File "Chiasenhanngayvisusongtrongnamlinhmuc.htm"
Full path: E:/sites/Single15/tinmung2007/webroot/SUYNIEM_HANGTUAN/Suy-Niem-Chuyen-De/NamLinhMuc/tin moi ve nam linh muc/Chiasenhanngayvisusongtrongnamlinhmuc.htm
File size: 79.73 KiB (81644 bytes)
MIME-type:
Charset: utf-8
<html>
<head>
<style>
<!--
/* Style Definitions */
div.MsoNormal
{mso-style-parent:"";
margin-bottom:.0001pt;
font-size:12.0pt;
font-family:"Times New Roman";
margin-left:0mm; margin-right:0mm; margin-top:0mm}
li.MsoNormal
{mso-style-parent:"";
margin-bottom:.0001pt;
font-size:12.0pt;
font-family:"Times New Roman";
margin-left:0mm; margin-right:0mm; margin-top:0mm}
p.MsoNormal
{mso-style-parent:"";
margin-bottom:.0001pt;
font-size:12.0pt;
font-family:"Times New Roman";
margin-left:0mm; margin-right:0mm; margin-top:0mm}
p
{margin-right:0mm;
margin-left:0mm;
font-size:12.0pt;
font-family:"Times New Roman";
}
@page Section1
{size:210.0mm 842.0pt;
margin:20.0mm 20.0mm 20.0mm 20.0mm;
mso-header-margin:36.0pt;
mso-footer-margin:36.0pt;
mso-paper-source:0;}
div.Section1
{}
-->
</style>
<meta http-equiv="Content-Language" content="en-us">
<meta http-equiv="Content-Type" content="text/html; charset=utf-8">
<title>Model</title>
<base target="main">
</head>
<body>
<table border="0" width="500" cellspacing="20" style="border-color: #FFFFFF; font-family:Times New Roman; font-size:12pt" bgcolor="#FFFFE6">
<!-- MSTableType="nolayout" -->
<tr>
<td bgcolor="#bdf3fd" height="29">
<p style="text-align: center"><font size="4" color="#FF0000"><b>
NĂM LINH MỤC</b></font></td>
</tr>
<tr>
<td>
<p align="center"><b><font color="#0000FF" size="5">Chia sẻ nhân Ngày Vì
Sự Sống trong Năm Linh Mục:</font></b></td>
</tr>
<tr>
<td align="justify">
<div class="contents">
<font size="4"><font color="#800000"><b>SỰ TRUNG THÀNH CỦA LINH MỤC<br>
TRONG SỨ MỆNH LOAN BÁO TIN MỪNG SỰ SỐNG</b></font><br>
<br>
Với chủ đề: sự trung thành của Chúa Kitô, sự trung thành của linh
mục, Năm Linh Mục là thời gian mời gọi các linh mục nỗ lực thánh hoá
bản thân trong tình yêu của Thánh Tâm Chúa Giêsu: «trong thời gian
này, qua các buổi suy niệm đạo đức, hay bằng các việc lành thánh,
những sáng kiến khác thích hợp khác, các linh mục càng ngày càng
được kiên vững trong việc trung thành với Chúa Kitô» [1]. Đây cũng
là cơ hội thuận tiện cho tất cả các tín hữu đào sâu học hiểu, cầu
nguyện cho các linh mục nên thánh thiện, noi gương cha thánh Gioan
Maria Vianney hiến thân phục vụ trong thiên chức cao trọng mà Chúa
đã trao ban. Theo tinh thần ấy, bài chia sẻ này xin được đề cập đến
sự trung thành của linh mục trong sứ mệnh hiến thân làm chứng cho
Tin mừng sự sống của Chúa Giêsu Kitô. Sứ mệnh ấy được thực hiện theo
căn tính và thừa tác vụ của linh mục, gắn liền với «bản tính sâu xa
nhất của Hội Thánh được diễn tả qua ba nhiệm vụ: loan báo lời của
Thiên Chúa, cử hành phụng vụ, và thi hành tác vụ bác ái. Những nhiệm
vụ này bao hàm lẫn nhau và không thể tách rời» [2]. <br>
<br>
<b>1. Loan báo Tin mừng sự sống</b><br>
<br>
Chúa Giêsu Kitô đã đến thế gian để cho muôn người được ơn tha tội,
được sống và sống dồi dào (x. Ga 10,10). Đây là một niềm vui lớn và
là niềm vui cho muôn dân cần phải được loan báo cho hết thảy mọi
người (x. Lc 2,10-11). Nhiệm vụ ấy cũng được uỷ thác cho các linh
mục là những người được thánh hiến và được sai đi «loan báo Tin Mừng
cho kẻ nghèo hèn, công bố cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha, cho
người mù biết họ được sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức,
công bố một năm hồng ân của Chúa» (Lc 4,18-19). Bởi thế, một trong
những nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu của hoạt động mục vụ là «Tin mừng sự
sống phải được can đảm và trung thành loan báo, như một tin vui cho
con người ở mọi thời đại và thuộc mọi nền văn hoá»[3]. <br>
<br>
<i>1.1. Tình trạng xúc phạm sự sống hiện nay</i><br>
<br>
Trong một xã hội bị tục hoá, cùng với sự lan tràn của nền văn hoá sự
chết, nhân loại đang phải đối diện với một “cơ cấu của tội lỗi”
chống lại sự sống con người: «Chúng ta đứng trước một đe dọa rất lớn
chống lại sự sống không nguyên sự sống của các cá nhân, nhưng còn là
của toàn bộ nền văn minh»[4]. Dường như khoa học càng phát triển thì
xã hội lại càng xuất hiện thêm nhiều hình thức mới tấn công sự sống
con người như: tạo sinh vô tính, thụ thai nhân tạo, sử dụng phôi
thai người như là “vật tư sinh học” để nghiên cứu, hoặc sử dụng như
kẻ cho các cơ phận, hay cho mô để cấy ghép nhằm chữa trị một số bệnh
nan y. Tiếp đến, là tình trạng đáng báo động về phẩm giá con người
đặc biệt là phụ nữ và trẻ em, việc buôn bán cơ phận con người và
việc giết người êm dịu nữa. Giữa tất cả các hình thức và tội ác
chống lại sự sống con người ấy, vấn đề nạo phá thai đang ở mức độ
đặc biệt nghiêm trọng hơn cả, đến nỗi nhiều bệnh viện hay các trung
tâm y tế ngày nay đã trở thành những trung tâm phá thai hay những lò
sát sinh. Nguy hiểm hơn nữa là lối suy nghĩ của không ít người trẻ
hiện nay, phá thai trở thành chuyện thường ngày, chứ không còn bị
coi là tội ác giết người nữa! Đối với họ, con cái nhiều khi không
còn được coi là phúc lộc của tổ tiên hay là kết quả của tình yêu hôn
nhân nữa, mà là hậu quả ngoài ý muốn từ những quan hệ xác thịt, nên
trở thành gánh nặng cho lối sống hưởng lạc vị kỷ thấp hèn của cha mẹ
chúng. Khi ấy, nếu một sự sống mới thành hình sẽ «trở thành kẻ thù
phải tuyệt đối tránh xa; và phá thai trở nên giải đáp duy nhất có
thể và phương cách xử lý trong trường hợp bị vỡ kế hoạch»[5]. <br>
<br>
Quả thật, tình trạng xúc phạm đến sự sống nói chung, và vấn đề nạo
phá thai nói riêng, vẫn còn đang là tiếng kêu thấu trời và hết sức
khẩn thiết đối với lương tri của nhân loại. Trong khi đó, nhiều quốc
gia lại đang muốn hợp pháp hoá và khuyến khích việc giết người vô
tội này để đạt cho bằng được các mục tiêu của họ. «Ngày nay, trong
lương tâm nhiều người, nhận thức về tính nghiêm trọng của nó đã lu
mờ dần. Sự chấp nhận phá thai nơi tâm thức con người nơi các phong
tục và chính trong pháp luật là một dấu chỉ hùng hồn về một cơn
khủng hoảng rất nguy hiểm trong ý thức luân lý, ý thức đó ngày càng
trở nên không có khả năng phân biệt giữa sự thiện và sự ác, ngay cả
khi có liên quan đến quyền cơ bản về sự sống»[6]. Theo thống kê của
Tổ Chức Sức Khoẻ Thế Giới (WHO), mỗi năm, trên toàn thế giới có
khoảng 50 triệu đến 60 triệu ca phá thai, một con số tương đương với
dân số của một quốc gia trung bình trên thế giới [7]. Riêng tại Việt
Nam, tình trạng còn nghiêm trọng hơn khi mỗi năm có khoảng gần hai
triệu ca phá thai, tương đương với dân số của một tỉnh. Hơn nữa, số
đông các trường hợp phá thai lại xảy ra nơi những người trẻ vị thành
niên và chưa kết hôn. Xu hướng này đang có chiều hướng gia tăng và
tuổi phá thai ngoài ý muốn đang hạ thấp, nghĩa là rơi vào lớp trẻ.
