File "Chiasenhanngayvisusongtrongnamlinhmuc.htm"

Full path: E:/sites/Single15/tinmung2007/webroot/SUYNIEM_HANGTUAN/Suy-Niem-Chuyen-De/NamLinhMuc/tin moi ve nam linh muc/Chiasenhanngayvisusongtrongnamlinhmuc.htm
File size: 79.73 KiB (81644 bytes)
MIME-type:
Charset: utf-8

Download   Open   Back

<html>

<head>
<style>
<!--
/* Style Definitions */
 div.MsoNormal
	{mso-style-parent:"";
	margin-bottom:.0001pt;
	font-size:12.0pt;
	font-family:"Times New Roman";
	margin-left:0mm; margin-right:0mm; margin-top:0mm}
 li.MsoNormal
	{mso-style-parent:"";
	margin-bottom:.0001pt;
	font-size:12.0pt;
	font-family:"Times New Roman";
	margin-left:0mm; margin-right:0mm; margin-top:0mm}
 p.MsoNormal
	{mso-style-parent:"";
	margin-bottom:.0001pt;
	font-size:12.0pt;
	font-family:"Times New Roman";
	margin-left:0mm; margin-right:0mm; margin-top:0mm}
p
	{margin-right:0mm;
	margin-left:0mm;
	font-size:12.0pt;
	font-family:"Times New Roman";
	}
@page Section1
	{size:210.0mm 842.0pt;
	margin:20.0mm 20.0mm 20.0mm 20.0mm;
	mso-header-margin:36.0pt;
	mso-footer-margin:36.0pt;
	mso-paper-source:0;}
div.Section1
	{}
-->
</style>
<meta http-equiv="Content-Language" content="en-us">
<meta http-equiv="Content-Type" content="text/html; charset=utf-8">
<title>Model</title>
<base target="main">
</head>

<body>

<table border="0" width="500" cellspacing="20" style="border-color: #FFFFFF; font-family:Times New Roman; font-size:12pt" bgcolor="#FFFFE6">
	<!-- MSTableType="nolayout" -->
	<tr>
				<td bgcolor="#bdf3fd" height="29">
				<p style="text-align: center"><font size="4" color="#FF0000"><b>
				NĂM LINH MỤC</b></font></td>
			</tr>
	<tr>
		<td>
		<p align="center"><b><font color="#0000FF" size="5">Chia sẻ nhân Ngày Vì 
		Sự Sống trong Năm Linh Mục:</font></b></td>
	</tr>
	<tr>
		<td align="justify">
		<div class="contents">
			<font size="4"><font color="#800000"><b>SỰ TRUNG THÀNH CỦA LINH MỤC<br>
			TRONG SỨ MỆNH LOAN BÁO TIN MỪNG SỰ SỐNG</b></font><br>
			<br>
			Với chủ đề: sự trung thành của Chúa Kitô, sự trung thành của linh 
			mục, Năm Linh Mục là thời gian mời gọi các linh mục nỗ lực thánh hoá 
			bản thân trong tình yêu của Thánh Tâm Chúa Giêsu: «trong thời gian 
			này, qua các buổi suy niệm đạo đức, hay bằng các việc lành thánh, 
			những sáng kiến khác thích hợp khác, các linh mục càng ngày càng 
			được kiên vững trong việc trung thành với Chúa Kitô» [1]. Đây cũng 
			là cơ hội thuận tiện cho tất cả các tín hữu đào sâu học hiểu, cầu 
			nguyện cho các linh mục nên thánh thiện, noi gương cha thánh Gioan 
			Maria Vianney hiến thân phục vụ trong thiên chức cao trọng mà Chúa 
			đã trao ban. Theo tinh thần ấy, bài chia sẻ này xin được đề cập đến 
			sự trung thành của linh mục trong sứ mệnh hiến thân làm chứng cho 
			Tin mừng sự sống của Chúa Giêsu Kitô. Sứ mệnh ấy được thực hiện theo 
			căn tính và thừa tác vụ của linh mục, gắn liền với «bản tính sâu xa 
			nhất của Hội Thánh được diễn tả qua ba nhiệm vụ: loan báo lời của 
			Thiên Chúa, cử hành phụng vụ, và thi hành tác vụ bác ái. Những nhiệm 
			vụ này bao hàm lẫn nhau và không thể tách rời» [2]. <br>
			<br>
			<b>1. Loan báo Tin mừng sự sống</b><br>
			<br>
			Chúa Giêsu Kitô đã đến thế gian để cho muôn người được ơn tha tội, 
			được sống và sống dồi dào (x. Ga 10,10). Đây là một niềm vui lớn và 
			là niềm vui cho muôn dân cần phải được loan báo cho hết thảy mọi 
			người (x. Lc 2,10-11). Nhiệm vụ ấy cũng được uỷ thác cho các linh 
			mục là những người được thánh hiến và được sai đi «loan báo Tin Mừng 
			cho kẻ nghèo hèn, công bố cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha, cho 
			người mù biết họ được sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức, 
			công bố một năm hồng ân của Chúa» (Lc 4,18-19). Bởi thế, một trong 
			những nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu của hoạt động mục vụ là «Tin mừng sự 
			sống phải được can đảm và trung thành loan báo, như một tin vui cho 
			con người ở mọi thời đại và thuộc mọi nền văn hoá»[3]. <br>
			<br>
			<i>1.1. Tình trạng xúc phạm sự sống hiện nay</i><br>
			<br>
			Trong một xã hội bị tục hoá, cùng với sự lan tràn của nền văn hoá sự 
			chết, nhân loại đang phải đối diện với một “cơ cấu của tội lỗi” 
			chống lại sự sống con người: «Chúng ta đứng trước một đe dọa rất lớn 
			chống lại sự sống không nguyên sự sống của các cá nhân, nhưng còn là 
			của toàn bộ nền văn minh»[4]. Dường như khoa học càng phát triển thì 
			xã hội lại càng xuất hiện thêm nhiều hình thức mới tấn công sự sống 
			con người như: tạo sinh vô tính, thụ thai nhân tạo, sử dụng phôi 
			thai người như là “vật tư sinh học” để nghiên cứu, hoặc sử dụng như 
			kẻ cho các cơ phận, hay cho mô để cấy ghép nhằm chữa trị một số bệnh 
			nan y. Tiếp đến, là tình trạng đáng báo động về phẩm giá con người 
			đặc biệt là phụ nữ và trẻ em, việc buôn bán cơ phận con người và 
			việc giết người êm dịu nữa. Giữa tất cả các hình thức và tội ác 
			chống lại sự sống con người ấy, vấn đề nạo phá thai đang ở mức độ 
			đặc biệt nghiêm trọng hơn cả, đến nỗi nhiều bệnh viện hay các trung 
			tâm y tế ngày nay đã trở thành những trung tâm phá thai hay những lò 
			sát sinh. Nguy hiểm hơn nữa là lối suy nghĩ của không ít người trẻ 
			hiện nay, phá thai trở thành chuyện thường ngày, chứ không còn bị 
			coi là tội ác giết người nữa! Đối với họ, con cái nhiều khi không 
			còn được coi là phúc lộc của tổ tiên hay là kết quả của tình yêu hôn 
			nhân nữa, mà là hậu quả ngoài ý muốn từ những quan hệ xác thịt, nên 
			trở thành gánh nặng cho lối sống hưởng lạc vị kỷ thấp hèn của cha mẹ 
			chúng. Khi ấy, nếu một sự sống mới thành hình sẽ «trở thành kẻ thù 
			phải tuyệt đối tránh xa; và phá thai trở nên giải đáp duy nhất có 
			thể và phương cách xử lý trong trường hợp bị vỡ kế hoạch»[5]. <br>
			<br>
			Quả thật, tình trạng xúc phạm đến sự sống nói chung, và vấn đề nạo 
			phá thai nói riêng, vẫn còn đang là tiếng kêu thấu trời và hết sức 
			khẩn thiết đối với lương tri của nhân loại. Trong khi đó, nhiều quốc 
			gia lại đang muốn hợp pháp hoá và khuyến khích việc giết người vô 
			tội này để đạt cho bằng được các mục tiêu của họ. «Ngày nay, trong 
			lương tâm nhiều người, nhận thức về tính nghiêm trọng của nó đã lu 
			mờ dần. Sự chấp nhận phá thai nơi tâm thức con người nơi các phong 
			tục và chính trong pháp luật là một dấu chỉ hùng hồn về một cơn 
			khủng hoảng rất nguy hiểm trong ý thức luân lý, ý thức đó ngày càng 
			trở nên không có khả năng phân biệt giữa sự thiện và sự ác, ngay cả 
			khi có liên quan đến quyền cơ bản về sự sống»[6]. Theo thống kê của 
			Tổ Chức Sức Khoẻ Thế Giới (WHO), mỗi năm, trên toàn thế giới có 
			khoảng 50 triệu đến 60 triệu ca phá thai, một con số tương đương với 
			dân số của một quốc gia trung bình trên thế giới [7]. Riêng tại Việt 
			Nam, tình trạng còn nghiêm trọng hơn khi mỗi năm có khoảng gần hai 
			triệu ca phá thai, tương đương với dân số của một tỉnh. Hơn nữa, số 
			đông các trường hợp phá thai lại xảy ra nơi những người trẻ vị thành 
			niên và chưa kết hôn. Xu hướng này đang có chiều hướng gia tăng và 
			tuổi phá thai ngoài ý muốn đang hạ thấp, nghĩa là rơi vào lớp trẻ. 
