mối đe doạ
khác), vấn đề có thụ tạo nào tốt lành bên ngoài thế giới chúng ta
(như thường thấy qua hình ảnh các vị khách lạ từ hành tinh khác), có
thể có một vị cứu tinh khác không (từ chính nền công nghệ của chúng
ta, như trong phim “Ma trận”). Các nhà văn, nhà sản xuất, nhà đạo
diễn và những người làm công tác truyền thông đã trở thành những nhà
thần học của ngày hôm nay, khi họ đặt ra những câu hỏi căn bản của
thần học: làm sao nói về Thiên Chúa cho con người hôm nay? Làm sao
kinh nghiệm về Thiên Chúa? Chúng ta sống để làm gì?<br>
<br>
Thế giới truyền thông hiện nay cho thấy thần học và suy tư tôn giáo
đang đối diện với một thế giới khác hẳn cái thế giới mà thần học hàn
lâm đã để lại. Nói thế không có nghĩa là thần học hàn lâm không có
chỗ đứng, cũng không có mục tiêu, nhưng chỉ muốn nói là thần học cần
phải quan tâm nhiều hơn tới việc truyền thông.<br>
<br>
<b>2. Một số hệ quả của việc truyền thông đối với thần học</b><br>
<br>
Dùng viễn tượng truyền thông để nhìn thần học không có nghĩa là đưa
ra một khoá học về truyền thông hay về các phương tiện truyền thông
vào trong chương trình thần học. Mà đúng hơn, đó là lấy những cái
nhìn của truyền thông để nhìn các vấn đề thần học, rồi nhìn xem làm
thế nào để những cách hiểu thần học ấy có thể đến được với con người
hôm nay. Trong phần này, chúng ta sẽ khảo sát vắn tắt sự việc ấy
trong bốn lĩnh vực thần học là: thần học hệ thống và Kitô học, mặc
khải, giáo hội học và thần học luân lý.<br>
<br>
<i>a. Thiên Chúa tự thông truyền chính mình</i><br>
<br>
Hiến chế về Mạc khải và các tác phẩm của các nhà thần học, như Karl
Rahner, đã trình bày lịch sử cứu độ như lịch sử Thiên Chúa tự thông
truyền chính mình, lịch sử khai mở dần mầu nhiệm của Thiên Chúa,
hoàn toàn do Chúa ban cho chúng ta để chúng ta có thể hiểu biết
Ngài. Đồng thời, có thể nói chúng ta được tạo dựng theo hình ảnh
Thiên Chúa và giống Thiên Chúa, nên cũng tham gia vào tiến trình tự
thông truyền ấy8 qua chính công việc thông truyền của loài người
chúng ta. Từ chỗ chỉ là một khoa nhân học mang tính thần học, việc
khảo sát hoạt động truyền thông của con người sẽ đưa chúng ta vào
sâu hơn trong mầu nhiệm Thiên Chúa, đồng thời cũng chính mầu nhiệm
ấy sẽ giúp định hình lại việc truyền thông của chúng ta.<br>
<br>
Mọi sự truyền thông đều bắt đầu với Thiên Chúa Ba Ngôi, tức là sự
hiệp thông giữa ba ngôi vị9, ngôi này hoàn toàn nên một với ngôi
kia. Thiên Chúa muốn chia sẻ sự kết hợp ấy cho các thụ tạo, trong
thiên ý mầu nhiệm của Ngài, Ngài cũng muốn hiệp thông với các thụ
tạo là chúng ta. Thế nên, Thiên Chúa đã tạo ra sự hiệp thông ấy
trong hành động đầu tiên là tự thông truyền chính mình, rồi kiện
toàn sự hiệp thông ấy bằng cách đích thân tham gia sự hiệp thông qua
Mầu nhiệm Nhập thể. Toàn bộ lịch sử cứu độ chỉ là sự khai mở dần kế
hoạch và việc tự thông truyền ấy. Thiên Chúa ban cho chúng ta một
giao ước để chúng ta có thể cảm nghiệm được thế nào là kết hợp với
Chúa, và Thiên Chúa hoàn thành giao ước ấy để chúng ta biết được thế
nào là sự tự thông truyền của Thiên Chúa khi đạt tới mức viên mãn.<br>
<br>
Nói theo ngôn ngữ truyền thông, nhập thể là sự mở rộng ra trong lịch
sử và trong công trình tạo dựng sự hiệp thông (communio) của Ba Ngôi
Thiên Chúa. Nhập thể không phải chỉ là truyền đạt một thông điệp như
ngày nay người ta quen hiểu khi làm việc truyền thông, mà đó còn là
cử hành “nghi thức” hay thực hiện cuộc sống từ ngày này sang ngày
khác tới mức làm cho chúng ta trở thành người cùng hội cùng thuyền
với Chúa.<br>
<br>
Trong việc này chúng ta thấy việc truyền thông đã được thực hiện một
cách hoàn toàn vô vị lợi, truyền thông chỉ vì tình yêu. Chúng ta
cũng thấy truyền thông là một sự mạc khải dần mầu nhiệm của một ngôi
vị, ở đây là các ngôi Thiên Chúa. Việc truyền thông này không thể
xảy ra một lần là xong, cũng không bao giờ có thể hoàn tất, mà luôn
diễn ra trong thế biện chứng vừa tiết lộ vừa ẩn giấu. Vì Thiên Chúa
tạo dựng chúng ta là để truyền thông - là để tiếp nhận sự tự thông
truyền của Thiên Chúa - nên chúng ta có khả năng truyền thông và nhờ
đó có khả năng nhìn ra mầu nhiệm của Thiên Chúa: là sự hiệp thông
giữa các ngôi, cho phép chúng ta được tham gia vào sự hiệp thông ấy,
nói năng với chúng ta như với những ngôi vị, tự mạc khải dần cho
chúng ta theo một hướng càng ngày càng mang tính cá nhân10. <br>
<br>
Nhìn sự truyền thông theo quan điểm nhân học có tính thần học như
thế sẽ giúp chúng ta vừa hiểu biết bản thân mình vừa hiểu biết Thiên
Chúa. Nó cũng bắt chúng ta phải tôn trọng việc truyền thông, vì từ
nay chúng ta đã hiểu truyền thông là hành động sáng tạo của Thiên
Chúa. Sau cùng, hiểu như thế cũng sẽ giúp chúng ta nhìn ra mục đích
và tiêu chuẩn của việc truyền thông giữa con người với nhau, truyền
thông của con người phải phỏng theo việc truyền thông của chính Đức
Kitô11.<br>
<br>
<i>b. Mạc khải</i><br>
<br>
