File "Huanluyengiaositusivetinhduckhackhovathannhiem.htm"
Full path: E:/sites/Single15/tinmung2007/webroot/SUYNIEM_HANGTUAN/Suy-Niem-Chuyen-De/NamLinhMuc/tin moi ve nam linh muc/Huanluyengiaositusivetinhduckhackhovathannhiem.htm
File size: 49.97 KiB (51171 bytes)
MIME-type:
Charset: utf-8
<html>
<head>
<style>
<!--
/* Style Definitions */
div.MsoNormal
{mso-style-parent:"";
margin-bottom:.0001pt;
font-size:12.0pt;
font-family:"Times New Roman";
margin-left:0mm; margin-right:0mm; margin-top:0mm}
li.MsoNormal
{mso-style-parent:"";
margin-bottom:.0001pt;
font-size:12.0pt;
font-family:"Times New Roman";
margin-left:0mm; margin-right:0mm; margin-top:0mm}
p.MsoNormal
{mso-style-parent:"";
margin-bottom:.0001pt;
font-size:12.0pt;
font-family:"Times New Roman";
margin-left:0mm; margin-right:0mm; margin-top:0mm}
p
{margin-right:0mm;
margin-left:0mm;
font-size:12.0pt;
font-family:"Times New Roman";
}
@page Section1
{size:210.0mm 842.0pt;
margin:20.0mm 20.0mm 20.0mm 20.0mm;
mso-header-margin:36.0pt;
mso-footer-margin:36.0pt;
mso-paper-source:0;}
div.Section1
{}
-->
</style>
<meta http-equiv="Content-Language" content="en-us">
<meta http-equiv="Content-Type" content="text/html; charset=utf-8">
<title>Model</title>
<base target="main">
</head>
<body>
<table border="0" width="500" cellspacing="20" style="border-color: #FFFFFF; font-family:Times New Roman; font-size:12pt" bgcolor="#FFFFE6">
<!-- MSTableType="nolayout" -->
<tr>
<td bgcolor="#bdf3fd" height="29">
<p style="text-align: center"><font size="4" color="#FF0000"><b>
NĂM LINH MỤC</b></font></td>
</tr>
<tr>
<td>
<p style="text-align: center"><span style="color: #0000FF"><strong>
<em style="font-style: normal">HUẤN LUYỆN GIÁO SĨ TU SĨ VỀ TÍNH DỤC:</em></strong></span></p>
<p style="text-align: center"><strong><em style="font-style: normal">
<span style="color: #0000FF"> KHẮC KHỔ và THẦN NHIỆM( Ascetic and
Mystic)</span></em></strong></td>
</tr>
<tr>
<td>
<p style="text-align: justify;"><strong><em><font size="4"> </font></em></strong><font size="4"> <em>Như
đã trình bày trong bài thảo luận trước,</em> việc Huấn Luyện về Nếp Sống
Độc thân, Khiết Tịnh, phải dẫn đến một lý tưởng sống cao siêu, thoát tục
để <strong><em>Kết Nghĩa với Chúa trong đời sống Tâm Linh(Spiritual
Life), Thần nhiệm(Mystic Life)</em></strong> như kinh nghiệm sống của
các vị Thần Nhiệm, Thần Bí, chẳng hạn, Thánh nữ Têrêsa Avila, Thành nữ
Têrêsa Lisieux, hay Mẹ Têrêsa Calcutta…Vì nếp sống Thần Nhiệm cần phải
được thao luyện, lâu ngày lâu năm, cần <strong><em>“</em></strong><em>Linh
Thao”</em>(Spiritual Exercises), nghĩa là cần một nếp sống<strong><em>
Khắc Khổ, Tiết Dục</em></strong>, thì mới mong thành công. Do đó, xin
chia làm hai đoạn:</font></p>
<p style="text-align: justify;"><font size="4"> I/. </font><em>
<font size="4">Cách Sống Khắc Khổ giúp chế ngự ham mê và thăng hoa đời
sống con người như thế nào?</font></em></p>
<p style="text-align: justify;"><em><font size="4">I I/. Kết Nghĩa với
Chúa, trong Đời Sống Tâm Linh, Thần Nhiệm là làm sao?</font></em></p>
<p style="text-align: justify;"><font size="4">Đây là một đề tài vừa
trừu tựợng, siêu nhiên nhưng lại phong phú vô tận, vì là những kinh
nghiệm sống của mọi nguời, mọi tôn giáo, mọi thời đại. Những Kinh nghiệm
của một Nhân Loại luôn khát khao đi tìm về <strong>Cội Nguồn </strong>
của mình, như Thánh Âu Cơ Tinh( St. Augustin) đã nhận định một cách sâu
xa:”<strong><em> Trái tim Con Người vẫn còn khắc khoải xao xuyến, cho
đến khi được An Tâm trong Chúa</em></strong>”. Bởi vậy, trong bài này,
chỉ xin nêu lên một số Kinh Nghiệm Thao Luyện, mang <strong><em>tính
chất khả thi, thực hành,</em></strong> không diễn giảng dài về các lý
thuyết, hay các Trường phái Tu Đức. Vả lại, trong ít trang Điện Báo, chỉ
có thể cung cấp một số tài liệu, sách báo, hay giới thiệu tác giả.., <em>
để thông tin và giúp độc giả sưu tầm thêm</em>.</font></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><em><font size="4">Trong Lịch Sử
Tu Đức của Thiên Chúa Giáo, đặc biệt của Công Giáo,</font></em></strong><font size="4">
“T<em>rào Lưu các Vị Ẩn Tu”(hermite), hay các Vị Tu Rừng(Desert
Fathers)</em>, đã xuất hiện từ thế kỷ 2, 3, tại miền Ai Cập. Các vị Tu
sĩ đó xa lánh cảnh đời phồn hoa, thị tứ, tìm đến chốn rừng sâu, thanh
vắng để sống gần thiên nhiên, chăm chú vào việc chiêm niệm, cầu nguyện
và tập tành các nhân đức, đặc biệt cam kết giữ mình đồng trinh. Những Vị
Ẩn tu danh tiếng còn lưu truyền như <em>Thánh An tôn</em>, hay những mẩu
truyện về cách tu luyện nhiệm nhặt lạ thường như “<em>Ông Simon Cột”</em>.
