File "LinhmuctruyenthongloiChua.htm"

Full path: E:/sites/Single15/tinmung2007/webroot/SUYNIEM_HANGTUAN/Suy-Niem-Chuyen-De/NamLinhMuc/tin moi ve nam linh muc/LinhmuctruyenthongloiChua.htm
File size: 91.88 KiB (94090 bytes)
MIME-type:
Charset: utf-8

Download   Open   Back

<html>

<head>
<style>
<!--
/* Style Definitions */
 div.MsoNormal
	{mso-style-parent:"";
	margin-bottom:.0001pt;
	font-size:12.0pt;
	font-family:"Times New Roman";
	margin-left:0mm; margin-right:0mm; margin-top:0mm}
 li.MsoNormal
	{mso-style-parent:"";
	margin-bottom:.0001pt;
	font-size:12.0pt;
	font-family:"Times New Roman";
	margin-left:0mm; margin-right:0mm; margin-top:0mm}
 p.MsoNormal
	{mso-style-parent:"";
	margin-bottom:.0001pt;
	font-size:12.0pt;
	font-family:"Times New Roman";
	margin-left:0mm; margin-right:0mm; margin-top:0mm}
p
	{margin-right:0mm;
	margin-left:0mm;
	font-size:12.0pt;
	font-family:"Times New Roman";
	}
@page Section1
	{size:210.0mm 842.0pt;
	margin:20.0mm 20.0mm 20.0mm 20.0mm;
	mso-header-margin:36.0pt;
	mso-footer-margin:36.0pt;
	mso-paper-source:0;}
div.Section1
	{}
-->
</style>
<meta http-equiv="Content-Language" content="en-us">
<meta http-equiv="Content-Type" content="text/html; charset=utf-8">
<title>Model</title>
<base target="main">
</head>

<body>

<table border="0" width="500" cellspacing="20" style="border-color: #FFFFFF; font-family:Times New Roman; font-size:12pt" bgcolor="#FFFFE6">
	<!-- MSTableType="nolayout" -->
	<tr>
				<td bgcolor="#bdf3fd" height="29">
				<p style="text-align: center"><font size="4" color="#FF0000"><b>
				NĂM LINH MỤC</b></font></td>
			</tr>
	<tr>
		<td>
		<p align="center"><b><font size="4" color="#0000FF">LINH MỤC TRUYỀN 
		THÔNG LỜI CHÚA</font></b></td>
	</tr>
	<tr>
		<td align="justify">
		<div class="contents">
			<font size="4">Sứ điệp Ngày Quốc Tế Truyền Thông thứ 43, Đức Thánh 
			Cha Biển Đức XVI đặc biệt mời gọi <b>người trẻ </b>trở thành các 
			người loan báo Tin Mừng và các giá trị Kitô trong thế giới vi tính.<br>
			<br>
			<img border="0" src="PICTURE/LinhmucTruyenthong.jpg" width="125" height="129" align="left">Ngày 
			24-1-2009 lễ thánh Phanxicô de Sales bổn mạng giới truyền thông công 
			giáo, Đức Thánh Cha đã cho công bố sứ điệp Ngày Quốc Tế Truyền Thông 
			thứ 43 tựa đề ”Kỹ thuật mới, tương quan mới. Thăng tiến một nền văn 
			hóa tôn trọng, đối thoại và thân hữu”.<br>
			Trong sứ điệp Đức Thánh Cha khẳng định rằng các phương tiện kỹ thuật 
			truyền thông tối tân ngày nay là một món qùa qúy báu cho nhân loại, 
			vì chúng thăng tiến sự cảm thông và tình liên đới giữa con người với 
			nhau, đặc biệt đối với các cộng đoàn và các người cần được trợ giúp 
			và dễ bị tổn thương nhất. Hệ thống vi tinh liên mạng và điện thoại 
			di động cho phép con người liên lạc với nhau và trao đổi tin tức 
			hình ảnh trong nháy mắt. Chúng giúp con người đối thoại với nhau, 
			sống tình yêu thương hiệp thông và thân hữu giữa các thành phần 
			trong đại gia đình của Thiên Chúa. Chúng cũng giúp con người kiếm 
			tìm chân thiện mỹ, thăng tiến phát triển, công bằng hòa bình, các 
			quyền con người, việc tôn trọng sự sống và thiên nhiên, cũng như 
			tinh thần đồng trách nhiệm và sự cộng tác giữa các cá nhân và các 
			dân tộc. Chúng giúp con người chia sẻ trao đổi các giá trị hay đẹp 
			giữa các nền văn hóa và qua đó củng cố sự cảm thông, tinh thần đại 
			đồng và lòng khoan nhượng. Dĩ nhiên cần phải cẩn thận trong việc sử 
			dụng và có óc phán đoán phân định lành mạnh, vì các phương tiện kỹ 
			thuật truyền thông tân tiến này cũng có thể bị dùng cho các mục tiêu 
			xấu xa tha hóa con người. Chúng cũng có nguy cơ khiến cho người trẻ 
			rơi vào thế giới ảo ảnh, bị cô lập và cắt đứt với thực tại cuộc 
			sống.<br>
			<br>
			Dịp Thượng Hội Đồng Giám Mục Thế Giới bàn về Lời Chúa vừa qua, đã có 
			lời đề nghị Đức Thánh Cha nên thiết lập một “tư trang” (blog) để 
			giao tiếp trên mạng. Điều ấy cho thấy Liên mạng được coi là quan 
			trọng như thế nào trong việc phúc âm hóa xã hội ngày nay. Và điều ấy 
			càng đúng khi Đức Đương Kim Giáo Hoàng thực hiện lời đề nghị ấy.<br>
			<br>
			Toà thánh phát động một kênh trên YouTube vào ngày 23 tháng 1 năm 
			2009 tại địa chỉ:www.youtube.com/vatican. <br>
			<br>
			Theo Cha Lombardi, Đức Thánh Cha là người đầu tiên ủng hộ sáng kiến 
			này. Dự án đã được chuẩn bị hơn một năm rưỡi kể từ lúc Trung Tâm 
			Truyền Thanh và Truyền Hình Vatican bắt đầu công bố các trích đoạn 
			video trên các trang mạng của mình để cho các đài truyền hình và các 
			trang mạng sử dụng. Theo cha, khắp nơi trên thế giới, có những người 
			chú tâm tới các sứ điệp và các đề nghị của một thẩm quyền cao về 
			luân lý, như Đức Giáo Hoàng và nói chung Giáo Hội Công Giáo chẳng 
			hạn, liên quan tới các vấn đề lớn lao của thời đại. Đó chính là lý 
			do khiến ta chọn YouTube làm một cái bục thích đáng để hiện diện 
			trên Mạng, trong một đồi Areopagus vĩ đại (nơi Thánh Phaolô giảng 
			Đạo tại Athens) của ngành truyền thông thế giới hiện nay, và hiện 
			diện cách thường xuyên, đem lại một điểm quy chiếu đáng tin, và tiếp 
			tục vượt qua những rời rạc đầy rẫy trong cách thông tin về Đức Giáo 
			Hoàng và Tòa Thánh ở trên mạng, vuợt qua một cách nhẹ nhàng, không 
			trịnh trọng. <br>
			<br>
			Kênh này cũng giúp người ta khả năng gửi điện thư tới Tòa Thánh. Các 
			điện thư này sẽ được văn phòng của Cha Lombardi tiếp nhận. Ngài cũng 
			cho biết việc phát động kênh truyền thông này mới chỉ là bước đầu. 
			Với sự cộng tác của Google, Toà Thánh còn dự trù nhiều khai triển và 
			cải thiện khác cả về nội dung lẫn kỹ thuật. <br>
			<br>
			Năm nay 2010, ĐTC Biển Đức XVI gởi sứ điệp truyền thông đến <b>các 
			linh mục</b>. “<i>Thật thích hợp được lồng vào trong hành trình của 
			Năm Linh Mục, và đặt lên hàng đầu suy tư về một lãnh vực mục vụ rộng 
			lớn và tế nhị như lãnh vực của truyền thông và của thế giới kỹ thuật 
			số, trong đó người linh mục được ban tặng những khả năng mới mẻ thực 
			thi thừa tác vụ phục vụ Lời Chúa của mình</i>”. Ngài mời gọi các 
			linh mục tận dụng các phương tiện truyền thông tân tiến, đặc biệt là 
			Internet, để làm việc mục vụ và rao giảng Lời Chúa. Ngài bày tỏ lập 
			trường trên đây trong Sứ điệp công bố ngày 23-1-2010, nhân Ngày Thế 
			Giới truyền thông xã hội lần thứ 44 sẽ được cử hành vào chúa nhật 
			16-5 năm nay về đề tài ”Linh mục và việc mục vụ trong thế giới kỹ 
			thuật số (digital): các phương tiện truyền thông mới phục vụ Lời 
			Chúa”.<br>
			<br>
			Trong sứ điệp, ĐTC nói đến nghĩa vụ ưu tiên của LM là rao giảng Chúa 
			Kitô, Lời của Thiên Chúa nhập thể làm người, và thông truyền ơn 
			thánh đa dạng của Thiên Chúa, mang lại ơn cứu độ qua các bí tích. 
			Ngài cũng khẳng định rằng<i>: Để mang lại câu trả lời thích hợp cho 
			những câu hỏi giữa lòng những thay đổi lớn về văn hóa, rất được giới 
			trẻ cảm nghiệm thấy, những con đường thông tin do các khám phá kỹ 
			thuật mở ra ngày nay là một phương thế không thể thiếu được. Thực 
			vậy, thế giới kỹ thuật số, mang lại những phương tiện giúp người ta 
			có khả năng diễn tả hầu như vô tận, đang mở ra những viễn tượng quan 
			trọng và thực hiện lời nhắn nhủ của thánh Phaolô: ”Khốn cho tôi nếu 
			tôi không rao giảng Tin Mừng” </i>(1 Cr 9,16).<br>
			<br>
			ĐTC khuyến khích các linh mục hãy nắm giữ chức năng lãnh đạo cả 
			trong những cộng đoàn thuộc ”thế giới kỹ thuật số”, sử dụng cả các 
			Blog và Video trực tuyến để rao giảng Tin Mừng và giảng dạy giáo lý. 
			Ngài cũng nhắc nhở rằng: <i>Các linh mục được yêu cầu có khả năng 
			hiện diện trong thế giới kỹ thuật số, với lòng trung thành liên lỷ 
			đối với sứ điệp Tin Mừng, để thực thi vai trò linh hoạt cộng đoàn; 
			ngày nay họ lên tiếng qua bao nhiêu ”tiếng nói” nảy sinh từ thế giới 
			kỹ thuật số, và rao giảng Tin Mừng, bằng cách sử dụng các phương 
			tiện truyền thông mới mẻ, bên cạnh những phương tiện truyền thống. 
			Qua các phương tiện tối tân này, linh mục có thể phổ biến đời sống 
			Giáo Hội và giúp con người ngày nay khám phá tôn nhan Chúa Kitô... 
