File "04.htm"

Full path: E:/sites/Single15/tinmung2007/webroot/SUYNIEM_HANGTUAN/Nam_A/2014/Mua-Thuong/Cac tin huu da qua doi/04.htm
File size: 59.16 KiB (60577 bytes)
MIME-type:
Charset: utf-8

Download   Open   Back

<html><head><meta http-equiv="Content-Language" content="en-us"><meta http-equiv="Content-Type" content="text/html; charset=utf-8"><title>
Chúa Nhật Cầu Cho Các Tín Hữu Đã Qua Đời</title><base target="main">
<meta name="keywords" content="Chúa Nhật Cầu Cho Các Tín Hữu Đã Qua Đời"><style>
<!--
	.CONTENTS{FONT-SIZE: 11pt;COLOR:Navy;}
span.MsoHyperlink
	{color:blue;
	text-decoration:underline;
	text-underline:single;
	text-decoration:none underline;
	text-line-through:none;
	vertical-align:baseline}
span.apple-converted-space
	{}
-->
</style>
<meta name="description" content="Chúa Nhật Cầu Cho Các Tín Hữu Đã Qua Đời"><!--mstheme--><link rel="stylesheet" type="text/css" href="../../../../_themes/suyniem3/suyn1011-109.css"><meta name="Microsoft Theme" content="suyniem3 1011">
</head><body><table border="0" width="500" cellspacing="12" style="border-color: #FFFFFF; font-family:Times New Roman; font-size:14pt; text-decoration:none" bgcolor="#FFFFFF"><tr><td width="460"><font size="2" color="#FF0000" face="Arial">
	Chúa Nhật Cầu Cho Các Tín Hữu Đã Qua Đời</font></td></tr><tr><td width="474" style="font-family: Arial; font-size: 12pt; text-decoration: none; font-weight: bold; text-align: center">
		BẤT TỬ HAY PHỤC SINH</td></tr><tr><td width="474" style="font-family: Arial; font-size: 8pt; text-decoration: none; font-style:italic; text-align:right">
		<span style="font-size: 8pt; font-style: italic">Lm. Phan Tấn Thành</span></td></tr><tr><td width="474" style="font-family: Times New Roman; font-size: 14pt; text-decoration: none; text-align:justify">
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
		Ðối với đức tin Kitô giáo, cái chết chấm dứt cuộc sống lữ hành và bắt 
		đầu một cuộc sống bất diệt. Trong loạt bài đó, nhiều câu hỏi còn bị bỏ 
		ngỏ: chúng tôi chỉ mới bàn tới cái chết nhìn từ phía thế giới bên này; 
		thế còn về phía bên kia thế giới thì sao? Tất cả những vấn đề này thuộc 
		về môn cánh chung học. Trong bài này, chúng tôi chỉ xin trình bày một 
		cuộc tranh luận thần học liên quan tới sự phục sinh của con người. Nguồn 
		gốc của vấn đề như thế này. Theo thần học công giáo cổ truyền, sau khi 
		chết, thân xác tan ra tro bụi còn linh hồn bất tử sẽ ra trước tòa Chúa 
		phán xét, rồi từ đó sẽ lên thiên đàng hay xuống hỏa ngục (luyện ngục chỉ 
		có tính cách tạm thời). Ðến ngày tận thế, thân xác sẽ được sống lại và 
		tái hợp với linh hồn để cùng chia sẻ hạnh phúc hay chung phần luận phạt.</p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
		Thế nhưng, từ thập niên 50, ông Oscar Cullman, một thần học gia Tin lành 
		đã đặt lại toàn bộ vấn đề (Immortalité de l&#39;âme ou Résurrection des 
		morts?, Neuchâtel - Paris 1956). Theo ông, thần học công giáo cổ điển 
		dựa theo triết học Hy lạp chứ không dựa theo Kinh thánh. Giáo sư Cullman 
		vạch ra hai điểm khác biệt giữa quan điểm của Kinh thánh và thần học cổ 
		truyền: </p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
		&nbsp;1/ Kinh thánh quan niệm con người như một toàn bộ, chứ không có chuyện 