Trong tiểu sử của <strong><em>Thánh Lê Bảo Tịnh,</em></strong> cũng đã
thuật lại câu chuyện Ngài đã bỏ Địa sở để trốn lên Rừng Bạch Bát( có
thể là vùng Rừng Cúc Phương , ngày nay), sống đời Ẩ n dật. Nhưng khi Bề
Trên biết được, thì đã buộc Ngài trở về Nhà Chung Kẻ Vĩnh, và làm Giám
đốc Chủng Viện ở đấy, cho đến khi bị bắt, rồi chịu chết vì Đạo.</font></p>
<p style="text-align: justify;"><font size="4">Suốt dòng Lịch Sử Hội
Thánh, không thể kể hết những <strong><em>Trường Phái Tu Đức</em></strong>
như muôn hoa tươi nở trong Vườn Thiêng của Chúa. Về lãnh vực đời sống
Tâm linh, Giáo hội thường tôn trọng đường hướng, cách thế tu luyện của
cá nhân, chỉ can thiệp khi nghịch lại Truyền Thống hay Giáo Lý của Hội
Thánh. Do đó, mãi cho đến ngày nay, ta thấy xuất hiện những Trường Phái
Tu Đức lớn như: Thánh Biển Đức(Benedictô), Thánh ĐaMinh( Dominicô)/
Thánh Phan Sinh( Franciscô), Thánh Inhã( Ignatiô), Dòng Cát
Minh(Carmelites) như Thánh Têrêsa Avila, Thánh Têrêsa Lisieux. Ngoài ra,
còn bao la nhiều khuynh hướng đạo đức của các Dòng Nữ, không thể kể hết
được.</font></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><em><font size="4">1./Huấn Luyện
Tu Đức cho các Chủng Sinh trong các Giáo Phận. Hội các Linh Mục Xuân
Bích</font></em></strong><font size="4">, chuyên chú vào việc Đào tạo
các Linh Mục làm việc mục vụ quản trị các Giáo Xứ, trong các Giáo Phận,
nên cũng cần một Đường Hướng Tu Đức thích hợp với đời sống hoạt động
Tông đồ. Trong nhiều năm, ở nhiều nước trên thế giới, các Chủng Viện
Xuân Bích đã dung một tài liệu giáo khoa để giảng dạy Khoa Tu Đức cho
các chủng sinh: Sách<strong><em>”TU ĐỨC HỌC</em></strong>” do Linh Mục
Xuân Bích <strong><em>Tanquerey</em></strong> sưu tập, soạn thảo. Sách
giáo khoa này đã phiên dịch từ nguyên bản Pháp văn ra nhiều thứ tiếng;(
bản dịch Việt ngữ có bán tại Regina Gift Shop, 1900 Grand Ave. Carthage,
Mo.64836). Ngày nay, nhất là sau cải cách của Công Đồng Vatican I I,
tình hình tôn giáo, xã hội thay đổi, nên phương pháp Huấn Luyện về Tu
Đức cho các Linh Mục Giáo phận cũng cần phù hợp với hoàn cảnh mới. Vì
thế, <strong><em>Hội Xuân Bích tại Hoa Kỳ,</em></strong> đã gia nhập và
hợp tác chặt chẽ với tổ chức”<em>Liên Hội các Dòng Tu Nam”,</em> để kiện
toàn phương pháp huấn luyện Tu Đức, đặc biệt về Huấn Luyện Tính Dục cho
các chủng sinh.</font></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><em><font size="4">Hội các Linh
Mục Xuân Bích tại Việt Nam, </font></em></strong><font size="4">thuộc
Tỉnh Dỏng Pháp, đã được các Giám Mục Địa Phận Hànội cho phép xây một
Chủng Viện tại Liễu Giai, gần Hồ Tây, Hà nội, từ 1930 cho đến 1946, đóng
cửa vì chiến tranh. Năm 1950, mở lại với một ban giáo sư mới; di tản vào
Vĩnh Long, năm 1954; tạm cư tại Thị Nghè (Sài gòn) từ 1956 đến năm 1962,
thì được Đức Giám Mục Giáo Phận Huế mời về cư trú tại Kim Long, bên bờ
Sông Hương, cạnh Thành Nội. Ngoài ra, Hội Xuân Bích cũng phụ trách quản
trị Chủng viện Thánh Gioan, và Chủng Viện Hòa Bình( banTriết lý)tại Đà
nẵng. Sau ngảy 30, tháng tư,năm 1975, tất cả các Chủng Viện đều đóng
cửa, và chỉ được phép mở lại vào năm 1994 cho đến ngày nay. Trong suốt
thời gian hơn 70 năm hoạt động, Hội Xuân Bích Việt nam đả phụ trách đào
tạo được một số lớn các Vị trong Giáo Phẩm như: ĐHY Trịnh Văn Căn, Phạm
Đình Tụng, các Vị GM như: Nguyễn Huy Mai, Trịnh Chính Trực, Nguyễn Tùng
Cương, Lê Văn Trọng, Phạm Tần, Nguyễn Văn Dụ, Nguyễn Sơn Lâm, Nguyễn
Bình Tĩnh, Nguyễn Văn Sang, Nguyễn Quang Tuyến, Nguyễn Văn Hoan…Và một
số đông các Vị Linh Mục danh tiếng như Cao Văn Luận, Lê văn Lý, Nguyễn
Văn Vinh,..Và hàng mấy ngàn các Linh Mục cho các Giáo Phận từ bắc chí
nam.</font></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><em><font size="4">2./Hội Xuân
Bích đã theo đường hướng hay phương pháp Tu Đức, Linh Đạo nào?</font></em></strong><font size="4">
Khi Đại Chủng Viện Xuân Bích tại Giáo Phận Hà Nội được mở lại vào năm
1950, vị Giám đốc và ban giáo sư mới đảm trách, thay thế ban Giám đốc
cũ. Do đó, đường hướng giáo dục và Linh Đạo cũng cải tiến theo sự canh
tân của Giáo Hội. Một đặc điểm nổi bật là khởi sự tuyển chọn một số Linh
Mục Việt Nam bổ sung vào Ban Giám đốc, và Giáo sư. Cha Giám Đốc<strong><em>
Pierre Gastine,</em></strong> (đã sang Việt Nam từ 1930), đạm nhận chức
Giám đốc từ 1951 đến 1970. Ngài thông thạo Hán văn và Việt văn, có thể
viết và giảng khoa Triết Lý bằng Việt Ngữ. Ngài đã “nhập tịch” vào làng
nước Việt và đổi sang tên Việt là <strong><em>Phêrô</em></strong>
<strong><em>Bùi Đức Tín.</em></strong> Ngài đã có công lớn lao về việc
đào tạo các Linh Mục Việt nam, thế hệ 1950-1975. Nét nổi bật trong chiều
hướng Tu Đức Linh Đạo cho các chủng sinh là Cha Bùi Đức Tín đã từng liên
hệ mật thiết với các bạn học cũ như Cha Vuillaume, cựu Bề Trên của Dòng
các “Tiểu Đệ Chúa Giê su”(Petit Frères de Jésus)do<strong><em> Chân
Phước Charles De Foucauld </em></strong>sáng lập(1858-1916). Tôn chỉ của
Dòng là:”<em>Chúa Giêsu là Tình Yêu”</em>( Jésus est Caritas). Các Anh
Tiểu Đệ, các Chị Tiểu Muội nêu gương khó nghèo, kết hiệp với Chúa và hòa
mình với mọi người để sống thông cảm, yêu thương.</font></p>
<p style="text-align: justify;"><font size="4"> Một Linh Mục Xuân Bích,
<strong><em>Cha Khổng tiến Xuân,</em></strong> (quốc tịch Pháp)đã từng