			Cả trong thế giới kỹ thuật số, cần làm sao để sự quan tâm yêu thương 
			của Thiên Chúa trong Chúa Kitô đối với chúng ta không phải là một 
			điều quá khứ, hay là một lý thuyết uyên bác, nhưng là một thực tại 
			rất cụ thể và thời sự. Thực vậy, việc mục vụ trong thế giới kỹ thuật 
			số phải có thể tỏ cho con người ngày nay, và cho nhân loại lạc hướng 
			ngày nay, biết rằng ”Thiên Chúa ở gần bên, và trong Chúa Kitô, tất 
			cả chúng ta thuộc về nhau</i>”. (Biển Đức 16, Dv với giáo triều 
			Roma, Oss.Rom. 21-22/12/2009, p.6).<br>
			<br>
			Sau cùng, ĐTC kêu gọi đưa việc huấn luyện về các kỹ thuật truyền 
			thông tân tiến vào trong việc đào tạo linh mục. Các kiến thức thực 
			hành này phải được liên kết với sự chuẩn bị chắc chắn về thần học và 
			tu đức. (SD 23-1-2010). (Lm G.Trần Đức Anh OP,CN, 24/01/2010)<br>
			<br>
			Đức Thánh Cha cũng đã từng mời gọi <b>các Giám mục </b>sử dụng các 
			phương tiện truyền thông xã hội như không gian của sứ vụ. Nhân Ngày 
			Thế giới Truyền thông (Chúa nhật 20/5/2007) với chủ đề ”Trẻ em và 
			những phương tiện truyền thông: một thách thức cho sự giáo dục”, ĐGM 
			John Foley, chủ tịch Bộ Truyền thông Xã hội đã trả lời những câu hỏi 
			của thông tấn Fides tại Aparecida, nơi diễn ra Hội nghị các Giám mục 
			châu Mỹ La tinh lần thứ năm.<br>
			<br>
			<i>Câu hỏi: Trong bài diễn văn khai mạc Hội nghị Aparecida, ĐGH 
			Bênêđictô XVI đã mời gọi một cách rõ ràng các giám mục xử dụng các 
			phương tiện truyền thông xã hội như không gian của sứ vụ. Đâu là vai 
			trò của truyền thông trong văn hoá hiện đại, thưa ĐC ?</i><br>
			<br>
			ĐGM Foley: Văn hoá hiện đại không thể hiểu được nếu người ta không 
			biết hiện thực của truyền thông. Học thuyết Giáo Hội rất rõ ràng về 
			đề tài này ngay từ Công đồng Vatican II và trở nên mạnh mẽ đặc biệt 
			với ĐGH Gioan Phaolô II và hiện nay với ĐGH Bênêđictô XVI. Chúng ta 
			được mời gọi phải ý thức rằng những người mà sứ điệp của Đức Kitô 
			nhắm tới hôm nay, họ suy nghĩ và hiểu biết thế giới theo thể loại mà 
			các phương tiện truyền thông cung cấp, đôi khi trong một mức độ to 
			lớn hơn là những điều đến từ gia đình, trường học, đảng phái chính 
			trị hay các Giáo Hội. Chúng ta không thể nghĩ đến một sứ vụ hữu hiệu 
			nếu không đi theo thực tại ăn sâu trong não trạng của con người hiện 
			đại này.<br>
			<br>
			<i>Câu hỏi: Giáo Hội châu Mỹ La tinh trông cậy nhiều vào các phương 
			tiện này để quảng bá sứ điệp của mình. ĐC gợi ý gì với các giám mục 
			để lợi dụng tối đa những không gian văn hoá này ?</i><br>
			<br>
			ĐGM Foley: Chính các giám mục châu Mỹ La tinh đã bảo vệ và khuyến 
			khích ngày càng nhiều các phương tiện truyền thông trên lục địa với 
			nhiều cố gắng và can đảm. Chắc chắn các ngài biết dùng phương tiện 
			lớn này, nhưng có lẽ phải cần liên kết nó với công việc truyền giáo 
			hơn thôi, để truyền thông và mục vụ không phải là hai thế giới riêng 
			biệt, nhưng truyền thông hữu hiệu củng cố tất cả các phần trong công 
			việc của chúng ta và tạo nên những không gian truyền thông. Chúng ta 
			đừng quên rằng truyền giáo tự nó là một sự truyền thông ! <br>
			<br>
			<i>Câu hỏi: Thưa ĐC, ĐC có nghĩ là các linh mục, các tu sĩ nam nữ và 
			các giáo dân mục vụ đã được chuẩn bị để đối đầu với thách thức của 
			nền văn hoá truyền thông trong thời đại này không ? </i><br>
			<br>
			ĐGM Foley: Trong hội nghị của Bộ Truyền thông Xã hội, nhu cầu thiết 
			lập một cơ quan thụ huấn trong lãnh vực này đã được mang ra ánh 
			sáng. Tất cả đã được khuyến khích đề nghị loại sáng kiến này để các 
			nhân viên mục vụ, nhất là các linh mục và các tu sĩ hiểu biết những 
			chìa khoá của nền văn hoá mới này và biết sử dụng hữu hiệu các loại 
			ngôn ngữ của nó, nhất là trong giới trẻ và các em nhỏ. Chúng ta đặc 
			biệt phải nhắm đến chúng, đó là điều mà ĐGH đã nhắc nhở trong sứ 
			điệp của ngài…(Thông tấn Zenit, Lang Biang dịch).<br>
			<br>
			Như thế, trong những năm qua Đức Thánh Cha đã gởi sứ điệp truyền 
			thông mời gọi các Giám mục rồi giới trẻ và linh mục sử sụng các 
			phương tiện truyền thông phục vụ Lời Chúa.<br>
			<br>
			Hiệu năng của thừa tác vụ Lời Chúa tùy thuộc thiết yếu vào sự trợ 
			giúp của Chúa, nhưng nó cũng đòi hỏi sự hoàn hảo thuộc bình diện 
			nhân loại ở trình độ cao nhất có thể. Ngày 19.3.1999, Bộ Giáo Sĩ đã 
			đưa ra tài liệu“Linh mục và ngàn năm Kitô giáo thứ ba: Thầy dạy Lời 
			Chúa, Thừa tác viên bí tích và người lãnh đạo cộng đoàn”, nói đến 
			một số điều kiện để rao giảng Lời Chúa có kết quả: Việc giảng dạy 
			đòi hỏi linh mục phải đặc biệt lưu ý đến tầm quan trọng của sự chuẩn 
			bị xa. Việc chuẩn bị này được cụ thể hóa qua việc học hỏi và tìm tòi 
			những gì có thể giúp các linh mục trong khi chuẩn bị. Là thầy dạy 
			Lời Chúa, linh mục phải có tính nhạy cảm mục vụ để nhận thức các vấn 
			đề thế giới ngày nay đang quan tâm và còn có thể đề ra những giải 
			pháp cho họ, như Sắc Lệnh “về thừa tác vụ và đời sống linh mục” của 
			Công Đồng Vatican II đã nêu ra: “Ngoài ra, để trả lời thỏa đáng 
			những vấn đề do người thời nay nêu lên, các linh mục phải hiểu cho 
			thấu đáo những tài liệu của Huấn Quyền, nhất là của các Công Đồng và 
			của các Đức Giáo Hoàng, cũng như phải tham khảo những tác giả thần 
			học thời danh nhất và đã được thừa nhận” cũng như “sách Giáo Lý Hội 
			Thánh Công Giáo”.<br>
			<br>
			Truyền thông là một vấn đề thời đại. Đức Thánh Cha mời gọi: <i>Các 
			linh mục rất quý mến, tôi lặp lại lời mời gọi nắm bắt cách khôn 
			ngoan những cơ hội đặc biệt mà truyền thông hiện đại mang lại. Xin 
			Chúa biến anh em thành những người loan báo say mê Tin Mừng ngay cả 
			trong “công trường” do các phương tiện truyền thông hiện nay tạo nên</i>.<br>
			<br>
			Sử dụng truyền thông để rao giảng Lời Chúa, các linh mục cần dựa vào 
			nền tảng thần học truyền thông. Linh mục Paul A. Soukup, S.J.Trưởng 
			khoa Phân khoa Truyền thông của đại học Santa Clara, tại Santa 
			Clara, California, Hoa Kỳ, đã viết bài khảo luận “Thần học truyền 
			thông, nền tảng cho việc đào tạo truyền thông xã hội”. Ngài trình 
			bày ảnh hưởng của việc truyền thông trong Giáo Hội và xã hội;liệt kê 
			một số hệ quả của việc truyền thông đối với thần học; liệt kê một số 
			hệ quả của việc truyền thông đối với tác vụ linh mục; liệt kê một số 
			hệ quả của thần học truyền thông đối với đời sống con người.<br>
			<br>
			<b>1. Ảnh hưởng của việc truyền thông</b><br>
			<br>
			Trong vòng 20 năm qua, chúng ta đã chứng kiến sự phát triển nhanh 
			chóng của các phương tiện truyền thông trên hầu hết các khu vực của 
			toàn thế giới. Nhờ phát minh được con chíp cực nhỏ mà các thiết bị 
			viễn thông trở nên rẻ, nhỏ và dễ sử dụng hơn. Được sự hỗ trợ của các 
			hệ thống truyền thông đang phát triển trên khắp thế giới, các phương 
			tiện truyền thông này đã liên kết được với nhau, nối kết mọi người 
			và mọi địa điểm thông qua các mạng thông tin toàn cầu (Internet), 
			các mạng truyền thanh và các mạng truyền hình. Song song với sự phát 
			triển cơ sở hạ tầng ấy, người ta cũng thấy việc thương mại hoá các 
			mạng và các thiết bị tăng lên, kéo theo các cơ chế lập trình, quảng 
			cáo và cả một nền văn hoá truyền thông đại chúng. Dựa trên những gì 
			các nhà nghiên cứu đã khám phá về ảnh hưởng của các phương tiện 
			truyền thông tương đối “cũ” như truyền hình, chúng ta có thể biết 
			được tại sao một thế giới truyền thông đang phát triển đã tác động 
			lên xã hội loài người nói chung và thần học nói riêng bằng cách điểm 
			qua chín lĩnh vực này1.<br>
			<br>
			<i>a. Các nguồn kiến thức</i><br>
			<br>
			Con người hôm nay có thể tiếp cận một lượng thông tin khổng lồ về 
			thế giới qua các bản tin từng giờ hay nhanh hơn nữa, các bài tường 
			thuật từ mọi ngõ ngách trên thế giới, những bài bình luận và thảo 
			luận từ vấn đề này tới vấn đề khác. Trong quá khứ, người ta chỉ biết 
			những gì mình đã trải nghiệm, những gì hàng xóm nói và những gì nghe 
			được tại các nơi tụ tập đông người như nhà thờ hay quán rượu. Còn 
			bây giờ, chúng ta có kinh nghiệm gián tiếp về một thế giới rộng lớn 
			hơn nhiều - thế giới được truyền thông. Chúng ta càng ngày càng thu 
			thập được nhiều kiến thức qua các mạng truyền thông hơn là trực tiếp 
			thu được qua nghiên cứu, học hỏi. Vì tiến trình ấy quá hiển nhiên, 
			rõ ràng nên nhiều khi chúng ta quên mất đó là những kiến thức tiếp 
			nhận được qua các phương tiện truyền thông. Nó được chọn lọc bởi các 
			phóng viên, nhà xuất bản, nhà sản xuất và hệ thống các phương tiện 
			truyền thông. Dù sao, bất kể theo phương cách nào, số thông tin về 
			thế giới mà chúng ta thu được hiện nay lớn hơn bất cứ kỳ thời đại 
			nào trước đây. <br>
			<br>
			<i>b. Sử dụng thời giờ</i><br>
			<br>
			Tất cả chúng ta chỉ có một lượng thời gian hữu hạn, vì thế, chúng ta 
			phải phân chia thời gian ra cho nhiều công việc khác nhau, kể cả 
			giải trí và thư giãn. Các nhà nghiên cứu đã lập biểu đồ để biết được 
			số lượng thời gian chúng ta dành cho việc sử dụng các phương tiện 
			truyền thông đại chúng. Nhật báo, tạp chí, phim ảnh, phát thanh và 
			truyền hình đã chiếm khá nhiều thời giờ của chúng ta, thường được 
			xếp hàng thứ ba sau ngủ nghỉ và làm việc trong tổng số thời gian 
			chúng ta phân phối. Một người lớn tiêu biểu ở phương Tây trung bình 
			mỗi ngày xem truyền hình trên ba giờ đồng hồ. Truyền hình đã làm 
			thay đổi cách người ta sử dụng thời gian rảnh của mình: người ta đã 
			bỏ những công việc của cộng đồng, các việc đạo đức ở nhà thờ, các 
			trò giải trí tại gia đình và nhiều hoạt động trao đổi trực tiếp khác 
			để xem các chương trình ưa thích trên truyền hình hay chỉ để thư 
			giãn với các phương tiện truyền thông. Những nghiên cứu gần đây cho 
			thấy việc sử dụng Internet đã lấn vào số thời gian chúng ta quen 
			dành cho các phương tiện truyền thông khác. Lần đầu tiên trong nhiều 
			thập niên, việc xem truyền hình tại Hoa Kỳ chẳng hạn đã bị xếp sau 
			các trò chơi điện tử, trao đổi thư điện tử và những hoạt động khác 
			của Internet. <br>
			<br>
			<i>c. Đo lường tầm mức quan trọng</i><br>
			<br>
			Người ta đang dựa vào các phương tiện truyền thông để biết đâu là 
			điều quan trọng trên thế giới. Các bài tường thuật tin tức sẽ đặc 
			biệt quan tâm đến một số sự kiện và biến cố, gián tiếp cho thấy rằng 
			đó là những điều xứng đáng được văn hoá quan tâm. Nhà Xã hội học 
			Bernard Cohen, người Hoa Kỳ, đã lưu ý điều này cách đây gần 40 năm, 
			khi ông viết rằng các phương tiện truyền thông “có lẽ không thành 
			công nhiều lắm khi muốn cho người ta biết phải suy nghĩ thế nào, mà 
			chỉ thành công khi cho người ta biết phải suy nghĩ về điều gì”2. 