			Theo thống kê của Trung tâm nghiên cứu Giới tính, Gia đình và Môi 
			trường trong phát triển (CGFED - Centre for Gender, Family and 
			Environment in Development), thì Việt Nam là một trong ba nước có tỷ 
			lệ nạo phá thai cao nhất thế giới, với 25% phụ nữ nạo phá thai chưa 
			lập gia đình, số ca nạo thai đang trong tuổi vị thành niên chiếm 
			20%. Điều đáng báo động hơn nữa là số trẻ em bị giết đi thường lớn 
			hơn số các em được sinh ra. Chẳng hạn, chỉ riêng tại thành phố Hồ 
			Chí Minh, thống kê của Trung tâm Bảo vệ sức khỏe bà mẹ và trẻ em của 
			Thành Phố cho biết: năm 2003 có 114.002 ca phá thai và chỉ có 
			112.426 bé được sinh ra, năm 2004 con số vụ phá thai là 108.193 
			trong khi số các trẻ được chào đời là 107.314 em [8]. Đây chỉ là 
			những con số thống kê chính thức được thực hiện từ các trung tâm y 
			tế công cộng, con số thực tế chắc hẳn còn lớn hơn nhiều nếu như 
			người ta có thể tính được cả những trường hợp phá thai lén lút tại 
			các phòng khám tư nhân hay các cơ sở phá thai chui mà người ta không 
			thể kiểm soát và thống kê được. «Những con số thống kê cho thấy nạn 
			phá thai càng ngày càng nghiêm trọng, ngay cả nơi những em còn ở độ 
			tuổi học trò. Cùng với những hậu quả tất yếu về thể lý, hành động 
			phá thai đã để lại những vết thương tâm lý thê thảm nơi đương sự và 
			những người có liên quan» [9]. <br>
			<br>
			<i>1.2. Đặc tính thánh thiêng sự sống con người</i><br>
			<br>
			Trước những hình thái xúc phạm nghiêm trọng đến sự sống con người, 
			Giáo huấn Công Giáo luôn khẳng định đặc tính thánh thiêng và bất khả 
			xâm phạm của sự sống con người. Đây là lệnh truyền của Thiên Chúa 
			được ghi lại trong Thánh Kinh: “ngươi chớ giết người”. Điều Răn Thứ 
			Năm này đòi hỏi tất cả mọi người phải tôn trọng và bảo vệ sự sống 
			con người từ lúc còn trong dạ mẹ cho đến khi chết tự nhiên. Vì thế, 
			«tất cả những gì chống lại sự sống, như mọi thứ giết người, diệt 
			chủng, phá thai, làm chết êm dịu và ngay cả tự tử nữa; tất cả những 
			gì xâm phạm đến sự toàn vẹn con người, như cưa cắt huỷ hoại một phần 
			cơ thể, tra tấn thể xác hay tinh thần, tìm cách cưỡng bức tâm lý; 
			tất cả những gì xúc phạm đến phẩm giá con người như cảnh sống dưới 
			mức con người (infrahumain), tuỳ nghi giam tù, lưu đầy viễn xứ, bắt 
			làm nô lệ, cảnh mãi dâm, buôn bán phụ nữ và trẻ em; hoặc những điều 
			kiện làm việc hạ phẩm giá khiến công nhân trở thành ngang hàng với 
			dụng cụ thuần tuý để thu lợi, không màng tới nhân cách tự do và có 
			trách nhiệm của họ: tất cả những đối xử trên và những đối xử tương 
			tự, quả thật là ô nhục. Chúng vừa làm suy đồi văn minh, vừa làm mất 
			phẩm giá những ai thi hành các điều ấy, và hơn nữa phẩm giá những ai 
			phải gánh chịu những điều ấy, và chúng xúc phạm nặng nề đến vinh 
			danh của Đấng Tạo Hoá» [10]. <br>
			<br>
			Vượt trên những cuộc tranh luận y-sinh học, Giáo lý của Hội Thánh 
			Công Giáo luôn luôn giảng dạy rằng sự sống con người, từ khoảnh khắc 
			đầu tiên trong hiện hữu cho đến khi chết tự nhiên phải được tôn 
			trọng vô điều kiện, trong tính đơn nhất thể xác cũng như tinh thần: 
			«Con người phải được tôn trọng và đối xử như một ngôi vị ngay từ khi 
			được thụ thai, và ngay từ lúc đó, người ta phải thừa nhận nơi nó 
			những quyền của ngôi vị, trong đó đứng hàng đầu là quyền được sống, 
			một quyền bất khả xâm phạm của mọi con người vô tội» [11]. Sự sống 
			bắt nguồn từ Thiên Chúa, duy một mình Thiên Chúa là chủ tể tối cao 
			của sự sống con người, không một ai, không một tổ chức nào được phép 
			tiếm quyền Thiên Chúa để quyết định trên sinh mạng của một người vô 
			tội: «Sự sống của con người là thánh thiêng và bất khả xâm phạm 
			trong tất cả các khoảnh khắc của sự hiện hữu của nó, cả trong khoảnh 
			khắc khởi đầu có trước sự sinh ra. Từ trong dạ mẹ, con người thuộc 
			về Thiên Chúa là Ðấng dò xét và thấu biết tất cả, là Ðấng hình thành 
			và tác tạo nó từ tay Ngài, đã nhìn thấy nó khi nó còn là một phôi 
			nhỏ không có hình dạng xác định và đoán thấy nơi nó con người trưởng 
			thành nó sẽ trở nên ngày mai, mà ngày giờ đã được đếm và ơn gọi đã 
			được ghi vào “Sách sự sống” (Tv 139/138,1.13-16)» [12]. Mỗi người dù 
			bé nhỏ, yếu đuối đến đâu thì vẫn là đối tượng của tình yêu quan 
			phòng của Thiên Chúa. Ngài vẫn hằng nâng niu chăm sóc cho từng người 
			và cho tất cả mọi người. Thực vậy, «con người dù đẹp hay xấu, dù 
			thông minh hay tối dạ, đều là người đã được Thiên Chúa dựng nên và 
			được Ngài yêu thương. Sự sống của người ấy nằm trong tay Thiên Chúa 
			và Con Thiên Chúa đã chết trên thập giá cho người ấy. Do đó, những 
			can thiệp của khoa học nhằm lựa chọn giới tính, những hành vi giết 
			người như phá thai, làm chết êm dịu... đều đi ngược với phẩm giá con 
			người và chống lại Thiên Chúa, vì chúng biến con người thành một thứ 
			hàng hóa hay một sản phẩm thay vì là một sinh linh cao quý mang hình 
			ảnh của Đấng Tối Cao» [13]. <br>
			<br>
			Truyền thống Hội Thánh vẫn luôn luôn định nghĩa phá thai là tội ác 
			giết chết những con người yếu đuối vô tội: «phá thai do cố ý gây ra, 
			dù được thực hiện bằng cách nào đi nữa, là việc giết chết, có suy 
			nghĩ và trực tiếp, một con người trong giai đoạn đầu cuộc đời của 
			nó, ở giữa sự thụ thai và sự sinh ra» [14]. Là người của Hội Thánh, 
			linh mục không ngừng lặp lại tiếng nói của Giáo Hội lên án phá thai 
			như là tội ác man rợ vì là giết chết những con người tuyệt đối vô 
			tội, yếu đuối, không khả năng phòng vệ, ngay cả đến sự khẩn nài bằng 
			tiếng kêu khóc lóc cũng không có. Mỗi thai nhi đều hoàn toàn lệ 
			thuộc vào sự bảo vệ và chăm sóc của người mẹ đang cưu mang trong 
			lòng. Ấy thế mà đôi khi chính người mẹ ấy lại rũ bỏ trách nhiệm và 
			đang tâm giết chết đứa con của mình trước khi có thể cất tiếng khóc 
			chào đời. Với đặc tính nghiêm trọng như thế, nên Giáo lý Công giáo 
			ngay từ thời các kitô hữu đầu tiên đã lên án việc phá thai: «Ngươi 
			không được giết con trẻ bằng việc phá thai và không được làm chết nó 
			sau khi nó sinh ra» [15]. Thực vậy, phá thai là giết người, hơn nữa 
			«chỉ cần cản trở sinh ra thì đã là kẻ giết người rồi, người ta tước 
			đoạt sự sống đã sinh ra hay là người ta hủy diệt nó trong lúc nó 
			sinh ra thì không có gì khác biệt nhau cả. Cái phải trở thành một 
			con người thì đó là con người rồi» [16]. Trải qua lịch sử hai ngàn 
			năm, Giáo lý Công giáo về phẩm giá thánh thiêng và bất khả xâm phạm 
			của sự sống con người vẫn được kiên trì giảng dạy, không bao giờ do 
			dự hay có sự thay đổi nào đối với việc kết án tính phi luân của hành 
			vi huỷ hoại mạng sống của người vô tội: «sự sống phải được bảo vệ 
			với một chăm sóc tột độ từ lúc thụ thai: việc phá thai và giết trẻ 
			sơ sinh là những tội ác ghê tởm» [17]. Vì vậy, với uy quyền Chúa 
			Kitô đã trao cho Phêrô và những người kế vị ngài, trong sự hiệp 
			thông với các Giám Mục của Giáo Hội Công Giáo, Ðức Thánh Cha Gioan 
			Phaolô II đã long trọng xác nhận rằng: «việc trực tiếp và cố ý giết 
			một người vô tội luôn luôn là điều vô luân nghiêm trọng» [18]. Cách 
			cụ thể hơn đối với vấn đề phá thai, ngài tuyên bố rằng: «việc phá 
			thai trực tiếp, nghĩa là được muốn như mục đích hay như phương thế, 
			luôn luôn là một thác loạn luân lý nghiêm trọng xét như là sự cố ý 
			giết chết một con người vô tội» [19]. <br>
			<br>
			<b>2. Cử hành Tin mừng sự sống</b><br>
			<br>
			Sự sống có một giá trị thánh thiêng và tôn giáo, nên trong việc tôn 
			trọng và bảo vệ sự sống, nhiệm vụ rất quan trọng đối với các linh 
			mục là cử hành việc tôn dương Tin mừng sự sống. Cử hành mầu nhiệm sự 
			sống là việc tôn vinh đích thực dành cho Thiên Chúa và là chính công 
			việc loan truyền sứ điệp Tin mừng sự sống của Chúa Giêsu Kitô: «con 
			người và sự sống con người không chỉ xuất hiện như một trong những 
			điều kỳ diệu lớn nhất trong công trình sáng tạo, nhưng Thiên Chúa 
			còn ban cho con người một phẩm giá gần như là thần thiêng (x. Tv 
			8,6-7). Trong từng em bé sinh ra hay từng con người đang sống hay 
			đang chết, chúng ta đều nhận ra hình ảnh của vinh quang Thiên Chúa: 
			ta tôn dương vinh quang ấy nơi mọi người là dấu chỉ của Thiên Chúa 
			hằng sống, hình ảnh của Chúa Giêsu Kitô» [20]. <br>
			<br>
			<i>2.1. Mầu nhiệm cứu độ, mầu nhiệm sự sống</i><br>
			<br>
			Trong bối cảnh những thách đố và những đe doạ đối với sự sống, việc 
			cử hành mầu nhiệm cứu độ trở nên một cuộc tôn dương Tin mừng sự sống 
			nhằm giúp cho con người thời nay chân nhận phẩm giá cao quý của sự 
			sống do Thiên Chúa ban tặng. Việc cử hành phụng vụ sự sống liên kết 
			chặt chẽ tất cả các ngày lễ, tuần lễ hay Mùa Phụng Vụ với những chủ 
			đề liên quan đến sự sống và phẩm giá cao quý của con người đã được 
			cứu chuộc bằng giá máu của Chúa Kitô. Hội Thánh cử hành phụng vụ với 
			mầu nhiệm trọng tâm là cuộc vượt qua của Chúa Giêsu Kitô như nguồn 
			mạch của sự sống: «Người đã chết để tiêu diệt sự chết cho chúng ta 
			và sống lại để tái lập sự sống» [21]. Nhờ việc cử hành phụng vụ như 
			mầu nhiệm sự sống, Hội Thánh dẫn đưa người tín hữu vào sự sống mới 
			trong tình hiệp thông với Thiên Chúa cũng như với cộng đoàn những 
			người được tham dự vào sự sống viên mãn của Ngài [22]. Thực vậy, 
			toàn thể Năm Phụng Vụ được cử hành theo ánh sáng của mầu nhiệm Chúa 
			Kitô, nơi Ngài dòng máu cứu độ tuôn trào sự sống vĩnh cửu cho toàn 
			thể nhân loại. <br>
			<br>
			Năm Phụng Vụ khởi đầu với Mùa Vọng và Giáng Sinh, Giáo Hội cử hành 
			mầu nhiệm Nhập Thể của Ngôi Lời Thiên Chúa đã đến thế gian mang lấy 
			thân phận con người và nâng cao phẩm giá của họ: Thiên Chúa đã trở 
			thành con của loài người để con người được làm con của Thiên Chúa. 