Áp dụng những khái niệm truyền thông trên đây cho các chân lý thần
học có thể giúp chúng ta hiểu các chân lý ấy sâu xa hơn, nhất là khi
cho phép chúng ta mở rộng điều David Tracy gọi là phép “tưởng tượng
loại suy”. Khi đọc lại “Dei Verbum”, Hiến chế của Công đồng Vatican
II về Mạc khải, chúng ta được mời gọi suy niệm lại hành động của
Thiên Chúa và sự tiếp nhận của chúng ta. Chúng ta cũng theo phép
loại suy áp dụng những khái niệm truyền thông cho sự mạc khải của
Thiên Chúa, ứng dụng những khái niệm ấy vừa cho việc truyền thông
của con người vừa cho sự mạc khải của Thiên Chúa. <br>
<br>
Hiến chế bắt đầu bằng cách nhìn nhận có một yêu cầu bắt phải truyền
thông. Lấy lại câu mở đầu thư thứ nhất của Gioan, Hiến chế nêu ra
một nguyên do đưa tới việc truyền thông: đó chính là vì muốn chia sẻ
hồng ân của Thiên Chúa - chia sẻ điều chúng tôi đã thấy, đã nghe và
đã đụng chạm đến. Hiến chế tiếp tục bằng cách ghi nhận rằng lời nói
và việc làm của Chúa có liên quan với nhau. Lời Chúa cũng là việc
làm của Chúa. Đức Kitô vừa là trung gian mạc khải vừa là chính mạc
khải trọn vẹn (số 2). Hầu hết các bảng phân tích việc truyền thông
đều tách cơ quan trung gian với thông điệp chuyển tới, xem xét hai
điều ấy hoàn toàn riêng rẽ. Nhưng làm như thế là đã coi truyền thông
chỉ là một dụng cụ không hơn không kém và đã để mất đi sự truyền
thông sâu xa nhất của con người, qua đó mỗi người tỏ lộ chính bản
thân mình. Lời nói và việc làm có thể liên kết với nhau, như lời thi
sĩ Gerard Manley Hopkins12(…). Bản tính của Thiên Chúa được mặc khải
là truyền thông, bản tính con người cũng vậy: nó vừa là trung gian
mạc khải vừa là thông điệp được mạc khải. Hiến chế tiếp tục (số 4)
đề cao vai trò của Chúa Thánh Thần: mạc khải là hành động của cả Ba
Ngôi Thiên Chúa. Thánh Thần là sức mạnh truyền thông, đang kêu lên
trong lòng chúng ta, đang gào lên vì mong nghe lời con người nói (x.
Rm 8,26). Thánh Thần là sức mạnh của trí nhớ, nhắc chúng ta nhớ đến
tất cả những gì Đức Giêsu đã dạy (x. Ga 14,26). Giống như văn hoá
truyền khẩu cần giữ gìn sao cho thông điệp của mình được nguyên vẹn
khi truyền thông, Chúa Thánh Thần cũng sẽ bảo đảm cho sự mạc khải
của Thiên Chúa được nguyên vẹn. <br>
<br>
Hiến chế tiếp tục khảo sát sự đáp trả của con người trước mạc khải
của Chúa: vâng lời trong đức tin (số 5). Nói thế có nghĩa là việc
truyền thông không chỉ đòi hỏi được đáp lại mà còn để đáp lại.
“Người ta không thể không truyền thông”, đó là câu nói mà các học
giả về truyền thông thường nói13. Ngay cả sự thinh lặng cũng là một
cách trả lời, một hình thức truyền thông. Trong khuôn khổ ấy, chúng
ta được mời gọi xem lại sự đáp trả của chúng ta trước việc Thiên
Chúa tự truyền thông cho chúng ta, đáp trả một cách rộng rãi hơn
bằng cả cuộc sống một con người. Sự mạc khải của Thiên Chúa đến với
chúng ta qua Thánh Kinh và truyền thống (số 8), điều ấy càng củng cố
cho điều chúng ta vừa nói, làm chúng ta nhớ tới những phương thức
truyền thông khác nhau - truyền thông bằng văn bản, lời nói và việc
làm. Cũng thế, chúng ta đáp trả Thiên Chúa là đáp trả bằng toàn bộ
sự truyền thông của chúng ta. Trong tư cách là tôi tớ và là người
giữ gìn Thánh Kinh, có thể nói Giáo Hội là một cộng đồng sống bằng
văn bản - các nhà nghiên cứu về truyền thông thường áp dụng kiểu nói
này cho những tập thể được quy tụ xoay quanh một bản văn đặc biệt
nào đó. Mọi hoạt động của Giáo Hội - từ cầu nguyện, phụng vụ, chiêm
ngắm, thần học cho đến các việc bác ái - đều khởi sự và thành hình
trong Kinh Thánh (số 9).<br>
<br>
Giáo Hội có thẩm quyền giảng dạy và đã nhận được sứ mạng giải thích
Thánh Kinh cách chính thức (số 10), sự kiện ấy soi sáng cho chúng ta
hiểu bản chất truyền thông của Thánh Kinh. Vì Thánh Kinh là sự
truyền thông tập thể, chứ không phải là sự truyền thông cá nhân.
Thánh Kinh làm chúng ta ý thức chiều kích cộng đoàn của việc truyền
thông, như chúng ta đã thấy trong các nền văn hoá truyền khẩu hay
trong các nhóm làm nên bản văn. Đây cũng là điều cần thiết để sửa
chữa niềm tin phổ biến hiện nay cho rằng truyền thông luôn luôn là
việc của cá nhân và riêng tư (có lẽ là do người ta quen đọc sách báo
riêng, trong thinh lặng). Niềm tin này mạnh đến nỗi làm người ta
quên mất sự cộng tác để làm ra những sản phẩm mang tính truyền thông
cao nhất. <br>
<br>
Điểm cuối cùng: Hiến chế về Mạc khải cho biết mầu nhiệm cứu độ được
bày tỏ nơi Đức Giêsu đã được tường thuật trong Tân Ước (số 17) và từ
đó được truyền đạt cho chúng ta. Nếu nhìn trong viễn tượng truyền
thông, chúng ta sẽ tự hỏi làm sao một bản tường thuật thành văn hay
một bản văn trung gian thuần tuý như thế lại có thể làm được điều mà
“nguyên bản” làm. Muốn phân tích điều này, chúng ta cần trở lại các
lý thuyết về “ý nghĩa”. Bản văn trung gian hay bản dịch nào bất kỳ
cũng vừa là nguyên bản14 và vì thế, nó vừa có thể tự mình tác động
lên người tiếp nhận, lại còn giúp chúng ta liên hệ đến nguyên bản.