Theo thống kê của Trung tâm nghiên cứu Giới tính, Gia đình và Môi
trường trong phát triển (CGFED - Centre for Gender, Family and
Environment in Development), thì Việt Nam là một trong ba nước có tỷ
lệ nạo phá thai cao nhất thế giới, với 25% phụ nữ nạo phá thai chưa
lập gia đình, số ca nạo thai đang trong tuổi vị thành niên chiếm
20%. Điều đáng báo động hơn nữa là số trẻ em bị giết đi thường lớn
hơn số các em được sinh ra. Chẳng hạn, chỉ riêng tại thành phố Hồ
Chí Minh, thống kê của Trung tâm Bảo vệ sức khỏe bà mẹ và trẻ em của
Thành Phố cho biết: năm 2003 có 114.002 ca phá thai và chỉ có
112.426 bé được sinh ra, năm 2004 con số vụ phá thai là 108.193
trong khi số các trẻ được chào đời là 107.314 em [8]. Đây chỉ là
những con số thống kê chính thức được thực hiện từ các trung tâm y
tế công cộng, con số thực tế chắc hẳn còn lớn hơn nhiều nếu như
người ta có thể tính được cả những trường hợp phá thai lén lút tại
các phòng khám tư nhân hay các cơ sở phá thai chui mà người ta không
thể kiểm soát và thống kê được. «Những con số thống kê cho thấy nạn
phá thai càng ngày càng nghiêm trọng, ngay cả nơi những em còn ở độ
tuổi học trò. Cùng với những hậu quả tất yếu về thể lý, hành động
phá thai đã để lại những vết thương tâm lý thê thảm nơi đương sự và
những người có liên quan» [9]. <br>
<br>
<i>1.2. Đặc tính thánh thiêng sự sống con người</i><br>
<br>
Trước những hình thái xúc phạm nghiêm trọng đến sự sống con người,
Giáo huấn Công Giáo luôn khẳng định đặc tính thánh thiêng và bất khả
xâm phạm của sự sống con người. Đây là lệnh truyền của Thiên Chúa
được ghi lại trong Thánh Kinh: “ngươi chớ giết người”. Điều Răn Thứ
Năm này đòi hỏi tất cả mọi người phải tôn trọng và bảo vệ sự sống
con người từ lúc còn trong dạ mẹ cho đến khi chết tự nhiên. Vì thế,
«tất cả những gì chống lại sự sống, như mọi thứ giết người, diệt
chủng, phá thai, làm chết êm dịu và ngay cả tự tử nữa; tất cả những
gì xâm phạm đến sự toàn vẹn con người, như cưa cắt huỷ hoại một phần
cơ thể, tra tấn thể xác hay tinh thần, tìm cách cưỡng bức tâm lý;
tất cả những gì xúc phạm đến phẩm giá con người như cảnh sống dưới
mức con người (infrahumain), tuỳ nghi giam tù, lưu đầy viễn xứ, bắt
làm nô lệ, cảnh mãi dâm, buôn bán phụ nữ và trẻ em; hoặc những điều
kiện làm việc hạ phẩm giá khiến công nhân trở thành ngang hàng với
dụng cụ thuần tuý để thu lợi, không màng tới nhân cách tự do và có
trách nhiệm của họ: tất cả những đối xử trên và những đối xử tương
tự, quả thật là ô nhục. Chúng vừa làm suy đồi văn minh, vừa làm mất
phẩm giá những ai thi hành các điều ấy, và hơn nữa phẩm giá những ai
phải gánh chịu những điều ấy, và chúng xúc phạm nặng nề đến vinh
danh của Đấng Tạo Hoá» [10]. <br>
<br>
Vượt trên những cuộc tranh luận y-sinh học, Giáo lý của Hội Thánh
Công Giáo luôn luôn giảng dạy rằng sự sống con người, từ khoảnh khắc
đầu tiên trong hiện hữu cho đến khi chết tự nhiên phải được tôn
trọng vô điều kiện, trong tính đơn nhất thể xác cũng như tinh thần:
«Con người phải được tôn trọng và đối xử như một ngôi vị ngay từ khi
được thụ thai, và ngay từ lúc đó, người ta phải thừa nhận nơi nó
những quyền của ngôi vị, trong đó đứng hàng đầu là quyền được sống,
một quyền bất khả xâm phạm của mọi con người vô tội» [11]. Sự sống
bắt nguồn từ Thiên Chúa, duy một mình Thiên Chúa là chủ tể tối cao
của sự sống con người, không một ai, không một tổ chức nào được phép
tiếm quyền Thiên Chúa để quyết định trên sinh mạng của một người vô
tội: «Sự sống của con người là thánh thiêng và bất khả xâm phạm
trong tất cả các khoảnh khắc của sự hiện hữu của nó, cả trong khoảnh
khắc khởi đầu có trước sự sinh ra. Từ trong dạ mẹ, con người thuộc
về Thiên Chúa là Ðấng dò xét và thấu biết tất cả, là Ðấng hình thành
và tác tạo nó từ tay Ngài, đã nhìn thấy nó khi nó còn là một phôi
nhỏ không có hình dạng xác định và đoán thấy nơi nó con người trưởng
thành nó sẽ trở nên ngày mai, mà ngày giờ đã được đếm và ơn gọi đã
được ghi vào “Sách sự sống” (Tv 139/138,1.13-16)» [12]. Mỗi người dù
bé nhỏ, yếu đuối đến đâu thì vẫn là đối tượng của tình yêu quan
phòng của Thiên Chúa. Ngài vẫn hằng nâng niu chăm sóc cho từng người
và cho tất cả mọi người. Thực vậy, «con người dù đẹp hay xấu, dù
thông minh hay tối dạ, đều là người đã được Thiên Chúa dựng nên và
được Ngài yêu thương. Sự sống của người ấy nằm trong tay Thiên Chúa
và Con Thiên Chúa đã chết trên thập giá cho người ấy. Do đó, những
can thiệp của khoa học nhằm lựa chọn giới tính, những hành vi giết
người như phá thai, làm chết êm dịu... đều đi ngược với phẩm giá con
người và chống lại Thiên Chúa, vì chúng biến con người thành một thứ
hàng hóa hay một sản phẩm thay vì là một sinh linh cao quý mang hình
ảnh của Đấng Tối Cao» [13]. <br>
<br>
Truyền thống Hội Thánh vẫn luôn luôn định nghĩa phá thai là tội ác
giết chết những con người yếu đuối vô tội: «phá thai do cố ý gây ra,
dù được thực hiện bằng cách nào đi nữa, là việc giết chết, có suy
nghĩ và trực tiếp, một con người trong giai đoạn đầu cuộc đời của
nó, ở giữa sự thụ thai và sự sinh ra» [14]. Là người của Hội Thánh,
linh mục không ngừng lặp lại tiếng nói của Giáo Hội lên án phá thai
như là tội ác man rợ vì là giết chết những con người tuyệt đối vô
tội, yếu đuối, không khả năng phòng vệ, ngay cả đến sự khẩn nài bằng
tiếng kêu khóc lóc cũng không có. Mỗi thai nhi đều hoàn toàn lệ
thuộc vào sự bảo vệ và chăm sóc của người mẹ đang cưu mang trong
lòng. Ấy thế mà đôi khi chính người mẹ ấy lại rũ bỏ trách nhiệm và
đang tâm giết chết đứa con của mình trước khi có thể cất tiếng khóc
chào đời. Với đặc tính nghiêm trọng như thế, nên Giáo lý Công giáo
ngay từ thời các kitô hữu đầu tiên đã lên án việc phá thai: «Ngươi
không được giết con trẻ bằng việc phá thai và không được làm chết nó
sau khi nó sinh ra» [15]. Thực vậy, phá thai là giết người, hơn nữa
«chỉ cần cản trở sinh ra thì đã là kẻ giết người rồi, người ta tước
đoạt sự sống đã sinh ra hay là người ta hủy diệt nó trong lúc nó
sinh ra thì không có gì khác biệt nhau cả. Cái phải trở thành một
con người thì đó là con người rồi» [16]. Trải qua lịch sử hai ngàn
năm, Giáo lý Công giáo về phẩm giá thánh thiêng và bất khả xâm phạm
của sự sống con người vẫn được kiên trì giảng dạy, không bao giờ do
dự hay có sự thay đổi nào đối với việc kết án tính phi luân của hành
vi huỷ hoại mạng sống của người vô tội: «sự sống phải được bảo vệ
với một chăm sóc tột độ từ lúc thụ thai: việc phá thai và giết trẻ
sơ sinh là những tội ác ghê tởm» [17]. Vì vậy, với uy quyền Chúa
Kitô đã trao cho Phêrô và những người kế vị ngài, trong sự hiệp
thông với các Giám Mục của Giáo Hội Công Giáo, Ðức Thánh Cha Gioan
Phaolô II đã long trọng xác nhận rằng: «việc trực tiếp và cố ý giết
một người vô tội luôn luôn là điều vô luân nghiêm trọng» [18]. Cách
cụ thể hơn đối với vấn đề phá thai, ngài tuyên bố rằng: «việc phá
thai trực tiếp, nghĩa là được muốn như mục đích hay như phương thế,
luôn luôn là một thác loạn luân lý nghiêm trọng xét như là sự cố ý
giết chết một con người vô tội» [19]. <br>
<br>
<b>2. Cử hành Tin mừng sự sống</b><br>
<br>
Sự sống có một giá trị thánh thiêng và tôn giáo, nên trong việc tôn
trọng và bảo vệ sự sống, nhiệm vụ rất quan trọng đối với các linh
mục là cử hành việc tôn dương Tin mừng sự sống. Cử hành mầu nhiệm sự
sống là việc tôn vinh đích thực dành cho Thiên Chúa và là chính công
việc loan truyền sứ điệp Tin mừng sự sống của Chúa Giêsu Kitô: «con
người và sự sống con người không chỉ xuất hiện như một trong những
điều kỳ diệu lớn nhất trong công trình sáng tạo, nhưng Thiên Chúa
còn ban cho con người một phẩm giá gần như là thần thiêng (x. Tv
8,6-7). Trong từng em bé sinh ra hay từng con người đang sống hay
đang chết, chúng ta đều nhận ra hình ảnh của vinh quang Thiên Chúa:
ta tôn dương vinh quang ấy nơi mọi người là dấu chỉ của Thiên Chúa
hằng sống, hình ảnh của Chúa Giêsu Kitô» [20]. <br>
<br>
<i>2.1. Mầu nhiệm cứu độ, mầu nhiệm sự sống</i><br>
<br>
Trong bối cảnh những thách đố và những đe doạ đối với sự sống, việc
cử hành mầu nhiệm cứu độ trở nên một cuộc tôn dương Tin mừng sự sống
nhằm giúp cho con người thời nay chân nhận phẩm giá cao quý của sự
sống do Thiên Chúa ban tặng. Việc cử hành phụng vụ sự sống liên kết
chặt chẽ tất cả các ngày lễ, tuần lễ hay Mùa Phụng Vụ với những chủ
đề liên quan đến sự sống và phẩm giá cao quý của con người đã được
cứu chuộc bằng giá máu của Chúa Kitô. Hội Thánh cử hành phụng vụ với
mầu nhiệm trọng tâm là cuộc vượt qua của Chúa Giêsu Kitô như nguồn
mạch của sự sống: «Người đã chết để tiêu diệt sự chết cho chúng ta
và sống lại để tái lập sự sống» [21]. Nhờ việc cử hành phụng vụ như
mầu nhiệm sự sống, Hội Thánh dẫn đưa người tín hữu vào sự sống mới
trong tình hiệp thông với Thiên Chúa cũng như với cộng đoàn những
người được tham dự vào sự sống viên mãn của Ngài [22]. Thực vậy,
toàn thể Năm Phụng Vụ được cử hành theo ánh sáng của mầu nhiệm Chúa
Kitô, nơi Ngài dòng máu cứu độ tuôn trào sự sống vĩnh cửu cho toàn
thể nhân loại. <br>
<br>
Năm Phụng Vụ khởi đầu với Mùa Vọng và Giáng Sinh, Giáo Hội cử hành
mầu nhiệm Nhập Thể của Ngôi Lời Thiên Chúa đã đến thế gian mang lấy
thân phận con người và nâng cao phẩm giá của họ: Thiên Chúa đã trở
thành con của loài người để con người được làm con của Thiên Chúa.