			Chúng ta càng nghe nói nhiều về đề tài nào trên đài phát thanh, càng 
			xem chương trình nào được trình diễn nhiều trên truyền hình hay càng 
			đọc đề tài nào được viết nhiều trên báo, chúng ta càng cho đó là 
			những vấn đề quan trọng. Một hiện tượng tương tự cũng xảy ra đối với 
			điện ảnh: chúng ta thần tượng hoá các ngôi sao điện ảnh và trân 
			trọng các vai họ diễn trong phim, không phải do phê phán một cách có 
			lý luận mà chỉ vì họ đã xuất hiện nhiều trên các phương tiện truyền 
			thông. Một số người, đặc biệt là Gaye Tuchmann, đã lý luận rằng có 
			thể áp dụng cách đo lường này một cách ngược lại: cái gì không xuất 
			hiện trên các phương tiện truyền thông thì đó là điều không quan 
			trọng; và điều này có thể dẫn tới tình trạng “triệt tiêu một cách 
			tượng trưng” các nhóm sắc tộc khác nhau, các phụ nữ và các ngành 
			nghề khác. Cũng thế, nếu Chúa hay Giáo Hội không tìm được chỗ đứng 
			trên thế giới này, thì đó là dấu chứng tỏ Chúa và Giáo Hội không còn 
			quan trọng nữa đối với nhiều thành phần trong văn hoá truyền thông.<br>
			<br>
			<i>d. Hiểu biết đối kháng với thực tiễn</i><br>
			<br>
			Nói tới truyền thông, nhiều người thường nghĩ tới việc chuyển giao 
			một thông điệp, một hiểu biết hay một ý nghĩa từ chỗ này sang chỗ 
			khác. Một nhà nghiên cứu khác, James Carey, người Hoa Kỳ, nhắc chúng 
			ta rằng trình bày việc truyền thông theo “mô hình di chuyển” như thế 
			sẽ khiến người ta có một cái nhìn về truyền thông không khác gì một 
			công cụ và không thể hiểu hết kinh nghiệm con người trong đó. Ông đề 
			xuất cái gọi là “mô hình nghi thức” để đưa việc truyền thông vào 
			đúng chức năng của nó3. Việc truyền thông của con người là một cái 
			gì còn hơn thế nữa, chứ không chỉ là gửi những thông điệp hay một mớ 
			kiến thức từ chỗ này sang chỗ khác. Ngay cả khi chúng ta sử dụng các 
			phương tiện truyền thông, chúng ta cũng đang cử hành một nghi thức: 
			đọc báo vào buổi sáng, xem một chương trình nào đó mình thích trên 
			truyền hình, nghe đài trong khi lái xe - tất cả những việc ấy đều là 
			những nghi thức nối kết chúng ta với một cộng đồng lớn hơn. Bên cạnh 
			việc xử lý kiến thức, truyền thông còn giúp xây dựng cộng đồng, một 
			việc đưa chúng ta đến những cách thức gián tiếp hiểu biết của riêng 
			mỗi cộng đồng.<br>
			<br>
			<i>e. Phát biểu cho có hiệu quả</i><br>
			<br>
			Các phương tiện truyền thông cũng dạy người ta biết phải làm gì để 
			phát ngôn cho có hiệu quả. Truyền hình dạy chúng ta những cách nói 
			ngắn gọn, rõ ràng để cuốn hút sự chú ý của khán giả hoặc tóm tắt một 
			quan điểm hay một lập trường. Hiện nay, rất ít người thuyết phục 
			được người khác bằng lập luận dài dòng; chỉ có một số thành phần ưu 
			tú còn được báo chí đề cao mới làm thế. Nhưng nói như thế không có 
			nghĩa là các phương tiện truyền thông đại chúng không thể đề cập đến 
			những vấn đề nghiêm túc hay phức tạp. Chúng vẫn làm được việc ấy, 
			nhưng trình bày theo những cách thức phù hợp hơn với bản chất của 
			các phương tiện ấy như kể truyện, cung cấp hình ảnh và trình bày với 
			đầy cảm xúc. Khi đưa các vấn đề nghiêm túc đến với quần chúng theo 
			những phương cách có thể tiếp cận được, các phương tiện truyền thông 
			đại chúng đã trở thành một “diễn đàn văn hoá” cho mọi người tự do 
			thảo luận và bàn bạc các vấn đề nóng bỏng4. Một cách thức bổ sung 
			cho các hình thức ấy ít hấp dẫn hơn, là trình bày các vấn đề thành 
			những bài viết, những bài nói chuyện có lý luận chặt chẽ, có lẽ 
			không được công chúng dễ dàng tiếp nhận.<br>
			<br>
			<i>g. Thay đổi vị trí</i><br>
			<br>
			Các phương tiện truyền thông còn có một ảnh hưởng sâu xa hơn trên xã 
			hội, chứ không chỉ tạo ra kiến thức hay phát biểu tư tưởng. Joshua 
			Meyrowitz5 đã cho thấy các phương tiện truyền thông như truyền hình, 
			phim ảnh và phát thanh làm thay đổi “ý thức về nơi chốn” của chúng 
			ta theo hai cách. Trước hết, chúng ta cảm nghiệm như mình đang cùng 
			một lúc ở hai nơi, dù chỉ là tưởng tượng: trong khi ngồi thoải mái 
			tại nhà, chúng ta có thể đồng thời nắm bắt những gì đang diễn ra 
			trên khắp thế giới. Nhưng cái cảm nghiệm mình đang ở một thế giới xa 
			hơn chung quanh mình cũng đưa chúng ta tới chỗ mong muốn được trông 
			thấy, được tiếp cận những gì mà trước đây mình không thể trông thấy 
			hay tiếp cận. Cách đây nhiều thế hệ, con người chỉ kinh nghiệm được 
			những gì mà vị trí xã hội của mình cho phép. Dân thường không thể 
			trao đổi với các nhà lãnh đạo hay với các chức sắc cao cấp của Giáo 
			Hội. Nhưng cứ quen nhìn mọi thứ (khắp thế giới, đằng sau sân khấu, 
			chỗ thân mật riêng tư của người khác như phim ảnh và truyền hình đã 
			dàn dựng), chúng ta sẽ khao khát được trông thấy tất cả mọi sự. Và 
			thế là, người ta đánh mất đi cái ý thức về vị trí, mà qua đó chúng 
			ta đã từng tôn trọng sự riêng tư của người khác hay mặc nhiên tôn 
			kính các vị có thẩm quyền. Ngày nay, người ta mong muốn được biết cả 
			những chi tiết riêng tư nhất của đời sống các nhà chính trị, các 
			diễn viên và cả các giáo sĩ.<br>
			<br>
			<i>h. Kiểm soát</i><br>
			<br>
			Sự xuất hiện của các phương tiện truyền thông, và hiện nay là sự 
			xuất hiện của các ngành công nghệ kỹ thuật số đã làm thay đổi việc 
			kiểm soát thông tin. Trong quá khứ, các chính phủ và các tổ chức như 
			Giáo Hội thường kiểm soát các thông tin ở một mức độ nào đó, như 
			quyết định những gì người ta có thể xuất bản hay những gì công dân 
			có thể phát hành. Thế nhưng, các tập đoàn công nghệ thông tin và 
			giải trí hiện nay đã tước mất quyền kiểm soát khỏi tay các chính phủ 
			và đòi quyền tự do phổ biến hay không phổ biến những thông tin mình 
			đang có. Đã được tự do khỏi bị lề luật chèn ép, người ta cũng đòi 
			quyền tác giả để bảo vệ những gì mình đã đầu tư trong lĩnh vực thông 
			tin. Tuy nhiên, ngay cả điều này cũng đang bị công nghệ kỹ thuật số 
			phá vỡ, như các vụ án gần đây liên quan đến chương trình Napster và 
			nhiều chương trình thưởng thức âm nhạc chung đã cho thấy. Giáo Hội 
			cũng mất hầu hết sự kiểm soát trên sách báo; rất ít người xin 
			“Imprimatur” (xác nhận: được phép in); Internet cũng giúp người ta 
			tự do phổ biến các tin tức tôn giáo bằng con đường trực tuyến.<br>
			<br>
			<i>i. Một cử toạ ngày càng khó tính</i><br>
			<br>
			Sau 50 năm truyền hình và hơn 100 năm điện ảnh ra đời, khán giả bây 
			giờ đã trở nên rất khó tính. Người ta không còn tiếp nhận một cách 
			ngây thơ bất cứ điều gì được trình chiếu. Thay vào đó, họ lựa chọn 
			các chương trình theo nhu cầu của mình và bình luận các chương trình 
			ấy tuỳ theo quan điểm riêng của mình về xã hội, kinh tế, giáo dục 
			hay giới tính. Nhiều khán giả tiếp nhận các sản phẩm của truyền 
			thông với một chút nghi ngờ - nghi ngờ về động cơ của các nhà sản 
			xuất, các nhà quảng cáo, các nhà điều hành chính phủ và của bất cứ 
			ai muốn lợi dụng một điều gì đó nơi họ. So với trước đây, các nhà 
			sáng tạo và sản xuất chương trình hiện nay không còn nhiều quyền ấn 
			định thông điệp mình muốn chuyển tải nữa. Mà đúng hơn, ngay trong 
			chương trình họ làm ra, họ phải tranh đua với khán giả để tìm ra 
			cách minh giải. Nói thế không có nghĩa là khán giả bây giờ không thể 
			nào bị lèo lái hay điều khiển nữa, nhưng chỉ muốn cho thấy rằng khán 
			giả hôm nay bước một cách thận trọng theo hướng mà nhà sản xuất 
			chương trình vạch ra. Khán giả có thể mang theo mình nhiều kỹ năng 
			và tài cán, khiến cho Giáo Hội cũng có thể bị nghi ngờ và bị yêu 
			sách khi làm công tác truyền thông của mình.<br>
			<br>
			<i>j. Những thay đổi trong nhận thức</i><br>
			<br>
			Thay vì chỉ truyền đạt một thông điệp hay miêu tả một số nghi thức 
			phải làm, các phương tiện truyền thông còn tác động lên cả cách thức 
			suy nghĩ của người khác nữa. Khi nghiên cứu các nền văn hoá truyền 
			khẩu và thành văn, người ta khám phá được việc làm thế nào để một 
			thói quen căn bản như viết lách có thể tác động lên cách mỗi cá nhân 
			hình thành nên kiến thức và tổ chức thế giới6. Đối với các nền văn 
			hoá truyền khẩu, để nhớ những gì mình cho là có giá trị, người ta sẽ 
			lưu ý tới trí nhớ và tìm cách xây dựng kiến thức bằng những truyện 
			kể, dùng những nhân vật đặc biệt để nối kết các câu chuyện lại với 
			nhau. Người ta cô đọng những gì mình biết thành những công thức và 
			vần điệu dễ nhớ. Người ta bám vào những biến cố và những con người 
			cụ thể, tìm cách làm cho chúng diễn lại trong hiện tại. Lịch sử của 
			một nền văn hoá truyền khẩu phải có mặt thật sự đối với các thành 
			viên vì đó chính là cách giúp các thành viên của nền văn hoá ấy giữ 
			lại trong ký ức của mình những biến cố đã qua. Nền văn hoá truyền 
			khẩu tìm cách triển khai các lược đồ dễ nhớ và các nghi thức tập thể 
			để bảo đảm không bị tam sao thất bổn khi truyền thông.<br>
			<br>
			Còn các nền văn hoá thành văn lại tìm hiểu thế giới cách khác hẳn. 