Viễn tượng truyền thông ấy cũng giúp chúng ta giải thích hoạt động
của Chúa Thánh Thần trong Thánh Kinh, theo đó, việc Thiên Chúa tự
truyền thông đã được thực hiện theo mô hình việc truyền thông của
con người, nghĩa là biểu thị điều gì là đặt chúng ta quan hệ với
điều được biểu thị.<br>
<br>
Muốn tiếp xúc với thần học thông qua việc truyền thông dựa trên nền
tảng là khoa nhân học mang tính thần học như trên đây, người ta cần
phải tìm hiểu xem đâu là những điều kiện để có thể có được sự truyền
thông ấy, theo phương pháp siêu nghiệm. Điều kiện nào giúp chúng ta
thực hiện việc truyền thông cũng sẽ giúp chúng ta đón nhận lời mạc
khải của Thiên Chúa.<br>
<br>
Việc truyền thông hiện nay và những thay đổi do nó đưa vào trong xã
hội đã tác động đến việc đào tạo linh mục, đến thần học và các lĩnh
vực khác. Để chứng minh một cách thuyết phục hơn tại sao các chủng
sinh - thật ra, tất cả mọi phân khoa thần học - cần quan tâm tới
việc truyền thông, bài khảo luận này sẽ tìm hiểu tại sao một nền
“thần học truyền thông”, tức là một nền thần học quan tâm tới việc
truyền thông và mang ý tưởng truyền thông, sẽ giúp chúng ta hiểu
biết về Thiên Chúa, Giáo Hội và đời sống con người. Chúng tôi sẽ
tiến hành làm việc này qua bốn bước: 1/ xem lại ảnh hưởng của việc
truyền thông trong Giáo Hội và xã hội; 2/ liệt kê một số hệ quả của
việc truyền thông đối với thần học; 3/ liệt kê một số hệ quả của
việc truyền thông đối với tác vụ linh mục; 4/ liệt kê một số hệ quả
của thần học truyền thông đối với đời sống con người.<br>
<br>
<i>c. Giáo hội học</i><br>
<br>
Trong vài khảo luận của mình, cha Avery Dulles đã lý luận rằng “Giáo
Hội là sự truyền thông”16 và “thần học truyền thông chính là khoa
nghiên cứu xem Thiên Chúa đã làm thế nào mà tạo ra những niềm xác
tín và những sự cam kết có liên quan đến niềm tin tôn giáo”. Nhìn
theo viễn tượng ấy, truyền thông là một phần của khoa Giáo hội học,
vì tìm hiểu Giáo Hội cũng là tìm hiểu làm sao đức tin được lan rộng
trong lịch sử và làm sao đức tin được gìn giữ trong cuộc đời của các
chi thể thuộc Thân Mình Đức Kitô. Trong một tác phẩm mới đây, Dulles
đã trình bày Giáo hội học của Công đồng Vatican II và cho biết Công
đồng đã giới thiệu ít là năm mô hình Giáo Hội: Giáo Hội xét như một
tổ chức hay phẩm trật, Giáo Hội là sứ giả Tin Mừng, Giáo Hội là bí
tích, Giáo Hội là sự hiệp thông và Giáo Hội là nữ tỳ17. Trong khảo
luận năm 1989, Dulles còn móc nối các mô hình Giáo Hội ấy với các
loại truyền thông điển hình. Chúng ta có thể thấy điều đáng giá
trong bài giới thiệu ấy là Công đồng cho rằng không có mô hình nào
có thể một mình miêu tả Giáo Hội đầy đủ. Cũng thế, không có hình
thức truyền thông nào thoả mãn các nhu cầu truyền thông của Giáo
Hội.<br>
<br>
Mô hình Giáo Hội là tổ chức hay phẩm trật sẽ ủng hộ việc truyền
thông đại chúng, vì tổ chức phẩm trật theo kiểu trung ương tập quyền
như thế sẽ phù hợp với việc truyền thông đại chúng thường được tổ
chức tập trung, chỉ có một trung tâm truyền phát một thông điệp y
hệt nhau cho hết mọi người. Dulles đã triển khai mô hình ấy theo
lược đồ sau đây: <br>
<br>
Ai truyền thông?<br>
Hàng giáo phẩm<br>
Truyền thông điều gì?<br>
Giáo lý<br>
Bằng cách nào?<br>
In ấn<br>
Chờ đợi điều gì?<br>
Thần phục, chấp nhận<br>
<br>
Mô hình này chỉ làm người ta chú ý tới một khía cạnh của Giáo Hội;
nó cũng cho thấy làm thế nào việc truyền thông có thể phù hợp với
nhu cầu của mô hình ấy.<br>
<br>
Còn nếu Giáo Hội là sứ giả Tin Mừng, điều ấy sẽ làm nổi rõ Giáo Hội
đang công bố Tin Mừng của Đức Giêsu và đang cất tiếng nói của một
ngôn sứ đối với thế giới. Việc truyền thông được ưa chuộng ở đây là
công bố, có thể dưới nhiều hình thức truyền thông khác nhau, dù vẫn
ưu tiên ủng hộ việc trực tiếp ngỏ lời. Tiếp xúc trực tiếp giữa hai
bên vẫn là đặc điểm của mô hình này. <br>
<br>
Ai truyền thông?<br>
Toàn thể Giáo Hội<br>
Truyền thông điều gì?<br>
Tin Mừng của Đức Giêsu<br>
Bằng cách nào?<br>
Công bố<br>
Chờ đợi điều gì?<br>
Cải đạo<br>
<br>
Mô hình bí tích là mô hình trình bày Giáo Hội như dấu chỉ hay bí
tích của Đức Kitô; Ngài cũng là bí tích của giao ước với Thiên Chúa.
Ở đây, việc truyền thông diễn ra qua các con người và biến cố, vì
Đức Kitô là dấu chỉ bí tích cũng qua con người và việc làm của Ngài.
Là Thân Thể Đức Kitô, Giáo Hội cũng tiếp tục sự hiện diện của Ngài
trong thế giới.<br>
<br>
Ai truyền thông?<br>
Thiên Chúa và Giáo Hội<br>
Truyền thông điều gì?<br>
Sự cứu độ<br>
Bằng cách nào?<br>
Hoạt động có tính bí tích: phụng vụ…<br>
Chờ đợi điều gì?<br>
Thánh hoá <br>
<br>
Giáo Hội cũng có thể theo mô hình hiệp thông hay mô hình cộng đoàn
hoặc mô hình đối thoại. Dulles ghi nhận mô hình này bắt nguồn từ
trong thần học đối thoại với thế giới, một nền thần học khám phá ra
những giá trị trong thế giới và kêu gọi Giáo Hội dấn thân để có thể
học hỏi nơi thế giới. Viễn tượng này có nền tảng sau cùng là do
Thiên Chúa vừa là tạo hoá vừa là vị cứu tinh của thế giới, nên Ngài
có thể nói lời cứu độ trong bất cứ công trình sáng tạo nào của Ngài.