			Chính Chúa Giêsu đã mang lấy thân phận con người đơn sơ yếu đuối để 
			chia sẻ thân phận thấp hèn của con người. Ngài là tác giả của sự 
			sống và đã nhận làm của mình chính thực tại sự sống của con người 
			đang «ở trung tâm của cuộc chiến lớn giữa sự thiện và sự ác, giữa 
			ánh sáng và bóng tối» [23]. Chiêm ngắm Chúa Giêsu Hài Đồng thơ ngây 
			bé nhỏ được bọc trong khăn và đặt nằm trong máng cỏ của hang đá bò 
			lừa giữa đêm đông giá lạnh tại Bêlem xưa kia (x. Lc 2,1-7), giúp con 
			người thời nay biết tôn trọng phẩm giá tôn quý của mọi sinh linh bé 
			bỏng yếu ớt và đang bị đe doạ, bị chà đạp, bị bỏ rơi, bị gạt ra bên 
			lề xã hội và không có nơi nào để nương tựa. Chính trong thân phận 
			con người mà «Chúa Kitô tiếp tục tự mạc khải và đi vào mối hiệp 
			thông với chúng ta, đến mức độ mà vứt bỏ sự sống của con người dưới 
			những hình thức khác nhau cũng chính là vứt bỏ Chúa Kitô» [24]. <br>
			<br>
			Cử hành Mùa Chay và Phục Sinh, người linh mục chiêm ngắm và giương 
			cao thánh giá của Chúa Giêsu Kitô, để lôi kéo mọi người lên cùng 
			trái tim rộng mở của Người và hưởng tận nguồn ơn cứu độ trào dâng 
			[25]. Trong mầu nhiệm Vượt Qua của Chúa Giêsu Kitô con người được 
			biến đổi nhờ dòng máu thần linh tuôn chảy từ cạnh sườn của Đấng chịu 
			đâm thâu, và được thánh hoá trong sức mạnh ân sủng của Chúa Thánh 
			Thần. Trên thánh giá, Chúa Giêsu đã trao lại Thần Khí sự sống cho 
			nhân loại (x. Ga 19,30). Ngài đã chết thật trong thân phận của con 
			người giống như mọi người, nhưng Ngài đã phục sinh và hằng sống để 
			thi ân giáng phúc, giúp nhân loại thoát khỏi ách nô lệ tội lỗi và 
			chiến thắng quyền lực của sự chết. Như vậy, qua mầu nhiệm thập giá, 
			Chúa Giêsu cho thấy ý nghĩa sự sống và sự chết của mỗi con người: 
			chính Ngài đã chiến thắng sự chết và trở nên nguyên lý của sự sống 
			và mở đường cho toàn thể nhân loại bước vào sự sống mới. Ơn cứu độ 
			mà Chúa Giêsu đã mở ra cho con người chính là hồng ân sự sống và là 
			sự phục sinh cả về thể xác lẫn linh hồn. Trên thập giá, máu và nước 
			từ cạnh sườn Chúa Giêsu tuôn chảy chan hoà trên mặt đất, tẩy sạch 
			mọi tội lỗi, chữa lành bản tính nhân loại bị tổn thương do nguyên 
			tội, và ban sự sống bất diệt cho tất cả mọi người thuộc mọi thời 
			đại: vinh quang của Thiên Chúa tỏ hiện trên thập giá! Cây thập giá 
			trở thành cây sự sống trổ sinh hoa trái của sự sống, và là cây vinh 
			quang làm phát sinh và triển nở một dân tộc vì sự sống. Hơn nữa, nhờ 
			được đón nhận hơi thở của Chúa Phục Sinh, các môn đệ của Người được 
			tham dự vào đời sống thần linh để thấu hiểu ý nghĩa của sự sống, của 
			đau khổ và của sự chết. Vì thế, sống mầu nhiệm tử nạn và phục sinh 
			của Chúa Giêsu, người linh mục bước đi theo Ngài trên con đường thập 
			giá, con đường của sự hy sinh vâng phục, nhưng cũng là con đường 
			vượt lên trên thân phận thấp hèn để sống sự sống viên mãn. Theo 
			gương Chúa Giêsu người linh mục cũng «không đến để được phục vụ, 
			nhưng để phục vụ và trao nộp mạng sống làm giá cứu chuộc cho nhiều 
			người» (Mc 10,45). Vì thế, cuộc đời linh mục là một cuộc hành trình 
			hiến mình phục vụ sự sống của anh chị em đồng loại. Trên thánh giá, 
			Chúa Giêsu đã đạt đỉnh cao của tình yêu khi hiến mình chịu chết cho 
			chúng ta khi ta còn là tội nhân (x. Rm 5,8). «Bằng cách này, Ngài 
			tuyên bố rằng sự sống đạt tới tâm điểm tới ý nghĩa và độ sung mãn 
			khi nó được trao ban» [26]. <br>
			<br>
			Trong các cử hành phụng vụ Mùa Thường Niên, các môn đệ Chúa Giêsu 
			sống theo mẫu gương của Thầy chí thánh và theo nhịp đập của trái tim 
			Người. «Trong tinh thần thờ phượng thiêng liêng đẹp lòng Thiên Chúa 
			(x. Rm 12,1), việc tôn dương Tin Mừng sự sống nên thực hiện cốt yếu 
			là trong cuộc sống hằng ngày, được sống trong tình yêu tha nhân và 
			trong sự trao hiến bản thân. Chính cuộc sống của chúng ta sẽ trở nên 
			sự tiếp nhận chân thực và đầy trách nhiệm ân ban sự sống, đồng thời 
			cũng trở nên bài ca chân thành biết ơn Thiên Chúa, Đấng trao ban cho 
			chúng ta qùa tặng này. Đó chính là điều đang xảy ra trong biết bao 
			hành vi phước thiện, thường khiêm tốn và ẩn kín, được nhiều người 
			nam nữ, trẻ em người lớn, người trẻ người già, đau ốm hay mạnh khoẻ 
			thực hiện» [27]. Việc cử hành mầu nhiệm sự sống cũng được thể hiện 
			cách đặc biệt theo các biến cố của lịch sử cứu độ được đặt trọng tâm 
			và xoay quanh hiến tế Thánh Thể. Vì vậy, cử hành Tin mừng sự sống 
			chính là cử hành Thiên Chúa của sự sống, và chu kỳ phụng vụ sự sống 
			tuần hoàn giống như chính dòng máu chảy trong thân thể Chúa Giêsu. 
			Cũng vậy, việc cử hành phụng vụ chảy theo dòng máu của Chúa Giêsu, 
			như chính Chúa Giêsu đang cử hành mầu nhiệm Phục Sinh của Người. 
			Thật vậy, cử hành mầu nhiệm máu thánh Chúa Giêsu đổ ra là cử hành 
			những ngày lễ của sự sống được hiến thánh. Bởi vì, khi thân xác Chúa 
			Giêsu bị giết chết, chính là lúc Đấng là tác giả sự sống làm phát 
			sinh sự sống dồi dào hơn nơi các chi thể trong thân thể mầu nhiệm 
			của Ngài.<br>
			<br>
			Tất cả các cử hành về Tin mừng sự sống đều luôn gắn liền với lời cầu 
			nguyện thường ngày, chung cũng như riêng: «tiếng kêu than của chúng 
			ta, như tiếng kêu của Đức Giêsu trên Thánh giá, là cách thức sâu xa 
			và triệt để nhất để khẳng định đức tin của chúng ta vào quyền năng 
			tối cao của Người» [28]. Mỗi cá nhân, mỗi gia đình, mỗi cộng đoàn và 
			toàn thể Hội Thánh đều có chung một bổn phận dâng lời tạ ơn Thiên 
			Chúa vì hồng ân cao quý là sự sống Ngài ban tặng. Khẩn thiết hơn 
			nữa, các linh mục có một nghĩa vụ lớn lao trong lời cầu nguyện của 
			Hội Thánh dành cho sự sống trên khắp hoàn cầu và cho từng biến cố 
			của đời sống, như niềm vui về một sự sống đang bắt đầu, tôn trọng và 
			bảo vệ sự sống toàn vẹn, quan tâm đến những người đang gặp khó khăn 
			đau khổ, gần gũi đối với người già yếu, cô đơn và hấp hối, chia sẻ 
			nỗi đau của người gặp tang chế, niềm hy vọng và khát khao cõi sống 
			vĩnh hằng. Khi cầu nguyện nhân danh Hội Thánh, các linh mục khẩn cầu 
			cùng Thiên Chúa hằng sống, xin Ngài soi sáng, hướng dẫn, và thêm sức 
			mạnh giúp cho mỗi người tín hữu can đảm đối diện với những hoàn cảnh 
			khác nhau. Để dù gặp khó khăn thử thách, đau khổ bệnh tật họ vẫn 
			không bao giờ đánh mất niềm hy vọng. «Trong kinh nguyện hằng ngày, 
			cá nhân hay cộng đoàn, chúng ta ngợi khen và chúc tụng Thiên Chúa, 
			Cha chúng ta, Đấng đã dệt nên chúng ta trong lòng mẹ, Đấng đã thấy 
			chúng ta và yêu thương chúng ta khi chúng ta chưa được hoàn chỉnh 
			hình hài (x. Tv 139/138, 13-16)» [29]. Kết hợp với lời cầu nguyện, 
			truyền thống Hội Thánh vẫn đề cao tinh thần chay tịnh theo gương 
			Chúa Giêsu (x. Mt 4,1-11; Mc 9,29). Lời cầu nguyện đi đôi với tinh 
			thần chay tịnh phát xuất tự thâm tâm của các vị mục tử luôn luôn đẹp 
			lòng Thiên Chúa, Đấng tạo dựng và yêu thương sự sống con người. <br>
			<br>
			<i>2.2. Các Bí tích trao ban sự sống</i><br>
			<br>
			Linh mục là người của Thiên Chúa, để phụng sự Thiên Chúa, người được 
			chính Chúa Giêsu chọn từ giữa loài người để tiếp tục công cuộc cứu 
			độ của Ngài cho đến ngày cánh chung. Các linh mục nhân danh Chúa 
			Kitô cử hành chính mầu nhiệm vượt qua của Ngài để chuyển thông sự 
			sống thần linh của Ba Ngôi Thiên Chúa cho nhân loại. Chính trong Hội 
			Thánh, thân thể mầu nhiệm của Chúa Kitô, Chúa Thánh Thần hoạt động 
			khơi nguồn ơn cứu độ trào dâng và ban sự sống sung mãn cho toàn thể 
			thế giới. «Nhờ sự tái khám phá đích thực ý nghĩa các nghi thức, và 
			nhờ việc đặt đúng giá trị của các nghi thức ấy, các cử hành phụng 
			vụ, nhất là cử hành Bí tích, sẽ luôn luôn có thể diễn tả tất cả sự 
			thật về việc sinh ra đời, về sự sống, về sự đau khổ và sự chết, 
			trong khi giúp ta sống những điều ấy, như một sự tham gia vào mầu 
			nhiệm vượt qua của Chúa Kitô đã chết và phục sinh» [30]. Dòng máu 
			cứu độ của Đức Giêsu Kitô vẫn tuôn đổ trên thế gian qua các Bí tích, 
			và trở nên trung gian khẩn cầu dâng lên Thiên Chúa sự sống cùng với 
			máu của Abel và tất cả những người công chính đã và sẽ «đổ ra cho 
			nhiều người được ơn tha tội» (Mt 26,28). «Quả vậy, máu Chúa Kitô kêu 
			lên và đòi một “công lý” sâu sắc hơn, nhưng nhất là khẩn cầu lòng 
			thương xót, máu ấy cầu bầu với Cha cho các anh em của Chúa Kitô (x. 