			Các nền văn hoá ấy mang tính phân tích nhiều hơn vì chúng tách những 
			kiến thức ra khỏi trí nhớ bằng cách ghi chép các kiến thức ấy. Nhờ 
			khoảng cách mà một bản văn viết có thể mang lại, người ta sẽ có thể 
			xem xét tỉ mỉ những gì mình biết. Người ta cũng có thể mở rộng kiến 
			thức của mình bằng cách chia sẻ những thông tin đã viết ấy vượt khỏi 
			không gian địa lý và bằng cách gia tăng số người cùng với mình xây 
			dựng kho tàng kiến thức. Người ta không còn cần phải có mặt tại chỗ 
			để có thể tham gia vào kiến thức của tập thể. Văn hoá chữ viết cũng 
			sẽ giúp tổ chức các sự việc một cách khác. Muốn tổ chức các sự việc, 
			người ta không cần phải theo các vần điệu hay những sự gom góp cụ 
			thể. Thay vào đó, người ta có thể tổ chức các sự việc một cách trừu 
			tượng hơn, theo thứ tự các mẫu tự chẳng hạn. Vì đọc và viết sẽ trở 
			nên phổ biến rộng rãi hơn nhờ có sẵn vô số sách báo rẻ do các nhà in 
			phát hành, nên văn hoá chữ viết sẽ càng phát huy nhiều tác dụng. 
			Chẳng hạn học hành bây giờ không còn phải là luyện tập từng li từng 
			tí hay học thuộc lòng từng điều một, mà đã chuyển sang đọc sách báo. 
			Việc học trở nên cá nhân hơn, các tập quán mới để tư duy cũng được 
			phổ biến, như các nước Tây Âu đã chứng kiến trong thời kỳ Ánh Sáng.<br>
			<br>
			Điều này, cũng như những điều đã đề cập trước, sẽ ảnh hưởng tới thần 
			học. Trong kỷ nguyên Kitô giáo, thần học đã chuyển từ một di sản 
			truyền khẩu gồm các truyện kể của Thánh Kinh sang một lô công thức 
			tín điều đã được các nhà thần học Trung Cổ bàn cãi. Rồi, khi chữ 
			viết đã được phổ biến, người ta lại chuyển thần học thành một khoa 
			học lý luận chặt chẽ, phân tích thấu đáo và có văn bản hẳn hoi7. Đến 
			khi nền văn hoá đương đại tiếp xúc với các phương tiện truyền thông 
			đại chúng, chúng ta lại chứng kiến một sự thay đổi nữa trong tư duy 
			và trong cách tổ chức kiến thức, một phần trở lại với vài mô hình 
			truyền khẩu như kể truyện, còn thì đa số dựa trên các bản văn viết. 
			Sự xuất hiện của Internet là một nỗ lực khác của nền văn hoá đương 
			đại muốn tổ chức các kiến thức của mình thông qua việc kết nối vô số 
			bản văn và thông qua những thiết bị khác.<br>
			<br>
			Tất cả những sự kiện này sẽ dẫn thần học đi đến đâu? Trước hết, là 
			một môn học dựa trên văn bản, thần học không còn khả năng ảnh hưởng 
			trực tiếp trên nhiều nền văn hoá lấy hình ảnh và truyện kể làm những 
			phương cách gia tăng hiểu biết và tìm hiểu thế giới. Thứ đến, thần 
			học không còn là nguồn hiểu biết cho những ai không coi đó là nguồn 
			hiểu biết quan trọng, vì thần học hàn lâm không còn xuất hiện trong 
			thế giới truyền thông nơi họ sinh sống nữa. Sau cùng, khi nhấn mạnh 
			hiểu biết hơn thực tiễn và khi đòi khán giả phải toàn tâm toàn ý tin 
			theo, thần học đã làm cho mình trở nên không còn thích hợp nữa với 
			thế giới hôm nay.<br>
			<br>
			Tuy nhiên, nói thế không có nghĩa là người ta đã mất hết sự quan tâm 
			đối với thần học. Con người vẫn đi tìm câu trả lời cho những vấn nạn 
			thần học hết sức căn bản, nhưng người ta sẽ tìm chúng trong thế giới 
			truyền thông. Có bao nhiêu nhà thần học (hay chức sắc Giáo Hội), 
			cách đây 10 năm, dám tiên đoán rằng người ta sẽ rất quan tâm tới 
			khoa thiên thần học, như trong một chương trình truyền hình đang 
			được nhiều người theo dõi, mang tên “Được một thiên thần chạm đến” 
			(Touched by an Angel)? Điện ảnh và truyền hình liên tục nêu ra vấn 
			đề sự dữ trên thế giới (qua hình ảnh của ma quỷ và các mối đe doạ 
			khác), vấn đề có thụ tạo nào tốt lành bên ngoài thế giới chúng ta 
			(như thường thấy qua hình ảnh các vị khách lạ từ hành tinh khác), có 
			thể có một vị cứu tinh khác không (từ chính nền công nghệ của chúng 
			ta, như trong phim “Ma trận”). Các nhà văn, nhà sản xuất, nhà đạo 
			diễn và những người làm công tác truyền thông đã trở thành những nhà 
			thần học của ngày hôm nay, khi họ đặt ra những câu hỏi căn bản của 
			thần học: làm sao nói về Thiên Chúa cho con người hôm nay? Làm sao 
			kinh nghiệm về Thiên Chúa? Chúng ta sống để làm gì?<br>
			<br>
			Thế giới truyền thông hiện nay cho thấy thần học và suy tư tôn giáo 
			đang đối diện với một thế giới khác hẳn cái thế giới mà thần học hàn 
			lâm đã để lại. Nói thế không có nghĩa là thần học hàn lâm không có 
			chỗ đứng, cũng không có mục tiêu, nhưng chỉ muốn nói là thần học cần 
			phải quan tâm nhiều hơn tới việc truyền thông.<br>
			<br>
			<b>2. Một số hệ quả của việc truyền thông đối với thần học</b><br>
			<br>
			Dùng viễn tượng truyền thông để nhìn thần học không có nghĩa là đưa 
			ra một khoá học về truyền thông hay về các phương tiện truyền thông 
			vào trong chương trình thần học. Mà đúng hơn, đó là lấy những cái 
			nhìn của truyền thông để nhìn các vấn đề thần học, rồi nhìn xem làm 
			thế nào để những cách hiểu thần học ấy có thể đến được với con người 
			hôm nay. Trong phần này, chúng ta sẽ khảo sát vắn tắt sự việc ấy 
			trong bốn lĩnh vực thần học là: thần học hệ thống và Kitô học, mặc 
			khải, giáo hội học và thần học luân lý.<br>
			<br>
			<i>a. Thiên Chúa tự thông truyền chính mình</i><br>
			<br>
			Hiến chế về Mạc khải và các tác phẩm của các nhà thần học, như Karl 
			Rahner, đã trình bày lịch sử cứu độ như lịch sử Thiên Chúa tự thông 
			truyền chính mình, lịch sử khai mở dần mầu nhiệm của Thiên Chúa, 
			hoàn toàn do Chúa ban cho chúng ta để chúng ta có thể hiểu biết 
			Ngài. Đồng thời, có thể nói chúng ta được tạo dựng theo hình ảnh 
			Thiên Chúa và giống Thiên Chúa, nên cũng tham gia vào tiến trình tự 
			thông truyền ấy8 qua chính công việc thông truyền của loài người 
			chúng ta. Từ chỗ chỉ là một khoa nhân học mang tính thần học, việc 
			khảo sát hoạt động truyền thông của con người sẽ đưa chúng ta vào 
			sâu hơn trong mầu nhiệm Thiên Chúa, đồng thời cũng chính mầu nhiệm 
			ấy sẽ giúp định hình lại việc truyền thông của chúng ta.<br>
			<br>
			Mọi sự truyền thông đều bắt đầu với Thiên Chúa Ba Ngôi, tức là sự 
			hiệp thông giữa ba ngôi vị9, ngôi này hoàn toàn nên một với ngôi 
			kia. Thiên Chúa muốn chia sẻ sự kết hợp ấy cho các thụ tạo, trong 
			thiên ý mầu nhiệm của Ngài, Ngài cũng muốn hiệp thông với các thụ 
			tạo là chúng ta. Thế nên, Thiên Chúa đã tạo ra sự hiệp thông ấy 
			trong hành động đầu tiên là tự thông truyền chính mình, rồi kiện 
			toàn sự hiệp thông ấy bằng cách đích thân tham gia sự hiệp thông qua 
			Mầu nhiệm Nhập thể. Toàn bộ lịch sử cứu độ chỉ là sự khai mở dần kế 
			hoạch và việc tự thông truyền ấy. Thiên Chúa ban cho chúng ta một 
			giao ước để chúng ta có thể cảm nghiệm được thế nào là kết hợp với 
			Chúa, và Thiên Chúa hoàn thành giao ước ấy để chúng ta biết được thế 
			nào là sự tự thông truyền của Thiên Chúa khi đạt tới mức viên mãn.<br>
			<br>
			Nói theo ngôn ngữ truyền thông, nhập thể là sự mở rộng ra trong lịch 
			sử và trong công trình tạo dựng sự hiệp thông (communio) của Ba Ngôi 
			Thiên Chúa. Nhập thể không phải chỉ là truyền đạt một thông điệp như 
			ngày nay người ta quen hiểu khi làm việc truyền thông, mà đó còn là 
			cử hành “nghi thức” hay thực hiện cuộc sống từ ngày này sang ngày 
			khác tới mức làm cho chúng ta trở thành người cùng hội cùng thuyền 
			với Chúa.<br>
			<br>
			Trong việc này chúng ta thấy việc truyền thông đã được thực hiện một 
			cách hoàn toàn vô vị lợi, truyền thông chỉ vì tình yêu. Chúng ta 
			cũng thấy truyền thông là một sự mạc khải dần mầu nhiệm của một ngôi 
			vị, ở đây là các ngôi Thiên Chúa. Việc truyền thông này không thể 
			xảy ra một lần là xong, cũng không bao giờ có thể hoàn tất, mà luôn 
			diễn ra trong thế biện chứng vừa tiết lộ vừa ẩn giấu. Vì Thiên Chúa 
			tạo dựng chúng ta là để truyền thông - là để tiếp nhận sự tự thông 
			truyền của Thiên Chúa - nên chúng ta có khả năng truyền thông và nhờ 
			đó có khả năng nhìn ra mầu nhiệm của Thiên Chúa: là sự hiệp thông 
			giữa các ngôi, cho phép chúng ta được tham gia vào sự hiệp thông ấy, 
			nói năng với chúng ta như với những ngôi vị, tự mạc khải dần cho 
			chúng ta theo một hướng càng ngày càng mang tính cá nhân10. <br>
			<br>
			Nhìn sự truyền thông theo quan điểm nhân học có tính thần học như 
			thế sẽ giúp chúng ta vừa hiểu biết bản thân mình vừa hiểu biết Thiên 
			Chúa. Nó cũng bắt chúng ta phải tôn trọng việc truyền thông, vì từ 
			nay chúng ta đã hiểu truyền thông là hành động sáng tạo của Thiên 
			Chúa. Sau cùng, hiểu như thế cũng sẽ giúp chúng ta nhìn ra mục đích 
			và tiêu chuẩn của việc truyền thông giữa con người với nhau, truyền 
			thông của con người phải phỏng theo việc truyền thông của chính Đức 
			Kitô11.<br>
			<br>
			<i>b. Mạc khải</i><br>
			<br>
			Áp dụng những khái niệm truyền thông trên đây cho các chân lý thần 
			học có thể giúp chúng ta hiểu các chân lý ấy sâu xa hơn, nhất là khi 
			cho phép chúng ta mở rộng điều David Tracy gọi là phép “tưởng tượng 
			loại suy”. Khi đọc lại “Dei Verbum”, Hiến chế của Công đồng Vatican 
			II về Mạc khải, chúng ta được mời gọi suy niệm lại hành động của 
			Thiên Chúa và sự tiếp nhận của chúng ta. Chúng ta cũng theo phép 
			loại suy áp dụng những khái niệm truyền thông cho sự mạc khải của 
			Thiên Chúa, ứng dụng những khái niệm ấy vừa cho việc truyền thông 
			của con người vừa cho sự mạc khải của Thiên Chúa. <br>
			<br>
			Hiến chế bắt đầu bằng cách nhìn nhận có một yêu cầu bắt phải truyền 
			thông. Lấy lại câu mở đầu thư thứ nhất của Gioan, Hiến chế nêu ra 
			một nguyên do đưa tới việc truyền thông: đó chính là vì muốn chia sẻ 
			hồng ân của Thiên Chúa - chia sẻ điều chúng tôi đã thấy, đã nghe và 
			đã đụng chạm đến. Hiến chế tiếp tục bằng cách ghi nhận rằng lời nói 
			và việc làm của Chúa có liên quan với nhau. Lời Chúa cũng là việc 
			làm của Chúa. Đức Kitô vừa là trung gian mạc khải vừa là chính mạc 
			khải trọn vẹn (số 2). Hầu hết các bảng phân tích việc truyền thông 
			đều tách cơ quan trung gian với thông điệp chuyển tới, xem xét hai 
			điều ấy hoàn toàn riêng rẽ. Nhưng làm như thế là đã coi truyền thông 
			chỉ là một dụng cụ không hơn không kém và đã để mất đi sự truyền 
			thông sâu xa nhất của con người, qua đó mỗi người tỏ lộ chính bản 
			thân mình. Lời nói và việc làm có thể liên kết với nhau, như lời thi 
			sĩ Gerard Manley Hopkins12(…). Bản tính của Thiên Chúa được mặc khải 
			là truyền thông, bản tính con người cũng vậy: nó vừa là trung gian 
			mạc khải vừa là thông điệp được mạc khải. Hiến chế tiếp tục (số 4) 
			đề cao vai trò của Chúa Thánh Thần: mạc khải là hành động của cả Ba 
			Ngôi Thiên Chúa. Thánh Thần là sức mạnh truyền thông, đang kêu lên 
			trong lòng chúng ta, đang gào lên vì mong nghe lời con người nói (x. 