Phương pháp truyền thông được ưa chuộng ở đây là đối thoại, một sự
đối thoại giúp tạo ra sự hiệp thông trong Giáo Hội.<br>
<br>
Ai truyền thông?<br>
Giáo Hội và thế giới<br>
Truyền thông điều gì?<br>
Hiểu biết nhau, tình bạn, sự sống, sự thật <br>
Bằng cách nào?<br>
Đối thoại<br>
Chờ đợi điều gì?<br>
Tôn trọng nhau hơn <br>
<br>
Sau cùng, chúng ta có thể mô tả Giáo Hội là nữ tỳ, vì Giáo Hội noi
gương Đức Kitô, Đấng đã đến không phải để được phục vụ mà là để phục
vụ. Giáo Hội có mặt trong thế giới để làm nữ tỳ bằng cách làm việc
cho người khác, bằng các việc công bình, bác ái… Việc truyền thông
điển hình của mô hình này là làm nhiều hơn nói.<br>
<br>
Ai truyền thông?<br>
Toàn thể Giáo Hội<br>
Truyền thông điều gì?<br>
Yêu thương tha nhân<br>
Bằng cách nào? <br>
Mọi hành động phục vụ<br>
Chờ đợi điều gì?<br>
Đủ thứ khác nhau<br>
<br>
Muốn liên kết các mô hình Giáo Hội khác nhau với các phương cách
truyền thông khác nhau, chúng ta cần phải hiểu Giáo Hội sâu sắc hơn
và kêu gọi Giáo Hội hưởng ứng với nhiều sức truyền thông hơn. Chúng
ta cũng cần phải có một chiến thuật truyền thông với nhiều hướng
khác nhau, để Giáo Hội có thể hiện diện giữa lòng thế giới và hiện
diện với các thành viên của mình bằng nhiều cách khác nhau. Sau
cùng, chúng ta phải sửa chữa một sai lầm về Giáo hội học, là chỉ
bênh vực một hình thức truyền thông nhất định, khiến mọi người hiểu
sai bản chất của Giáo Hội. <br>
<br>
<i>d. Thần học luân lý</i><br>
<br>
Dù đây không phải là mục tiêu duy nhất của mình, nhưng các văn kiện
của Giáo Hội về việc truyền thông cũng đều vạch ra một nền thần học
luân lý, nhờ đó chúng ta có thể phê phán các sản phẩm truyền thông.
Những nguyên tắc rút ra từ các văn kiện này đã gián tiếp cho thấy
còn có một cách khác để đưa viễn tượng truyền thông vào thần học.
Các văn kiện về truyền thông trong 50 năm qua luôn nhắc chúng ta
truyền thông và các phương tiện truyền thông là những quà tặng của
Thiên Chúa18 và vì thế, có liên quan đến con người, tuỳ theo cách
con người sử dụng chúng. Đức Piô XII đã tiếp tục sự suy tư ấy khi
xác định hai vai trò của việc truyền thông: đó là chia sẻ quyền năng
sáng tạo của Thiên Chúa và tham gia vào tiến trình Thiên Chúa tự
truyền thông bản thân mình. Những chân lý thần học này dẫn chúng ta
tới những đòi hỏi luân lý, như rút ra kết luận từ luật tự nhiên vậy.
Hiểu các mô hình truyền thông là quà tặng của Thiên Chúa, cũng như
tham gia vào tiến trình mạc khải của Thiên Chúa, sẽ giúp chúng ta
hiểu rõ hơn mình phải sử dụng các phương tiện truyền thông ấy như
thế nào.<br>
<br>
Những tài liệu gần đây của Giáo Hội còn đi xa hơn khi nhìn nhận khả
năng phạm tội trong việc truyền thông và khi nhắc nhở chúng ta rằng
chính Đức Giêsu đã dạy: truyền thông là một hành vi luân lý19, và vì
thế buộc con người phải hành động cho đúng. Theo viễn tượng luân lý
ấy, việc truyền thông của con người có thể ví như một hành trình đi
từ tháp Baben - nơi thất bại của việc truyền thông đến biến cố Ngày
lễ Ngũ Tuần20. Dù sao, người Công giáo cũng phản ứng như thánh
Phaolô: ở đâu có tội thì ở đó có nhiều ân sủng hơn. Thế nên, người
ta có thể làm việc truyền thông hợp luân lý khi hiểu bản chất của
việc truyền thông và những cách thế khiến việc truyền thông ấy thất
bại. <br>
<br>
Cũng trong viễn tượng ấy, các nhà thần học luân lý được mời gọi hãy
chú ý hơn tới việc truyền thông trong các hoàn cảnh khác nhau. Nếu
các văn kiện Giáo Hội tập trung vào việc truyền thông đại chúng, thì
việc truyền thông ấy thất bại hay băng hoại thường là có kèm theo
những sự sa sút trong luân lý: bất trung trong hôn nhân, tuyệt vọng,
bất công, trộm cắp,… Các nhà thần học luân lý có thể dùng việc
truyền thông làm công cụ phân tích sự việc.<br>
<br>
Với những khảo sát sơ qua trên đây, chúng ta được mời gọi hãy để
việc truyền thông liên hệ với những ngành thần học khác nhau, không
phải như một điều gì đó từ bên ngoài mà là từ bên trong các ngành
thần học ấy. Thí dụ nào - của thần học hệ thống và Kitô học, mạc
khải, hay của Giáo hội học và thần học luân lý - cũng đều cho chúng
ta thấy một phương pháp luận hơi khác, để chúng ta có thể sẵn sàng
chấp nhận rằng việc truyền thông chính là cơ sở để chúng ta hiểu
biết thần học rộng rãi hơn. <br>
<br>
<b>3. Một số hệ quả của việc truyền thông đối với tác vụ linh mục</b><br>
<br>
Thần học truyền thông như vừa trình bày đưa tới ít nhất hai hệ quả
cho tác vụ linh mục, một hệ quả do văn hoá và một hệ quả do các vai
trò của người linh mục trong Giáo Hội và xã hội. Thần học truyền
thông nhấn mạnh tới việc hội nhập văn hoá, nhưng không phải là những
nền văn hoá khu vực hay của các sắc tộc, nhưng là điều mà Đức Gioan
Phaolô II gọi là nền “văn hoá mới” trong thông điệp Sứ vụ Đấng Cứu
Thế (số 37c) hay nền văn hoá của các phương tiện truyền thông. Văn
hoá hiện nay - nhất là đối với giới trẻ - là văn hoá kỹ thuật số,
văn hoá đại chúng, được quảng cáo là dành cho giới trẻ và có thần
học riêng của mình. Như bất cứ nền văn hoá nào, nền văn hoá này cũng
tự đặt ra và trả lời những câu hỏi thần học như: “Được cứu độ nghĩa