			Dt 7,25), máu ấy là nguồn cứu chuộc hoàn hảo và là ơn ban sự sống 
			mới» [31]. Máu Chúa Kitô, mặc khải sự cao cả của tình yêu thương của 
			Chúa Cha, đã bộc lộ rằng con người là rất quý trước mặt Thiên Chúa 
			và giá trị của sự sống con người được cứu chuộc bằng chính giá máu 
			Chúa Kitô. Cũng chính «trong máu Chúa Kitô, tất cả mọi người cũng 
			múc được sức mạnh để dấn thân phục vụ sự sống. Máu Chúa Kitô chính 
			là lý do mạnh nhất để hy vọng và là nền tảng cho niềm xác tín tuyệt 
			đối rằng, theo kế hoạch của Thiên Chúa, sự sống sẽ giành được chiến 
			thắng» [32]. <br>
			<br>
			Trong Bí tích Thánh Thể linh mục được chia sẻ và hiệp thông trọn vẹn 
			với chính tình yêu và sự sống của Chúa Kitô, được cùng với Ngài hiến 
			dâng toàn thân mình cùng với lễ tế của Chúa Giêsu để ca tụng tôn 
			vinh Thiên Chúa Cha và chuyển thông ơn cứu độ đến cho muôn người. 
			Khi cử hành mầu nhiệm Thánh Thể, được thông hiệp với mình và máu 
			Chúa Kitô, nhờ Người, với Người và trong Người, linh mục kín múc 
			nguồn ân sủng và sức mạnh của Chúa Thánh Thần: «Thánh Thể là cội rễ 
			của mọi hình thức thánh thiện, và mỗi người chúng ta được kêu gọi 
			đến đời sống viên mãn trong Thánh Thần» [33]. Hiệp nhất với hy tế 
			Thánh Thể, linh mục sẵn sàng trở nên như tấm bánh bẻ ra vì sự sống 
			của anh chị em mình, nhờ đó khích lệ được tất cả mọi người dấn thân 
			phục vụ sự sống và phẩm giá của những người khác. Như vậy, người tín 
			hữu nhờ ăn thịt và uống máu Chúa, được ở lại trong Ngài, «được lôi 
			cuốn vào sức năng động của tình yêu Ngài và vào ơn ban sự sống của 
			Ngài để đưa tới sức sung mãn chính ơn gọi đầu tiên hướng tới tình 
			yêu, là ơn gọi của mọi người (x. St 1,27; 2,18-24)» [34]. Những ân 
			huệ của bí tích Thánh Thể đối với sự sống được hiện thực nhờ Bí tích 
			Rửa Tội. Vì được tham dự vào cuộc khổ hình và sống lại của Chúa 
			Kitô, người tín hữu được tái sinh để sống một cuộc sống viên mãn 
			trong Ngài. Trong Bí tích Thêm Sức, Thánh Thần là nguyên lý sự sống 
			làm lan toả dòng máu thần linh của Chúa Kitô giúp người tín hữu sống 
			can trường theo chân Chúa Giêsu Kitô là Đường là Sự Thật và là Sự 
			Sống. Hơn nữa, nhờ sức mạnh của bảy nguồn ân huệ Thánh Linh, các tín 
			hữu sống sung mãn và biết khôn ngoan lựa chọn cách thế phù hợp cho 
			con đường bảo vệ sự sống trong mọi cảnh huống. Khi cử hành Bí tích 
			Hoà Giải người linh mục trở nên thừa tác viên của lòng thương xót. 
			Trong toà giải tội, linh mục rao giảng Tin mừng sự sống, đồng thời 
			kêu mời tội nhân sám hối về những xúc phạm đến sự sống để đón nhận 
			hồng ân tha thứ của triều đại Nước Thiên Chúa (x. Mc 1,15). Thiên 
			Chúa gớm ghét tội lỗi, nhưng luôn yêu thương tội nhân nên sứ vụ của 
			người linh mục là giang rộng vòng tay yêu thương đón tiếp, nâng đỡ 
			cho những người tội lỗi tìm được ánh sáng và an bình trong sự canh 
			tân và biến đổi tận tâm can để bước đi trên con đường sự sống. Trong 
			Bí tích Xức dầu bệnh nhân, linh mục an ủi người tín hữu trong cơn 
			đau bệnh, khích lệ họ kết hiệp với cuộc thương khó của Chúa Giêsu, 
			Đấng đã chịu đóng đinh và chịu chết vì tội lỗi của nhân loại. Nhờ 
			được xức dầu bệnh nhân, người tín hữu nhận được suối ngưồn sự sống 
			và sức mạnh nơi Chúa Giêsu, Đấng là «lương y chữa lành thân xác và 
			linh hồn» [35]. Linh mục giúp cho người tín hữu kết hiệp mật thiết 
			với Chúa Kitô chịu đóng đinh, can đảm chấp nhận những đớn đau thể 
			xác để hoàn tất cuộc thương khó nơi các chi thể của Ngài (x. Cl 
			1,24). Khi kết hiệp với cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu Kitô, người tín 
			hữu ý thức rằng sự sống thể lý trên trần gian hữu hạn chỉ đạt được 
			cùng đích trên thiên quốc, nơi mà con người sống sự hiệp nhất trọn 
			vẹn với Đấng là nguyên uỷ của sự sống [36]. Với Bí tích Hôn Nhân, 
			tình yêu của vợ chồng được thánh hoá theo mẫu gương của tình yêu 
			giữa Chúa Giêsu là lang quân và Hội Thánh, hiền thê của Ngài (x. Ep 
			5,25). Đời sống vợ chồng đòi hỏi một tình yêu nhẫn nại, hy sinh hiến 
			mình vì nhau đến nỗi đổ máu như chính Chúa Giêsu đã hiến mình vì Hội 
			Thánh và toàn thể nhân loại (x Lc 22,44; 1Cr 15,31). Qua Bí tích Hôn 
			nhân, linh mục giúp cho các cặp vợ chồng lãnh nhân ơn Chúa để xây 
			dựng gia đình họ thành cái nôi của sự sống, và chu toàn bổn phận làm 
			vợ/chồng, cha/mẹ, nhà giáo dục/sứ giả của sự sống tại gia đình, đồng 
			thời là những người bảo vệ giá trị cao quý của sự sống trong xã hội. 
			Trong Bí tích Truyền chức thánh, qua việc đặt tay, Chúa Thánh Thần 
			bao phủ trên người thụ phong, tháp nhập họ vào sứ vụ của Chúa Kitô 
			thượng tế đởi đời, đã trở thành chiên vượt qua chịu sát tế thông ban 
			sự sống và dẫn đưa mọi người tới nguồn mạch sự sống vĩnh cửu (x. Ga 
			1,29; Kh 5,6; 7,17).<br>
			<br>
			Tóm lại, khi cử hành mầu nhiệm sự sống, linh mục nhân danh Hội Thánh 
			hướng dẫn con người thời đại đến nguồn mạch sự sống đích thực nhờ 
			được kết hiệp với Chúa Kitô. Với mầu nhiệm Ngôi Hai Nhập Thể, sự 
			sống của Thiên Chúa đã trở thành sự sống của con người. Nhờ sự chết 
			và sống lại của Chúa Giêsu Kitô, sự sống của con người được thánh 
			hoá và tìm lại được ý nghĩa nguyên thuỷ. Như vậy, «giá trị sự sống 
			không chỉ gắn liền với nguồn cội của nó, theo như nó được trao ban 
			từ Thiên Chúa, mà còn nối kết vào cùng đích, vào vận mệnh của nó là 
			hiệp thông với Thiên Chúa, để nhận biết và yêu mến Ngài» [37]. Quả 
			thật, cuộc sống của con người biểu lộ sự hiện diện của Thiên Chúa và 
			toả sáng ánh quang rạng ngời của Ngài: Vinh quang Thiên Chúa là con 
			người được sống, nhưng sự sống của con người chính là được hưởng 
			kiến Thiên Chúa [38]. Vì thế, con người luôn khát vọng hướng về trời 
			cao và hướng về sự hiệp nhất trọn vẹn nơi Thiên Chúa: «Lạy Chúa, 
			Chúa tác thành chúng con cho Chúa, và lòng chúng con khắc khoải cho 
			mãi tới khi được nghỉ yên trong Ngài» [39]. <br>
			<br>
			<b>3. Phục vụ Tin mừng sự sống</b><br>
			<br>
			Dấn thân phục vụ Tin mừng sự sống là lời mời gọi của Giáo Hội đối 
			với tất cả mọi người thành tâm thiện chí. Đương nhiên, đây cũng là 
			bổn phận thiêng liêng của mọi kitô hữu và cách riêng đối với các 
			linh mục. Vì vậy, các linh mục phải đặc biệt ưu tiên cho việc phục 
			vụ sự sống con người, như nhiệm vụ hàng đầu trong các hoạt động mục 
			vụ của mình. Quả thật, dấn thân phục vụ Tin mừng sự sống chính là 
			hiến thân phục vụ Chúa Kitô là đường là sự thật và là sự sống (x. Ga 
			14,6; 11,25). Chính Chúa Giêsu đã khẳng định rằng: «ai làm cho một 
			người bé nhỏ nhất của ta đây là làm cho chính ta vậy» (Mt 25,45). 