làm giáo sư dạy tâm lý học tại Chủng Viện Xuân Bích, Ngài đã gia nhập
Dòng các Tiểu Đệ Chúa Giêsu, và hiện nay đang hoạt động truyền giáo ở
Đại Hàn. Ngoài ra, Anh Tiểu Đệ hay lui tới thăm viếng Chủng Viện Xuân
Bích là L.M Nguyễn Kim Điền, sau này làm Giám Mục Cần Thơ, và TGM Giáo
Phận Huế. Anh Tiểu Đệ này, cũng đã nêu gương sáng về nhân đức khó nghèo,
hy sinh tính mạng vì bổn phận, và hòa hợp với nếp sống của giới lao
động.</font></p>
<p style="text-align: justify;"><font size="4">Hàng năm, Ngày Giỗ Tổ, 21
Tháng Mười Một, Lễ Đức Mẹ Maria Dâng Mình trong Đền Thánh, các Cựu Chủng
Sinh Chủng Viện Xuân Bính khắp nơi trong nước, thường tập họp để hâm
nóng lại đời sống tận hiến cho Chúa, theo gương Đức Mẹ Maria. Có thể
nhận xét: </font><em><font size="4">Lớp Giáo sĩ, Tu sĩ do Hội Các Linh
Mục Xuân Bích đào tạo, sống đơn sơ, (không quan liêu), dễ hòa hợp với
giới lao động, bình dân, và hăng hái hoạt động mục vụ, truyền giáo.</font></em></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><em><font size="4">I. SỐNG KHẮC
KHỔ TRONG NẾP SỐNG KHIẾT TỊNH</font></em></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><font size="4">Như đã trình bày ở trên,
sống nếp sống Khiết Tịnh, không phải là một sự nghịch lý, bệnh hoạn, hay
không thể thực hiện được. Trái lại, như gương sáng và kinh nghiệm rất
phong phú của các vị Giáo Sĩ Tu Sĩ minh chứng, nếp sống siêu nhiên này
cùng với Ơn Trên phù giúp, có thể hoàn thành được, miễn là người tu sĩ
tự do chấp nhận nếp sống “anh hùng” ấy, bằng cách sống KHẮC KHỔ, chay
tịnh, để tiết dục, và chú trọng vào việc chiêm niệm, Kết Nghĩa với Chúa,
gọi là <strong><em>THẦN NHIỆM.</em></strong> Tu Thân bằng nếp sống Khắc
Khổ, chay tịnh, thì có rất nhiều phương pháp khác nhau tùy theo Trường
phái Linh Đạo của các Dòng Tu như Linh Đạo của Thánh Biển Đức, Thánh
Phan Sinh, Thánh Inhã, Thánh Têrêsa Avila,v,v. Sau đây, xin nêu ra một
vài phương cách phổ thông, những lời khuyên răn, chỉ giáo giúp các chủng
sinh thực tập trong nếp sống Khắc Khổ, chế ngự thân xác để tiến lên từng
bậc thang Thánh thiện,Toàn hảo( Perfection).</font></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><em><font size="4">1/ Tính chất
“ Khả Thi” của nếp sống Độc Thân, Khiết Tịnh</font></em></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><font size="4">Ngày nay, vì thiếu những
thanh thiếu niên tự nguyện dấn thân gia nhập các Chủng Viện và các Dòng
Tu Nam Nữ, vì gương xấu của một số giáo sĩ lạm dụng tính dục đối với trẻ
em, nên một số tín hữu lầm tưởng rằng: chính nếp sống độc thân quá khắc
khổ, “phi nhân bản”(inhuman), đã là nguyên cớ gây ra cuộc khủng hoảng.
Do đó, họ đề nghị Tòa Thánh cho phép “các Linh mục được lấy vợ, thì sẽ
có nhiều người đi tu làm linh mục”. Nhưng gần đây, Tòa Thánh đã nhất
quyết duy trì nếp sống độc thân, khiết tịnh của các Linh Mục trong Hội
Thánh Công Giáo Rôma. Nếp sống độc thân, tuy là một Lý tưởng cao cà,
khó khăn, phi thường, nhưng không phải là điều nghịch lý, trái với bản
tính con người. Trong xã hội, dân chúng vẫn cảm phục những vị anh hùng
ái quốc, hy sinh đời sống gia đình,”thê nhi”, để được thảnh thơi lo việc
cứu nước; những nhà khoa học tận tụy suốt đời cho việc nghiên cứu, cứu
nhân độ thế. Trong văn chương, thi ca, tuy là giả tưởng, “lý tưởng”,
nhưng không phải vô thực, như những truyện tình ái lâm ly giữa “Lan và
Điệp”, hay mối tình cao thượng giữa “Anh Gù Nhà Thờ Đức Bà Paris, và
nàng Du Ca”( Victor Hugo). Hàng ngày, ta có thể chứng kiến những vị chân
tu trong các tôn giáo như<em> Mẹ Têrêsa Calcutta, ĐGH Gioan Phao Lô I I,
22 vị Thừa sai Công giáo bị giết chết trong năm 2005,</em> hy sinh nếp
sống gia đình để thực hiện lòng Mến Chúa, Yêu Người. Các Ngài sống hạnh
phúc, vui vẻ, và điều hòa, quân bình. Trong tâm trạng của người dân
Việt, đã gọi là một vị chân tu”xuất gia tu hành”mà còn vương vấn cảnh
“thê nhi”tùm lum, là không đứng đắn, không nghiêm chỉnh. Do dó, các Linh
Mục, các tín hữu Việt Nam không đặt ra vấn nạn phi lý này trong một xã
hội vật chất dâm loạn, tỷ lệ ly dị lên tới 50%. <em>Có gì bảo đảm các
“Linh Mục lấy vợ”sẽ trung thành với bà xã suốt đời chăng?</em> Trên cõi
đời này, nhiều điều tưởng khó xẩy ra, nhưng đã xuất hiện trước mắt
chúng ta. Chẳng hạn, tại Trung Tâm thương mại”Little SaiGon”, Phước
-Lộc- Thọ, Bolsa, Santa Ana, trong cảnh phồn hoa, nhộn nhịp, ăn nhậu,
mỗi ngày khách du lịch thường thấy tận mắt một thanh niên, một vị khất
sĩ, chừng trên 20 tuổi, vận áo vàng, đầu trọc, đứng ngoài nắng, ngay cửa
ra vào, để xin bố thí, khất thực.</font></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><em><font size="4"> 2/ Nếp sống
chay tịnh, đơn sơ, giản dị, vận động, tập thể dục mỗi ngày</font></em></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><font size="4"> Con người có Xác và Hồn,
liên hệ mật thiết với nhau. Do đó, từ xưa tới nay, trong mọi Trường phái
Tu đức, đều tìm cách chế ngự thân xác để việc “tu tâm dưỡng tánh” được
dễ dàng tiến lên đới sống tinh thần, siêu thoát. Lịch sử các Dòng Khổ Tu
Công Giáo như <em>Châu Sơn (Ninh Bình), Phước Sơn, Phước Lý..</em> vẫn
thực hành những cách thế<strong><em>”hãm dẹp xác thịt”</em></strong> như
ăn chay, <strong><em>đánh tội</em></strong>( dùng giây thắt lưng quất
vào lưng), kiêng thịt, kiêng rượu và lao động chân tay, hay trí thức.