là gì?”, “Chúng ta phải làm gì để được cứu độ ?” - những câu hỏi này
rất thường được trả lời trong quảng cáo như phải mua sản phẩm nào,
ăn mặc thế nào, hành động ra sao để được cứu. Cứ theo loại thần học
về quảng cáo và văn hoá phổ biến này, một người có giá trị là tuỳ
theo mức sản xuất và tiêu thụ của người ấy. <br>
<br>
Nền văn hoá thời thượng này cũng đang là văn hoá của các chủng sinh
và của những người mà họ sẽ phục vụ sau này. Thần học truyền thông
bắt họ phải biết nền văn hoá ấy và biết cách bộc lộ chính mình một
cách hiệu quả qua nền văn hoá ấy. Chúng ta sẽ không phục vụ họ chút
nào khi lấy đi của họ cơ hội tiếp xúc với nền văn hoá ấy, khi cho
rằng xem truyền hình là xấu và sử dụng Internet là có hại. Họ cần
phải từ từ học hỏi văn hoá của mình, hiểu biết nền văn hoá ấy để có
thể công bố Lời Chúa cho thế giới một cách có chất lượng hơn.<br>
<br>
Dẫu vậy, tình trạng của các linh mục bây giờ và các linh mục tương
lai còn phức tạp nhiều hơn nữa vì hai sự kiện không thể chối cãi
được sau đây. Trước hết, nền văn hoá phổ biến, có sử dụng các phương
tiện truyền thông, cùng tồn tại bên cạnh các nền văn hoá sắc tộc,
khu vực và truyền thống. Thứ đến, con người trong thế giới hôm nay
đang sống trong nhiều nền văn hoá thay vì chỉ có một, ngay khi con
người tham gia vào các hoạt động khác nhau, mỗi hoạt động diễn tả
một phần con người. Một người đàn ông có thể làm cha, làm thợ ống
nước, làm người Công giáo và làm thành viên cộng đoàn; một người phụ
nữ có thể làm vợ, làm giáo viên, làm huấn luyện viên cho một đội thể
thao của thiếu nhi, làm giáo lý viên và làm nhà hoạt động chính trị.
Mỗi hoạt động xã hội này đều kéo theo một tập hợp các điều mình phải
kỳ vọng và các cách mình phải ứng xử theo văn hoá. Với sự phân cách
ngày càng tăng giữa văn hoá và tôn giáo, tôn giáo chỉ còn là một
hoạt động trong nhiều hoạt động. Các linh mục hôm nay đang phải làm
việc trong tình thế ấy. Họ phục vụ dân chúng sống trong nhiều nền
văn hoá - trong khi họ cũng như toàn thể dân chúng đều bị tác động
bởi cả khối lượng lớn lao của nền văn hoá truyền thông đại chúng. Và
cứ như thế các linh mục phải trở thành người chuyên môn trong lĩnh
vực đa văn hoá này.<br>
<br>
Thứ đến, nền thần học truyền thông kéo người ta chú ý đến các vai
trò đa dạng của người linh mục. Cũng như khoa Giáo hội học muốn đầy
đủ thì phải mô tả Giáo Hội theo nhiều mô hình khác nhau, không có mô
hình nào đủ sức diễn tả tính phức tạp của Giáo Hội, muốn hiểu chức
linh mục đầy đủ người ta cũng cần ý thức các linh mục đang cùng lúc
chu toàn nhiều vai trò khác nhau. Theo truyền thống, chúng ta thường
miêu tả Đức Kitô qua ba vai trò tư tế, ngôn sứ và lãnh đạo. Vì các
vai trò này cho biết con người Đức Kitô, nên các linh mục cũng phải
thi hành nhiều chức năng khác nhau. Dù không dám cho là đầy đủ,
nhưng chúng ta có thể nói linh mục phải là một thừa tác viên bí
tích, một người thánh, một giảng viên, một nhà truyền giảng Tin Mừng
hay nhà truyền giáo, một người đại diện Giáo Hội, một người lãnh đạo
cộng đoàn hay đào tạo cộng đoàn, một đại biểu trong hội đồng nhân
dân. Thần học truyền thông sẽ cho chúng ta biết mỗi vai trò ấy đòi
một cách thức truyền thông khác.<br>
<br>
Vai trò bí tích và nên thánh của người linh mục nhắc chúng ta rằng
người ta không thể tách biệt việc truyền thông xã hội với việc
truyền thông cá nhân. Linh mục sẽ lấy Đức Kitô làm mẫu cho mình
trong việc này - một Đức Kitô đã thống nhất việc làm, lời nói và
cuộc sống. Linh mục được Lời Chúa đào tạo để có thể bày tỏ Lời ấy.
Như trong bí tích Thánh Thể, chúng ta ăn gì thì trở nên cái ấy
(Thánh Augustinô), khi nghe Lời Chúa chúng ta cũng truyền thông
những gì đã nghe. Trên hết, linh mục là người bước theo Đức Kitô -
nhà truyền thông tuyệt vời - “sẽ đồng hoá mình với những người tiếp
nhận sự truyền thông và sẽ trao gửi thông điệp không chỉ bằng lời
nói mà còn bằng toàn bộ cách sống của mình” (Hiệp thông và tiến bộ,
số 11).<br>
<br>
Với vai trò giảng dạy và rao giảng Tin Mừng, linh mục sẽ tận dụng
mọi phương thế mình có được21, từ truyền thông luôn luôn giữa người
với người đến truyền thông qua các phương tiện và công nghệ kỹ thuật
số. Muốn làm thế, người linh mục phải học cách diễn đạt riêng của
mỗi phương thế: nghệ thuật tu từ, hình ảnh, lời nói. Vì khán thính
giả ngày nay ngày càng tinh vi, nên việc truyền thông tôn giáo cũng
phải tinh vi như thế, dù đó là sự tinh vi xuất phát từ sự đơn sơ22.
Sau cùng, linh mục còn đóng vai trò trung gian Lời Chúa và vì thế,
là người “thông dịch” mạc khải. Những hình thức công bố xem ra phù
hợp nhất với các vai trò này.<br>
<br>
Còn trong vai trò lãnh đạo hay đào tạo cộng đoàn, linh mục sẽ mô
phỏng theo sự hiệp thông hay đối thoại của Giáo Hội. Sự hiệp thông
của Ba Ngôi Thiên Chúa thôi thúc họ cũng tạo sự bình đẳng tương tự
trong cộng đoàn Giáo Hội. Việc truyền thông của người linh mục cần
cổ vũ việc tự truyền thông của Thiên Chúa để toàn thể Giáo Hội có
thể tham gia vào giao ước mà Chúa đã gởi đến nơi Đức Kitô Giêsu.