Chính Chúa Giêsu đã mang lấy thân phận con người đơn sơ yếu đuối để
chia sẻ thân phận thấp hèn của con người. Ngài là tác giả của sự
sống và đã nhận làm của mình chính thực tại sự sống của con người
đang «ở trung tâm của cuộc chiến lớn giữa sự thiện và sự ác, giữa
ánh sáng và bóng tối» [23]. Chiêm ngắm Chúa Giêsu Hài Đồng thơ ngây
bé nhỏ được bọc trong khăn và đặt nằm trong máng cỏ của hang đá bò
lừa giữa đêm đông giá lạnh tại Bêlem xưa kia (x. Lc 2,1-7), giúp con
người thời nay biết tôn trọng phẩm giá tôn quý của mọi sinh linh bé
bỏng yếu ớt và đang bị đe doạ, bị chà đạp, bị bỏ rơi, bị gạt ra bên
lề xã hội và không có nơi nào để nương tựa. Chính trong thân phận
con người mà «Chúa Kitô tiếp tục tự mạc khải và đi vào mối hiệp
thông với chúng ta, đến mức độ mà vứt bỏ sự sống của con người dưới
những hình thức khác nhau cũng chính là vứt bỏ Chúa Kitô» [24]. <br>
<br>
Cử hành Mùa Chay và Phục Sinh, người linh mục chiêm ngắm và giương
cao thánh giá của Chúa Giêsu Kitô, để lôi kéo mọi người lên cùng
trái tim rộng mở của Người và hưởng tận nguồn ơn cứu độ trào dâng
[25]. Trong mầu nhiệm Vượt Qua của Chúa Giêsu Kitô con người được
biến đổi nhờ dòng máu thần linh tuôn chảy từ cạnh sườn của Đấng chịu
đâm thâu, và được thánh hoá trong sức mạnh ân sủng của Chúa Thánh
Thần. Trên thánh giá, Chúa Giêsu đã trao lại Thần Khí sự sống cho
nhân loại (x. Ga 19,30). Ngài đã chết thật trong thân phận của con
người giống như mọi người, nhưng Ngài đã phục sinh và hằng sống để
thi ân giáng phúc, giúp nhân loại thoát khỏi ách nô lệ tội lỗi và
chiến thắng quyền lực của sự chết. Như vậy, qua mầu nhiệm thập giá,
Chúa Giêsu cho thấy ý nghĩa sự sống và sự chết của mỗi con người:
chính Ngài đã chiến thắng sự chết và trở nên nguyên lý của sự sống
và mở đường cho toàn thể nhân loại bước vào sự sống mới. Ơn cứu độ
mà Chúa Giêsu đã mở ra cho con người chính là hồng ân sự sống và là
sự phục sinh cả về thể xác lẫn linh hồn. Trên thập giá, máu và nước
từ cạnh sườn Chúa Giêsu tuôn chảy chan hoà trên mặt đất, tẩy sạch
mọi tội lỗi, chữa lành bản tính nhân loại bị tổn thương do nguyên
tội, và ban sự sống bất diệt cho tất cả mọi người thuộc mọi thời
đại: vinh quang của Thiên Chúa tỏ hiện trên thập giá! Cây thập giá
trở thành cây sự sống trổ sinh hoa trái của sự sống, và là cây vinh
quang làm phát sinh và triển nở một dân tộc vì sự sống. Hơn nữa, nhờ
được đón nhận hơi thở của Chúa Phục Sinh, các môn đệ của Người được
tham dự vào đời sống thần linh để thấu hiểu ý nghĩa của sự sống, của
đau khổ và của sự chết. Vì thế, sống mầu nhiệm tử nạn và phục sinh
của Chúa Giêsu, người linh mục bước đi theo Ngài trên con đường thập
giá, con đường của sự hy sinh vâng phục, nhưng cũng là con đường
vượt lên trên thân phận thấp hèn để sống sự sống viên mãn. Theo
gương Chúa Giêsu người linh mục cũng «không đến để được phục vụ,
nhưng để phục vụ và trao nộp mạng sống làm giá cứu chuộc cho nhiều
người» (Mc 10,45). Vì thế, cuộc đời linh mục là một cuộc hành trình
hiến mình phục vụ sự sống của anh chị em đồng loại. Trên thánh giá,
Chúa Giêsu đã đạt đỉnh cao của tình yêu khi hiến mình chịu chết cho
chúng ta khi ta còn là tội nhân (x. Rm 5,8). «Bằng cách này, Ngài
tuyên bố rằng sự sống đạt tới tâm điểm tới ý nghĩa và độ sung mãn
khi nó được trao ban» [26]. <br>
<br>
Trong các cử hành phụng vụ Mùa Thường Niên, các môn đệ Chúa Giêsu
sống theo mẫu gương của Thầy chí thánh và theo nhịp đập của trái tim
Người. «Trong tinh thần thờ phượng thiêng liêng đẹp lòng Thiên Chúa
(x. Rm 12,1), việc tôn dương Tin Mừng sự sống nên thực hiện cốt yếu
là trong cuộc sống hằng ngày, được sống trong tình yêu tha nhân và
trong sự trao hiến bản thân. Chính cuộc sống của chúng ta sẽ trở nên
sự tiếp nhận chân thực và đầy trách nhiệm ân ban sự sống, đồng thời
cũng trở nên bài ca chân thành biết ơn Thiên Chúa, Đấng trao ban cho
chúng ta qùa tặng này. Đó chính là điều đang xảy ra trong biết bao
hành vi phước thiện, thường khiêm tốn và ẩn kín, được nhiều người
nam nữ, trẻ em người lớn, người trẻ người già, đau ốm hay mạnh khoẻ
thực hiện» [27]. Việc cử hành mầu nhiệm sự sống cũng được thể hiện
cách đặc biệt theo các biến cố của lịch sử cứu độ được đặt trọng tâm
và xoay quanh hiến tế Thánh Thể. Vì vậy, cử hành Tin mừng sự sống
chính là cử hành Thiên Chúa của sự sống, và chu kỳ phụng vụ sự sống
tuần hoàn giống như chính dòng máu chảy trong thân thể Chúa Giêsu.
Cũng vậy, việc cử hành phụng vụ chảy theo dòng máu của Chúa Giêsu,
như chính Chúa Giêsu đang cử hành mầu nhiệm Phục Sinh của Người.
Thật vậy, cử hành mầu nhiệm máu thánh Chúa Giêsu đổ ra là cử hành
những ngày lễ của sự sống được hiến thánh. Bởi vì, khi thân xác Chúa
Giêsu bị giết chết, chính là lúc Đấng là tác giả sự sống làm phát
sinh sự sống dồi dào hơn nơi các chi thể trong thân thể mầu nhiệm
của Ngài.<br>
<br>
Tất cả các cử hành về Tin mừng sự sống đều luôn gắn liền với lời cầu
nguyện thường ngày, chung cũng như riêng: «tiếng kêu than của chúng
ta, như tiếng kêu của Đức Giêsu trên Thánh giá, là cách thức sâu xa
và triệt để nhất để khẳng định đức tin của chúng ta vào quyền năng
tối cao của Người» [28]. Mỗi cá nhân, mỗi gia đình, mỗi cộng đoàn và
toàn thể Hội Thánh đều có chung một bổn phận dâng lời tạ ơn Thiên
Chúa vì hồng ân cao quý là sự sống Ngài ban tặng. Khẩn thiết hơn
nữa, các linh mục có một nghĩa vụ lớn lao trong lời cầu nguyện của
Hội Thánh dành cho sự sống trên khắp hoàn cầu và cho từng biến cố
của đời sống, như niềm vui về một sự sống đang bắt đầu, tôn trọng và
bảo vệ sự sống toàn vẹn, quan tâm đến những người đang gặp khó khăn
đau khổ, gần gũi đối với người già yếu, cô đơn và hấp hối, chia sẻ
nỗi đau của người gặp tang chế, niềm hy vọng và khát khao cõi sống
vĩnh hằng. Khi cầu nguyện nhân danh Hội Thánh, các linh mục khẩn cầu
cùng Thiên Chúa hằng sống, xin Ngài soi sáng, hướng dẫn, và thêm sức
mạnh giúp cho mỗi người tín hữu can đảm đối diện với những hoàn cảnh
khác nhau. Để dù gặp khó khăn thử thách, đau khổ bệnh tật họ vẫn
không bao giờ đánh mất niềm hy vọng. «Trong kinh nguyện hằng ngày,
cá nhân hay cộng đoàn, chúng ta ngợi khen và chúc tụng Thiên Chúa,
Cha chúng ta, Đấng đã dệt nên chúng ta trong lòng mẹ, Đấng đã thấy
chúng ta và yêu thương chúng ta khi chúng ta chưa được hoàn chỉnh
hình hài (x. Tv 139/138, 13-16)» [29]. Kết hợp với lời cầu nguyện,
truyền thống Hội Thánh vẫn đề cao tinh thần chay tịnh theo gương
Chúa Giêsu (x. Mt 4,1-11; Mc 9,29). Lời cầu nguyện đi đôi với tinh
thần chay tịnh phát xuất tự thâm tâm của các vị mục tử luôn luôn đẹp
lòng Thiên Chúa, Đấng tạo dựng và yêu thương sự sống con người. <br>
<br>
<i>2.2. Các Bí tích trao ban sự sống</i><br>
<br>
Linh mục là người của Thiên Chúa, để phụng sự Thiên Chúa, người được
chính Chúa Giêsu chọn từ giữa loài người để tiếp tục công cuộc cứu
độ của Ngài cho đến ngày cánh chung. Các linh mục nhân danh Chúa
Kitô cử hành chính mầu nhiệm vượt qua của Ngài để chuyển thông sự
sống thần linh của Ba Ngôi Thiên Chúa cho nhân loại. Chính trong Hội
Thánh, thân thể mầu nhiệm của Chúa Kitô, Chúa Thánh Thần hoạt động
khơi nguồn ơn cứu độ trào dâng và ban sự sống sung mãn cho toàn thể
thế giới. «Nhờ sự tái khám phá đích thực ý nghĩa các nghi thức, và
nhờ việc đặt đúng giá trị của các nghi thức ấy, các cử hành phụng
vụ, nhất là cử hành Bí tích, sẽ luôn luôn có thể diễn tả tất cả sự
thật về việc sinh ra đời, về sự sống, về sự đau khổ và sự chết,
trong khi giúp ta sống những điều ấy, như một sự tham gia vào mầu
nhiệm vượt qua của Chúa Kitô đã chết và phục sinh» [30]. Dòng máu
cứu độ của Đức Giêsu Kitô vẫn tuôn đổ trên thế gian qua các Bí tích,
và trở nên trung gian khẩn cầu dâng lên Thiên Chúa sự sống cùng với
máu của Abel và tất cả những người công chính đã và sẽ «đổ ra cho
nhiều người được ơn tha tội» (Mt 26,28). «Quả vậy, máu Chúa Kitô kêu
lên và đòi một “công lý” sâu sắc hơn, nhưng nhất là khẩn cầu lòng
thương xót, máu ấy cầu bầu với Cha cho các anh em của Chúa Kitô (x.