			Rm 8,26). Thánh Thần là sức mạnh của trí nhớ, nhắc chúng ta nhớ đến 
			tất cả những gì Đức Giêsu đã dạy (x. Ga 14,26). Giống như văn hoá 
			truyền khẩu cần giữ gìn sao cho thông điệp của mình được nguyên vẹn 
			khi truyền thông, Chúa Thánh Thần cũng sẽ bảo đảm cho sự mạc khải 
			của Thiên Chúa được nguyên vẹn. <br>
			<br>
			Hiến chế tiếp tục khảo sát sự đáp trả của con người trước mạc khải 
			của Chúa: vâng lời trong đức tin (số 5). Nói thế có nghĩa là việc 
			truyền thông không chỉ đòi hỏi được đáp lại mà còn để đáp lại. 
			“Người ta không thể không truyền thông”, đó là câu nói mà các học 
			giả về truyền thông thường nói13. Ngay cả sự thinh lặng cũng là một 
			cách trả lời, một hình thức truyền thông. Trong khuôn khổ ấy, chúng 
			ta được mời gọi xem lại sự đáp trả của chúng ta trước việc Thiên 
			Chúa tự truyền thông cho chúng ta, đáp trả một cách rộng rãi hơn 
			bằng cả cuộc sống một con người. Sự mạc khải của Thiên Chúa đến với 
			chúng ta qua Thánh Kinh và truyền thống (số 8), điều ấy càng củng cố 
			cho điều chúng ta vừa nói, làm chúng ta nhớ tới những phương thức 
			truyền thông khác nhau - truyền thông bằng văn bản, lời nói và việc 
			làm. Cũng thế, chúng ta đáp trả Thiên Chúa là đáp trả bằng toàn bộ 
			sự truyền thông của chúng ta. Trong tư cách là tôi tớ và là người 
			giữ gìn Thánh Kinh, có thể nói Giáo Hội là một cộng đồng sống bằng 
			văn bản - các nhà nghiên cứu về truyền thông thường áp dụng kiểu nói 
			này cho những tập thể được quy tụ xoay quanh một bản văn đặc biệt 
			nào đó. Mọi hoạt động của Giáo Hội - từ cầu nguyện, phụng vụ, chiêm 
			ngắm, thần học cho đến các việc bác ái - đều khởi sự và thành hình 
			trong Kinh Thánh (số 9).<br>
			<br>
			Giáo Hội có thẩm quyền giảng dạy và đã nhận được sứ mạng giải thích 
			Thánh Kinh cách chính thức (số 10), sự kiện ấy soi sáng cho chúng ta 
			hiểu bản chất truyền thông của Thánh Kinh. Vì Thánh Kinh là sự 
			truyền thông tập thể, chứ không phải là sự truyền thông cá nhân. 
			Thánh Kinh làm chúng ta ý thức chiều kích cộng đoàn của việc truyền 
			thông, như chúng ta đã thấy trong các nền văn hoá truyền khẩu hay 
			trong các nhóm làm nên bản văn. Đây cũng là điều cần thiết để sửa 
			chữa niềm tin phổ biến hiện nay cho rằng truyền thông luôn luôn là 
			việc của cá nhân và riêng tư (có lẽ là do người ta quen đọc sách báo 
			riêng, trong thinh lặng). Niềm tin này mạnh đến nỗi làm người ta 
			quên mất sự cộng tác để làm ra những sản phẩm mang tính truyền thông 
			cao nhất. <br>
			<br>
			Điểm cuối cùng: Hiến chế về Mạc khải cho biết mầu nhiệm cứu độ được 
			bày tỏ nơi Đức Giêsu đã được tường thuật trong Tân Ước (số 17) và từ 
			đó được truyền đạt cho chúng ta. Nếu nhìn trong viễn tượng truyền 
			thông, chúng ta sẽ tự hỏi làm sao một bản tường thuật thành văn hay 
			một bản văn trung gian thuần tuý như thế lại có thể làm được điều mà 
			“nguyên bản” làm. Muốn phân tích điều này, chúng ta cần trở lại các 
			lý thuyết về “ý nghĩa”. Bản văn trung gian hay bản dịch nào bất kỳ 
			cũng vừa là nguyên bản14 và vì thế, nó vừa có thể tự mình tác động 
			lên người tiếp nhận, lại còn giúp chúng ta liên hệ đến nguyên bản. 
			Viễn tượng truyền thông ấy cũng giúp chúng ta giải thích hoạt động 
			của Chúa Thánh Thần trong Thánh Kinh, theo đó, việc Thiên Chúa tự 
			truyền thông đã được thực hiện theo mô hình việc truyền thông của 
			con người, nghĩa là biểu thị điều gì là đặt chúng ta quan hệ với 
			điều được biểu thị.<br>
			<br>
			Muốn tiếp xúc với thần học thông qua việc truyền thông dựa trên nền 
			tảng là khoa nhân học mang tính thần học như trên đây, người ta cần 
			phải tìm hiểu xem đâu là những điều kiện để có thể có được sự truyền 
			thông ấy, theo phương pháp siêu nghiệm. Điều kiện nào giúp chúng ta 
			thực hiện việc truyền thông cũng sẽ giúp chúng ta đón nhận lời mạc 
			khải của Thiên Chúa.<br>
			<br>
			Việc truyền thông hiện nay và những thay đổi do nó đưa vào trong xã 
			hội đã tác động đến việc đào tạo linh mục, đến thần học và các lĩnh 
			vực khác. Để chứng minh một cách thuyết phục hơn tại sao các chủng 
			sinh - thật ra, tất cả mọi phân khoa thần học - cần quan tâm tới 
			việc truyền thông, bài khảo luận này sẽ tìm hiểu tại sao một nền 
			“thần học truyền thông”, tức là một nền thần học quan tâm tới việc 
			truyền thông và mang ý tưởng truyền thông, sẽ giúp chúng ta hiểu 
			biết về Thiên Chúa, Giáo Hội và đời sống con người. Chúng tôi sẽ 
			tiến hành làm việc này qua bốn bước: 1/ xem lại ảnh hưởng của việc 
			truyền thông trong Giáo Hội và xã hội; 2/ liệt kê một số hệ quả của 
			việc truyền thông đối với thần học; 3/ liệt kê một số hệ quả của 
			việc truyền thông đối với tác vụ linh mục; 4/ liệt kê một số hệ quả 
			của thần học truyền thông đối với đời sống con người.<br>
			<br>
			<i>c. Giáo hội học</i><br>
			<br>
			Trong vài khảo luận của mình, cha Avery Dulles đã lý luận rằng “Giáo 
			Hội là sự truyền thông”16 và “thần học truyền thông chính là khoa 
			nghiên cứu xem Thiên Chúa đã làm thế nào mà tạo ra những niềm xác 
			tín và những sự cam kết có liên quan đến niềm tin tôn giáo”. Nhìn 
			theo viễn tượng ấy, truyền thông là một phần của khoa Giáo hội học, 
			vì tìm hiểu Giáo Hội cũng là tìm hiểu làm sao đức tin được lan rộng 
			trong lịch sử và làm sao đức tin được gìn giữ trong cuộc đời của các 
			chi thể thuộc Thân Mình Đức Kitô. Trong một tác phẩm mới đây, Dulles 
			đã trình bày Giáo hội học của Công đồng Vatican II và cho biết Công 
			đồng đã giới thiệu ít là năm mô hình Giáo Hội: Giáo Hội xét như một 
			tổ chức hay phẩm trật, Giáo Hội là sứ giả Tin Mừng, Giáo Hội là bí 
			tích, Giáo Hội là sự hiệp thông và Giáo Hội là nữ tỳ17. Trong khảo 
			luận năm 1989, Dulles còn móc nối các mô hình Giáo Hội ấy với các 
			loại truyền thông điển hình. Chúng ta có thể thấy điều đáng giá 
			trong bài giới thiệu ấy là Công đồng cho rằng không có mô hình nào 
			có thể một mình miêu tả Giáo Hội đầy đủ. Cũng thế, không có hình 
			thức truyền thông nào thoả mãn các nhu cầu truyền thông của Giáo 
			Hội.<br>
			<br>
			Mô hình Giáo Hội là tổ chức hay phẩm trật sẽ ủng hộ việc truyền 
			thông đại chúng, vì tổ chức phẩm trật theo kiểu trung ương tập quyền 
			như thế sẽ phù hợp với việc truyền thông đại chúng thường được tổ 
			chức tập trung, chỉ có một trung tâm truyền phát một thông điệp y 
			hệt nhau cho hết mọi người. Dulles đã triển khai mô hình ấy theo 
			lược đồ sau đây: <br>
			<br>
			Ai truyền thông?<br>
			Hàng giáo phẩm<br>
			Truyền thông điều gì?<br>
			Giáo lý<br>
			Bằng cách nào?<br>
			In ấn<br>
			Chờ đợi điều gì?<br>
			Thần phục, chấp nhận<br>
			<br>
			Mô hình này chỉ làm người ta chú ý tới một khía cạnh của Giáo Hội; 
			nó cũng cho thấy làm thế nào việc truyền thông có thể phù hợp với 
			nhu cầu của mô hình ấy.<br>
			<br>
			Còn nếu Giáo Hội là sứ giả Tin Mừng, điều ấy sẽ làm nổi rõ Giáo Hội 
			đang công bố Tin Mừng của Đức Giêsu và đang cất tiếng nói của một 
			ngôn sứ đối với thế giới. Việc truyền thông được ưa chuộng ở đây là 
			công bố, có thể dưới nhiều hình thức truyền thông khác nhau, dù vẫn 
			ưu tiên ủng hộ việc trực tiếp ngỏ lời. Tiếp xúc trực tiếp giữa hai 
			bên vẫn là đặc điểm của mô hình này. <br>
			<br>
			Ai truyền thông?<br>
			Toàn thể Giáo Hội<br>
			Truyền thông điều gì?<br>
			Tin Mừng của Đức Giêsu<br>
			Bằng cách nào?<br>
			Công bố<br>
			Chờ đợi điều gì?<br>
			Cải đạo<br>
			<br>
			Mô hình bí tích là mô hình trình bày Giáo Hội như dấu chỉ hay bí 
			tích của Đức Kitô; Ngài cũng là bí tích của giao ước với Thiên Chúa. 