Tinh thần đối thoại ấy cũng sẽ là tinh thần của người linh mục khi
truyền thông với cộng đồng dân sự, trong đó cộng đoàn Giáo hội địa
phương đang hoạt động.<br>
<br>
Thần học truyền thông sẽ chỉ ra cho mọi người thấy nguy cơ thực sự
đối với người linh mục chính là sự lẫn lộn không biết lựa chọn và áp
dụng các kiểu truyền thông khác nhau đi đôi với các vai trò đa dạng
của người linh mục. Lấy mô hình truyền thông bằng công bố thay cho
mô hình truyền thông bằng đối thoại có thể khiến người linh mục bị
cô lập khỏi những người đang cần được lắng nghe và từ đó, có thể làm
hại tới sự hiệp thông mà linh mục đó muốn xây dựng. Cũng thế, lấy mô
hình truyền thông bằng đối thoại thay cho mô hình truyền thông bằng
công bố có thể làm người linh mục không chu toàn nhiệm vụ ngôn sứ
của mình. Khi truyền thông, người linh mục phải biết phân định rõ
ràng.<br>
<br>
<b>4. Một số hệ quả của việc truyền thông đối với đời sống con người</b><br>
<br>
Suy tư thần học về việc truyền thông của con người còn giúp chúng ta
có một cách khác để suy nghĩ về những gì mà thần học truyền thông có
thể đóng góp cho việc đào tạo chủng sinh. Đức Hồng y Carlo Martini
của giáo phận Milano có phác thảo một bài suy niệm Thánh Kinh về
việc truyền thông trong thư mục vụ của ngài năm 199223 mà chúng tôi
sẽ dựa vào để viết ra phần này, Ngài bắt đầu bằng cách đọc lại bản
văn Thánh Kinh theo cách của nhà truyền thông, hay có thể nói đó là
việc truyền thông nhìn dưới ánh sáng Thánh Kinh. (Phương pháp này
khác với phương pháp đã nêu ra ở phần 1.9 trên đây, cho biết chúng
ta sẽ học được gì nơi Thánh Kinh từ phương pháp nghiên cứu sự truyền
thông, chẳng hạn nghiên cứu bản chất truyền khẩu của đoạn Thánh
Kinh,…). Ở đây, chúng ta sẽ xem thử mình sẽ học được gì về việc
truyền thông dựa vào chính sự truyền thông của Đức Giêsu. <br>
<br>
Hồng y Martini bắt đầu với bài tường thuật của Marcô về việc chữa
lành một người vừa không thể nghe cũng không thể nói (vừa điếc vừa
câm) (x. Mc 7,31-37). Marcô cho biết dân chúng đưa người ấy đến với
Đức Giêsu; Ngài tách anh ta ra khỏi đám đông, đặt tay lên tai anh,
lấy nước bọt bôi lên lưỡi anh. Rồi Ngài cầu nguyện và hô lên:
“Ephphatha! Hãy mở ra!” Lưỡi anh buông ra và tai anh mở ra, anh bắt
đầu nói được và ca tụng Thiên Chúa.<br>
<br>
Câu chuyện này có ba phần: tình trạng không thể truyền thông; những
dấu chỉ và cử điệu chữa lành; phép lạ và hiệu quả sau đó. Nếu áp
dụng vào bản thân mình, chúng ta cũng thấy mình đã đi vào từng giai
đoạn như thế.<br>
<br>
Do đâu chúng ta không có khả năng truyền thông? Dù có thể chúng ta
không mất khả năng nghe và nói, nhưng chúng ta cảm thấy như sự
truyền thông của mình bị tắc nghẽn. Hồng y Martini nêu ra bốn nguyên
nhân của tình trạng ấy. (1) Có khái niệm hay ý nghĩ sai về truyền
thông. Vì cứ đi tìm một sự truyền thông hoàn hảo, nên chúng ta đâm
ra thất vọng khi thấy những giới hạn của mình. Chúng ta đã chờ đợi
rất nhiều nơi người khác và lên án họ nên đã có những bước truyền
thông sai lầm. (2) Chúng ta truyền thông là vì muốn chiếm lấy người
khác. Chúng ta truyền thông không phải để chia sẻ, mà để chiếm lấy
và vì thế làm người khác luôn cảnh giác chúng ta, không sẵn sàng
truyền thông. (3) Sử dụng việc truyền thông như một cách cho thấy
ước muốn thống trị người khác. Thay vì tìm sự hiệp thông dưới bất kỳ
hình thức nào, chúng ta lại tìm quyền lực. (4) Vội vàng truyền
thông, đòi trả lời ngay, đòi có quan hệ lập tức với người khác, đòi
một sự thông tin đầy đủ. Những sự ngăn chặn truyền thông ấy ảnh
hưởng lên chúng ta không chỉ trong tư cách cá nhân, mà chúng còn
phản ảnh những triệu chứng của sự truyền thông đang bị ngăn chặn
trong Giáo Hội hay trong một tổ chức nào khác. <br>
<br>
Ở phần hai của câu chuyện, chúng ta thấy những dấu chỉ và cử điệu
khai thông của Đức Giêsu. Đức Giêsu dẫn người ấy ra khỏi đám đông và
khi như làm thế, Ngài cho anh thấy sự tôn trọng của Ngài dành cho
anh. Ngài chữa bệnh không nhằm để làm những dấu lạ cho dân chúng
thán phục. Nhưng bước đầu tiên của việc chữa lành, cũng là bước đầu
tiên để phá vỡ bế tắc truyền thông là kính trọng nhau. Kế đó, Đức
Giêsu tiếp xúc với người bệnh bằng đủ mọi hình thức truyền thông
đang có, tượng trưng qua việc đụng chạm đến tai và lưỡi của anh. Rồi
Ngài đọc một lời, tượng trưng cho khả năng truyền thông đã được phục
hồi. Qua những dấu chỉ và cử điệu chữa lành ấy, Đức Giêsu đã làm
cùng một cách như Thiên Chúa tự truyền thông: kính trọng và yêu mến,
tiếp xúc hay đi bước trước, ngỏ lời với đương sự.<br>
<br>
Trong phần ba - tức là phép lạ - chúng ta không những thấy sự lành
bệnh mà còn thấy những hiệu quả của việc ấy: đương sự quay lại với
cộng đoàn và được hội nhập hoàn toàn vào cộng đoàn. Đương sự cùng
với người khác ca ngợi Chúa. Đây cũng là một khuôn mẫu cho chúng ta
làm việc truyền thông, đó là liên kết việc phục vụ con người với
việc phục vụ Chúa. <br>
<br>
Hồng y Martini ghi nhận rằng muốn sự truyền thông của con người được