Dt 7,25), máu ấy là nguồn cứu chuộc hoàn hảo và là ơn ban sự sống
mới» [31]. Máu Chúa Kitô, mặc khải sự cao cả của tình yêu thương của
Chúa Cha, đã bộc lộ rằng con người là rất quý trước mặt Thiên Chúa
và giá trị của sự sống con người được cứu chuộc bằng chính giá máu
Chúa Kitô. Cũng chính «trong máu Chúa Kitô, tất cả mọi người cũng
múc được sức mạnh để dấn thân phục vụ sự sống. Máu Chúa Kitô chính
là lý do mạnh nhất để hy vọng và là nền tảng cho niềm xác tín tuyệt
đối rằng, theo kế hoạch của Thiên Chúa, sự sống sẽ giành được chiến
thắng» [32]. <br>
<br>
Trong Bí tích Thánh Thể linh mục được chia sẻ và hiệp thông trọn vẹn
với chính tình yêu và sự sống của Chúa Kitô, được cùng với Ngài hiến
dâng toàn thân mình cùng với lễ tế của Chúa Giêsu để ca tụng tôn
vinh Thiên Chúa Cha và chuyển thông ơn cứu độ đến cho muôn người.
Khi cử hành mầu nhiệm Thánh Thể, được thông hiệp với mình và máu
Chúa Kitô, nhờ Người, với Người và trong Người, linh mục kín múc
nguồn ân sủng và sức mạnh của Chúa Thánh Thần: «Thánh Thể là cội rễ
của mọi hình thức thánh thiện, và mỗi người chúng ta được kêu gọi
đến đời sống viên mãn trong Thánh Thần» [33]. Hiệp nhất với hy tế
Thánh Thể, linh mục sẵn sàng trở nên như tấm bánh bẻ ra vì sự sống
của anh chị em mình, nhờ đó khích lệ được tất cả mọi người dấn thân
phục vụ sự sống và phẩm giá của những người khác. Như vậy, người tín
hữu nhờ ăn thịt và uống máu Chúa, được ở lại trong Ngài, «được lôi
cuốn vào sức năng động của tình yêu Ngài và vào ơn ban sự sống của
Ngài để đưa tới sức sung mãn chính ơn gọi đầu tiên hướng tới tình
yêu, là ơn gọi của mọi người (x. St 1,27; 2,18-24)» [34]. Những ân
huệ của bí tích Thánh Thể đối với sự sống được hiện thực nhờ Bí tích
Rửa Tội. Vì được tham dự vào cuộc khổ hình và sống lại của Chúa
Kitô, người tín hữu được tái sinh để sống một cuộc sống viên mãn
trong Ngài. Trong Bí tích Thêm Sức, Thánh Thần là nguyên lý sự sống
làm lan toả dòng máu thần linh của Chúa Kitô giúp người tín hữu sống
can trường theo chân Chúa Giêsu Kitô là Đường là Sự Thật và là Sự
Sống. Hơn nữa, nhờ sức mạnh của bảy nguồn ân huệ Thánh Linh, các tín
hữu sống sung mãn và biết khôn ngoan lựa chọn cách thế phù hợp cho
con đường bảo vệ sự sống trong mọi cảnh huống. Khi cử hành Bí tích
Hoà Giải người linh mục trở nên thừa tác viên của lòng thương xót.
Trong toà giải tội, linh mục rao giảng Tin mừng sự sống, đồng thời
kêu mời tội nhân sám hối về những xúc phạm đến sự sống để đón nhận
hồng ân tha thứ của triều đại Nước Thiên Chúa (x. Mc 1,15). Thiên
Chúa gớm ghét tội lỗi, nhưng luôn yêu thương tội nhân nên sứ vụ của
người linh mục là giang rộng vòng tay yêu thương đón tiếp, nâng đỡ
cho những người tội lỗi tìm được ánh sáng và an bình trong sự canh
tân và biến đổi tận tâm can để bước đi trên con đường sự sống. Trong
Bí tích Xức dầu bệnh nhân, linh mục an ủi người tín hữu trong cơn
đau bệnh, khích lệ họ kết hiệp với cuộc thương khó của Chúa Giêsu,
Đấng đã chịu đóng đinh và chịu chết vì tội lỗi của nhân loại. Nhờ
được xức dầu bệnh nhân, người tín hữu nhận được suối ngưồn sự sống
và sức mạnh nơi Chúa Giêsu, Đấng là «lương y chữa lành thân xác và
linh hồn» [35]. Linh mục giúp cho người tín hữu kết hiệp mật thiết
với Chúa Kitô chịu đóng đinh, can đảm chấp nhận những đớn đau thể
xác để hoàn tất cuộc thương khó nơi các chi thể của Ngài (x. Cl
1,24). Khi kết hiệp với cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu Kitô, người tín
hữu ý thức rằng sự sống thể lý trên trần gian hữu hạn chỉ đạt được
cùng đích trên thiên quốc, nơi mà con người sống sự hiệp nhất trọn
vẹn với Đấng là nguyên uỷ của sự sống [36]. Với Bí tích Hôn Nhân,
tình yêu của vợ chồng được thánh hoá theo mẫu gương của tình yêu
giữa Chúa Giêsu là lang quân và Hội Thánh, hiền thê của Ngài (x. Ep
5,25). Đời sống vợ chồng đòi hỏi một tình yêu nhẫn nại, hy sinh hiến
mình vì nhau đến nỗi đổ máu như chính Chúa Giêsu đã hiến mình vì Hội
Thánh và toàn thể nhân loại (x Lc 22,44; 1Cr 15,31). Qua Bí tích Hôn
nhân, linh mục giúp cho các cặp vợ chồng lãnh nhân ơn Chúa để xây
dựng gia đình họ thành cái nôi của sự sống, và chu toàn bổn phận làm
vợ/chồng, cha/mẹ, nhà giáo dục/sứ giả của sự sống tại gia đình, đồng
thời là những người bảo vệ giá trị cao quý của sự sống trong xã hội.
Trong Bí tích Truyền chức thánh, qua việc đặt tay, Chúa Thánh Thần
bao phủ trên người thụ phong, tháp nhập họ vào sứ vụ của Chúa Kitô
thượng tế đởi đời, đã trở thành chiên vượt qua chịu sát tế thông ban
sự sống và dẫn đưa mọi người tới nguồn mạch sự sống vĩnh cửu (x. Ga
1,29; Kh 5,6; 7,17).<br>
<br>
Tóm lại, khi cử hành mầu nhiệm sự sống, linh mục nhân danh Hội Thánh
hướng dẫn con người thời đại đến nguồn mạch sự sống đích thực nhờ
được kết hiệp với Chúa Kitô. Với mầu nhiệm Ngôi Hai Nhập Thể, sự
sống của Thiên Chúa đã trở thành sự sống của con người. Nhờ sự chết
và sống lại của Chúa Giêsu Kitô, sự sống của con người được thánh
hoá và tìm lại được ý nghĩa nguyên thuỷ. Như vậy, «giá trị sự sống
không chỉ gắn liền với nguồn cội của nó, theo như nó được trao ban
từ Thiên Chúa, mà còn nối kết vào cùng đích, vào vận mệnh của nó là
hiệp thông với Thiên Chúa, để nhận biết và yêu mến Ngài» [37]. Quả
thật, cuộc sống của con người biểu lộ sự hiện diện của Thiên Chúa và
toả sáng ánh quang rạng ngời của Ngài: Vinh quang Thiên Chúa là con
người được sống, nhưng sự sống của con người chính là được hưởng
kiến Thiên Chúa [38]. Vì thế, con người luôn khát vọng hướng về trời
cao và hướng về sự hiệp nhất trọn vẹn nơi Thiên Chúa: «Lạy Chúa,
Chúa tác thành chúng con cho Chúa, và lòng chúng con khắc khoải cho
mãi tới khi được nghỉ yên trong Ngài» [39]. <br>
<br>
<b>3. Phục vụ Tin mừng sự sống</b><br>
<br>
Dấn thân phục vụ Tin mừng sự sống là lời mời gọi của Giáo Hội đối
với tất cả mọi người thành tâm thiện chí. Đương nhiên, đây cũng là
bổn phận thiêng liêng của mọi kitô hữu và cách riêng đối với các
linh mục. Vì vậy, các linh mục phải đặc biệt ưu tiên cho việc phục
vụ sự sống con người, như nhiệm vụ hàng đầu trong các hoạt động mục
vụ của mình. Quả thật, dấn thân phục vụ Tin mừng sự sống chính là
hiến thân phục vụ Chúa Kitô là đường là sự thật và là sự sống (x. Ga
14,6; 11,25). Chính Chúa Giêsu đã khẳng định rằng: «ai làm cho một
người bé nhỏ nhất của ta đây là làm cho chính ta vậy» (Mt 25,45).