		phân lìa hai yếu tố hồn xác. </p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
		&nbsp;2/ Kinh thánh quan niệm sự phục sinh như là một hồng ân Chúa ban thưởng 
		cho người lành. Từ hai nhận xét vừa nói, một số nhà thần học Tin lành 
		chủ trương rằng: Kinh thánh không có nói tới chuyện linh hồn bất tử 
		nhưng chỉ nói tới sự phục sinh, và sự phục sinh chỉ dành cho những người 
		lành. Do đó, sau khi chết rồi thì con người hoàn toàn trở về với tro bụi 
		(chứ không có chuyện linh hồn bất tử). Những người bất lương thì sẽ bị 
		tiêu tan thành hư không; chỉ có những người lành mới được ơn sống lại, 
		nhưng mà việc sống lại sẽ xảy ra vào thời tận thế. Cho tới ngày đó, cả 
		những người lành cũng an nghỉ hoàn toàn chứ không có chuyện linh hồn bất 
		tử.</p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
		&nbsp;Những vấn nạn do các nhà thần học Tin lành nêu lên căn cứ theo Kinh 
		thánh; vì vậy thần học Công giáo bó buộc phải duyệt lại các luận đề của 
		mình, để xem chúng có phù hợp với Kinh thánh chăng, hay chỉ là sản phẩm 
		của triết học Hy lạp. Ðó là ý nghĩa của cuộc tranh luận được dùng làm 
		tựa đề cho bài suy tư thần học: &quot;bất tử hay phục sinh&quot;? Trước hết, chúng 
		ta hãy duyệt lại quan điểm về con người theo Kinh thánh. Tiếp đến, chúng 
		tôi sẽ lần lượt trình bày quan điểm về số phận con người sau khi chết 
		dựa theo Cựu ước và theo Tân ước.</p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
		&nbsp;I Con người theo Kinh Thánh</p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
		&nbsp;Ngay từ khi bắt đầu theo học các lớp giáo lý khai tâm, chúng ta đã được 
		nghe dạy rằng con người gồm có hai yếu tố: yếu tố vật chất gọi là thân 
		xác, và yếu tố tinh thần (thiêng liêng) gọi là linh hồn. Từ đó mỗi lần 
		nghe nói tới &quot;xác&quot; thì chúng ta nghĩ tới cái gì vật chất, còn cái &quot;hồn&quot; 
		được hiểu như là cái gì linh thiêng. Thế nhưng quan điểm trong Kinh 
		thánh về con người thì lại không đơn giản như vậy.</p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
		&nbsp;A Cựu ước</p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
		&nbsp;Kinh thánh có nói tới &quot;xác&quot;, &quot;hồn&quot;, &quot;tinh thần;&quot; nhưng mà chúng không 
		có nghĩa là ba yếu tố cấu tạo nên con người, song chúng ám chỉ ba chiều 
		kích của con người.</p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
		&nbsp;1/ Xác, hay &quot;xác thịt, nhục thể&quot; (basar theo tiếng Do-thái, sarx theo 
		Hy-lạp và caro tiếng La-tinh) ám chỉ con người xét trong điều kiện mỏng 
		dòn của nó ví như hoa đồng sớm nở chiều tàn (xc.Is 40,7). Ðó cũng là ý 
		nghĩa của mầu nhiệm nhập thể, khi thánh Gioan viết rằng: &quot;Ngôi Lời đã 
		trở thành xác thịt&quot;, có nghĩa là Ngài đã trở thành con người yếu ớt mỏng 
		dòn như chúng ta. Ðôi khi tiếng &quot;xác thịt&quot; cũng được hiểu về con người 
		xét theo tương quan với tha nhân, thí dụ như khi ông Adong nhìn thấy bà 
		Eva như xác thịt của mình và cả hai đã kết hợp thành một xác thịt (St 
		2,23-24).</p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
		&nbsp;2/ Hồn, (nephesh theo Do-thái, psyché theo Hy-lạp, anima theo tiếng 