tốt đẹp thì phải bắt chước việc Thiên Chúa tự truyền thông bản thân
mình. Thiên Chúa đã chuẩn bị việc truyền thông ấy trong thinh lặng
của Ngài, rồi dần dần trải ra trong dòng lịch sử nhân loại. Đó là
một việc truyền thông tiệm tiến và diễn ra trong thế biện chứng hết
mạc khải lại che giấu và cứ thế, vì truyền thông là một việc không
bao giờ chấm dứt. Việc truyền thông của Thiên Chúa vừa có tính cá
nhân vừa có tính liên vị, vì nó liên hệ đến mỗi người chúng ta, ngỏ
lời với chính mỗi người chúng ta. Việc truyền thông của chúng ta
cũng phải bắt chước như thế. Nó phải được cưu mang trong thinh lặng,
từ chỗ biết mình và hiểu mình dần dần. Chúng ta cần phải nhìn nhận
truyền thông là một việc làm không nóng vội, cho cả hai phía. Chúng
ta cần có thời gian để biết mình và hiến mình, chúng ta cũng cần cho
người khác thời gian. Truyền thông không bao giờ được có ngay, xong
ngay. Vì được tạo dựng trong thời gian, nên chúng ta cũng cần nhớ
rằng mọi sự truyền thông đều có hai mặt vừa sáng vừa tối - và đây là
điều bình thường, không thể làm chúng ta thất vọng. Vì truyền thông
bao gồm việc đối thoại hay trò chuyện giữa các thành viên hay đối
tác, nên lắng nghe chính là một khía cạnh rất căn bản. <br>
<br>
Giải thích đoạn Thánh Kinh trên đây theo thần học truyền thông đã
đem lại một số hệ quả cho đời sống chúng ta và cho việc đào tạo
chủng sinh. Việc truyền thông của cá nhân hay của Giáo Hội phải luôn
được chuẩn bị trong thinh lặng, bằng cách lắng nghe tiếng Chúa và
lắng nghe nhau. Chúng ta phải cho người khác được tự do, gác sang
một bên những ước muốn thống trị và quyền lực. Ở đây, cũng như ở mọi
chỗ khác, Đức Kitô luôn luôn là khuôn mẫu của chúng ta. Ngài không
bám riết vào thiên tính của mình, nhưng đã trút bỏ tất cả và mang
lấy bản tính của người nô lệ (x. Pl 2,7). Truyền thông là một việc
diễn biến trong thời gian, không bao giờ xong hoàn toàn. Nó kêu gọi
chúng ta phải kiên nhẫn và biết cảm thông. Một khi đã được tháo gỡ
khỏi mọi trở ngại, việc truyền thông cũng đòi chúng ta phải hiểu
mình và hiểu biết người khác.<br>
<br>
Như thế, trong việc đào tạo truyền thông xã hội cần phải có nhiều
bước thực hành, như chúng ta đã thấy qua bài khảo luận này. Chúng
tôi chỉ xin liệt kê ra đây. (1) Chúng ta phải học hỏi các nền văn
hoá của cộng đồng bằng cách lắng nghe họ. (2) Cần phải có kinh
nghiệm về những nền văn hoá ấy để (3) chúng ta có thể tìm ra các
phương cách diễn tả thích hợp nhất. (4) Cố gắng nhận ra đâu là những
trở ngại cho việc truyền thông khi xem xét mình và xem xét tình cảnh
của chúng ta. (5) Học hỏi những phương cách truyền thông có sẵn. Ở
đây, chúng ta cần nhìn nhận các phương thế truyền thông không hề vô
thưởng vô phạt. Các phương thế ấy là những dụng cụ vô cùng mềm dẻo,
chúng mang theo những giá trị đặc biệt có thể ảnh hưởng nhiều hay ít
trên cách chúng ta làm việc truyền thông. Chẳng hạn, việc truyền
thông đại chúng có thể củng cố và giải thích tại sao người ta lại có
ý thức về quyền lực tập trung - nghĩa là quyền lực của một người có
thể ngỏ lời với nhiều người. Việc truyền thông ấy có thể gây hiểu
sai về sự hiệp thông và cộng đồng, nhưng cũng có thể giúp tạo ra một
loại cộng đồng đặc biệt nào đó. (6) Chúng ta luôn sẵn sàng ngỏ lời
xin giúp đỡ, xin người khác phản hồi lại để có thể biết họ và trong
khi biết họ, chúng ta sẽ yêu mến họ. (7) Cuối cùng, cần phải biết
thông điệp mà mình muốn truyền đi. Chúng ta sẽ làm việc này thông
qua cầu nguyện và suy niệm Thánh Kinh, thông qua việc Thiên Chúa tự
truyền thông mình nơi Đức Kitô. Để đào tạo truyền thông xã hội và
xây dựng nền thần học truyền thông, chúng ta cần nhìn nhận Đức Kitô
là sự truyền thông viên mãn, Đức Kitô chính là trung tâm của việc
truyền thông. Thiên Chúa tạo dựng chúng ta theo hình ảnh của Ngài,
theo hình ảnh Thiên Chúa Ba Ngôi, là hình ảnh có sức truyền thông và
thông qua việc truyền thông ấy, sẽ đem lại sự sống, ơn cứu độ cho
tất cả mọi người.<br>
<br>
Đức Giáo Hoàng Gioan-Phaolô II, trong Tông Huấn hậu Thượng Hội Đồng
Giám Mục “Pastores dabo vobis” đã nói đến cội nguồn của thừa tác vụ
linh mục là mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi, mục đích của thừa tác vụ
linh mục là phục vụ Giáo Hội và cứu độ thế giới với hướng đi truyền
giáo thật bao la, chứ không hạn hẹp, và quy chiếu về Chúa Kitô là
chìa khoá tuyệt đối cần thiết để có thể thấu hiểu thực tại linh mục
(PDV 12).Trong ba chức năng: rao giảng, thánh hóa và lãnh đạo của
linh mục, Tông huấn “Pastores dabo vobis” đã nói đến chức năng đầu
tiên của linh mục là rao giảng Tin Mừng: “Trước hết, linh mục là
thừa tác viên Lời Chúa. Linh mục được hiến thánh và sai đi để loan
báo Tin Mừng Nước Trời cho mọi người, mời gọi mọi người vâng phục
đức tin và hướng dẫn các tin hữu, để mỗi ngày họ một hiểu biết và
thông hiệp sâu xa hơn vào mầu nhiệm của Thiên Chúa, đã được Đức Kitô
mạc khải và truyền đạt cho chúng ta” (PDV 26).<br>