Khi phục vụ sự sống, người linh mục gắn kết mật thiết với Chúa Kitô
là sự sống thật, Đấng đến thế gian để cho mọi người được sống. Khi
bước đi trên con đường phục vụ sự sống, người linh mục ở trong lộ
trình hướng tới Đức Kitô và làm lan tỏa ánh hào quang của Tin mừng
sự sống cho thế gian tăm tối bởi bóng tối sự chết. Chính vì vậy,
phục vụ sự sống là phục vụ chính Chúa Giêsu, và khước từ phục vụ sự
sống là khước từ phục vụ chính Chúa. <br>
<br>
<i>3.1. Mục vụ gia đình</i><br>
<br>
Với sự phát triển nhanh chóng của xã hội, làn sóng đô thị hoá và
công nghiệp hoá lan rộng, cùng với những tiến bộ của khoa học kỹ
thuật, khiến cho đời sống gia đình đang gặp phải biến đổi tận gốc
rễ. Các hình mẫu gia đình truyền thống (traditional family) đang dần
dần bị thay thế bằng hình thức gia đình hiện đại hay gia đình hạt
nhân (nuclear family). Những khủng hoảng trong các sinh hoạt gia
đình khiến cho những giá trị cao đẹp của truyền thống ngàn đời phải
đối diện với nguy cơ bị xói mòn và mai một. «Có những gia đình đang
trở thành một thứ quán trọ thay vì là tổ ấm yêu thương. Có nhiều
người cao tuổi bị con cái bỏ rơi, không nơi nương tựa. Nạn bạo hành
gia đình còn khá phổ biến, đặc biệt nhiều phụ nữ chưa được tôn trọng
và yêu thương xứng đáng với phẩm giá con người». Thực vậy, những mâu
thuẫn và khủng hoảng trong đời sống gia đình, khiến cho sự sống con
người bị lâm nguy, con cái thiếu vắng sự chăm sóc giáo dục của chính
cha mẹ chúng. Bởi đó, «gia đình bị tổn thương đến chết được và bị uế
tạp trong bản chất cộng đồng tình yêu của nó và trong ơn gọi làm
thành cung thánh của sự sống» [40]. <br>
<br>
Đối diện với những khủng hoảng và biến đổi của gia đình như thế,
việc giáo dục gia đình có một vị trí hết sức quan trọng vì gia đình
là nơi đón nhận, bảo vệ và gìn giữ hồng ân sự sống do Thiên Chúa ban
tặng. Là người của Thiên Chúa, linh mục nỗ lực xây dựng một nền văn
hoá của sự sống và nền văn minh của tình thương, nhưng công việc này
phải được khởi đi từ chính gia đình như là những tế bào của Giáo Hội
và xã hội. «Chúa Kitô đã muốn xây dựng nhiệm thể Ngài bằng những tế
bào gia đình; Hội Thánh có thể thay đổi đường lối tông đồ, thay đổi
các hội đoàn, nhưng Hội Thánh luôn luôn phát triển nhở các gia đình.
Đức tin được thông truyền qua các tế bào sống động và lành mạnh ấy»
[41]. Chính vì thế, Đức Thánh Cha Phaolô VI cũng đã khẩn thiết kêu
gọi các linh mục chăm lo việc giáo dục cho các gia đình: «Các linh
mục rất thân mến, thiên chức đã đặt các con làm cố vấn và làm người
hướng dẫn thiêng liêng của cá nhân cũng như của các gia đình. Giờ
đây, cha đặt tất cả lòng tin tưởng nơi các con. Nhiệm vụ đầu tiên
của các con, nhất là những người phụ trách giảng dạy khoa luân lý
thần học, là thẳng thắn trình bày nền giáo huấn của Giáo hội liên
quan đến hôn nhân» [42]. Đây cũng là đòi hỏi của Bộ Giáo Sĩ đối với
các linh mục: «là thầy dạy và là nhà giáo dục đức tin, linh mục lo
sao cho việc dạy giáo lý chiếm một địa vị ưu tiên trong nền giáo dục
Kitô giáo tại gia đình, trong trường công giáo, trong việc huấn
luyện các phong trào tông đồ» [43]. Cách cụ thể, cần phải quan tâm
đặc biệt đến việc giảng dạy giáo lý hôn nhân, qua đó giúp các cặp vợ
chồng hiểu rõ giáo huấn của Hội Thánh về vấn đề điều hoà sinh sản và
về tính thánh thiêng của sự sống con người. Đồng thời, cũng cần có
các hình thức mục vụ tiền/hậu hôn nhân nhằm nâng đỡ các gia đình
trong bổn phận làm cha mẹ có trách nhiệm cũng như bổn phận yêu
thương và tôn trọng sự sống. Nhờ đó, gia đình thực sự diễn tả tình
yêu của Thiên Chúa đối với nhân loại và tình yêu của Chúa Kitô đối
với Hội Thánh, đồng thời trở thành nơi «gìn giữ, biểu lộ và thông
truyền tình yêu» [44]. Qua việc giảng dạy và các hình thức viếng
thăm mục vụ, các linh mục đồng hành, hướng dẫn và động viên các gia
đình mở rộng lòng đón nhận sự sống, và trung thành với giáo huấn của
Hội Thánh hết lòng yêu thương chăm sóc và bảo vệ sự sống. «Khi gặp
các gian nan thử thách, chớ gì các đôi vợ chồng luôn tìm được nơi
tâm hồn và tiếng nói của linh mục, hình ảnh và tiếng vang của tình
yêu cũng như lời nói của Chúa Cứu Chuộc» [45]. <br>
<br>
Để xây dựng nền văn hoá sự sống và nền văn minh tình thương, thì mỗi
gia đình phải trở thành cái nôi của tình yêu và sự sống, nơi đó các
phần tử được nhìn nhận, được kính trọng và chăm sóc từ lúc sinh ra
cho tới khi qua đời. Như một Giáo Hội thu nhỏ, vai trò căn bản và ơn
gọi thánh thiêng của gia đình là phục vụ sự sống con người; như Giáo
Hội tại gia, gia đình cũng có sứ vụ cử hành, loan báo và tôn dương
Tin mừng sự sống. Vì thế, trách nhiệm của các linh mục là «phải nỗ
lực về phương diện giáo lý cũng như mục vụ để làm cho các gia đình
công giáo xác tín về sức mạnh của họ. Họ sẽ khám phá ra họ không
phải là thành phần thụ hưởng, chỉ biết lãnh nhận giáo lý, lãnh nhận
Bí tích, lãnh nhận ơn Chúa, mà họ cũng là thành phần hoạt động tông
đồ» [46]. Đặc biệt trong bối cảnh xã hội hôm nay, với bao nhiêu khó
khăn và xúc phạm đến sự sống con người, gia đình lại càng đóng một
vai trò quan trọng hơn trong việc đón nhận, bảo vệ, nuôi dưỡng và
giáo dục đúng phẩm giá. Vì thế, sứ mạng của linh mục và của cả Hội
Thánh là phải chăm sóc cho các gia đình luôn là «cung thánh của sự
sống [...] nơi mà sự sống, hồng ân Thiên Chúa ban, có thể được đón
nhận cách xứng hợp và bảo hộ chống lại nhiều sự tấn công mà nó phải
thường hứng chịu; nơi mà sự sống có thể phát triển theo những nhu
cầu tăng trưởng chính thức của con người» [47]. Theo ý định của
Thiên Chúa, gia đình có một giá trị riêng trong chương trình của
Thiên Chúa, nơi mà con người được cộng tác với Thiên Chúa tiếp tục
công trình tạo dựng, để thông ban sự sống mình đã nhận cho các thế
hệ kế tiếp. Thực vậy, «sự sống của con người là một ơn được tiếp
nhận, để rồi đến lượt mình nó lại trao ban. Trong việc tạo nên một
sự sống mới, cha mẹ ý thức rằng đứa con là kết quả của việc họ tự
hiến cho nhau trong tình yêu, thì đến lượt nó, nó sẽ trở nên một
hồng ân cho cả hai người: một hồng ân phát sinh từ một hồng ân»
[48]. Vì thế, việc mở lòng đón nhận sự sống mới và giáo dục con cái
nên người đòi hỏi các bậc vợ chồng ý thức được bổn phận làm cha làm
mẹ có trách nhiệm: trách nhiệm kiến tạo một gia đình yêu thương đầm
ấm, trách nhiệm sinh sản và giáo dục con cái. Trách nhiệm này đòi
hỏi các cặp vợ chồng lãnh lấy thiên chức làm cha làm mẹ mà Thiên
Chúa đã uỷ thác qua Bí tích Hôn Nhân, nhờ đó họ đón nhận con cái
trong tình yêu, và tình yêu của Thiên Chúa thì luôn luôn muốn tạo
dựng nên những con người mới. Bên cạnh đó, linh mục cần giúp cho các
bậc làm cha mẹ ý thức trách nhiệm của họ trước mặt Chúa đối với con
cái và giáo dục chúng nên người và nên con cái Thiên Chúa. Theo ý
nghĩa này, các cặp vợ chồng phải được hướng dẫn trong tinh thần hy
sinh, tìm vinh danh Thiên Chúa và đón nhận thánh ý của Ngài để quyết
định số con mà họ sẽ sinh ra, và sinh con vào thời gian và hoàn cảnh
thích hợp nhất. Quyết định số con cái trong mỗi gia đình là quyền và
nghĩa vụ của cả hai vợ chồng chứ không phải của một phía hay của
quyền bính bên ngoài: «bổn phận truyền sinh và giáo dục phải được
coi là sứ mệnh riêng biệt của vợ chồng» [49]. Vì thế, vợ chồng «trở
thành cha mẹ có trách nhiệm nghĩa là: biết cân nhắc suy nghĩ để rồi
sẵn sàng làm cho gia đình mình tăng thêm nhân số, hoặc để rồi căn cứ
vào những lý do xác đáng, và trong tinh thần tôn trọng lề luật luân
lý quyết định tạm ngưng việc sinh sản trong một thời gian ngắn hay
vô hạn định» [50]. Trong việc quyết định quan trọng này vợ chồng
phải đồng tâm hiệp lực với nhau trong sự vâng phục thánh ý Thiên
Chúa để có được phán đoán ngay thẳng, «phán đoán ấy, chính đôi vợ
chồng phải chọn lựa lấy trước mặt Thiên Chúa» [51]. <br>
<br>
<i>3.2. Phục vụ trong đức ái</i><br>
<br>
Do Bí tích Truyền Chức thánh, linh mục được tham dự vào sứ vụ lãnh
đạo với vai trò làm đầu của chính Chúa Giêsu. Theo gương Chúa Giêsu
đã quỳ gối xuống rửa chân cho các môn đệ (Ga 13,1-20), linh mục thực
thi sứ mệnh đã được uỷ thác trong tinh thần yêu thương, khiêm tốn và
hiến thân phục vụ mọi người như một tôi tớ (x. Mt 20,26-28). Đương
nhiên, sự phục vụ ấy phải được dành ưu tiên cho những ngưởi nhỏ bé,
yếu thế, bất hạnh, đang gặp thử thách bách hại và cần đến sự bảo vệ
đỡ nâng. «Bằng việc tham dự vào sứ mệnh vương giả của Chúa Kitô, sự
nâng đỡ và thăng tiến sự sống con người cần được thi hành bằng việc
phục vụ của đức ái, thể hiện qua chứng từ cá nhân, qua nhiều hình
thức thiện nguyện, qua việc vận động xã hội và sự cam kết chính trị.