Nhờ ăn chay trường với thức ăn đạm bạc, nhưng nhiều chất dinh dưỡng như
đậu phụ, dưa chua, canh rau…mà nghị lực dồi dào, thân xác khoẻ mạnh, cân
đối, nhờ chơi thể thao, thể dục, bớt phì nộn, béo mập. Ngoài ra, người
tu hành cũng tránh ăn mặc sa hoa, nhà lầu, xe hơi, tiện nghi đồ dùng đắt
tiền. Ngày nay, khách hành hương vẫn còn chứng giám những gian phòng nhỏ
hẹp, tấm phản gỗ dùng làm giường nằm, tại các Thí điểm truyền giáo của
các vị Thừa sai tiên khởi như Chân Phước Junipero Sierra,( Mt Carmel,
California). Cũng vì ăn uống”cao lương mĩ vị”, tiệc tùng, cùng với tâm
trạng cô đơn, nên một số giáo sĩ, tu sĩ đã rơi vào cạm bẫy của nghiện
rượu. Do say sưa, không còn kiểm soát được dục tính, nên đã dùng bạo lực
để hãm hiếp.</font></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><em><font size="4"> 3/Ba Lời
Khấn : “Khiết Tịnh, Khó Nghèo, Vâng Phục”Ràng Buộc, Hỗ Trợ nhau</font></em></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><font size="4"> Theo kinh nghiệm Tu Thân
của các Dòng Tu, ba lời khấn hứa, hay cam kết: <strong><em>Khiết tịnh,
Khó nghèo, Vâng phục, là phương pháp Khắc Khổ cao quí nhất</em></strong>
để giúp người tu sĩ được Tự Do, thảnh thơi tiến lên bậc Thiện Toàn. Bộ
Ba Nhân Đức này cấu kết lại để diệt tính cái <strong><em>“giả Ngả</em></strong>”(false-Self),
tức tính vị kỷ, “yêu mình”, tự cao, tự đại, kiêu ngạo, ham sung sướng,
giầu sang, quyền cao chức trọng. Điều quan trọng là phải hiểu biết ý
nghĩa <strong><em>TÍCH CỰC </em></strong>của Ba Nhân Đức này.</font></p>
<p style="text-align: justify;"><em><font size="4">Không lấy vợ , lấy
chồng để làm gì? </font></em><font size="4">Có phải sợ gánh nặng gia
đình chăng? Có phải để được yên thân, yên phận? Đời sống Tận Hiến, khiết
Tịnh có tiêu diệt “Tình Yêu” không? Trái lại, một tu sĩ Tận Hiến, <em>vì
muối noi Gương Thày Chí Thánh</em>, tình nguyện, tự do sống độc thân vì
Nước Trời, để có thể luôn sẵn sàng phục vụ và Yêu thương giúp đỡ mọi
người, giầu nghèo, sang hèn.. Tình <strong><em>BÁC ÁI </em></strong>luôn
mở rộng và bao quát mọi người.con Chúa.</font></p>
<p style="text-align: justify;"><em><font size="4">Thế nào là sống “khó
nghèo” một cách tích cực?</font></em><font size="4"> Người tu sĩ Tân
Hiến không khinh chê việc mở mang kinh tế, giúp cho nước giầu dân mạnh.
Nhưng sống đơn giản, <em>“hàng ngày dùng đủ”</em>, luôn biết dùng tiền
bạc (“như đầy tớ”) để làm việc Thiện, giúp đỡ người túng thiếu, bần cùng
trong xã hội, thời đại nào cũng đầy rẫy..</font></p>
<p style="text-align: justify;"><em><font size="4">Vâng Lời có phải là
làm mất phẩm giá con người không?</font></em><font size="4"> Vâng lời,
vâng phục lệnh của cấp trên chỉ vì <strong><em>LỢI ÍCH CHUNG </em>
</strong>của Hội Thánh, của Hội Dòng hay Giáo Phận mà mình đang phục vụ.
Vâng Lời theo nghĩa Tích cực là <strong>PHỤC THIỆN,</strong> nghe theo
Lẽ Phải của người già người trẻ, không dộc tài, cố chấp, kiêu ngạo. </font></p>
<p style="text-align: justify;"><font size="4"> <em>Nhưng kinh nghiệm tu
đức cũng cho thấy</em>: ba tính xấu, quen goị là “<strong><em>BA THÙ”</em></strong>
nghịch với ba Nhân Đức kể trên, luôn cấu kết, và chuyển biến cho nhau,
dưới nhiều hình thức. Một tu sĩ sống nghiệm ngặt về Khiết tịnh, nhưng để
bù lại, lại khó tính khó nết, ham tiền, ham quyền. Nhiều tiền, dễ :mua
dâm”, nhiều quyền dễ “cưỡng hiếp”. Nhiều khi, cá nhân tu sĩ thì không có
của riêng, nhưng cơ sở chung của Dòng quá lớn lao, nguy nga, đồ sộ, thật
“khó mà nghèo” được! Do đó, cần phải đề phòng để tiêu diệt cả ba nết
xấu, luôn biến thể dưới nhiều hình thức. Trong văn hóa, văn chương Việt
Nam, nhà thơ trào phúng Tú Xương(?)đã khéo bộc lộ tâm lý éo le của lòng
ham muốn vị kỷ như sau:</font></p>
<p style="text-align: justify;"><em><font size="4">Một trà, một rượu,
một đàn bà,</font></em></p>
<p style="text-align: justify;"><em><font size="4">Ba cái lăng nhăng nó
quấy ta.</font></em></p>
<p style="text-align: justify;"><em><font size="4">Chừa được món nào,
hay món ấy,</font></em></p>
<p style="text-align: justify;"><em><font size="4">Có chăng chừa rượu
với chừa trà</font></em><font size="4">.</font></p>
<p style="text-align: justify;"><em><font size="4"> </font></em><font size="4">Thầy
Giảng già, làm thơ, “nhái lại” như sau</font><em><font size="4">:</font></em></p>
<p style="text-align: justify;"><font size="4"> </font><em>
<font size="4">Một Tiền, Một Quyền, một “Liền Bà”</font></em></p>
<p style="text-align: justify;"><em><font size="4"> Mưu chước Ba
thù, cám dỗ ta.</font></em></p>
<p style="text-align: justify;"><em><font size="4"> Trừ được thứ
nào, vui thứ nấy,</font></em></p>
<p style="text-align: justify;"><em><font size="4"> Nên chăng phải
trừ tất cả Ba.</font></em></p>
<p style="text-align: justify;"><em><font size="4"> </font></em><strong><em><font size="4">4/
Tính Dục và văn thơ “Hài” trong Văn Hóa Việt Nam</font></em></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><font size="4"> Triêt gia Henri Bergson,
thuộc Trường phái Triết học “Trực Giác”(Intuition).( Theo học giả Trần
Trọng Kim, các vị hiền triết Á đông, như Việt Nam, cũng thường dùng Trực
Giác, để tìm ra Chân lý). Ông Bergson đã xuất bản cuốn sách nổi tiếng:”<strong><em>Le
Rire”(</em></strong> Cái Cười) để bàn luận về ý nghĩa của hài kịch,
chuyện tiếu lâm, pha trò: bản chất của Cười là gì? tại sao Cười? cách
dàn dựng vở hài kịch như thế nào? Sau khi khảo cứu những tác phẩm, và
tác giả nổi tiếng về hài hước như Molière.., ông Bergson đã định nghĩa :
<strong><em>cái Cười có Xã hội tính</em></strong>( Le Rire est social).