			Ở đây, việc truyền thông diễn ra qua các con người và biến cố, vì 
			Đức Kitô là dấu chỉ bí tích cũng qua con người và việc làm của Ngài. 
			Là Thân Thể Đức Kitô, Giáo Hội cũng tiếp tục sự hiện diện của Ngài 
			trong thế giới.<br>
			<br>
			Ai truyền thông?<br>
			Thiên Chúa và Giáo Hội<br>
			Truyền thông điều gì?<br>
			Sự cứu độ<br>
			Bằng cách nào?<br>
			Hoạt động có tính bí tích: phụng vụ…<br>
			Chờ đợi điều gì?<br>
			Thánh hoá <br>
			<br>
			Giáo Hội cũng có thể theo mô hình hiệp thông hay mô hình cộng đoàn 
			hoặc mô hình đối thoại. Dulles ghi nhận mô hình này bắt nguồn từ 
			trong thần học đối thoại với thế giới, một nền thần học khám phá ra 
			những giá trị trong thế giới và kêu gọi Giáo Hội dấn thân để có thể 
			học hỏi nơi thế giới. Viễn tượng này có nền tảng sau cùng là do 
			Thiên Chúa vừa là tạo hoá vừa là vị cứu tinh của thế giới, nên Ngài 
			có thể nói lời cứu độ trong bất cứ công trình sáng tạo nào của Ngài. 
			Phương pháp truyền thông được ưa chuộng ở đây là đối thoại, một sự 
			đối thoại giúp tạo ra sự hiệp thông trong Giáo Hội.<br>
			<br>
			Ai truyền thông?<br>
			Giáo Hội và thế giới<br>
			Truyền thông điều gì?<br>
			Hiểu biết nhau, tình bạn, sự sống, sự thật <br>
			Bằng cách nào?<br>
			Đối thoại<br>
			Chờ đợi điều gì?<br>
			Tôn trọng nhau hơn <br>
			<br>
			Sau cùng, chúng ta có thể mô tả Giáo Hội là nữ tỳ, vì Giáo Hội noi 
			gương Đức Kitô, Đấng đã đến không phải để được phục vụ mà là để phục 
			vụ. Giáo Hội có mặt trong thế giới để làm nữ tỳ bằng cách làm việc 
			cho người khác, bằng các việc công bình, bác ái… Việc truyền thông 
			điển hình của mô hình này là làm nhiều hơn nói.<br>
			<br>
			Ai truyền thông?<br>
			Toàn thể Giáo Hội<br>
			Truyền thông điều gì?<br>
			Yêu thương tha nhân<br>
			Bằng cách nào? <br>
			Mọi hành động phục vụ<br>
			Chờ đợi điều gì?<br>
			Đủ thứ khác nhau<br>
			<br>
			Muốn liên kết các mô hình Giáo Hội khác nhau với các phương cách 
			truyền thông khác nhau, chúng ta cần phải hiểu Giáo Hội sâu sắc hơn 
			và kêu gọi Giáo Hội hưởng ứng với nhiều sức truyền thông hơn. Chúng 
			ta cũng cần phải có một chiến thuật truyền thông với nhiều hướng 
			khác nhau, để Giáo Hội có thể hiện diện giữa lòng thế giới và hiện 
			diện với các thành viên của mình bằng nhiều cách khác nhau. Sau 
			cùng, chúng ta phải sửa chữa một sai lầm về Giáo hội học, là chỉ 
			bênh vực một hình thức truyền thông nhất định, khiến mọi người hiểu 
			sai bản chất của Giáo Hội. <br>
			<br>
			<i>d. Thần học luân lý</i><br>
			<br>
			Dù đây không phải là mục tiêu duy nhất của mình, nhưng các văn kiện 
			của Giáo Hội về việc truyền thông cũng đều vạch ra một nền thần học 
			luân lý, nhờ đó chúng ta có thể phê phán các sản phẩm truyền thông. 
			Những nguyên tắc rút ra từ các văn kiện này đã gián tiếp cho thấy 
			còn có một cách khác để đưa viễn tượng truyền thông vào thần học. 
			Các văn kiện về truyền thông trong 50 năm qua luôn nhắc chúng ta 
			truyền thông và các phương tiện truyền thông là những quà tặng của 
			Thiên Chúa18 và vì thế, có liên quan đến con người, tuỳ theo cách 
			con người sử dụng chúng. Đức Piô XII đã tiếp tục sự suy tư ấy khi 
			xác định hai vai trò của việc truyền thông: đó là chia sẻ quyền năng 
			sáng tạo của Thiên Chúa và tham gia vào tiến trình Thiên Chúa tự 
			truyền thông bản thân mình. Những chân lý thần học này dẫn chúng ta 
			tới những đòi hỏi luân lý, như rút ra kết luận từ luật tự nhiên vậy. 
			Hiểu các mô hình truyền thông là quà tặng của Thiên Chúa, cũng như 
			tham gia vào tiến trình mạc khải của Thiên Chúa, sẽ giúp chúng ta 
			hiểu rõ hơn mình phải sử dụng các phương tiện truyền thông ấy như 
			thế nào.<br>
			<br>
			Những tài liệu gần đây của Giáo Hội còn đi xa hơn khi nhìn nhận khả 
			năng phạm tội trong việc truyền thông và khi nhắc nhở chúng ta rằng 
			chính Đức Giêsu đã dạy: truyền thông là một hành vi luân lý19, và vì 
			thế buộc con người phải hành động cho đúng. Theo viễn tượng luân lý 
			ấy, việc truyền thông của con người có thể ví như một hành trình đi 
			từ tháp Baben - nơi thất bại của việc truyền thông đến biến cố Ngày 
			lễ Ngũ Tuần20. Dù sao, người Công giáo cũng phản ứng như thánh 
			Phaolô: ở đâu có tội thì ở đó có nhiều ân sủng hơn. Thế nên, người 
			ta có thể làm việc truyền thông hợp luân lý khi hiểu bản chất của 
			việc truyền thông và những cách thế khiến việc truyền thông ấy thất 
			bại. <br>
			<br>
			Cũng trong viễn tượng ấy, các nhà thần học luân lý được mời gọi hãy 
			chú ý hơn tới việc truyền thông trong các hoàn cảnh khác nhau. Nếu 
			các văn kiện Giáo Hội tập trung vào việc truyền thông đại chúng, thì 
			việc truyền thông ấy thất bại hay băng hoại thường là có kèm theo 
			những sự sa sút trong luân lý: bất trung trong hôn nhân, tuyệt vọng, 
			bất công, trộm cắp,… Các nhà thần học luân lý có thể dùng việc 
			truyền thông làm công cụ phân tích sự việc.<br>
			<br>
			Với những khảo sát sơ qua trên đây, chúng ta được mời gọi hãy để 
			việc truyền thông liên hệ với những ngành thần học khác nhau, không 
			phải như một điều gì đó từ bên ngoài mà là từ bên trong các ngành 
			thần học ấy. Thí dụ nào - của thần học hệ thống và Kitô học, mạc 
			khải, hay của Giáo hội học và thần học luân lý - cũng đều cho chúng 
			ta thấy một phương pháp luận hơi khác, để chúng ta có thể sẵn sàng 
			chấp nhận rằng việc truyền thông chính là cơ sở để chúng ta hiểu 
			biết thần học rộng rãi hơn. <br>
			<br>
			<b>3. Một số hệ quả của việc truyền thông đối với tác vụ linh mục</b><br>
			<br>
			Thần học truyền thông như vừa trình bày đưa tới ít nhất hai hệ quả 
			cho tác vụ linh mục, một hệ quả do văn hoá và một hệ quả do các vai 
			trò của người linh mục trong Giáo Hội và xã hội. Thần học truyền 
			thông nhấn mạnh tới việc hội nhập văn hoá, nhưng không phải là những 
			nền văn hoá khu vực hay của các sắc tộc, nhưng là điều mà Đức Gioan 
			Phaolô II gọi là nền “văn hoá mới” trong thông điệp Sứ vụ Đấng Cứu 
			Thế (số 37c) hay nền văn hoá của các phương tiện truyền thông. Văn 
			hoá hiện nay - nhất là đối với giới trẻ - là văn hoá kỹ thuật số, 
			văn hoá đại chúng, được quảng cáo là dành cho giới trẻ và có thần 
			học riêng của mình. Như bất cứ nền văn hoá nào, nền văn hoá này cũng 
			tự đặt ra và trả lời những câu hỏi thần học như: “Được cứu độ nghĩa 
			là gì?”, “Chúng ta phải làm gì để được cứu độ ?” - những câu hỏi này 
			rất thường được trả lời trong quảng cáo như phải mua sản phẩm nào, 
			ăn mặc thế nào, hành động ra sao để được cứu. Cứ theo loại thần học 
			về quảng cáo và văn hoá phổ biến này, một người có giá trị là tuỳ 
			theo mức sản xuất và tiêu thụ của người ấy. <br>
			<br>
			Nền văn hoá thời thượng này cũng đang là văn hoá của các chủng sinh 
			và của những người mà họ sẽ phục vụ sau này. Thần học truyền thông 
			bắt họ phải biết nền văn hoá ấy và biết cách bộc lộ chính mình một 
			cách hiệu quả qua nền văn hoá ấy. Chúng ta sẽ không phục vụ họ chút 
			nào khi lấy đi của họ cơ hội tiếp xúc với nền văn hoá ấy, khi cho 
			rằng xem truyền hình là xấu và sử dụng Internet là có hại. Họ cần 
			phải từ từ học hỏi văn hoá của mình, hiểu biết nền văn hoá ấy để có 
			thể công bố Lời Chúa cho thế giới một cách có chất lượng hơn.<br>
			<br>
			Dẫu vậy, tình trạng của các linh mục bây giờ và các linh mục tương 
			lai còn phức tạp nhiều hơn nữa vì hai sự kiện không thể chối cãi 
			được sau đây. Trước hết, nền văn hoá phổ biến, có sử dụng các phương 
			tiện truyền thông, cùng tồn tại bên cạnh các nền văn hoá sắc tộc, 
			khu vực và truyền thống. Thứ đến, con người trong thế giới hôm nay 
			đang sống trong nhiều nền văn hoá thay vì chỉ có một, ngay khi con 
			người tham gia vào các hoạt động khác nhau, mỗi hoạt động diễn tả 
			một phần con người. Một người đàn ông có thể làm cha, làm thợ ống 
			nước, làm người Công giáo và làm thành viên cộng đoàn; một người phụ 
			nữ có thể làm vợ, làm giáo viên, làm huấn luyện viên cho một đội thể 
			thao của thiếu nhi, làm giáo lý viên và làm nhà hoạt động chính trị. 