Đó là một đòi buộc đặc biệt cấp bách trong thời điểm hiện tại, lúc
mà “nền văn hoá sự chết” đang kịch liệt chống đối và thường thường
xem ra lấn lướt “nền văn hoá sự sống”» [52]. <br>
<br>
Mang lấy nơi mình chính sứ mạng của Chúa Kitô, người linh mục nỗ lực
dấn thân phục vụ sự sống con người trong sự yêu mến và trung thành
với Giáo huấn của Hội Thánh Người. «Hình thức bác ái cao siêu hơn cả
là đừng tìm cách dấu diếm giáo lý của Chúa Kitô» [53]. Vì vậy, người
linh mục phải tạo điều kiện cho anh chị em mình được học hiểu thấu
đáo về lập trường của Giáo Hội và giáo huấn luân lý Kitô giáo về sự
sống để họ có thể áp dụng vào trong những hoàn cảnh cụ thể thường
nhật. Nhờ việc trung thành trình bày giáo lý của Hội Thánh về sự
sống, linh mục làm triển nở nơi cộng đoàn mình phục vụ một bầu khí
tôn quý sự sống, đồng thời tạo nên tình liên đới và sẵn sàng hiến
dâng cho người khác bằng «một tình yêu vô vị lợi, tình yêu này tỏ
bày chính mình là một văn hoá của sự sống bằng chính ước muốn “liều
mất mạng sống mình” (x. Lc 17,33) cho kẻ khác» [54]. Là những môn đệ
của Chúa Giêsu, các linh mục trở nên người thân cận của mọi người
(x. Lc 10,29-37). Đời sống và sứ vụ của linh mục diễn tả tình yêu
đối với chính Chúa Giêsu còn đang bị bỏ rơi nơi những anh chị em đau
khổ trên khắp thế giới. Yêu thương chăm sóc cho những người nhỏ bé
bất hạnh, coi trọng phẩm giá cuả họ như một nhân vị là trách nhiệm
mà Thiên Chúa giao phó cho các linh mục trong chức thánh. Quả vậy,
«bác ái không phải là một thứ hoạt động trợ giúp xã hội mà ta cũng
có thể để lại cho người khác làm, nhưng thuộc về bản tính của Hội
Thánh, một lối diễn tả không thể thiếu của bản chất Hội Thánh» [55].
Chính trong cộng đoàn đầy tình yêu huynh đệ phổ quát của Chúa Kitô
mà người linh mục khơi dậy sức mạnh phi thường của đức ái. Sức mạnh
của tình thương ấy có thể «biến thế giới của thú vật nên thế giới
của con người, biến thế giới của con người nên thế giới của con
Chúa» [56]. <br>
<br>
Bằng hoạt động mục vụ bác ái xã hội đa dạng, linh mục cùng với anh
chị em mình vận dụng những hình thức hợp lý và hữu hiệu để hỗ trợ và
bảo vệ sự sống mới sinh ra, chăm sóc những kẻ bị gạt ra bên lề xã
hội, an ủi nâng đỡ những người đang đau khổ, đặc biệt trong giai
đoạn sau cùng. Công việc phục vụ của đức ái đối với sự sống cần phải
đi đến tận chính gốc rễ của sự sống và của tình yêu, không phân biệt
kỳ thị, bởi vì «sự sống con người là thánh thiêng và bất khả xâm
phạm trong mọi giai đoạn, trong mọi hoàn cảnh; sự sống ấy là một
điều thiện không thể chia tách được. Vậy cần phải chăm sóc cho mọi
sự sống và sự sống của mọi người» [57]. Một cách cụ thể, linh mục có
thể góp phần tích cực cứu vớt sự sống người vô tội bằng việc xây
dựng những cơ sở phục vụ sự sống: «những trung tâm tương trợ sự sống
và những nhà hoặc trung tâm tiếp nhận sự sống luôn sẵn sàng phục vụ
sự sống mới sinh ra. Nhờ hoạt động của những cơ sở đó, rất nhiều bà
mẹ độc thân và rất nhiều cặp vợ chồng đang gặp khó khăn tìm lại được
lẽ sống và niềm tin khi có được sự trợ giúp và nâng đỡ để vượt qua
khó khăn và sợ hãi trước việc đón nhận một sự sống sắp sinh ra hoặc
vừa mới chào đời» [58]. Mặt khác, nơi các xứ đạo cần thành lập thêm
các nhóm tông đồ bảo vệ sự sống, công việc của họ là tìm gặp và giải
thích cho những người muốn phá thai đừng giết chính những đứa con
của mình, đồng thời săn sàng đón nhận những đứa con họ sinh ra và
trao cho những gia đình đạo đức nuôi dưỡng. Đã có nhiều nhóm linh
mục, tu sĩ và giáo dân đang gắng công thực hiện những việc làm cụ
thể và đầy nghĩa tình, như bảo trợ cho những người mẹ chưa kết hôn,
nuôi dạy các trẻ mồ côi, mở lớp tình thương cho trẻ khuyết tật, lập
viện dưỡng lão... Hiện nay, hằng ngày vẫn có các tín hữu âm thầm đến
các bệnh viện, phòng khám để xin các thai nhi bị phá về mai táng.
Nhiều nơi đã lập thành những khu nghĩa trang anh hài dành cho các
thai nhi bị phá bỏ với hàng chục ngàn ngôi mộ nhỏ. Công việc này góp
phần làm cho mọi người nhìn nhận phẩm giá và quyền được sống của các
trẻ em chưa được sinh ra, qua đó gióng lên tiếng kêu thay cho những
người không có tiếng nói và là tiếng chuông thức tỉnh lòng người,
báo động về những tội ác xúc phạm đến sự sống con người [59]. <br>
<br>
<b>Kết luận</b><br>
<br>
Nhờ việc rao giảng, đối thoại và phục vụ sự sống, các linh mục kiên
trì giáo dục cho các tín hữu và cho tất cả mọi người có một lương
tâm ngay chính giúp họ biết yêu quý sự sống và tôn trọng phẩm giá
con người. Mọi hình thức bảo vệ sự sống con người cũng như tất cả
các công việc phục vụ dành cho sự sống đều dẫn đến việc thờ phượng
trong Thần Khí ban sự sống. Thực vậy, việc dấn thân phục vụ Tin mừng
sự sống «dù tiếp nhận từ đức tin một ánh sáng và một sức mạnh ngoại
thường, thì nó vẫn thuộc về mọi lương tâm con người khát vọng chân
lý và chăm chú ưu tư với vận mệnh nhân loại» [60]. Bổn phận tôn
trọng và bảo vệ sự sống con người không chỉ giới hạn riêng cho người
kitô hữu hay các linh mục, nhưng phải được mở ra cho hết mọi người
thuộc mọi thời đại. Trong việc tôn dương Tin mừng sự sống, bất cứ ai
thành tâm thiện chí hiến mình phục vụ sự sống con người đều thuộc về
Đức Kitô và nhận được sự sống của Ngài (x. Mc 9,40-41). Ai đứng lên
bảo vệ sự sống con người thì đã là một kitô hữu rồi! Họ trở thành
kitô hữu qua việc làm chứng cho Tin mừng sự sống bằng cách sống theo
các tiêu chuẩn của Kitô giáo, cũng như qua việc thực hành niềm tin
cậy mến bằng những hành động cụ thể trong đời sống thường ngày. Vì
thế, «các linh mục hãy nhờ các lời cầu nguyện và các việc lành mà
khẩn nài Chúa Kitô Vị Linh Mục tối cao đời đời để có thể làm chiếu
tỏa Đức Tin, Đức Cậy và Đức Ái, cũng như các nhân đức khác, và qua
đời sống cũng như cung cách bên ngoài để hoàn toàn hiến thân lo cho
ích lợi thiêng liêng của đoàn dân; đó là điều Giáo Hội hằng tâm niệm
lo lắng trên hết» [61]. <br>
<br>
<u>Chú thích:</u><br>
[1] TOÀ ÂN GIẢI TỐI CAO, Sắc lệnh ban ơn xá trong Năm Linh Mục
(25/4/2009). «Chúng ta phải sống cho người khác, chúng ta phải sống
với Dân Chúa bằng tình yêu thánh thiện và thần linh. Rõ ràng tình
yêu này làm nên sự phong phú của đời độc thân thánh thiện. Tình yêu
này đòi buộc chúng ta sống liên đới thực sự với những người đau khổ
và những ai đang sống trong nhiều hình thái nghèo khổ khác nhau» (BỘ
GIÁO SĨ, Thư gửi các linh mục, ngày 11/6/2009).<br>
[2] BÊNÊĐICTÔ XVI, Thông điệp Deus caritas est (25/12/2005), số 25a.<br>
[3] GIOAN PHAOLÔ II, Thông điệp Evangelium vitae về giá trị và tính
bất khả xâm phạm của sự sống con người (25/03/1995), số 1. Tin mừng
sự sống phải được loan báo cho mọi người, vào tận trong những ngõ
ngách sâu kín nhất của toàn xã hội: «Điều chúng tôi đã thấy và đã
nghe, chúng tôi loan báo cho anh em, để anh em được hiệp thông với
chúng tôi» (1Ga 1,3).<br>
[4] GIOAN PHAOLÔ II, Thư gửi các gia đình Gratissimun sane
(2/2/1994), số 21; Thông điệp Evangelium vitae, số 59: «Chúng ta
đứng trước những gì có thể được định nghĩa như là một “cơ cấu của
tội lỗi” chống lại sự sống con người chưa sinh ra».<br>
[5] GIOAN PHAOLÔ II, Thông điệp Evangelium vitae, số 13. «Làm sao
còn nói được tới phẩm giá của nhân vị, khi người ta giết những kẻ
yếu nhất và vô tội nhất? Nhân danh công lý nào mà người ta thực hiện
sự kỳ thị tối bất công giữa những con người như thế, bằng cách tuyên
bố rằng một số những kẻ này đáng được bảo vệ, còn những kẻ kia bị từ
chối quyền sống?» (GIOAN PHAOLÔ II, Diễn từ cho các tham dự viên
cuộc hội luận về «Quyền sống và Âu châu» ngày 18/12/1987).<br>
[6] GIOAN PHAOLÔ II, Thông điệp Evangelium vitae, số 58.. Đức Thánh
Cha Piô XII thì nhận xét: «tội của con người thời nay là đánh mất
cảm thức về tội lỗi» (Sứ điệp truyền thanh gửi Đại hội Giáo lý toàn
quốc Hoa Kỳ, ngày 26/10/1946).<br>
[7] X. M. A. PEETERS, «The post abortion syndrome», in J. VIAL
CORREA – E. SGRECCIA (a cura di), La causa della vita, LEV, Città
del Vaticano 1995, 159.<br>
[8] X. VU HOANG NGAN, «La planification familiare», in Y. CHARBIT –
C. SCORNET, Société et politique de population au Vietnam,
L’Harmattan, Paris 2002, 105-140. Xem thêm các bài: Trẻ nạo phá
thai: tương lai dằn vặt (Tuổi Trẻ Online, Thứ Hai, 08/08/2005); Tỷ
lệ nạo phá thai của Việt Nam cao hơn các nước khác (Tiền Phong
Online, Thứ Sáu, 17/04/2009).<br>
[9] HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC VIỆT NAM, Thư mục vụ 2008, số 10. <br>
[10] CÔNG ĐỒNG CHUNG VATICANÔ II, Hiến chế Gaudium et spes, số 27.<br>
[11] BỘ GIÁO LÝ ĐỨC TIN, Huấn thị Donum vitae (22/2/1987), I, số 1;
Vì thế, «không bao giờ một trường hợp nào, một mục đích nào, một
luật pháp nào trên thế giới có thể làm cho trở thành hợp pháp một
hành động vốn thực chất là không hợp pháp, bởi vì trái với lề luật
của Thiên Chúa ghi khắc trong tâm hồn mọi người mà ta có thể phân
biệt nhờ chính lý trí, và đã được Giáo Hội công bố» (GIOAN PHAOLÔ
II, Thông điệp Evangelium vitae, số 62).<br>
[12] GIOAN PHAOLÔ II, Thông điệp Evangelium vitae, số 61. «Sự sống
là thánh thiêng, nó mang tính bất khả xâm phạm được khắc ghi từ ban
đầu trong lòng người, trong lương tâm con người» (số 40). <br>
[13] HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC VIỆT NAM, Thư mục vụ 2008, số 18; x.