			Khi phục vụ sự sống, người linh mục gắn kết mật thiết với Chúa Kitô 
			là sự sống thật, Đấng đến thế gian để cho mọi người được sống. Khi 
			bước đi trên con đường phục vụ sự sống, người linh mục ở trong lộ 
			trình hướng tới Đức Kitô và làm lan tỏa ánh hào quang của Tin mừng 
			sự sống cho thế gian tăm tối bởi bóng tối sự chết. Chính vì vậy, 
			phục vụ sự sống là phục vụ chính Chúa Giêsu, và khước từ phục vụ sự 
			sống là khước từ phục vụ chính Chúa. <br>
			<br>
			<i>3.1. Mục vụ gia đình</i><br>
			<br>
			Với sự phát triển nhanh chóng của xã hội, làn sóng đô thị hoá và 
			công nghiệp hoá lan rộng, cùng với những tiến bộ của khoa học kỹ 
			thuật, khiến cho đời sống gia đình đang gặp phải biến đổi tận gốc 
			rễ. Các hình mẫu gia đình truyền thống (traditional family) đang dần 
			dần bị thay thế bằng hình thức gia đình hiện đại hay gia đình hạt 
			nhân (nuclear family). Những khủng hoảng trong các sinh hoạt gia 
			đình khiến cho những giá trị cao đẹp của truyền thống ngàn đời phải 
			đối diện với nguy cơ bị xói mòn và mai một. «Có những gia đình đang 
			trở thành một thứ quán trọ thay vì là tổ ấm yêu thương. Có nhiều 
			người cao tuổi bị con cái bỏ rơi, không nơi nương tựa. Nạn bạo hành 
			gia đình còn khá phổ biến, đặc biệt nhiều phụ nữ chưa được tôn trọng 
			và yêu thương xứng đáng với phẩm giá con người». Thực vậy, những mâu 
			thuẫn và khủng hoảng trong đời sống gia đình, khiến cho sự sống con 
			người bị lâm nguy, con cái thiếu vắng sự chăm sóc giáo dục của chính 
			cha mẹ chúng. Bởi đó, «gia đình bị tổn thương đến chết được và bị uế 
			tạp trong bản chất cộng đồng tình yêu của nó và trong ơn gọi làm 
			thành cung thánh của sự sống» [40]. <br>
			<br>
			Đối diện với những khủng hoảng và biến đổi của gia đình như thế, 
			việc giáo dục gia đình có một vị trí hết sức quan trọng vì gia đình 
			là nơi đón nhận, bảo vệ và gìn giữ hồng ân sự sống do Thiên Chúa ban 
			tặng. Là người của Thiên Chúa, linh mục nỗ lực xây dựng một nền văn 
			hoá của sự sống và nền văn minh của tình thương, nhưng công việc này 
			phải được khởi đi từ chính gia đình như là những tế bào của Giáo Hội 
			và xã hội. «Chúa Kitô đã muốn xây dựng nhiệm thể Ngài bằng những tế 
			bào gia đình; Hội Thánh có thể thay đổi đường lối tông đồ, thay đổi 
			các hội đoàn, nhưng Hội Thánh luôn luôn phát triển nhở các gia đình. 
			Đức tin được thông truyền qua các tế bào sống động và lành mạnh ấy» 
			[41]. Chính vì thế, Đức Thánh Cha Phaolô VI cũng đã khẩn thiết kêu 
			gọi các linh mục chăm lo việc giáo dục cho các gia đình: «Các linh 
			mục rất thân mến, thiên chức đã đặt các con làm cố vấn và làm người 
			hướng dẫn thiêng liêng của cá nhân cũng như của các gia đình. Giờ 
			đây, cha đặt tất cả lòng tin tưởng nơi các con. Nhiệm vụ đầu tiên 
			của các con, nhất là những người phụ trách giảng dạy khoa luân lý 
			thần học, là thẳng thắn trình bày nền giáo huấn của Giáo hội liên 
			quan đến hôn nhân» [42]. Đây cũng là đòi hỏi của Bộ Giáo Sĩ đối với 
			các linh mục: «là thầy dạy và là nhà giáo dục đức tin, linh mục lo 
			sao cho việc dạy giáo lý chiếm một địa vị ưu tiên trong nền giáo dục 
			Kitô giáo tại gia đình, trong trường công giáo, trong việc huấn 
			luyện các phong trào tông đồ» [43]. Cách cụ thể, cần phải quan tâm 
			đặc biệt đến việc giảng dạy giáo lý hôn nhân, qua đó giúp các cặp vợ 
			chồng hiểu rõ giáo huấn của Hội Thánh về vấn đề điều hoà sinh sản và 
			về tính thánh thiêng của sự sống con người. Đồng thời, cũng cần có 
			các hình thức mục vụ tiền/hậu hôn nhân nhằm nâng đỡ các gia đình 
			trong bổn phận làm cha mẹ có trách nhiệm cũng như bổn phận yêu 
			thương và tôn trọng sự sống. Nhờ đó, gia đình thực sự diễn tả tình 
			yêu của Thiên Chúa đối với nhân loại và tình yêu của Chúa Kitô đối 
			với Hội Thánh, đồng thời trở thành nơi «gìn giữ, biểu lộ và thông 
			truyền tình yêu» [44]. Qua việc giảng dạy và các hình thức viếng 
			thăm mục vụ, các linh mục đồng hành, hướng dẫn và động viên các gia 
			đình mở rộng lòng đón nhận sự sống, và trung thành với giáo huấn của 
			Hội Thánh hết lòng yêu thương chăm sóc và bảo vệ sự sống. «Khi gặp 
			các gian nan thử thách, chớ gì các đôi vợ chồng luôn tìm được nơi 
			tâm hồn và tiếng nói của linh mục, hình ảnh và tiếng vang của tình 
			yêu cũng như lời nói của Chúa Cứu Chuộc» [45]. <br>
			<br>
			Để xây dựng nền văn hoá sự sống và nền văn minh tình thương, thì mỗi 
			gia đình phải trở thành cái nôi của tình yêu và sự sống, nơi đó các 
			phần tử được nhìn nhận, được kính trọng và chăm sóc từ lúc sinh ra 
			cho tới khi qua đời. Như một Giáo Hội thu nhỏ, vai trò căn bản và ơn 
			gọi thánh thiêng của gia đình là phục vụ sự sống con người; như Giáo 
			Hội tại gia, gia đình cũng có sứ vụ cử hành, loan báo và tôn dương 
			Tin mừng sự sống. Vì thế, trách nhiệm của các linh mục là «phải nỗ 
			lực về phương diện giáo lý cũng như mục vụ để làm cho các gia đình 
			công giáo xác tín về sức mạnh của họ. Họ sẽ khám phá ra họ không 
			phải là thành phần thụ hưởng, chỉ biết lãnh nhận giáo lý, lãnh nhận 
			Bí tích, lãnh nhận ơn Chúa, mà họ cũng là thành phần hoạt động tông 
			đồ» [46]. Đặc biệt trong bối cảnh xã hội hôm nay, với bao nhiêu khó 
			khăn và xúc phạm đến sự sống con người, gia đình lại càng đóng một 
			vai trò quan trọng hơn trong việc đón nhận, bảo vệ, nuôi dưỡng và 
			giáo dục đúng phẩm giá. Vì thế, sứ mạng của linh mục và của cả Hội 
			Thánh là phải chăm sóc cho các gia đình luôn là «cung thánh của sự 
			sống [...] nơi mà sự sống, hồng ân Thiên Chúa ban, có thể được đón 
			nhận cách xứng hợp và bảo hộ chống lại nhiều sự tấn công mà nó phải 
			thường hứng chịu; nơi mà sự sống có thể phát triển theo những nhu 
			cầu tăng trưởng chính thức của con người» [47]. Theo ý định của 
			Thiên Chúa, gia đình có một giá trị riêng trong chương trình của 
			Thiên Chúa, nơi mà con người được cộng tác với Thiên Chúa tiếp tục 
			công trình tạo dựng, để thông ban sự sống mình đã nhận cho các thế 
			hệ kế tiếp. Thực vậy, «sự sống của con người là một ơn được tiếp 
			nhận, để rồi đến lượt mình nó lại trao ban. Trong việc tạo nên một 
			sự sống mới, cha mẹ ý thức rằng đứa con là kết quả của việc họ tự 
			hiến cho nhau trong tình yêu, thì đến lượt nó, nó sẽ trở nên một 
			hồng ân cho cả hai người: một hồng ân phát sinh từ một hồng ân» 
			[48]. Vì thế, việc mở lòng đón nhận sự sống mới và giáo dục con cái 
			nên người đòi hỏi các bậc vợ chồng ý thức được bổn phận làm cha làm 
			mẹ có trách nhiệm: trách nhiệm kiến tạo một gia đình yêu thương đầm 
			ấm, trách nhiệm sinh sản và giáo dục con cái. Trách nhiệm này đòi 
			hỏi các cặp vợ chồng lãnh lấy thiên chức làm cha làm mẹ mà Thiên 
			Chúa đã uỷ thác qua Bí tích Hôn Nhân, nhờ đó họ đón nhận con cái 
			trong tình yêu, và tình yêu của Thiên Chúa thì luôn luôn muốn tạo 
			dựng nên những con người mới. Bên cạnh đó, linh mục cần giúp cho các 
			bậc làm cha mẹ ý thức trách nhiệm của họ trước mặt Chúa đối với con 
			cái và giáo dục chúng nên người và nên con cái Thiên Chúa. Theo ý 
			nghĩa này, các cặp vợ chồng phải được hướng dẫn trong tinh thần hy 
			sinh, tìm vinh danh Thiên Chúa và đón nhận thánh ý của Ngài để quyết 
			định số con mà họ sẽ sinh ra, và sinh con vào thời gian và hoàn cảnh 
			thích hợp nhất. Quyết định số con cái trong mỗi gia đình là quyền và 
			nghĩa vụ của cả hai vợ chồng chứ không phải của một phía hay của 
			quyền bính bên ngoài: «bổn phận truyền sinh và giáo dục phải được 
			coi là sứ mệnh riêng biệt của vợ chồng» [49]. Vì thế, vợ chồng «trở 
			thành cha mẹ có trách nhiệm nghĩa là: biết cân nhắc suy nghĩ để rồi 
			sẵn sàng làm cho gia đình mình tăng thêm nhân số, hoặc để rồi căn cứ 
			vào những lý do xác đáng, và trong tinh thần tôn trọng lề luật luân 
			lý quyết định tạm ngưng việc sinh sản trong một thời gian ngắn hay 
			vô hạn định» [50]. Trong việc quyết định quan trọng này vợ chồng 
			phải đồng tâm hiệp lực với nhau trong sự vâng phục thánh ý Thiên 
			Chúa để có được phán đoán ngay thẳng, «phán đoán ấy, chính đôi vợ 
			chồng phải chọn lựa lấy trước mặt Thiên Chúa» [51]. <br>
			<br>
			<i>3.2. Phục vụ trong đức ái</i><br>
			<br>
			Do Bí tích Truyền Chức thánh, linh mục được tham dự vào sứ vụ lãnh 
			đạo với vai trò làm đầu của chính Chúa Giêsu. Theo gương Chúa Giêsu 
			đã quỳ gối xuống rửa chân cho các môn đệ (Ga 13,1-20), linh mục thực 
			thi sứ mệnh đã được uỷ thác trong tinh thần yêu thương, khiêm tốn và 
			hiến thân phục vụ mọi người như một tôi tớ (x. Mt 20,26-28). Đương 
			nhiên, sự phục vụ ấy phải được dành ưu tiên cho những ngưởi nhỏ bé, 
			yếu thế, bất hạnh, đang gặp thử thách bách hại và cần đến sự bảo vệ 
			đỡ nâng. «Bằng việc tham dự vào sứ mệnh vương giả của Chúa Kitô, sự 
			nâng đỡ và thăng tiến sự sống con người cần được thi hành bằng việc 
			phục vụ của đức ái, thể hiện qua chứng từ cá nhân, qua nhiều hình 
			thức thiện nguyện, qua việc vận động xã hội và sự cam kết chính trị. 