Ở đây, ý nghĩa tiếng Cười, không hẳn là “vui mừng, ngợi khen”, nhưng là”<strong><em>CHÊ
CƯỜI</em></strong>”. Tại sao, tự nhiên ta bật cười khi thấy anh nghiện
rượu, chân thấp chân cao, đi lẹo xẹo, ngả nghiêng, hoặc chế nhạo khi
gặp cảnh:” <em>Bây giờ chồng thấp vợ cao, Như đôi đũa lệch, so sao cho
bằng!</em>”…Lý do, tự nhiên ta bật cười, vì cảm thấy nó <em>“khác đời</em>”,
không bình thường như mọi người vẫn thấy vẫn làm, nghĩa là nó “<em>trật
ra bên lề xã hội, thói quen”;</em> do đó, ta dùng tiếng Cười để chê
cười, nhạo cười, để bắt phải trở về với thói quen, với tập quán trong xã
hội. Bị làng xóm chê cười vì lối sống khác lạ, lệch lạc, mất quân bình,
thái quá. Áp dụng phương pháp của Henri Bergson để khảo sát văn chương,
nghệ thuật của Việt Nam, ta nhận thấy tính chất <strong><em>HÀI </em>
</strong>rất sâu đậm trong những câu ca dao tục ngữ, câu Hò, câu Đố(đố
tục, giảng thanh, đố thanh giảng tục), những chuyện<em> Tiếu lâm, Trạng
Quỳnh, Trạng Lợn..và loại thơ phú “Hồ Xuân Hương”, Ba Giai Tú Xuất, Tú
Xương,</em> <em>Tú Mỡ.</em>.Và ngày nay, những ban “hài”như <em>Vân Sơn,
Tam ca, Hoài linh, Hồng Đào, Quanh Minh..</em>(trong các CD của Thúy
Nga, Asia..) được các gia đình ưa thích thưởng thức. Nhận xét chung,
văn hóa và tinh thần người dân Việt vẫn còn quân bình, không lệch lạc,
không ”<em>LỐ BỊCH”(</em>grotesque) đối với nhu cầu “Tính dục”(Sex)của
con người. Trong khi “cách mạng Tính dục”(sex revolution) đề cao quá
mức, tô điểm bộ phận sinh dục, khêu gợi, kích thích dục tính cuồng dâm
của văn minh tiêu thụ, thì dân “Hài” Việt được dịp đem ra chế diễu
những cái “Lố bịch”, thái quá về “Sex”, để giúp người đời trở về với
lương tri, với Xã Hội lành mạnh. Bởi vậy, văn chương Hài Hước, châm biếm
của tinh thần Âm-Dương Điều hòa của Văn Hóa Việt, đã đóng góp vào việc
tìm hiểu giá trị cao quí thật của Tính Dục, và đả phá, chê cười những
thói rởm, khiêu dâm, làm rối loạn tâm thần. Người không biết xấu hổ,
tức người <strong><em>“vô liêm sỉ”</em></strong> là người nguy hiểm đối
với xã hội. </font></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><em><font size="4"> Nói tóm lại,</font></em></strong><font size="4">
theo sinh lý, con người và loài cầm thú rất giống nhau trong <em>“hành
vi tính dục”</em>(sexual act). Nếu có khác nhau, chỉ vì con người, <em>
“linh ư vạn vật”,</em> ban cho hành vi đó một ý nghĩa đặc biệt cao quí
là biểu lộ </font><strong><em><font size="4">tình Yêu Mến, lòng Chung
Thủy, và nghĩa Vợ-Chồng.</font></em></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><em><font size="4"> 5/ Người
Lính Đào </font></em></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><em><font size="4"> Trong tập sách Tự
Thuật của Thánh Têrêsa thành Lisieux</font></em><font size="4">, có đoạn
tả tâm trạng của người “lính đào ngũ”(le soldat deserté). Mới 16 tuổi,
Têrêsa đã được phép vào sống trong Dòng Kín tại Lisieux. Sống chung với
các chị đã ngoài 70, 80 tuổi, rất khó tính khó nết, không làm sao mà
chiều chuộng cho nổi được. Một chị già nua bệnh tật, có ác cảm , luôn
trách móc, bắt bẻ Têrêsa về những chuyện lặt vặt, không đâu. Nhưng vì
lòng Bác ái, Têrêsa luôn nhịn nhục, không cãi lại. Chịu đựng một thời
gian khá lâu, mỗi lần có việc phải gặp, là lại sinh chuyện la rầy, làm
tâm thần Têrêsa thêm mệt mỏi, căng thẳng vì sức chịu đựng đã kiệt quệ.
Một lần, vì nén cơn tức giận, Têrêsa, rung động, không bước đi được,
phải ngồi lại trên bậc cầu thang để nghỉ. Vì sức yếu đuối của con người,
để khỏi phải tranh cãi, giận dữ, đối đầu với chị già khó tính, Têrêsa đã
nghĩ ra mưu kế của “người Lính Đào”, là chạy trốn chị ấy, để bảo toàn
lòng bác ái, tha thứ.</font></p>
<p style="text-align: justify;"><font size="4">Trong đường Tu Đức cũng
như trong phép “Binh Thư, Chiến Thuật”, cần phải biết lượng sức mình và
sức quân địch, thì mới mong thắng trận được. Nếu sức quân mình yếu, khó
có thể thắng, thì nên rút lui để bảo toàn lực lượng, chờ dịp khác sẽ tấn
công. Vì thế, có câu</font><strong><em><font size="4">:”Tam thập lục kế,
đào vi thượng sách”( trong 36 kế, chạy trốn là kế hoạch tốt nhất”).