ATHENAGORE, Lời thỉnh cầu cho các Kitô hữu, số 35.<br>
[14] GIOAN PHAOLÔ II, Thông điệp Evangelium vitae, số 58. Theo định
nghĩa này, phải phân biệt rõ ràng giữa việc ngừa thai và phá thai.
Không thể gọi là ngừa thai hay tránh thai đối với các loại vòng xoắn
đặt vào cổ tử cung và các loại thuốc ngăn chặn quá trình làm tổ của
phôi thai, hay là giết chết bào thai ngay từ trong bụng mẹ.<br>
[15] Didachè V,2. Điều 1398 trong Bộ Giáo Luật hiện nay vẫn tiếp nối
truyền thống này: «phá thai mà có hiệu quả, thì tức khắc bị vạ tuyệt
thông». Bằng sự xác nhận hình phạt ấy, Giáo Hội chỉ rõ tội ác này
như một trong những tội ác nghiêm trọng và nguy hiểm nhất, đồng thời
kêu gọi họ hoán cải và đền tội thích đáng.<br>
[16] TERTULIANÔ, Minh giáo, IX,8. «Thực tại con người, trong suốt
cuộc sống của nó, cả trước và sau khi sinh, không cho phép ta khẳng
định một sự thay đổi bản tính, cũng không cho phép khẳng định một sự
biến thiên dần về giá trị luân lý, vì nó có một phẩm chất nhân học
và luân lý đầy đủ. Bởi thế, phôi người, ngay từ ban đầu, có một phẩm
giá riêng của nhân vị» (BỘ GIÁO LÝ ĐỨC TIN, Huấn thị Dignitas
personae, số 5).<br>
[17] CÔNG ĐỒNG CHUNG VATICANÔ II, Hiến chế Gaudium et spes, số 51;
Sự sống con người là thánh thiêng, vì «ngay từ trong cội nguồn của
nó, nó đòi hỏi hành động sáng tạo của Thiên Chúa». x. PIÔ XI, Thông
điệp Casti connubii, (31/21/1930), II; GIOAN XXIII, Thông điệp Mater
et magistra (15/5/1961).<br>
[18] GIOAN PHAOLÔ II, Thông điệp Evangelium vitae, số 57.<br>
[19] GIOAN PHAOLÔ II, Thông điệp Evangelium vitae, số 62. Ðức Thánh
Cha Phaolô VI cũng đã tuyên bố trước đó rằng giáo huấn này không bao
giờ thay đổi và là bất di bất dịch (x. Thông điệp Humanae vitae, số
14). Giáo huấn ấy đã được nói rõ tại các số 2270-2273 trong Sách
Giáo Lý Của Giáo Hội Công Giáo. Mới đây Bộ Giáo Lý Đức Tin cũng
khẳng định lại rằng: Giáo huấn Công giáo về vấn đề phá thai chưa hề
thay đổi và cũng không thể nào thay đổi (L’Osservatore Romano,
11/7/2009).<br>
[20] X. GIOAN PHAOLÔ II, Thông điệp Evangelium vitae, số 84.<br>
[21] CÔNG ĐỒNG CHUNG VATICANÔ II, Hiến chế Sacrosantum concilium, số
5. Phụng vụ «giúp các tín hữu, qua cuộc sống mình, diễn tả cho người
khác mầu nhiệm Chúa Kitô và bản tính đích thực của Hội Thánh chân
chính» (số 2).<br>
[22] X. Giáo Lý của Hội Thánh Công Giáo, số 1071.<br>
[23] GIOAN PHAOLÔ II, Thông điệp Evangelium vitae, số 104.<br>
[24] GIOAN PHAOLÔ II, Thông điệp Evangelium vitae, số 104. Chính
Chúa Giêsu đã tự đồng hoá với những người bé nhỏ nhất: «ai đón tiếp
một bé thơ như em này vì danh Thầy, là tiếp đón Thầy» (Mt 18,5), và
«những gì các con đã làm cho một người trong các anh em hèn mọn nhất
của Ta, là các con đã làm cho chính mình Ta» (Mt 25,40).<br>
[25] X. SÁCH LỄ RÔMA, Lời tiền tụng Lễ Thánh Tâm Chúa Giêsu. <br>
[26] GIOAN PHAOLÔ II, Thông điệp Evangelium vitae, số 51. Chúa Giêsu
đã vâng lời Chúa Cha trong mọi sự: «khi vào trần gian Chúa Giêsu đã
nói: này con đến để thi hành thánh ý Cha» (Dt 10,9). Ngài đã hiến
mình chịu chết «vì Ngài đã yêu thương những kẻ thuộc về mình còn ở
thế gian, và yêu thương họ đến cùng» (Ga 13,1). Chính Ngài đã khẳng
định: «không ai có tình yêu nào lớn hơn tình yêu này: hiến mạng sống
mình vì bạn hữu» (Ga 15,13).<br>
[27] GIOAN PHAOLÔ II, Thông điệp Evangelium vitae, số 86. «Những
nghĩa cử này là việc tôn dương Tin Mừng sự sống cách trọng đại nhất,
bởi vì chúng công bố Tin Mừng bằng chính việc trao hiến trọn vẹn bản
thân mình, chúng là biểu hiện rực rỡ của mức độ cao cả nhất của tình
yêu: trao hiến mạng sống mình vì người mình yêu (x. Ga 15,13); chúng
là sự hiệp thông vào mầu nhiệm Thập Giá, trên Thập Giá Chúa Giêsu
mặc khải cho ta thấy tất cả giá trị mà sự sống của con người có được
đối với Ngài và sự sống này được thực hiện cách tràn đầy trong việc
trao hiến trọn vẹn bản thân mình như thế nào».<br>
[28] BÊNÊĐICTÔ XVI, Thông điệp Deus caritas est, số 38. Đây là lúc
phải tái khẳng định tầm quan trọng của lời cầu nguyện khi đối diện
với chủ nghĩa duy hoạt động và chủ nghĩa tục hoá đang lớn mạnh nơi
nhiều kitô hữu đang dấn thân trong công việc bác ái. «Lời cầu
nguyện, như một phương thế múc nguồn sức mạnh mới từ Đức Kitô, trở
thành một sự cấp bách hoàn toàn cụ thể. Con người cầu nguyện thì
không bỏ phí thời giờ, cho dù hoàn cảnh xem ra tuyệt vọng và có vẻ
chỉ đòi hỏi hành động» (số 36).<br>
[29] GIOAN PHAOLÔ II, Thông điệp Evangelium vitae, số 84.<br>
[30] GIOAN PHAOLÔ II, Thông điệp Evangelium vitae, số 84. «Nhờ Bí
tích của Giáo Hội - mà máu cùng nước từ cạnh sườn Chúa Kitô là biểu
tượng - được luôn luôn thông ban cho con cái Thiên Chúa, nhờ đấy họ
trở nên dân của Giao Ước mới. Từ nơi Thánh Giá, là nguồn sống, phát
sinh và phát triển “dân của sự sống”» (số 51).<br>
[31] GIOAN PHAOLÔ II, Thông điệp Evangelium vitae, số 25. Trong bài
ca Exultet đêm vọng Phục Sinh, Giáo Hội ca lên rằng: «Ôi! Giá trị
của con người lớn biết bao trước mặt Đấng Tạo Hoá, tới độ đã xứng
đáng được một Đấng Cứu Chuộc rất vĩ đại và đáng kính tôn». Phẩm giá
con người cao quý tới độ «Thiên Chúa đã ban Con Một của Ngài để con
người khỏi hư mất, nhưng được sự sống đời đời!» (Ga 3,16). X. GIOAN
PHAOLÔ II, Thông điệp Redemtor hominis (04/03/1979), số 10.<br>
[32] GIOAN PHAOLÔ II, Thông điệp Evangelium vitae, số 25. «Sẽ chẳng
còn chết chóc nữa!» (Kh 21,4), nhưng «sự chết đã bị chôn vùi trong
chiến thắng. Hỡi sự chết, chiến thắng của ngươi đâu? Hỡi sự chết,
nọc độc của ngươi đâu?» (1Cr 15,54-55).<br>
[33] BÊNÊĐICTÔ XVI, Tông huấn Sacramentum caritatis (22/02/2007), số
94. Trong sự thông hiệp mật thiết của linh mục với Thánh Thể, chúng
ta hiểu rõ hơn lời của Mẹ Têrêsa Calcutta nhắn nhủ các linh mục còn
được ghi lại nơi phòng thánh của nhà nguyện bên phần mộ của Mẹ: “Hỡi
linh mục của Thiên Chúa, xin cha dâng thánh lễ này như thánh lễ mở
tay, như thánh lễ sau cùng và như thánh lễ duy nhất trong đời”.<br>
[34] GIOAN PHAOLÔ II, Thông điệp Evangelium vitae, số 25.<br>
[35] INHAXIÔ ANTIÔKIA, Thư gửi tín hữu Êphêsô 7,2; x. GIOAN PHAOLÔ
II, Thông điệp Evangelium vitae, số 47.<br>
[36] SÁCH LỄ RÔMA, Lời Tiền Tụng lễ cầu cho các tín hữu đã qua đời.<br>
[37] GIOAN PHAOLÔ II, Thông điệp Evangelium vitae, số 38.<br>