			Đó là một đòi buộc đặc biệt cấp bách trong thời điểm hiện tại, lúc 
			mà “nền văn hoá sự chết” đang kịch liệt chống đối và thường thường 
			xem ra lấn lướt “nền văn hoá sự sống”» [52]. <br>
			<br>
			Mang lấy nơi mình chính sứ mạng của Chúa Kitô, người linh mục nỗ lực 
			dấn thân phục vụ sự sống con người trong sự yêu mến và trung thành 
			với Giáo huấn của Hội Thánh Người. «Hình thức bác ái cao siêu hơn cả 
			là đừng tìm cách dấu diếm giáo lý của Chúa Kitô» [53]. Vì vậy, người 
			linh mục phải tạo điều kiện cho anh chị em mình được học hiểu thấu 
			đáo về lập trường của Giáo Hội và giáo huấn luân lý Kitô giáo về sự 
			sống để họ có thể áp dụng vào trong những hoàn cảnh cụ thể thường 
			nhật. Nhờ việc trung thành trình bày giáo lý của Hội Thánh về sự 
			sống, linh mục làm triển nở nơi cộng đoàn mình phục vụ một bầu khí 
			tôn quý sự sống, đồng thời tạo nên tình liên đới và sẵn sàng hiến 
			dâng cho người khác bằng «một tình yêu vô vị lợi, tình yêu này tỏ 
			bày chính mình là một văn hoá của sự sống bằng chính ước muốn “liều 
			mất mạng sống mình” (x. Lc 17,33) cho kẻ khác» [54]. Là những môn đệ 
			của Chúa Giêsu, các linh mục trở nên người thân cận của mọi người 
			(x. Lc 10,29-37). Đời sống và sứ vụ của linh mục diễn tả tình yêu 
			đối với chính Chúa Giêsu còn đang bị bỏ rơi nơi những anh chị em đau 
			khổ trên khắp thế giới. Yêu thương chăm sóc cho những người nhỏ bé 
			bất hạnh, coi trọng phẩm giá cuả họ như một nhân vị là trách nhiệm 
			mà Thiên Chúa giao phó cho các linh mục trong chức thánh. Quả vậy, 
			«bác ái không phải là một thứ hoạt động trợ giúp xã hội mà ta cũng 
			có thể để lại cho người khác làm, nhưng thuộc về bản tính của Hội 
			Thánh, một lối diễn tả không thể thiếu của bản chất Hội Thánh» [55]. 
			Chính trong cộng đoàn đầy tình yêu huynh đệ phổ quát của Chúa Kitô 
			mà người linh mục khơi dậy sức mạnh phi thường của đức ái. Sức mạnh 
			của tình thương ấy có thể «biến thế giới của thú vật nên thế giới 
			của con người, biến thế giới của con người nên thế giới của con 
			Chúa» [56]. <br>
			<br>
			Bằng hoạt động mục vụ bác ái xã hội đa dạng, linh mục cùng với anh 
			chị em mình vận dụng những hình thức hợp lý và hữu hiệu để hỗ trợ và 
			bảo vệ sự sống mới sinh ra, chăm sóc những kẻ bị gạt ra bên lề xã 
			hội, an ủi nâng đỡ những người đang đau khổ, đặc biệt trong giai 
			đoạn sau cùng. Công việc phục vụ của đức ái đối với sự sống cần phải 
			đi đến tận chính gốc rễ của sự sống và của tình yêu, không phân biệt 
			kỳ thị, bởi vì «sự sống con người là thánh thiêng và bất khả xâm 
			phạm trong mọi giai đoạn, trong mọi hoàn cảnh; sự sống ấy là một 
			điều thiện không thể chia tách được. Vậy cần phải chăm sóc cho mọi 
			sự sống và sự sống của mọi người» [57]. Một cách cụ thể, linh mục có 
			thể góp phần tích cực cứu vớt sự sống người vô tội bằng việc xây 
			dựng những cơ sở phục vụ sự sống: «những trung tâm tương trợ sự sống 
			và những nhà hoặc trung tâm tiếp nhận sự sống luôn sẵn sàng phục vụ 
			sự sống mới sinh ra. Nhờ hoạt động của những cơ sở đó, rất nhiều bà 
			mẹ độc thân và rất nhiều cặp vợ chồng đang gặp khó khăn tìm lại được 
			lẽ sống và niềm tin khi có được sự trợ giúp và nâng đỡ để vượt qua 
			khó khăn và sợ hãi trước việc đón nhận một sự sống sắp sinh ra hoặc 
			vừa mới chào đời» [58]. Mặt khác, nơi các xứ đạo cần thành lập thêm 
			các nhóm tông đồ bảo vệ sự sống, công việc của họ là tìm gặp và giải 
			thích cho những người muốn phá thai đừng giết chính những đứa con 
			của mình, đồng thời săn sàng đón nhận những đứa con họ sinh ra và 
			trao cho những gia đình đạo đức nuôi dưỡng. Đã có nhiều nhóm linh 
			mục, tu sĩ và giáo dân đang gắng công thực hiện những việc làm cụ 
			thể và đầy nghĩa tình, như bảo trợ cho những người mẹ chưa kết hôn, 
			nuôi dạy các trẻ mồ côi, mở lớp tình thương cho trẻ khuyết tật, lập 
			viện dưỡng lão... Hiện nay, hằng ngày vẫn có các tín hữu âm thầm đến 
			các bệnh viện, phòng khám để xin các thai nhi bị phá về mai táng. 
			Nhiều nơi đã lập thành những khu nghĩa trang anh hài dành cho các 
			thai nhi bị phá bỏ với hàng chục ngàn ngôi mộ nhỏ. Công việc này góp 
			phần làm cho mọi người nhìn nhận phẩm giá và quyền được sống của các 
			trẻ em chưa được sinh ra, qua đó gióng lên tiếng kêu thay cho những 
			người không có tiếng nói và là tiếng chuông thức tỉnh lòng người, 
			báo động về những tội ác xúc phạm đến sự sống con người [59]. <br>
			<br>
			<b>Kết luận</b><br>
			<br>
			Nhờ việc rao giảng, đối thoại và phục vụ sự sống, các linh mục kiên 
			trì giáo dục cho các tín hữu và cho tất cả mọi người có một lương 
			tâm ngay chính giúp họ biết yêu quý sự sống và tôn trọng phẩm giá 
			con người. Mọi hình thức bảo vệ sự sống con người cũng như tất cả 
			các công việc phục vụ dành cho sự sống đều dẫn đến việc thờ phượng 
			trong Thần Khí ban sự sống. Thực vậy, việc dấn thân phục vụ Tin mừng 
			sự sống «dù tiếp nhận từ đức tin một ánh sáng và một sức mạnh ngoại 
			thường, thì nó vẫn thuộc về mọi lương tâm con người khát vọng chân 
			lý và chăm chú ưu tư với vận mệnh nhân loại» [60]. Bổn phận tôn 
			trọng và bảo vệ sự sống con người không chỉ giới hạn riêng cho người 
			kitô hữu hay các linh mục, nhưng phải được mở ra cho hết mọi người 
			thuộc mọi thời đại. Trong việc tôn dương Tin mừng sự sống, bất cứ ai 
			thành tâm thiện chí hiến mình phục vụ sự sống con người đều thuộc về 
			Đức Kitô và nhận được sự sống của Ngài (x. Mc 9,40-41). Ai đứng lên 
			bảo vệ sự sống con người thì đã là một kitô hữu rồi! Họ trở thành 
			kitô hữu qua việc làm chứng cho Tin mừng sự sống bằng cách sống theo 
			các tiêu chuẩn của Kitô giáo, cũng như qua việc thực hành niềm tin 
			cậy mến bằng những hành động cụ thể trong đời sống thường ngày. Vì 
			thế, «các linh mục hãy nhờ các lời cầu nguyện và các việc lành mà 
			khẩn nài Chúa Kitô Vị Linh Mục tối cao đời đời để có thể làm chiếu 
			tỏa Đức Tin, Đức Cậy và Đức Ái, cũng như các nhân đức khác, và qua 
			đời sống cũng như cung cách bên ngoài để hoàn toàn hiến thân lo cho 
			ích lợi thiêng liêng của đoàn dân; đó là điều Giáo Hội hằng tâm niệm 
			lo lắng trên hết» [61]. <br>
			<br>
			<u>Chú thích:</u><br>
			[1] TOÀ ÂN GIẢI TỐI CAO, Sắc lệnh ban ơn xá trong Năm Linh Mục 
			(25/4/2009). «Chúng ta phải sống cho người khác, chúng ta phải sống 
			với Dân Chúa bằng tình yêu thánh thiện và thần linh. Rõ ràng tình 
			yêu này làm nên sự phong phú của đời độc thân thánh thiện. Tình yêu 
			này đòi buộc chúng ta sống liên đới thực sự với những người đau khổ 
			và những ai đang sống trong nhiều hình thái nghèo khổ khác nhau» (BỘ 
			GIÁO SĨ, Thư gửi các linh mục, ngày 11/6/2009).<br>
			[2] BÊNÊĐICTÔ XVI, Thông điệp Deus caritas est (25/12/2005), số 25a.<br>
			[3] GIOAN PHAOLÔ II, Thông điệp Evangelium vitae về giá trị và tính 
			bất khả xâm phạm của sự sống con người (25/03/1995), số 1. Tin mừng 
			sự sống phải được loan báo cho mọi người, vào tận trong những ngõ 
			ngách sâu kín nhất của toàn xã hội: «Điều chúng tôi đã thấy và đã 
			nghe, chúng tôi loan báo cho anh em, để anh em được hiệp thông với 
			chúng tôi» (1Ga 1,3).<br>
			[4] GIOAN PHAOLÔ II, Thư gửi các gia đình Gratissimun sane 
			(2/2/1994), số 21; Thông điệp Evangelium vitae, số 59: «Chúng ta 
			đứng trước những gì có thể được định nghĩa như là một “cơ cấu của 
			tội lỗi” chống lại sự sống con người chưa sinh ra».<br>
			[5] GIOAN PHAOLÔ II, Thông điệp Evangelium vitae, số 13. «Làm sao 
			còn nói được tới phẩm giá của nhân vị, khi người ta giết những kẻ 
			yếu nhất và vô tội nhất? Nhân danh công lý nào mà người ta thực hiện 
			sự kỳ thị tối bất công giữa những con người như thế, bằng cách tuyên 
			bố rằng một số những kẻ này đáng được bảo vệ, còn những kẻ kia bị từ 
			chối quyền sống?» (GIOAN PHAOLÔ II, Diễn từ cho các tham dự viên 
			cuộc hội luận về «Quyền sống và Âu châu» ngày 18/12/1987).<br>
			[6] GIOAN PHAOLÔ II, Thông điệp Evangelium vitae, số 58.. Đức Thánh 
			Cha Piô XII thì nhận xét: «tội của con người thời nay là đánh mất 
			cảm thức về tội lỗi» (Sứ điệp truyền thanh gửi Đại hội Giáo lý toàn 
			quốc Hoa Kỳ, ngày 26/10/1946).<br>
			[7] X. M. A. PEETERS, «The post abortion syndrome», in J. VIAL 
			CORREA – E. SGRECCIA (a cura di), La causa della vita, LEV, Città 
			del Vaticano 1995, 159.<br>
			[8] X. VU HOANG NGAN, «La planification familiare», in Y. CHARBIT – 
			C. SCORNET, Société et politique de population au Vietnam, 
			L’Harmattan, Paris 2002, 105-140. Xem thêm các bài: Trẻ nạo phá 
			thai: tương lai dằn vặt (Tuổi Trẻ Online, Thứ Hai, 08/08/2005); Tỷ 
			lệ nạo phá thai của Việt Nam cao hơn các nước khác (Tiền Phong 
			Online, Thứ Sáu, 17/04/2009).<br>
			[9] HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC VIỆT NAM, Thư mục vụ 2008, số 10. <br>
			[10] CÔNG ĐỒNG CHUNG VATICANÔ II, Hiến chế Gaudium et spes, số 27.<br>
			[11] BỘ GIÁO LÝ ĐỨC TIN, Huấn thị Donum vitae (22/2/1987), I, số 1; 
			Vì thế, «không bao giờ một trường hợp nào, một mục đích nào, một 
			luật pháp nào trên thế giới có thể làm cho trở thành hợp pháp một 
			hành động vốn thực chất là không hợp pháp, bởi vì trái với lề luật 
			của Thiên Chúa ghi khắc trong tâm hồn mọi người mà ta có thể phân 
			biệt nhờ chính lý trí, và đã được Giáo Hội công bố» (GIOAN PHAOLÔ 
			II, Thông điệp Evangelium vitae, số 62).<br>
			[12] GIOAN PHAOLÔ II, Thông điệp Evangelium vitae, số 61. «Sự sống 
			là thánh thiêng, nó mang tính bất khả xâm phạm được khắc ghi từ ban 
			đầu trong lòng người, trong lương tâm con người» (số 40). <br>
			[13] HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC VIỆT NAM, Thư mục vụ 2008, số 18; x. 