</font></em></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><font size="4">Câu chuyện ngưòi Lính
Đào, cũng chính là lời cầu nguyện: “<strong><em>Xin chớ để chúng con sa
chước cám dỗ”,</em></strong> hay<strong><em> “tránh xa dịp tội”</em></strong>
. Kinh nghiệm cho thấy: các giáo sĩ tu sĩ sa ngã về “sex”, vì coi thường
sức cám dỗ của <strong><em>luật “Âm-Dương”</em></strong>, (vợ-chồng). Về
vấn đề”tránh xa dịp tội” của các tu sĩ, cần sự cộng tác của gia đình
cha mẹ, anh chị em, bà con thân quyến, các tín hữu, bạn bè, <strong><em>
nhất là nữ giới để ngăn ngừa, và đề phòng những “dịp tội”</em></strong>.</font></p>
<p style="text-align: justify;"><font size="4">Sau đây xin trích mấy lời
khuyên thực tế giúp tránh xa mưu chước của “Ba Thù”:</font></p>
<p style="text-align: justify;"><font size="4">“</font><em><font size="4">Xét
theo quá trình trong gia đình, phần đông các giáo sĩ xuất thân từ những
gia đình khiêm tốn trong xã hội, tính tham lam và hà tiện sẽ làm chai
lòng dạ của linh mục trước ân sủng của Thiên Chúa và nỗi bất hạnh của
người khác.</font></em></p>
<p><font size="4">Ngày nay giáo sĩ cởi mở hơn đối với xã hội, vì thế họ
có nhiều cơ hội tiếp xúc với nữ giới. Khuynh hướng đeo đuổi một cuộc
sống thanh thản và tiện nghi cũng đẩy đưa đến việc kiếm tìm sự giải trí
và hoan lạc, nhất là khi họ có một khái niệm mơ hồ đến những đòi hỏi của
đức khiết tịnh. Ðó là tại sao ngày nay các linh mục đi theo phụ nữ ra
bải biển hay đi cắm trại thật là không hiếm.</font></p>
<p><font size="4">Một số linh mục coi việc làm bạn với nữ giới là một
chuyện bình thường. Ðối với vài linh mục, hình ảnh khỏa thân và tài liệu
dâm ô không còn coi là điều cấm. Giáo dân và ngay cả linh mục dường như
không còn ác cảm tới các linh mục có con riêng và vẫn còn thi hành chức
linh mục. Tạ ơn Chúa, hầu hết các linh mục Việt Nam vẫn sống theo nhân
đức khiết tịnh”</font></p>
<p style="text-align: justify;"><font size="4">(Trích Thông Tấn Xã Á
Châu, Nov/09/2002, Bài Phỏng Vấn </font><strong><font size="4">ĐGM
Nguyễn Bình Tĩnh, Cựu Giám Đốc CHỦNG VIỆN HUẾ)</font></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><font size="4">I I.</font></strong><font size="4">
</font><strong><font size="4">ĐỜI SỐNG THẦN NHIỆM, KẾT NGHĨA VỚI CHÚA</font></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><font size="4">Đời sống Thần
Nhiệm(Mystic), Thần Bí, Kết nghĩa với Chúa mới thật sự là tuyệt đỉnh của
nếp sồng Độc thân, Khiết tịnh. Con người không thể sống hoàn toàn cô
đơn, cô thế được. Con người có khả năng “thăng hoa” đời sống dục tính tự
nhiên lên nếp sống tâm linh, “Thần nhiệm”, Kết nghĩa với Đấng Thiêng
Liêng cao cả. Đây cũng là kinh nghiệm vẫn tìm thấy trong các Tôn Giáo
lớn như Phật giáo, như LM Thomas Merton (và các Linh Mục thuộc Dòng Biển
Đức , tại Tu Viện Giệtsêmani(Kentucky)) đã viết trong sách<em>:”Mystic
and Zen Masters”.</em> Sau đây, là mấy phương thế thực hành do các vị
thần bí thường dùng để nuôi dưỡng đời sống Tâm linh.</font></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><em><font size="4">1/Tính
Chất”Bí-Tích” Trong Thiên Chúa Giáo</font></em></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><font size="4">Trong Công Giáo, các tín
hữu bắt buộc phải học biết ý nghĩa thiêng liêng của <strong><em>“Bảy
Phép Bí Tích”</em></strong> trước khi được lãnh nhận như: Bí tích Thánh
Tẩy(Rửa tội), Thêm Sức, Xưng tội, Rước Lễ, Hôn phối, Truyền chức, và Sức
dầu bệnh nhân. Theo Giáo lý, mỗi <strong><em>BÍ-TÍCH</em></strong> đều
có hai phần: <strong>Tích</strong> là Dấu Tích, hữu hình, chỉ thể chất
ngũ quan có thể cảm nhận được( trong nguyên tự chữ Nho, chữ Tích vẽ hình
một vết bàn chân); và<strong> Bí</strong> là Bí Mật, vô hình, chỉ những
thực tại thiêng liêng, là Ơn Thánh. Người tín hữu Thiên chúa giáo, đặc
biệt người Công giáo, ngay khi còn nhỏ, đã được huấn luyện về tính chất
Bí-Tích(Sacramentality), trong đời sống Đức tin, Phụng vụ. Tinh thần “Bí
-Tích”này còn bao trùm lên ý nghĩa thiêng liêng của các hiện tượng thiên
nhiên, và xã hội, nhân sinh. Chẳng hạn, người Công giáo tin rằng: Nhìn
vũ trụ bao la, muôn muôn triệu tinh tú, vạn vật vận chuyển ĐIỀU HÒA, thì
liền nhận biết có MỘT ĐẤNG THIÊNG LIÊNG điều khiển. Người theo Đạo Công
Giáo cũng được đào luyện một tinh thần trung hòa trong lý luận, cân
đối, không thái quá không bất cập. Sách Giáo lý dạy rằng: Con người có :<em>Xác-
Hồn, Vật chất-Tinh thần, Thiên đàng-Hỏa ngục, Tự nhiên-Siêu nhiên, Cá
nhân-Xã hội… </em>Những cặp <strong><em>“Song Trùng</em></strong>”(hay
Đạo Hai)này biểu lộ một tinh thần quân bình, điều hòa trong nhận thức và
cách tiếp cận với thế giới bên ngoài. Triết Lý Âm-Dương Điều hòa của Văn
hóa Việt Nam cũng giúp ta hiểu biết, và quen thuộc với ý niệm về “Bí
–Tích” trong Đạo Công Giáo. Trong Bí-Tích Rửa tội(Baptism), nước lã, dầu
thánh, lời đọc là phần <strong><em>Hữu Hình</em></strong>, đồng thời ám
chỉ, biểu trưng cho thực tại <strong><em>Vô-Hình, chính là Ơn Nghĩa tử
với Chúa</em></strong> tẩy sạch mọi tội lỗi, và ban Ơn Chúa Thánh Thần
để tăng cường đời sống tâm linh, và bảo đảm cho người lãnh Bí-Tích Ơn
Trường Sinh, Vĩnh Phước.</font></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><em><font size="4">2/Tình Yêu Tự
Nhiên và Tình Yêu Siêu Nhiên</font></em></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><font size="4">Ngay trong lãnh vực
<strong><em>TÌNH ÁI,</em></strong> Kinh Thánh và Thần Học Công Giáo cũng
nhìn nhận <em>những thực tại tự nhiên, vật chất làm biểu tượng ám chỉ
những thực tại thiêng liêng vô hình:</em> Do đó, Kinh Thánh Cựu Ước so
sánh Tình ái của Vợ-Chồng với Tình Thương của Giavê đối với dân Do thái.