		La-tinh) ám chỉ con người theo nghĩa là một chủ thể sống động, có sức 
		sống và tình cảm ước muốn. Trong thánh vịnh ta đọc thấy nhiều đoạn nói 
		tới &quot;hồn tôi khao khát, mong chờ&quot; (Tv 42: Như nai rừng mong mỏi, tìm về 
		suối nước trong, hồn con cũng trông mong được gần Ngài, lạy Chúa... Hồn 
		tôi hỡi, cớ sao phiền muộn...). Ðiều đáng ghi nhận là có nơi cả hồn cả 
		xác đều được dùng để nói tới toàn thể con người, thí dụ như Tv 62,2: 
		&quot;linh hồn con đã khát khao Ngài, tấm thân (=xác) này mòn mỏi đợi trông&quot;; 
		Tv 83,2: &quot;Mảnh hồn này khát khao mòn mỏi / mong tới được khuôn viên đền 
		vàng. Cả tấm thân (= xác) con cùng là tấc dạ (= tim) / những hướng lên 
		Chúa Trời hằng sống&quot;.</p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
		&nbsp;3/ Tinh thần, hay &quot;thần khí - thần trí&quot;, (ruah theo Do-thái, pneuma 
		theo Hy-lạp, spiritus theo La-tinh) ám chỉ con người nhìn theo mối tương 
		quan với Thiên Chúa. Con người lãnh nhận được sinh khí bởi Thiên Chúa, 
		vì vậy cần phải duy trì mối tương quan tốt đẹp với Ngài. Nói đúng ra, 
		đây mới là mối quan tâm chính của Kinh thánh về con người (nghĩa là mối 
		tương giao với Thiên Chúa); còn vấn đề cấu tạo siêu hình, vật lý hay 
		sinh học của con người chỉ là chuyện thứ yếu.</p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
		&nbsp;B. Tân Ước</p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
		&nbsp;Quan niệm Do thái về con người vẫn còn được duy trì trong Tân ước. 
		Chúng ta có thể trưng dẫn vài thí dụ điển hình. Trong dụ ngôn về người 
		phú hộ ngu xuẩn (Lc 12,19), ông ta tự nhủ rằng: &quot;Hồn ta ơi, nghỉ ngơi 
		đi, ăn uống vui chơi cho đã đi&quot;. Ở đây, &quot;hồn&quot; không phải là yếu tố 
		thiêng liêng của con người mà là toàn thể con người: cái hồn đó có thể 
		hưởng thụ ăn chơi sung sướng bởi vì nó bao gồm cả miệng lưỡi bụng dạ 
		nữa. Cũng vậy, khi đức Maria cất tiếng ca: &quot;linh hồn tôi ngợi khen Ðức 
		Chúa, thần trí tôi hớn hở vui mừng&quot; (Lc 1,46) thì hai từ &quot;hồn, thần trí&quot; 
		bao gồm toàn thể con người chứ không phải chỉ riêng một yếu tố nào đó. 
		Ngoài ra, trong thư thứ nhất gửi Tesalonika (5,23) chúng ta thấy thánh 
		Phaolô nói tới ba chiều kích của con người: &quot;Nguyện chính Thiên Chúa là 
		nguồn mạch bình an, thánh hóa toàn diện con người anh em, để thần trí, 
		tâm hồn và thân xác anh em được gìn giữ vẹn toàn&quot;. Tuy nhiên, chúng ta 
		thấy Tân ước đã du nhập vài ý nghĩa mới vào các từ đã có sẵn, hoặc đã du 
		nhập từ ngữ mới.</p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
		&nbsp;1) Trong các tác phẩm của thánh Gioan và thánh Phaolô, đôi khi ta thấy 
		có sự đối chọi giữa &quot;xác thịt&quot; và &quot;tinh thần&quot;. Xác thịt ám chỉ cái gì 
		tội lỗi đưa tới sự chết, còn tinh thần (thần khí) ám chỉ ơn thánh đưa ta 
		tới sự cứu rỗi và sự sống trường sinh. Thí dụ thánh Phaolô viết cho tín 
		hữu Galat: &quot;tôi xin anh em hãy sống theo thần khí, và như vậy anh em sẽ 
		không còn thỏa mãn đam mê của tính xác thịt nữa. Vì xác thịt thì ước 
		muốn những điều trái ngược với thần khí&quot; (Gl 5,16-23; Rm 8,5-13; Ga 
		6,63). &quot;Xác thịt&quot; và &quot;thần khí&quot; không còn phải là hai thành phần cấu tạo 