			ATHENAGORE, Lời thỉnh cầu cho các Kitô hữu, số 35.<br>
			[14] GIOAN PHAOLÔ II, Thông điệp Evangelium vitae, số 58. Theo định 
			nghĩa này, phải phân biệt rõ ràng giữa việc ngừa thai và phá thai. 
			Không thể gọi là ngừa thai hay tránh thai đối với các loại vòng xoắn 
			đặt vào cổ tử cung và các loại thuốc ngăn chặn quá trình làm tổ của 
			phôi thai, hay là giết chết bào thai ngay từ trong bụng mẹ.<br>
			[15] Didachè V,2. Điều 1398 trong Bộ Giáo Luật hiện nay vẫn tiếp nối 
			truyền thống này: «phá thai mà có hiệu quả, thì tức khắc bị vạ tuyệt 
			thông». Bằng sự xác nhận hình phạt ấy, Giáo Hội chỉ rõ tội ác này 
			như một trong những tội ác nghiêm trọng và nguy hiểm nhất, đồng thời 
			kêu gọi họ hoán cải và đền tội thích đáng.<br>
			[16] TERTULIANÔ, Minh giáo, IX,8. «Thực tại con người, trong suốt 
			cuộc sống của nó, cả trước và sau khi sinh, không cho phép ta khẳng 
			định một sự thay đổi bản tính, cũng không cho phép khẳng định một sự 
			biến thiên dần về giá trị luân lý, vì nó có một phẩm chất nhân học 
			và luân lý đầy đủ. Bởi thế, phôi người, ngay từ ban đầu, có một phẩm 
			giá riêng của nhân vị» (BỘ GIÁO LÝ ĐỨC TIN, Huấn thị Dignitas 
			personae, số 5).<br>
			[17] CÔNG ĐỒNG CHUNG VATICANÔ II, Hiến chế Gaudium et spes, số 51; 
			Sự sống con người là thánh thiêng, vì «ngay từ trong cội nguồn của 
			nó, nó đòi hỏi hành động sáng tạo của Thiên Chúa». x. PIÔ XI, Thông 
			điệp Casti connubii, (31/21/1930), II; GIOAN XXIII, Thông điệp Mater 
			et magistra (15/5/1961).<br>
			[18] GIOAN PHAOLÔ II, Thông điệp Evangelium vitae, số 57.<br>
			[19] GIOAN PHAOLÔ II, Thông điệp Evangelium vitae, số 62. Ðức Thánh 
			Cha Phaolô VI cũng đã tuyên bố trước đó rằng giáo huấn này không bao 
			giờ thay đổi và là bất di bất dịch (x. Thông điệp Humanae vitae, số 
			14). Giáo huấn ấy đã được nói rõ tại các số 2270-2273 trong Sách 
			Giáo Lý Của Giáo Hội Công Giáo. Mới đây Bộ Giáo Lý Đức Tin cũng 
			khẳng định lại rằng: Giáo huấn Công giáo về vấn đề phá thai chưa hề 
			thay đổi và cũng không thể nào thay đổi (L’Osservatore Romano, 
			11/7/2009).<br>
			[20] X. GIOAN PHAOLÔ II, Thông điệp Evangelium vitae, số 84.<br>
			[21] CÔNG ĐỒNG CHUNG VATICANÔ II, Hiến chế Sacrosantum concilium, số 
			5. Phụng vụ «giúp các tín hữu, qua cuộc sống mình, diễn tả cho người 
			khác mầu nhiệm Chúa Kitô và bản tính đích thực của Hội Thánh chân 
			chính» (số 2).<br>
			[22] X. Giáo Lý của Hội Thánh Công Giáo, số 1071.<br>
			[23] GIOAN PHAOLÔ II, Thông điệp Evangelium vitae, số 104.<br>
			[24] GIOAN PHAOLÔ II, Thông điệp Evangelium vitae, số 104. Chính 
			Chúa Giêsu đã tự đồng hoá với những người bé nhỏ nhất: «ai đón tiếp 
			một bé thơ như em này vì danh Thầy, là tiếp đón Thầy» (Mt 18,5), và 
			«những gì các con đã làm cho một người trong các anh em hèn mọn nhất 
			của Ta, là các con đã làm cho chính mình Ta» (Mt 25,40).<br>
			[25] X. SÁCH LỄ RÔMA, Lời tiền tụng Lễ Thánh Tâm Chúa Giêsu. <br>
			[26] GIOAN PHAOLÔ II, Thông điệp Evangelium vitae, số 51. Chúa Giêsu 
			đã vâng lời Chúa Cha trong mọi sự: «khi vào trần gian Chúa Giêsu đã 
			nói: này con đến để thi hành thánh ý Cha» (Dt 10,9). Ngài đã hiến 
			mình chịu chết «vì Ngài đã yêu thương những kẻ thuộc về mình còn ở 
			thế gian, và yêu thương họ đến cùng» (Ga 13,1). Chính Ngài đã khẳng 
			định: «không ai có tình yêu nào lớn hơn tình yêu này: hiến mạng sống 
			mình vì bạn hữu» (Ga 15,13).<br>
			[27] GIOAN PHAOLÔ II, Thông điệp Evangelium vitae, số 86. «Những 
			nghĩa cử này là việc tôn dương Tin Mừng sự sống cách trọng đại nhất, 
			bởi vì chúng công bố Tin Mừng bằng chính việc trao hiến trọn vẹn bản 
			thân mình, chúng là biểu hiện rực rỡ của mức độ cao cả nhất của tình 
			yêu: trao hiến mạng sống mình vì người mình yêu (x. Ga 15,13); chúng 
			là sự hiệp thông vào mầu nhiệm Thập Giá, trên Thập Giá Chúa Giêsu 
			mặc khải cho ta thấy tất cả giá trị mà sự sống của con người có được 
			đối với Ngài và sự sống này được thực hiện cách tràn đầy trong việc 
			trao hiến trọn vẹn bản thân mình như thế nào».<br>
			[28] BÊNÊĐICTÔ XVI, Thông điệp Deus caritas est, số 38. Đây là lúc 
			phải tái khẳng định tầm quan trọng của lời cầu nguyện khi đối diện 
			với chủ nghĩa duy hoạt động và chủ nghĩa tục hoá đang lớn mạnh nơi 
			nhiều kitô hữu đang dấn thân trong công việc bác ái. «Lời cầu 
			nguyện, như một phương thế múc nguồn sức mạnh mới từ Đức Kitô, trở 
			thành một sự cấp bách hoàn toàn cụ thể. Con người cầu nguyện thì 
			không bỏ phí thời giờ, cho dù hoàn cảnh xem ra tuyệt vọng và có vẻ 
			chỉ đòi hỏi hành động» (số 36).<br>
			[29] GIOAN PHAOLÔ II, Thông điệp Evangelium vitae, số 84.<br>
			[30] GIOAN PHAOLÔ II, Thông điệp Evangelium vitae, số 84. «Nhờ Bí 
			tích của Giáo Hội - mà máu cùng nước từ cạnh sườn Chúa Kitô là biểu 
			tượng - được luôn luôn thông ban cho con cái Thiên Chúa, nhờ đấy họ 
			trở nên dân của Giao Ước mới. Từ nơi Thánh Giá, là nguồn sống, phát 
			sinh và phát triển “dân của sự sống”» (số 51).<br>
			[31] GIOAN PHAOLÔ II, Thông điệp Evangelium vitae, số 25. Trong bài 
			ca Exultet đêm vọng Phục Sinh, Giáo Hội ca lên rằng: «Ôi! Giá trị 
			của con người lớn biết bao trước mặt Đấng Tạo Hoá, tới độ đã xứng 
			đáng được một Đấng Cứu Chuộc rất vĩ đại và đáng kính tôn». Phẩm giá 
			con người cao quý tới độ «Thiên Chúa đã ban Con Một của Ngài để con 
			người khỏi hư mất, nhưng được sự sống đời đời!» (Ga 3,16). X. GIOAN 
			PHAOLÔ II, Thông điệp Redemtor hominis (04/03/1979), số 10.<br>
			[32] GIOAN PHAOLÔ II, Thông điệp Evangelium vitae, số 25. «Sẽ chẳng 
			còn chết chóc nữa!» (Kh 21,4), nhưng «sự chết đã bị chôn vùi trong 
			chiến thắng. Hỡi sự chết, chiến thắng của ngươi đâu? Hỡi sự chết, 
			nọc độc của ngươi đâu?» (1Cr 15,54-55).<br>
			[33] BÊNÊĐICTÔ XVI, Tông huấn Sacramentum caritatis (22/02/2007), số 
			94. Trong sự thông hiệp mật thiết của linh mục với Thánh Thể, chúng 
			ta hiểu rõ hơn lời của Mẹ Têrêsa Calcutta nhắn nhủ các linh mục còn 
			được ghi lại nơi phòng thánh của nhà nguyện bên phần mộ của Mẹ: “Hỡi 
			linh mục của Thiên Chúa, xin cha dâng thánh lễ này như thánh lễ mở 
			tay, như thánh lễ sau cùng và như thánh lễ duy nhất trong đời”.<br>
			[34] GIOAN PHAOLÔ II, Thông điệp Evangelium vitae, số 25.<br>
			[35] INHAXIÔ ANTIÔKIA, Thư gửi tín hữu Êphêsô 7,2; x. GIOAN PHAOLÔ 
			II, Thông điệp Evangelium vitae, số 47.<br>
			[36] SÁCH LỄ RÔMA, Lời Tiền Tụng lễ cầu cho các tín hữu đã qua đời.<br>
			[37] GIOAN PHAOLÔ II, Thông điệp Evangelium vitae, số 38.<br>