			Mỗi hoạt động xã hội này đều kéo theo một tập hợp các điều mình phải 
			kỳ vọng và các cách mình phải ứng xử theo văn hoá. Với sự phân cách 
			ngày càng tăng giữa văn hoá và tôn giáo, tôn giáo chỉ còn là một 
			hoạt động trong nhiều hoạt động. Các linh mục hôm nay đang phải làm 
			việc trong tình thế ấy. Họ phục vụ dân chúng sống trong nhiều nền 
			văn hoá - trong khi họ cũng như toàn thể dân chúng đều bị tác động 
			bởi cả khối lượng lớn lao của nền văn hoá truyền thông đại chúng. Và 
			cứ như thế các linh mục phải trở thành người chuyên môn trong lĩnh 
			vực đa văn hoá này.<br>
			<br>
			Thứ đến, nền thần học truyền thông kéo người ta chú ý đến các vai 
			trò đa dạng của người linh mục. Cũng như khoa Giáo hội học muốn đầy 
			đủ thì phải mô tả Giáo Hội theo nhiều mô hình khác nhau, không có mô 
			hình nào đủ sức diễn tả tính phức tạp của Giáo Hội, muốn hiểu chức 
			linh mục đầy đủ người ta cũng cần ý thức các linh mục đang cùng lúc 
			chu toàn nhiều vai trò khác nhau. Theo truyền thống, chúng ta thường 
			miêu tả Đức Kitô qua ba vai trò tư tế, ngôn sứ và lãnh đạo. Vì các 
			vai trò này cho biết con người Đức Kitô, nên các linh mục cũng phải 
			thi hành nhiều chức năng khác nhau. Dù không dám cho là đầy đủ, 
			nhưng chúng ta có thể nói linh mục phải là một thừa tác viên bí 
			tích, một người thánh, một giảng viên, một nhà truyền giảng Tin Mừng 
			hay nhà truyền giáo, một người đại diện Giáo Hội, một người lãnh đạo 
			cộng đoàn hay đào tạo cộng đoàn, một đại biểu trong hội đồng nhân 
			dân. Thần học truyền thông sẽ cho chúng ta biết mỗi vai trò ấy đòi 
			một cách thức truyền thông khác.<br>
			<br>
			Vai trò bí tích và nên thánh của người linh mục nhắc chúng ta rằng 
			người ta không thể tách biệt việc truyền thông xã hội với việc 
			truyền thông cá nhân. Linh mục sẽ lấy Đức Kitô làm mẫu cho mình 
			trong việc này - một Đức Kitô đã thống nhất việc làm, lời nói và 
			cuộc sống. Linh mục được Lời Chúa đào tạo để có thể bày tỏ Lời ấy. 
			Như trong bí tích Thánh Thể, chúng ta ăn gì thì trở nên cái ấy 
			(Thánh Augustinô), khi nghe Lời Chúa chúng ta cũng truyền thông 
			những gì đã nghe. Trên hết, linh mục là người bước theo Đức Kitô - 
			nhà truyền thông tuyệt vời - “sẽ đồng hoá mình với những người tiếp 
			nhận sự truyền thông và sẽ trao gửi thông điệp không chỉ bằng lời 
			nói mà còn bằng toàn bộ cách sống của mình” (Hiệp thông và tiến bộ, 
			số 11).<br>
			<br>
			Với vai trò giảng dạy và rao giảng Tin Mừng, linh mục sẽ tận dụng 
			mọi phương thế mình có được21, từ truyền thông luôn luôn giữa người 
			với người đến truyền thông qua các phương tiện và công nghệ kỹ thuật 
			số. Muốn làm thế, người linh mục phải học cách diễn đạt riêng của 
			mỗi phương thế: nghệ thuật tu từ, hình ảnh, lời nói. Vì khán thính 
			giả ngày nay ngày càng tinh vi, nên việc truyền thông tôn giáo cũng 
			phải tinh vi như thế, dù đó là sự tinh vi xuất phát từ sự đơn sơ22. 
			Sau cùng, linh mục còn đóng vai trò trung gian Lời Chúa và vì thế, 
			là người “thông dịch” mạc khải. Những hình thức công bố xem ra phù 
			hợp nhất với các vai trò này.<br>
			<br>
			Còn trong vai trò lãnh đạo hay đào tạo cộng đoàn, linh mục sẽ mô 
			phỏng theo sự hiệp thông hay đối thoại của Giáo Hội. Sự hiệp thông 
			của Ba Ngôi Thiên Chúa thôi thúc họ cũng tạo sự bình đẳng tương tự 
			trong cộng đoàn Giáo Hội. Việc truyền thông của người linh mục cần 
			cổ vũ việc tự truyền thông của Thiên Chúa để toàn thể Giáo Hội có 
			thể tham gia vào giao ước mà Chúa đã gởi đến nơi Đức Kitô Giêsu. 
			Tinh thần đối thoại ấy cũng sẽ là tinh thần của người linh mục khi 
			truyền thông với cộng đồng dân sự, trong đó cộng đoàn Giáo hội địa 
			phương đang hoạt động.<br>
			<br>
			Thần học truyền thông sẽ chỉ ra cho mọi người thấy nguy cơ thực sự 
			đối với người linh mục chính là sự lẫn lộn không biết lựa chọn và áp 
			dụng các kiểu truyền thông khác nhau đi đôi với các vai trò đa dạng 
			của người linh mục. Lấy mô hình truyền thông bằng công bố thay cho 
			mô hình truyền thông bằng đối thoại có thể khiến người linh mục bị 
			cô lập khỏi những người đang cần được lắng nghe và từ đó, có thể làm 
			hại tới sự hiệp thông mà linh mục đó muốn xây dựng. Cũng thế, lấy mô 
			hình truyền thông bằng đối thoại thay cho mô hình truyền thông bằng 
			công bố có thể làm người linh mục không chu toàn nhiệm vụ ngôn sứ 
			của mình. Khi truyền thông, người linh mục phải biết phân định rõ 
			ràng.<br>
			<br>
			<b>4. Một số hệ quả của việc truyền thông đối với đời sống con người</b><br>
			<br>
			Suy tư thần học về việc truyền thông của con người còn giúp chúng ta 
			có một cách khác để suy nghĩ về những gì mà thần học truyền thông có 
			thể đóng góp cho việc đào tạo chủng sinh. Đức Hồng y Carlo Martini 
			của giáo phận Milano có phác thảo một bài suy niệm Thánh Kinh về 
			việc truyền thông trong thư mục vụ của ngài năm 199223 mà chúng tôi 
			sẽ dựa vào để viết ra phần này, Ngài bắt đầu bằng cách đọc lại bản 
			văn Thánh Kinh theo cách của nhà truyền thông, hay có thể nói đó là 
			việc truyền thông nhìn dưới ánh sáng Thánh Kinh. (Phương pháp này 
			khác với phương pháp đã nêu ra ở phần 1.9 trên đây, cho biết chúng 
			ta sẽ học được gì nơi Thánh Kinh từ phương pháp nghiên cứu sự truyền 
			thông, chẳng hạn nghiên cứu bản chất truyền khẩu của đoạn Thánh 
			Kinh,…). Ở đây, chúng ta sẽ xem thử mình sẽ học được gì về việc 
			truyền thông dựa vào chính sự truyền thông của Đức Giêsu. <br>
			<br>
			Hồng y Martini bắt đầu với bài tường thuật của Marcô về việc chữa 
			lành một người vừa không thể nghe cũng không thể nói (vừa điếc vừa 
			câm) (x. Mc 7,31-37). Marcô cho biết dân chúng đưa người ấy đến với 
			Đức Giêsu; Ngài tách anh ta ra khỏi đám đông, đặt tay lên tai anh, 
			lấy nước bọt bôi lên lưỡi anh. Rồi Ngài cầu nguyện và hô lên: 
			“Ephphatha! Hãy mở ra!” Lưỡi anh buông ra và tai anh mở ra, anh bắt 
			đầu nói được và ca tụng Thiên Chúa.<br>
			<br>
			Câu chuyện này có ba phần: tình trạng không thể truyền thông; những 
			dấu chỉ và cử điệu chữa lành; phép lạ và hiệu quả sau đó. Nếu áp 
			dụng vào bản thân mình, chúng ta cũng thấy mình đã đi vào từng giai 
			đoạn như thế.<br>
			<br>
			Do đâu chúng ta không có khả năng truyền thông? Dù có thể chúng ta 
			không mất khả năng nghe và nói, nhưng chúng ta cảm thấy như sự 
			truyền thông của mình bị tắc nghẽn. Hồng y Martini nêu ra bốn nguyên 
			nhân của tình trạng ấy. (1) Có khái niệm hay ý nghĩ sai về truyền 
			thông. Vì cứ đi tìm một sự truyền thông hoàn hảo, nên chúng ta đâm 
			ra thất vọng khi thấy những giới hạn của mình. Chúng ta đã chờ đợi 
			rất nhiều nơi người khác và lên án họ nên đã có những bước truyền 
			thông sai lầm. (2) Chúng ta truyền thông là vì muốn chiếm lấy người 
			khác. Chúng ta truyền thông không phải để chia sẻ, mà để chiếm lấy 
			và vì thế làm người khác luôn cảnh giác chúng ta, không sẵn sàng 
			truyền thông. (3) Sử dụng việc truyền thông như một cách cho thấy 
			ước muốn thống trị người khác. Thay vì tìm sự hiệp thông dưới bất kỳ 
			hình thức nào, chúng ta lại tìm quyền lực. (4) Vội vàng truyền 
			thông, đòi trả lời ngay, đòi có quan hệ lập tức với người khác, đòi 
			một sự thông tin đầy đủ. Những sự ngăn chặn truyền thông ấy ảnh 
			hưởng lên chúng ta không chỉ trong tư cách cá nhân, mà chúng còn 
			phản ảnh những triệu chứng của sự truyền thông đang bị ngăn chặn 
			trong Giáo Hội hay trong một tổ chức nào khác. <br>
			<br>
			Ở phần hai của câu chuyện, chúng ta thấy những dấu chỉ và cử điệu 
			khai thông của Đức Giêsu. Đức Giêsu dẫn người ấy ra khỏi đám đông và 
			khi như làm thế, Ngài cho anh thấy sự tôn trọng của Ngài dành cho 
			anh. Ngài chữa bệnh không nhằm để làm những dấu lạ cho dân chúng 
			thán phục. Nhưng bước đầu tiên của việc chữa lành, cũng là bước đầu 
			tiên để phá vỡ bế tắc truyền thông là kính trọng nhau. Kế đó, Đức 
			Giêsu tiếp xúc với người bệnh bằng đủ mọi hình thức truyền thông 
			đang có, tượng trưng qua việc đụng chạm đến tai và lưỡi của anh. Rồi 
			Ngài đọc một lời, tượng trưng cho khả năng truyền thông đã được phục 
			hồi. Qua những dấu chỉ và cử điệu chữa lành ấy, Đức Giêsu đã làm 
			cùng một cách như Thiên Chúa tự truyền thông: kính trọng và yêu mến, 
			tiếp xúc hay đi bước trước, ngỏ lời với đương sự.<br>
			<br>
			Trong phần ba - tức là phép lạ - chúng ta không những thấy sự lành 
			bệnh mà còn thấy những hiệu quả của việc ấy: đương sự quay lại với 
			cộng đoàn và được hội nhập hoàn toàn vào cộng đoàn. Đương sự cùng 
			với người khác ca ngợi Chúa. Đây cũng là một khuôn mẫu cho chúng ta 
			làm việc truyền thông, đó là liên kết việc phục vụ con người với 
			việc phục vụ Chúa. <br>
			<br>
			Hồng y Martini ghi nhận rằng muốn sự truyền thông của con người được 
			tốt đẹp thì phải bắt chước việc Thiên Chúa tự truyền thông bản thân 
			mình. Thiên Chúa đã chuẩn bị việc truyền thông ấy trong thinh lặng 
			của Ngài, rồi dần dần trải ra trong dòng lịch sử nhân loại. Đó là 
			một việc truyền thông tiệm tiến và diễn ra trong thế biện chứng hết 
			mạc khải lại che giấu và cứ thế, vì truyền thông là một việc không 
			bao giờ chấm dứt. Việc truyền thông của Thiên Chúa vừa có tính cá 
			nhân vừa có tính liên vị, vì nó liên hệ đến mỗi người chúng ta, ngỏ 
			lời với chính mỗi người chúng ta. Việc truyền thông của chúng ta 
			cũng phải bắt chước như thế. Nó phải được cưu mang trong thinh lặng, 
			từ chỗ biết mình và hiểu mình dần dần. Chúng ta cần phải nhìn nhận 
			truyền thông là một việc làm không nóng vội, cho cả hai phía. Chúng 