		nên con người cho bằng hai nguyên lý điều khiển các hành vi luân lý của 
		con người. </p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
		&nbsp;2) Tân ước du nhập một từ ngữ mới soma trong Hy lạp (&quot;corpus&quot; trong 
		tiếng La-tinh), tạm dịch là &quot;thân mình, thân thể&quot;. Thực ra thì vào cuối 
		thời Cựu ước, người ta đã thấy cặp &quot;linh hồn / thân thể&quot; trong sách Khôn 
		ngoan (viết khoảng thế kỷ 1 trước Chúa giáng sinh), thí dụ như: 8,19-20; 
		9,15. Phải chăng đã có sự tiến triển về tư tưởng? Phải chăng người ta đã 
		đi từ chỗ quan niệm con người như một toàn bộ tới chỗ phân biệt ra hai 
		yếu tố biệt lập do ảnh hưởng triết học Hy lạp? Nên biết là sách Khôn 
		ngoan ra đời tại Alexandria bên Ai cập, một nơi chịu ảnh hưởng nặng của 
		văn hóa Hy lạp. (Sách này không được nhận vào sổ bộ Kinh thánh của Do 
		thái và Tin lành). Trong Phúc âm nhất lãm, ta thấy nói tới sự đối chiếu 
		giữa &quot;linh hồn&quot; với &quot;thân thể&quot;, chẳng hạn như Mt 10,28: &quot;Anh em đừng sợ 
		những kẻ giết thân thể mà không giết được linh hồn. Anh em hãy sợ Ðấng 
		có thể giết cả hồn cả thân thể trong hỏa ngục&quot; (Lc 12,4-5). Trong các 
		tác phẩm của mình, có một lần thánh Phaolô ra như đã quan niệm sự chết 
		như là việc rời bỏ thân thể để về với Chúa (2Cr 5,1-10). Tuy nhiên, cần 
		phải ghi nhận rằng việc chú giải những đoạn văn đó gặp nhiều khó khăn: 
		lý do là vì không rõ thánh Phaolô có chấp nhận quan điểm về con người 
		theo triết học Hy lạp (gồm với hai phần tách biệt nhau) chăng, hay là 
		ngài vẫn còn duy trì quan điểm toàn bộ về con người? Dù sao thì những 
		đoạn văn nói về sự ly tách giữa &quot;linh hồn / thân thể&quot; rất là hiếm trong 
		Tân ước. (Xem thêm: sách Giáo lý Hội thánh Công giáo các số 363-368, để 
		biết ý nghĩa của các từ ngữ &quot;hồn, xác, thần khí&quot; theo Kinh thánh). Từ 
		những nhận xét vừa ghi nhận trên đây, ông Cullman và nhiều nhà thần học 
		Tin lành cho rằng: Kinh thánh từ đầu đến cuối đều quan niệm rằng con 
		người là một toàn bộ. Do đó, khi chết thì toàn thể con người chết, chứ 
		không phải chỉ có xác mới chết, còn hồn thì bất tử. Niềm hy vọng mà đức 
		Kitô mang lại cho nhân loại là phục sinh, nghĩa là phục hồi sự sống cho 
		toàn thể con người, chứ không có chuyện hồn bất tử tái hợp với thân xác!</p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
		&nbsp;Trên đây là nguồn gốc của tranh luận về &quot;bất tử hay phục sinh?&quot;, dựa 
		theo quan điểm về linh hồn trong Kinh thánh: phải chăng linh hồn là một 
		yếu tố linh thiêng bất tử, có thể tách rời khỏi thân thể? hay là linh 
		hồn họp với thân xác thành một toàn bộ bất khả ly, cho nên cùng chết 
		theo con người?</p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
		&nbsp;II/ Sự tiến triển của Mặc Khải Cựu Ước về số phận người chết</p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
		&nbsp;Sau khi chết rồi, con người sẽ đi đâu? Không lẽ con người chết cũng 
		giống như chó chết ư? Ðây là mối băn khoăn mà chỉ có con người mới đặt 
		ra, chứ con chó không hề nghĩ tới! Các tôn giáo đã cố gắng tìm cách giúp 
		cho con người trả lời cho mối băn khoăn đó. Khi tra cứu Kinh thánh, 
		chúng ta nhận thấy có một sự tiến triển rất lớn từ Cựu ước sang Tân ước. 