			[38] X. IRÊNÊ LYON, Chống lạc giáo, IV, 20,7.<br>
			[39] AUGUSTINÔ, Tự thuật, I,1.<br>
			[40] GIOAN PHAOLÔ II, Thông điệp Evangelium vitae, số 59. Trong gia 
			đình truyền thống, ông bà nội ngoại cũng có vai trò giáo dục quan 
			trọng, nhất là khi cha mẹ không thể thường xuyên hiện diện ở nhà bên 
			cạnh con cái lúc chúng đang tuổi lớn khôn (x. BÊNÊĐICTÔ XVI, Huấn từ 
			trong buổi đọc Kinh Truyền Tin trưa Chúa Nhật, ngày 26/7/2009).<br>
			[41] NGUYỄN VĂN THUẬN, Đường hy vọng, số 495. <br>
			[42] PHAOLÔ VI, Thông điệp Humanae vitae (25/07/1968), số 28.<br>
			[43] BỘ GIÁO SĨ, Kim chỉ nam cho thừa tác vụ và đời sống linh mục 
			(31/1/1994), số 47. 36. Trong hoàn cảnh của Giáo Hội Việt Nam hôm 
			nay thì việc giáo dục trong bầu khí gia đình lại càng phải chú tâm 
			hơn nữa vì Giáo Hội chưa thể thâm nhập vào được các môi trường giáo 
			dục học đường, các Hội tông đồ cũng hoạt động rất hạn chế.<br>
			[44] GIOAN PHAOLÔ II, Tông huấn Familiaris consortio (22/11/1981), 
			số 17. Về giáo huấn của Hội Thánh liên quan đến các vấn đề gia đình, 
			xem thêm: Giáo Lý của Hội Thánh Công Giáo, số 2214-2233; Tông thư 
			Mulieris dignitatem (15/8/1988); Thư gửi các gia đình Gratissimun 
			sane (2/2/1994); Thư gửi các phụ nữ (29/6/1995).<br>
			[45] PHAOLÔ VI, Thông điệp Humanae vitae (25/07/1968), số 29. Vững 
			tin nơi Chúa Thánh Linh, các linh mục «dạy cho các cặp vợ chồng con 
			đường thiết yếu của lời cầu nguyện, hãy chuẩn bị tập luyện giúp họ 
			thường xuyên và tin tưởng tìm đến các Phép Bí tích Thánh thể và Giải 
			tội, và đừng có bao giờ thất vọng trước sự yếu đuối của con người».<br>
			[46] NGUYỄN VĂN THUẬN, Đường hy vọng, số 481. Trong số 462 Đức Hồng 
			Y Thuận cũng thể hiện một thao thức cho vấn đề giáo dục gia đình: 
			«Chuẩn bị làm linh mục có chủng viện, chuẩn bị làm tu sĩ có đệ tử 
			viện và tập viện, chuẩn bị làm cha mẹ có gì? Không có gì cả! Thật là 
			một thiếu sót lớn lao trên thế giới. Lúc này tạm có lớp dự bị hôn 
			nhân nhưng chưa đi đến đâu. Bao nhiêu người sẽ là nạn nhân cho cuộc 
			phiêu lưu của các con».<br>
			[47] GIOAN PHAOLÔ II, Thông điệp Centesimus annus (1/5/1991), số 39; 
			Thông điệp Evangelium vitae cũng đã nhiều lần lặp lại khái niệm này 
			về gia đình trong các số 6. 11. 59. 88. 92. 94.<br>
			[48] GIOAN PHAOLÔ II, Thông điệp Evangelium vitae, số 92.<br>
			[49] CÔNG ĐỒNG CHUNG VATICANÔ II, Hiến chế Gaudium et spes, số 50: 
			Khi thi hành bổn phận vợ chồng, họ được «cộng tác với tình yêu của 
			Thiên Chúa tạo hoá và như trở thành những kẻ diễn đạt tình yêu của 
			Ngài».<br>
			[50] PHAOLÔ VI, Thông điệp Humanae vitae, số 10. «Trong lãnh vực lưu 
			truyền sự sống, họ không có quyền tự do hành động theo sở thích, tự 
			ý lựa chọn những phương pháp cho là chính đáng, trái lại, phải hướng 
			hành động mình theo đúng thánh ý tạo dựng của Thiên Chúa, thánh ý đó 
			được biểu hiện bằng chính bản chất và các hành vi của hôn nhân cũng 
			như bằng các lời giáo huấn liên tục của Giáo hội».<br>
			[51] CÔNG ĐỒNG CHUNG VATICANÔ II, Hiến chế mục vụ Gaudium et Spes, 
			số 50.<br>
			[52] GIOAN PHAOLÔ II, Thông điệp Evangelium vitae, số 87. Các linh 
			mục không trực tiếp tham gia vào các hoạt động chính trị (x. Bộ Giáo 
			Luật, 285; 287), nhưng các ngài có thể định hướng hỗ trợ các nhà 
			chính trị hoạch định chính sách phù hợp và dấn thân hoạt động bảo vệ 
			sự sống con người.<br>
			[53] PHAOLÔ VI, Thông điệp Humanae vitae (25/07/1968), số 29. trong 
			việc này, ta cần phải giữ đức nhẫn nại và nhân từ như chính Chúa đã 
			làm gương trong cách đối xử với người đồng thời. Chúa đã đến không 
			phải để xét đoán, nhưng để cứu rỗi (Ga 3,17): Chúa đã giữ thái độ 
			quyết liệt đối với sự dữ, nhưng trái lại, đã tỏ lòng nhân từ đối với 
			con người. GIOAN PHAOLÔ II, Thông điệp Evangelium vitae, số 87. <br>
			[54] BÊNÊĐICTÔ XVI, Thông điệp Deus caritas est, số 30b. «Thêm vào 
			việc đào tạo chuyên môn cần thiết, những người làm bác ái cần được 
			“đào tạo con tim”: họ cần được dẫn tới gặp Thiên Chúa trong Đức 
			Kitô, Đấng thức tỉnh tình yêu của họ và mở lòng họ ra cho kẻ khác» 
			(số 31).<br>
			[55] BÊNÊĐICTÔ XVI, Thông điệp Deus caritas est (25/12/2005), số 
			25a; Sống đức bác ái, linh mục «phải là món quà trong tay Chúa, sẵn 
			sàng để Chúa tặng cho bất kỳ ai, một món quà mà ai cũng quý yêu thèm 
			muốn» (NGUYỄN VĂN THUẬN, Đường hy vọng, số 768).<br>
			[56] NGUYỄN VĂN THUẬN, Đường hy vọng, số 801.<br>
			[57] GIOAN PHAOLÔ II, Thông điệp Evangelium vitae, số 87. Chính 
			trong lúc trợ giúp kẻ đói khát, người xa lạ, kẻ mình trần thân trụi, 
			bệnh tật hay tù đày - cũng như sự trợ giúp em bé sắp sinh, người già 
			nua đau ốm hay gần kề cửa tử thần - mà chúng ta được gọi phụng sự 
			Chúa Giêsu, như chính Ngài đã nói: «Những gì các con đã làm cho một 
			người trong các anh em hèn mọn nhất này của Ta, là các con đã làm 
			cho chính Ta» (Mt 25,40).<br>
			[58] GIOAN PHAOLÔ II, Thông điệp Evangelium vitae, số 88: «Còn có 
			những tổ chức khác như các cộng đồng phục hồi người nghiện ngập, 
			cộng đồng tiếp nhận vị thành niên hay bệnh nhân tâm thần, trung tâm 
			chăm sóc và tiếp nhận bệnh nhân SIDA, nhất là hiệp hội tương trợ 
			người tàn tật, tất cả đều là tiếng nói hùng hồn của đức ái». Cũng 
			vậy, «chính đức ái tìm ra những dạng thức thích hợp nhất hầu cho 
			những người có tuổi, đặc biệt những người không thể sinh sống một 
			mình và những bệnh nhân ở vào giai đoạn cuối cùng có thể thọ hưởng 
			một sự trợ giúp hết sức nhân đạo và nhận được những đáp ứng phù hợp 
			với các nhu cầu của họ, nhất là với những gì liên quan đến nỗi lo âu 
			và sự cô đơn của họ».<br>
			[59] Xem các bài: A Huê un cimitero per 30 mila bimbi abortiti 
			(Asianews, 26/06/2006); Nghĩa trang của 31 vạn hài nhi bị bỏ rơi 
			(Dantri.com.vn, 14/07/2008); Nghĩa trang thai nhi (Vhfonline.com, 
			14/03/2009).<br>
			[61] GIOAN PHAOLÔ II, Thông điệp Evangelium vitae, số 101.<br>
			[62] TOÀ ÂN GIẢI TỐI CAO, Sắc lệnh ban ơn xá trong Năm Linh Mục 
			(25/4/2009). </font>
			<p>&nbsp;</div>
		<div class="author">
			<font color="#800000" size="4">Lm. Giuse Trần Quốc Tuyến </font>
		</div>
		</td>
	</tr>
	<tr>
		<td align="justify">
		<p align="right"><i>Nguồn: vietcatholic.org/News</i></td>
	</tr>
	<tr>
		<td height="40">
		<p align="center">
				<a target="_top" href="../../../index.htm">
				<img src="http://tinmung.net/tinmungLOGO/homepage.gif" width="100" border="0" height="34"></a></td>
	</tr>
	</table>

</body>

</html>

PHP File Manager