Các tiên tri đã sánh ví tội bất trung của dân Do thái đối với vị Chú Tể
như tội bội tín của một người vợ ngoại tình. Thánh Tông Đồ Paulô đã
viết, và so sánh tình yêu Vợ-Chồng như Tình Thương của Chúa Cứu Thế đối
với Hội Thánh.</font></p>
<p style="text-align: justify;"><font size="4">Như đã định nghĩa:con
người là một <em>“nhân vị có tính dục”</em>(a sexual Person), nhưng con
người cũng có khả năng “thăng hoa” đời sống tính dục tự nhiên lên nếp
sống Siêu Nhiên, để hoàn toàn dâng hiến bản thân phụng sự Chúa và tha
nhân. Bởi vậy, nếu một tu sĩ thiếu Tình Yêu siêu nhiên, Kết Nghĩa với
Chúa, thì đời sống tự nhiên trở nên cô đơn, cô độc, cô thân, cô thế, vất
vưởng, vì thiếu nơi nương náu. Do đó, theo kinh nghiệm Tu Đức của các
vị Thánh nhân, để khỏa lấp vào nỗi trống rỗng của tâm hồn, hàng triệu
triệu tu sĩ đã chạy đến nhờ bàn tay Từ ái của <strong><em>MẸ MARIA nâng
đỡ, phù trì, </em></strong>trên bước đường gian lao, và HY SINH vác
Thánh Giá, theo Chân Thày Chí Thánh để cộng tác vào công cuộc cứu chuộc
nhân loại. Ngoài ra, gương sáng về Nhân Đức Trinh Khiết của Thánh Cả
Giuse, các Thánh Nam Nữ , của các vị Thừa sai Truyền Giáo, (hơn 20 vị bị
giết chết năm 2005), vì đem Tin Mừng của Chúa đến những nơi hẻo lánh,
nguy hiểm, cũng đem lại nguồn an ủi lớn lao, và khích lệ cho những người
trẻ đang tập sự trong nếp sống độc thân, khiết tịnh. Tuy bề ngoài, vị
chân tu cũng ăn uống, nghỉ ngơi, làm việc sinh sống như mọi người khác,
nhưng đời sống Nội Tâm, và Ý nghĩa cuộc đời thì khác. Thánh Phao Lô, nhà
“Đại-thần-bí” đã diễn tả cuộc sống siêu nhiên đó là”</font><strong><em><font size="4">Chúa
Sống trong Tôi”</font></em></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><em><font size="4">3/ Suy Niệm
và Bí –Tích Thánh Thể </font></em></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><font size="4"> Để nuôi dưỡng nếp sống
khiết tịnh, độc thân, các Trường phái Tu đức của các Dòng Tu Công Giáo
(như Thánh Beneditô, Thánh Ignatiô..) đã đặt ra nhiều Phương Pháp Suy
Niệm(Meditation) để thực hành, nhưng mọi cách thế đều cùng chung một
chủ đích là huy động toàn thân con người, các giác quan, nhất là tập
trung tư tưởng, tình cảm và ý chí muốn KẾT HIỆP cùng Chúa Cứu Thế là cứu
cánh của đời tận hiến. Suy Niệm cũng là một hình thức Cầu Nguyện, nhưng
đặc biệt dùng Lý trí, để tìm hiểu và nghiền ngẫm những Chân Lý đã được
mạc khải trong Kinh Thánh.</font></p>
<p style="text-align: justify;"><font size="4">Theo kinh nghiệm của các
vị Thánh Nhân, như Đức Cố Giáo Hoàng Gioan Phao Lô I I, việc cầu nguyện,
và suy niệm trước Thánh Thể là cách thế tốt nhất để tăng cường sức mạnh
thiêng liêng, để chống lại cơn cám dỗ trong nếp sống độc thân, cô đơn và
được Chúa an ủi khi tâm trí hoàn toàn kết hiệp với Chúa đang hiện diện.