<br>
Để trở nên thừa tác viên Lời Chúa trong thời đại kỹ thuật số, xin<br>
cùng nhau đọc lại một lời kinh thật đẹp của thánh Augustinô xin cho
được ơn hiểu biết Lời Chúa trong cuốn Confesssion: “Xin hãy để Lời
Chúa nên nguồn vui thanh khiết cho con. Xin đừng để con bị lừa lọc
trong đó hay lấy đó mà lừa lọc người khác…Xin lắng nghe hồn con và
nghe tiếng than thở từ vực sâu kêu lên đến Chúa…Xin rộng ban cho con
thời giờ để suy ngắm các điều kín nhiệm của luật Chúa và đừng đóng
luật Chúa khi con gõ tìm. Vì chẳng phải vô cớ mà Chúa đã muốn có
ngần ấy trang sách viết đầy dẫy những điều kín nhiệm như thế… Ôi lạy
Chúa, xin hoàn tất việc Chúa nơi con và soi sáng những trang ấy cho
con ! Này đây tiếng Chúa là niềm hoan lạc của con; tiếng Chúa vượt
qua mọi niềm vui. Xin ban cho con điều con yêu mến… Đừng khước từ
thứ cỏ rả của Chúa khi nó đang đói khát Chúa… Chớ gì các điều bí
nhiệm trong Lời Chúa mở toang cho con khi con gõ tìm. Con nài xin
Chúa nhờ Đức Giêsu Kitô, …nơi Ngài tàng chứa mọi kho tàng khôn ngoan
và thông hiểu (Cl 2,3). Đây là những kho tàng mà con tìm trong các
sách của Chúa”.<br>
<br>
Nguyện xin Mẹ Thiên Chúa và Cha Sở Thánh xứ Ars bảo trợ cho anh em
linh mục chúng con trong thừa tác vụ Lời Chúa giữa thời đại kỹ thuật
số hôm nay. <br>
<br>
<i>Lm Giuse Nguyễn Hữu An</i><br>
<br>
<u>Chú thích: </u><br>
1 Paul Soukup, SJ., Francis Buckley và David C. Robinson, The
Influence of Information Technologies on Theology, Theological
Studies, May 2001. <br>
2 Bernard Cohen, The Press and Foreign Policy (Princeton: Princeton
University Press, 1963) 13. <br>
3 James W. Carey, A cultural approach to communication, in lại trong
J.W.Carey, Communication as Culture: Essays on the Media and Society
(Boston: Unwin Hyman, 1989) 13-16.<br>
4 Horace Newcomb và Paul Hirsch, Television as a cultural form.
Trong H. Newcomb (ed.), Television: The Critical View (4th. Ed.)
(New York: Oxford University Press, 1987), 455-470.<br>
5 Joshua Meyrowitz, No Sense of Place: The Impact of Electronic
Media on Social Behaviour (New York: Oxford University Press, 1985).<br>
6 Walter J. Ong., S.J., Orality and Literacy: The Technologizing of
the Word (London: Methuen, 1982).<br>
7 Walter J. Ong, S.J., Communication medi a and the state of
theology. Cross Currents, 19 (1969) 462-480.<br>
8 Đức Piô XII, Miranda Prorsus, số 25.<br>
9 Hội đồng Giáo hoàng về Truyền thông Xã hội, Hiệp thông và tiến bộ,
số 8 <br>
10 X. Hồng y Martini. Effata, Apriti. Communicating Christ to the
Word: The pastoral Letters Effata, Apriti and Il Lembo del Mantello.
Bản dịch của Thomas Lucas, S.J. Kansas City: Sheed & Ward, 1992, tr.
1-76.<br>
11 Hội đồng Giáo hoàng, Hiệp thông và tiến bộ, số 11.<br>
12 Gerard Manley Hopkins. As Kingfishers Catch Fire (bài thơ 34).
Văn vần và văn xuôi của Gerard Manley Hopkins. Ed. W.H. Gardner.
London: Penguin, 1988: tr. 51.<br>
13 Paul Watzlawick, Janice Beavin và Don Jackson. The Pragmatics of
Human Communication: A study of interactional patterns, pathologies
and paradoxes, New York: Norton, 1967.<br>
14 Ulbaldo Stecconi. Peirce’s Semiotics for Translation. Fidelity
and Translation: Communicating the Bible in New Media. Eds. Paul A
Soukup và Robert Hodgson. Franklin, WI: Sheed & Ward, New York:
American Bible Society, 1999, tr. 249-261.<br>
15 Avery Dulles, The Church is Communications. Multimedia
International 1 (1971).<br>
16 Dulles, Avery. Vatican II và truyền thông. Trong Latourelle, R.
(ed.) Vatican II: Assessment and Perspective, ba tập. New York:
Paulist Press, 1989, tr. 529.<br>
17 Avery Dulles, Models of the Church, Garden City, NY: Doubleday,
1987: tr. 34-102. Xuất bản lần đầu 1974.<br>
18 Đức Piô XI, Vigilanti Cura, số 9; Đức Piô XII, Miranda Prosrsus,
số 24; Vatican II, Inter Mirifica, số 1.<br>
19 Hội đồng Giáo hoàng về Truyền thông Xã hội, Đạo đức trong truyền
thông, số 32.<br>
20 Đạo đức trong truyền thông, số 3. <br>
21 X. Đức Phaolô VI, Loan báo Tin Mừng, số 41.<br>
22 Augustinô bàn về vấn đề này trong tập IV De Doctrina Christiana
bằng cách sử dụng tu từ học, là công nghệ truyền thông hàng đầu thời
ấy.<br>
23 Martini, OP. cit., đặc biệt tr. 16-19.<br>
(Trích trong “THẦN HỌC TRUYỀN THÔNG, nền tảng cho việc đào tạo
truyền thông xã hội”.Tác giả F. Paul A. Soukup, S.J.Trưởng khoa Phân
khoa Truyền thông của đại học Santa Clara, tại Santa Clara,
California, Hoa Kỳ. Đăng trong tạp chí Social Communication
Formation in Priestly Ministry, do Franz-Josef Eilers, svd. chủ
biên, Logos Publications, Inc. xuất bản tại Manila 2002; Lm Phêrô
Đặng Xuân Thành chuyển dịch.) </div>
Lm Giuse Nguyễn Hữu An </font>
</td>
</tr>
<tr>
<td>
<p align="right"><i>Nguồn: vietcatholic.org/News</i></td>
</tr>
<tr>
<td>
<p align="center">
<a target="_top" href="../../../index.htm">
<img src="http://tinmung.net/tinmungLOGO/homepage.gif" width="100" border="0" height="34"></a></td>
</tr>
</table>
</body>
</html>