[38] X. IRÊNÊ LYON, Chống lạc giáo, IV, 20,7.<br>
[39] AUGUSTINÔ, Tự thuật, I,1.<br>
[40] GIOAN PHAOLÔ II, Thông điệp Evangelium vitae, số 59. Trong gia
đình truyền thống, ông bà nội ngoại cũng có vai trò giáo dục quan
trọng, nhất là khi cha mẹ không thể thường xuyên hiện diện ở nhà bên
cạnh con cái lúc chúng đang tuổi lớn khôn (x. BÊNÊĐICTÔ XVI, Huấn từ
trong buổi đọc Kinh Truyền Tin trưa Chúa Nhật, ngày 26/7/2009).<br>
[41] NGUYỄN VĂN THUẬN, Đường hy vọng, số 495. <br>
[42] PHAOLÔ VI, Thông điệp Humanae vitae (25/07/1968), số 28.<br>
[43] BỘ GIÁO SĨ, Kim chỉ nam cho thừa tác vụ và đời sống linh mục
(31/1/1994), số 47. 36. Trong hoàn cảnh của Giáo Hội Việt Nam hôm
nay thì việc giáo dục trong bầu khí gia đình lại càng phải chú tâm
hơn nữa vì Giáo Hội chưa thể thâm nhập vào được các môi trường giáo
dục học đường, các Hội tông đồ cũng hoạt động rất hạn chế.<br>
[44] GIOAN PHAOLÔ II, Tông huấn Familiaris consortio (22/11/1981),
số 17. Về giáo huấn của Hội Thánh liên quan đến các vấn đề gia đình,
xem thêm: Giáo Lý của Hội Thánh Công Giáo, số 2214-2233; Tông thư
Mulieris dignitatem (15/8/1988); Thư gửi các gia đình Gratissimun
sane (2/2/1994); Thư gửi các phụ nữ (29/6/1995).<br>
[45] PHAOLÔ VI, Thông điệp Humanae vitae (25/07/1968), số 29. Vững
tin nơi Chúa Thánh Linh, các linh mục «dạy cho các cặp vợ chồng con
đường thiết yếu của lời cầu nguyện, hãy chuẩn bị tập luyện giúp họ
thường xuyên và tin tưởng tìm đến các Phép Bí tích Thánh thể và Giải
tội, và đừng có bao giờ thất vọng trước sự yếu đuối của con người».<br>
[46] NGUYỄN VĂN THUẬN, Đường hy vọng, số 481. Trong số 462 Đức Hồng
Y Thuận cũng thể hiện một thao thức cho vấn đề giáo dục gia đình:
«Chuẩn bị làm linh mục có chủng viện, chuẩn bị làm tu sĩ có đệ tử
viện và tập viện, chuẩn bị làm cha mẹ có gì? Không có gì cả! Thật là
một thiếu sót lớn lao trên thế giới. Lúc này tạm có lớp dự bị hôn
nhân nhưng chưa đi đến đâu. Bao nhiêu người sẽ là nạn nhân cho cuộc
phiêu lưu của các con».<br>
[47] GIOAN PHAOLÔ II, Thông điệp Centesimus annus (1/5/1991), số 39;
Thông điệp Evangelium vitae cũng đã nhiều lần lặp lại khái niệm này
về gia đình trong các số 6. 11. 59. 88. 92. 94.<br>
[48] GIOAN PHAOLÔ II, Thông điệp Evangelium vitae, số 92.<br>
[49] CÔNG ĐỒNG CHUNG VATICANÔ II, Hiến chế Gaudium et spes, số 50:
Khi thi hành bổn phận vợ chồng, họ được «cộng tác với tình yêu của
Thiên Chúa tạo hoá và như trở thành những kẻ diễn đạt tình yêu của
Ngài».<br>
[50] PHAOLÔ VI, Thông điệp Humanae vitae, số 10. «Trong lãnh vực lưu
truyền sự sống, họ không có quyền tự do hành động theo sở thích, tự
ý lựa chọn những phương pháp cho là chính đáng, trái lại, phải hướng
hành động mình theo đúng thánh ý tạo dựng của Thiên Chúa, thánh ý đó
được biểu hiện bằng chính bản chất và các hành vi của hôn nhân cũng
như bằng các lời giáo huấn liên tục của Giáo hội».<br>
[51] CÔNG ĐỒNG CHUNG VATICANÔ II, Hiến chế mục vụ Gaudium et Spes,
số 50.<br>
[52] GIOAN PHAOLÔ II, Thông điệp Evangelium vitae, số 87. Các linh
mục không trực tiếp tham gia vào các hoạt động chính trị (x. Bộ Giáo
Luật, 285; 287), nhưng các ngài có thể định hướng hỗ trợ các nhà
chính trị hoạch định chính sách phù hợp và dấn thân hoạt động bảo vệ
sự sống con người.<br>
[53] PHAOLÔ VI, Thông điệp Humanae vitae (25/07/1968), số 29. trong
việc này, ta cần phải giữ đức nhẫn nại và nhân từ như chính Chúa đã
làm gương trong cách đối xử với người đồng thời. Chúa đã đến không
phải để xét đoán, nhưng để cứu rỗi (Ga 3,17): Chúa đã giữ thái độ
quyết liệt đối với sự dữ, nhưng trái lại, đã tỏ lòng nhân từ đối với
con người. GIOAN PHAOLÔ II, Thông điệp Evangelium vitae, số 87. <br>
[54] BÊNÊĐICTÔ XVI, Thông điệp Deus caritas est, số 30b. «Thêm vào
việc đào tạo chuyên môn cần thiết, những người làm bác ái cần được
“đào tạo con tim”: họ cần được dẫn tới gặp Thiên Chúa trong Đức
Kitô, Đấng thức tỉnh tình yêu của họ và mở lòng họ ra cho kẻ khác»
(số 31).<br>
[55] BÊNÊĐICTÔ XVI, Thông điệp Deus caritas est (25/12/2005), số
25a; Sống đức bác ái, linh mục «phải là món quà trong tay Chúa, sẵn
sàng để Chúa tặng cho bất kỳ ai, một món quà mà ai cũng quý yêu thèm
muốn» (NGUYỄN VĂN THUẬN, Đường hy vọng, số 768).<br>
[56] NGUYỄN VĂN THUẬN, Đường hy vọng, số 801.<br>
[57] GIOAN PHAOLÔ II, Thông điệp Evangelium vitae, số 87. Chính
trong lúc trợ giúp kẻ đói khát, người xa lạ, kẻ mình trần thân trụi,
bệnh tật hay tù đày - cũng như sự trợ giúp em bé sắp sinh, người già
nua đau ốm hay gần kề cửa tử thần - mà chúng ta được gọi phụng sự
Chúa Giêsu, như chính Ngài đã nói: «Những gì các con đã làm cho một
người trong các anh em hèn mọn nhất này của Ta, là các con đã làm
cho chính Ta» (Mt 25,40).<br>
[58] GIOAN PHAOLÔ II, Thông điệp Evangelium vitae, số 88: «Còn có
những tổ chức khác như các cộng đồng phục hồi người nghiện ngập,
cộng đồng tiếp nhận vị thành niên hay bệnh nhân tâm thần, trung tâm
chăm sóc và tiếp nhận bệnh nhân SIDA, nhất là hiệp hội tương trợ
người tàn tật, tất cả đều là tiếng nói hùng hồn của đức ái». Cũng
vậy, «chính đức ái tìm ra những dạng thức thích hợp nhất hầu cho
những người có tuổi, đặc biệt những người không thể sinh sống một
mình và những bệnh nhân ở vào giai đoạn cuối cùng có thể thọ hưởng
một sự trợ giúp hết sức nhân đạo và nhận được những đáp ứng phù hợp
với các nhu cầu của họ, nhất là với những gì liên quan đến nỗi lo âu
và sự cô đơn của họ».<br>
[59] Xem các bài: A Huê un cimitero per 30 mila bimbi abortiti
(Asianews, 26/06/2006); Nghĩa trang của 31 vạn hài nhi bị bỏ rơi
(Dantri.com.vn, 14/07/2008); Nghĩa trang thai nhi (Vhfonline.com,
14/03/2009).<br>
[61] GIOAN PHAOLÔ II, Thông điệp Evangelium vitae, số 101.<br>
[62] TOÀ ÂN GIẢI TỐI CAO, Sắc lệnh ban ơn xá trong Năm Linh Mục
(25/4/2009). </font>
<p> </div>
<div class="author">
<font color="#800000" size="4">Lm. Giuse Trần Quốc Tuyến </font>
</div>
</td>
</tr>
<tr>
<td align="justify">
<p align="right"><i>Nguồn: vietcatholic.org/News</i></td>
</tr>
<tr>
<td height="40">
<p align="center">
<a target="_top" href="../../../index.htm">
<img src="http://tinmung.net/tinmungLOGO/homepage.gif" width="100" border="0" height="34"></a></td>
</tr>
</table>
</body>
</html>