Kinh nghiệm trong các tuần Tĩnh Huấn của Phong Trào Cursillo cũng minh
chứng một hiện tượng tâm linh khác thường. Trong phòng tối, các khóa
sinh quì cầu nguyện, và bộc lộ tâm sự với Chúa Giêsu hiện diện trong
Thánh Thể, thì hầu hết mọi người đều tuôn trào nước mắt vì quá xúc động,
vì Tình Liên kết mật thiết với Thày Chí Thánh. Do đó, Dòng “Anh Em Tiểu
Đệ”hay “Tiểu Muội”do Chân Phước Charles de Foucauld sáng lập đã coi
việc chầu Thánh Thể, trong sa mạc vắng lặng, hoặc dưới túp lều tranh tả
tơi, nóng bức, là nguồn sinh khí ban thần lực cho các tâm hồn khiêm nhu,
nghèo khó, khiết tịnh.</font></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><em><font size="4">4/ Suy Niệm
và cuộc đời “Phù Vân”</font></em></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><font size="4">Suy niệm về cuộc đời
<strong>“Phù Vân</strong>”( mây trôi nổi, chóng qua mau hết), cũng là
một nhận xét sâu xa về giá trị thật của đời người, và là một phương thế
Tu Thân khá hiệu nghiệm. Cho đời là “Bể khổ”, là “Vô thường”, biến đổi
luôn, chẳng có gì là “thường hằng bất biến”, có thể bị người đời phê
phán là bi quan, yếm thế, trốn tránh cuộc đời. Nhưng theo quan niệm tu
đức của Thánh Kinh, của Thánh Phao Lô Tông đồ, thì là một nhận định thật
tế, khôn ngoan, và lạc quan, yêu đời.</font></p>
<p style="text-align: justify;"><font size="4">Trong các Sách dạy về Tu
Đức, cuốn sách “GƯƠNG CHÚA GIÊSU”( Imitation of Jesus Christ, thường gọi
là:Sách Gương Phúc) mở đầu bằng những lời khuyên như sau:</font></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><em><font size="4">“ Mọi sự đều
giả dối, trừ ra yêu mến và làm tôi một mình Chúa mà thôi!” </font></em>
</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><font size="4">Đây là một châm ngôn và
nguyên tắc để giảng nghĩa Sách Thánh như Sách GIẢNG VIÊN( Ecclesiastes),
Các Thánh Vịnh (Psalms), Thơ của Thánh Phao Lô Tông Đồ. Thật vậy, mọi sự
trên đời là mau qua may hết, nhưng con người không bi quan như câu
nói:”chết là hết”, hay”chó chết, hết chuyện”. Đây chỉ là mối tuyệt vọng
của kè vô tín ngưỡng. Trái lại, niềm TIN bất biến vào Một Đấng Hằng Có,
Vĩnh Cửu, Trường Tồn, khiến ta càng lạc quan làm việc lành, phước thiện
để lập công nghiệp, để được sống trường sinh, vĩnh phước. Đây cũng là
phương thức suy luận điều hòa, quân bình, trong tư tưởng triết lý của
Thiên Chúa Giáo.</font></p>
<p style="text-align: justify;"><font size="4">- Trong Sách <strong><em>
“GIẢNG VIÊN</em></strong>”:( Đoạn 12, và Kết Luận, câu:8-13):</font></p>
<p style="text-align: justify;"><em><font size="4">“ Giả trá, phù vân,
mọi sự đều là giả trá”(câu 8)..</font></em></p>
<p style="text-align: justify;"><em><font size="4">“Hãy Kinh sợ Chúa,
và tuân giữ Lề Luật của Chúa, vì đây là tài sản của con người, Chúa sẽ
xét xử mọi việc làm, mọi việc thầm kín, tốt hay xấu(Câu: 13-14)</font></em></p>
<p style="text-align: justify;"><font size="4"> <strong><em>- THÁNH
VỊNH</em></strong>( Psalms). Đây là 150 Ca Vịnh, có thể nói là những
Thánh Thi được dùng trong Phụng vụ các Giờ Kinh, được các Giáo si, Tu sĩ
đọc hằng ngày, hằng giờ. Ý THƠ và lời văn của mỗi Thánh Vịnh luôn nhắc
nhở người tu sĩ độc thân nhận định một cách sáng suốt về sự<strong><em>
mong manh, hư nát của thân thể</em></strong>, và vui thú trần gian, cùng
với lòng trung thành, kiên tâm tin tưởng và yêu mến Chúa. Bởi vậy, một
tu sĩ độc thân bò đọc Thánh Vịnh mỗi ngày, hay đọc một cách máy móc,
thiếu cảm nghiệm, thì khómà sống đời Khiết tịnh một cách vui tươi, hứng
khởi, lạc quan được.</font></p>
<p style="text-align: justify;"><font size="4"> - <strong><em>THÁNH
PHAO LÔ</em></strong>, đã viết :( 1 Cor .7,29-31</font><em><font size="4">):
“Thời giờ vắn vỏi; còn có cách là những ai có vợ, hãy ở như không có;
những ai than khóc, hãy ăn ỏ như không khóc; những kẻ hân hoan, hãy ăn ở
như không hân hoan; những người mua sắm hãy ăn ở như không có gì; những
ai dùng sự đời này, hãy ăn ở như không tận hưởng, vì chưng bộ mặt thế
gian này đang qua đi.” </font></em></p>
<p style="text-align: justify;"><em><font size="4"> </font></em><strong><em><font size="4">TẠM
KẾT: TU ĐỨC của HỘI XUÂN BÍCH </font></em></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><font size="4"> Tu đức được giảng dạy và
huấn luyện trong các Chủng Viện do Hội các Linh Mục Xuân Bích quản trị,
thuộc “<em>Trường Phái Tu Đức Pháp quốc”</em>( French School of
Spirituality, với các vị như Thánh John Eudes, Thánh Vincent de Paul,
Cardinal Bérulle, Thánh J.B de la Salle, Jean Jacques Olier..) Chủ đích
là huấn luyện cho các Linh Mục, Giáo sĩ” <strong><em>đời sống nội tâm”</em></strong>(
interior life) và” <strong><em>tinh thần tông đồ, truyền giáo”</em></strong>(
apostolic spirit). Cha Jean Jacques Olier, vị Sáng lập Hội các Linh Mục
Xuân Bích đã viết:</font></p>
<p style="text-align: justify;"><em><font size="4">“Chủng Viện Xuân
Bích.. đã thánh hiến và tận hiến mình để Tôn Thờ Chúa Giêsu Kytô là Vị
Thượng Tế và là Vị Tông Đồ cao cả của Chúa Cha; và Tôn Kính Ngài đang
sống động trong Hội Thánh( Phẩm trật Hội Thánh). Hằng ngày, Chủng Viện
Xuân Bích cầu nguyện cho mình và cho toàn thể Hội Thánh được tinh thần
tông đồ, để đổi mới nơi chính mình Tình Yêu của Chúa Giêsu Kytô, và thái
độ Tôn Thờ của Người đối với Đức Chúa Cha; đặc biệt, <strong>cầu nguyện
cho hàng Giáo sĩ có tinh thần tông đồ, vì các vị này là nguồn mạch sự
thánh thiện, để các ngài phân phát cho giáo dân”</strong>( Divers
écrits, I, 67) </font></em></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><em><font size="4">Qua bản văn
trên, có thể tóm lược:</font></em></strong><font size="4"> <em>Sứ Mệnh</em>(Mission)
của Chủng viện Xuân Bích là canh tân tình yêu mến cúa Giêsu Kytô trong
Hội Thánh, qua việc canh tân lòng đạo đức của các Giáo sĩ Địa phận. Do
đó, các Linh Mục, Giáo sĩ phải là MÔ PHẠM, GƯƠNG MẪU cho đời sống của
các Tín Hữu. Cũng vì những lý do kể trên, Các Chủng Viện Xuân Bích đặc
biệt quan tâm về những tội phạm về”<strong><em>Lạm dụng tính dục đối với
trẻ em”</em></strong>, vì vi phạm nhân phẩm của nạn nhân, hơn nữa, vì
mâu thuẫn với niềm <strong>TIN NƠI CHÚA GIÊSU</strong>, là cùng đích của
đời Sống Tận Hiến, Khiết Tịnh.</font></p>
<p><font color="#800000" size="4"><em>L.M. ĐƯỜNG THI</em></font></td>
</tr>
<tr>
<td>
<p align="right"><i>Nguồn:xuanbichvietnam.wordpress.com </i></td>
</tr>
<tr>
<td>
<p align="center">
<a target="_top" href="../../../index.htm">
<img src="http://tinmung.net/tinmungLOGO/homepage.gif" width="100" border="0" height="34"></a></td>
</tr>
</table>
</body>
</html>