			ta cần có thời gian để biết mình và hiến mình, chúng ta cũng cần cho 
			người khác thời gian. Truyền thông không bao giờ được có ngay, xong 
			ngay. Vì được tạo dựng trong thời gian, nên chúng ta cũng cần nhớ 
			rằng mọi sự truyền thông đều có hai mặt vừa sáng vừa tối - và đây là 
			điều bình thường, không thể làm chúng ta thất vọng. Vì truyền thông 
			bao gồm việc đối thoại hay trò chuyện giữa các thành viên hay đối 
			tác, nên lắng nghe chính là một khía cạnh rất căn bản. <br>
			<br>
			Giải thích đoạn Thánh Kinh trên đây theo thần học truyền thông đã 
			đem lại một số hệ quả cho đời sống chúng ta và cho việc đào tạo 
			chủng sinh. Việc truyền thông của cá nhân hay của Giáo Hội phải luôn 
			được chuẩn bị trong thinh lặng, bằng cách lắng nghe tiếng Chúa và 
			lắng nghe nhau. Chúng ta phải cho người khác được tự do, gác sang 
			một bên những ước muốn thống trị và quyền lực. Ở đây, cũng như ở mọi 
			chỗ khác, Đức Kitô luôn luôn là khuôn mẫu của chúng ta. Ngài không 
			bám riết vào thiên tính của mình, nhưng đã trút bỏ tất cả và mang 
			lấy bản tính của người nô lệ (x. Pl 2,7). Truyền thông là một việc 
			diễn biến trong thời gian, không bao giờ xong hoàn toàn. Nó kêu gọi 
			chúng ta phải kiên nhẫn và biết cảm thông. Một khi đã được tháo gỡ 
			khỏi mọi trở ngại, việc truyền thông cũng đòi chúng ta phải hiểu 
			mình và hiểu biết người khác.<br>
			<br>
			Như thế, trong việc đào tạo truyền thông xã hội cần phải có nhiều 
			bước thực hành, như chúng ta đã thấy qua bài khảo luận này. Chúng 
			tôi chỉ xin liệt kê ra đây. (1) Chúng ta phải học hỏi các nền văn 
			hoá của cộng đồng bằng cách lắng nghe họ. (2) Cần phải có kinh 
			nghiệm về những nền văn hoá ấy để (3) chúng ta có thể tìm ra các 
			phương cách diễn tả thích hợp nhất. (4) Cố gắng nhận ra đâu là những 
			trở ngại cho việc truyền thông khi xem xét mình và xem xét tình cảnh 
			của chúng ta. (5) Học hỏi những phương cách truyền thông có sẵn. Ở 
			đây, chúng ta cần nhìn nhận các phương thế truyền thông không hề vô 
			thưởng vô phạt. Các phương thế ấy là những dụng cụ vô cùng mềm dẻo, 
			chúng mang theo những giá trị đặc biệt có thể ảnh hưởng nhiều hay ít 
			trên cách chúng ta làm việc truyền thông. Chẳng hạn, việc truyền 
			thông đại chúng có thể củng cố và giải thích tại sao người ta lại có 
			ý thức về quyền lực tập trung - nghĩa là quyền lực của một người có 
			thể ngỏ lời với nhiều người. Việc truyền thông ấy có thể gây hiểu 
			sai về sự hiệp thông và cộng đồng, nhưng cũng có thể giúp tạo ra một 
			loại cộng đồng đặc biệt nào đó. (6) Chúng ta luôn sẵn sàng ngỏ lời 
			xin giúp đỡ, xin người khác phản hồi lại để có thể biết họ và trong 
			khi biết họ, chúng ta sẽ yêu mến họ. (7) Cuối cùng, cần phải biết 
			thông điệp mà mình muốn truyền đi. Chúng ta sẽ làm việc này thông 
			qua cầu nguyện và suy niệm Thánh Kinh, thông qua việc Thiên Chúa tự 
			truyền thông mình nơi Đức Kitô. Để đào tạo truyền thông xã hội và 
			xây dựng nền thần học truyền thông, chúng ta cần nhìn nhận Đức Kitô 
			là sự truyền thông viên mãn, Đức Kitô chính là trung tâm của việc 
			truyền thông. Thiên Chúa tạo dựng chúng ta theo hình ảnh của Ngài, 
			theo hình ảnh Thiên Chúa Ba Ngôi, là hình ảnh có sức truyền thông và 
			thông qua việc truyền thông ấy, sẽ đem lại sự sống, ơn cứu độ cho 
			tất cả mọi người.<br>
			<br>
			Đức Giáo Hoàng Gioan-Phaolô II, trong Tông Huấn hậu Thượng Hội Đồng 
			Giám Mục “Pastores dabo vobis” đã nói đến cội nguồn của thừa tác vụ 
			linh mục là mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi, mục đích của thừa tác vụ 
			linh mục là phục vụ Giáo Hội và cứu độ thế giới với hướng đi truyền 
			giáo thật bao la, chứ không hạn hẹp, và quy chiếu về Chúa Kitô là 
			chìa khoá tuyệt đối cần thiết để có thể thấu hiểu thực tại linh mục 
			(PDV 12).Trong ba chức năng: rao giảng, thánh hóa và lãnh đạo của 
			linh mục, Tông huấn “Pastores dabo vobis” đã nói đến chức năng đầu 
			tiên của linh mục là rao giảng Tin Mừng: “Trước hết, linh mục là 
			thừa tác viên Lời Chúa. Linh mục được hiến thánh và sai đi để loan 
			báo Tin Mừng Nước Trời cho mọi người, mời gọi mọi người vâng phục 
			đức tin và hướng dẫn các tin hữu, để mỗi ngày họ một hiểu biết và 
			thông hiệp sâu xa hơn vào mầu nhiệm của Thiên Chúa, đã được Đức Kitô 
			mạc khải và truyền đạt cho chúng ta” (PDV 26).<br>
			<br>
			Để trở nên thừa tác viên Lời Chúa trong thời đại kỹ thuật số, xin<br>
			cùng nhau đọc lại một lời kinh thật đẹp của thánh Augustinô xin cho 
			được ơn hiểu biết Lời Chúa trong cuốn Confesssion: “Xin hãy để Lời 
			Chúa nên nguồn vui thanh khiết cho con. Xin đừng để con bị lừa lọc 
			trong đó hay lấy đó mà lừa lọc người khác…Xin lắng nghe hồn con và 
			nghe tiếng than thở từ vực sâu kêu lên đến Chúa…Xin rộng ban cho con 
			thời giờ để suy ngắm các điều kín nhiệm của luật Chúa và đừng đóng 
			luật Chúa khi con gõ tìm. Vì chẳng phải vô cớ mà Chúa đã muốn có 
			ngần ấy trang sách viết đầy dẫy những điều kín nhiệm như thế… Ôi lạy 
			Chúa, xin hoàn tất việc Chúa nơi con và soi sáng những trang ấy cho 
			con ! Này đây tiếng Chúa là niềm hoan lạc của con; tiếng Chúa vượt 
			qua mọi niềm vui. Xin ban cho con điều con yêu mến… Đừng khước từ 
			thứ cỏ rả của Chúa khi nó đang đói khát Chúa… Chớ gì các điều bí 
			nhiệm trong Lời Chúa mở toang cho con khi con gõ tìm. Con nài xin 
			Chúa nhờ Đức Giêsu Kitô, …nơi Ngài tàng chứa mọi kho tàng khôn ngoan 
			và thông hiểu (Cl 2,3). Đây là những kho tàng mà con tìm trong các 
			sách của Chúa”.<br>
			<br>
			Nguyện xin Mẹ Thiên Chúa và Cha Sở Thánh xứ Ars bảo trợ cho anh em 
			linh mục chúng con trong thừa tác vụ Lời Chúa giữa thời đại kỹ thuật 
			số hôm nay. <br>
			<br>
			<i>Lm Giuse Nguyễn Hữu An</i><br>
			<br>
			<u>Chú thích: </u><br>
			1 Paul Soukup, SJ., Francis Buckley và David C. Robinson, The 
			Influence of Information Technologies on Theology, Theological 
			Studies, May 2001. <br>
			2 Bernard Cohen, The Press and Foreign Policy (Princeton: Princeton 
			University Press, 1963) 13. <br>
			3 James W. Carey, A cultural approach to communication, in lại trong 
			J.W.Carey, Communication as Culture: Essays on the Media and Society 
			(Boston: Unwin Hyman, 1989) 13-16.<br>
			4 Horace Newcomb và Paul Hirsch, Television as a cultural form. 
			Trong H. Newcomb (ed.), Television: The Critical View (4th. Ed.) 
			(New York: Oxford University Press, 1987), 455-470.<br>
			5 Joshua Meyrowitz, No Sense of Place: The Impact of Electronic 
			Media on Social Behaviour (New York: Oxford University Press, 1985).<br>
			6 Walter J. Ong., S.J., Orality and Literacy: The Technologizing of 
			the Word (London: Methuen, 1982).<br>
			7 Walter J. Ong, S.J., Communication medi a and the state of 
			theology. Cross Currents, 19 (1969) 462-480.<br>
			8 Đức Piô XII, Miranda Prorsus, số 25.<br>
			9 Hội đồng Giáo hoàng về Truyền thông Xã hội, Hiệp thông và tiến bộ, 
			số 8 <br>
			10 X. Hồng y Martini. Effata, Apriti. Communicating Christ to the 
			Word: The pastoral Letters Effata, Apriti and Il Lembo del Mantello. 
			Bản dịch của Thomas Lucas, S.J. Kansas City: Sheed &amp; Ward, 1992, tr. 
			1-76.<br>
			11 Hội đồng Giáo hoàng, Hiệp thông và tiến bộ, số 11.<br>
			12 Gerard Manley Hopkins. As Kingfishers Catch Fire (bài thơ 34). 
			Văn vần và văn xuôi của Gerard Manley Hopkins. Ed. W.H. Gardner. 
			London: Penguin, 1988: tr. 51.<br>
			13 Paul Watzlawick, Janice Beavin và Don Jackson. The Pragmatics of 
			Human Communication: A study of interactional patterns, pathologies 
			and paradoxes, New York: Norton, 1967.<br>
			14 Ulbaldo Stecconi. Peirce’s Semiotics for Translation. Fidelity 
			and Translation: Communicating the Bible in New Media. Eds. Paul A 
			Soukup và Robert Hodgson. Franklin, WI: Sheed &amp; Ward, New York: 
			American Bible Society, 1999, tr. 249-261.<br>
			15 Avery Dulles, The Church is Communications. Multimedia 
			International 1 (1971).<br>
			16 Dulles, Avery. Vatican II và truyền thông. Trong Latourelle, R. 
			(ed.) Vatican II: Assessment and Perspective, ba tập. New York: 
			Paulist Press, 1989, tr. 529.<br>
			17 Avery Dulles, Models of the Church, Garden City, NY: Doubleday, 
			1987: tr. 34-102. Xuất bản lần đầu 1974.<br>
			18 Đức Piô XI, Vigilanti Cura, số 9; Đức Piô XII, Miranda Prosrsus, 
			số 24; Vatican II, Inter Mirifica, số 1.<br>
			19 Hội đồng Giáo hoàng về Truyền thông Xã hội, Đạo đức trong truyền 
			thông, số 32.<br>
			20 Đạo đức trong truyền thông, số 3. <br>
			21 X. Đức Phaolô VI, Loan báo Tin Mừng, số 41.<br>
			22 Augustinô bàn về vấn đề này trong tập IV De Doctrina Christiana 
			bằng cách sử dụng tu từ học, là công nghệ truyền thông hàng đầu thời 
			ấy.<br>
			23 Martini, OP. cit., đặc biệt tr. 16-19.<br>
			(Trích trong “THẦN HỌC TRUYỀN THÔNG, nền tảng cho việc đào tạo 
			truyền thông xã hội”.Tác giả F. Paul A. Soukup, S.J.Trưởng khoa Phân 
			khoa Truyền thông của đại học Santa Clara, tại Santa Clara, 
			California, Hoa Kỳ. Đăng trong tạp chí Social Communication 
			Formation in Priestly Ministry, do Franz-Josef Eilers, svd. chủ 
			biên, Logos Publications, Inc. xuất bản tại Manila 2002; Lm Phêrô 
			Đặng Xuân Thành chuyển dịch.) </div>
		Lm Giuse Nguyễn Hữu An </font>
		</td>
	</tr>
	<tr>
		<td>
		<p align="right"><i>Nguồn: vietcatholic.org/News</i></td>
	</tr>
	<tr>
		<td>
		<p align="center">
				<a target="_top" href="../../../index.htm">
				<img src="http://tinmung.net/tinmungLOGO/homepage.gif" width="100" border="0" height="34"></a></td>
	</tr>
	</table>

</body>

</html>

PHP File Manager