		Trước khi nhận được câu trả lời của đức Kitô về sự sống lại toàn diện, 
		các tác giả Cựu ước đã phải mò mẫm hàng chục thế kỷ.</p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
		&nbsp;Trong vòng 20 thế kỷ (từ thời các tổ phụ cho đến những tác phẩm cuối 
		cùng của Cựu ước), ta thấy có sự tiến triển quan trọng về quan điểm 
		chung quanh số phận của những người đã chết. </p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
		&nbsp;1/ Trong giai đoạn đầu tiên, người ta quan niệm rằng sau khi chết tất 
		cả mọi người dù tốt dù xấu cũng đều xuống dưới cõi âm ti; dần dần do ảnh 
		hưởng của các ngôn sứ, người ta mới biết được là ở dưới âm ti có sự phân 
		biệt giữa người lành với người dữ (người lành thì ở chỗ tốt); về sau, 
		người ta thâm tín rằng người lành sẽ không ở mãi trong cõi âm ti, Chúa 
		sẽ đưa các tôi trung của Ngài ra khỏi nơi tối tăm đó. Từ đó ta bước sang 
		giai đoạn hai.</p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
		&nbsp;2/ Giai đoạn hai được đánh dấu với các sách Ðaniel, Maccabê quyển 2, 
		viết vào thế kỷ thứ hai trước Chúa Kitô. Người ta thấy nói tới việc 
		người lành sẽ sống lại. Duy có sách Khôn ngoan mới nói tới linh hồn bất 
		tử. Chúng ta hãy điểm qua những chặng vừa nói.</p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
		&nbsp;A. Cõi âm ti dành cho người chết</p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
		&nbsp;Hầu hết các sách trong Cựu ước đều nói rằng sau khi chết đi, con người 
		sẽ xuống dưới cõi âm ti. Cõi âm ti ấy như thế nào? Tiếng Do thái gọi nó 
		là sheol (dịch ra tiếng Hy lạp là hades, và inferi trong tiếng La-tinh). 
		Thật ra các tác giả Cựu ước không bận tâm cho lắm tới chuyện mô tả hình 
		thù của nó, hay điều kiện sinh sống ra sao. Ðiều làm cho họ rầu rĩ hơn 
		cả là ai đã vào đó rồi thì mất liên lạc với Chúa.</p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
		&nbsp;1/ Ðôi khi &quot;sheol&quot; ám chỉ một cái ngục ở dưới lòng đất, nơi tối tăm 
		dành cho người đã chết (Tv 88,7.13). Ðó là một chốn thinh lặng, bụi tro 
		(Tv 94,17; Ðn 12,2). Ðôi khi nó ám chỉ cái mồ huyệt; nhưng nói chung nó 
		ám chỉ nơi quy tụ hết mọi người đã chết (St 49,29). Thí dụ như sau khi 
		nghe tin là Giuse bị chết, ông Giacob đòi xuống âm ti để gặp đứa con 
		cưng của mình tuy dù ông chẳng biết xác nó được chôn ở đâu nữa (St 
		37,35)! </p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
		&nbsp;2/ Sau khi đã nghe nói về môi trường tối tăm tẻ lạnh của cõi âm ti như 
		vậy, một câu hỏi tức khắc được đặt lên: âm ti dành cho ai? Trong bài 
		trước, chúng tôi đã trình bày rằng người Do thái quan niệm con người như 
		một toàn thể, khác với quan niệm triết học Hy Lạp (hồn xác tách rời 
		nhau). Như vậy, toàn thể con người sẽ bị ảnh hưởng bởi cái chết chứ 
		không phải chỉ có một thành phần nào đó? Nói cách khác, đã chết là hết; 
		đâu còn có cái gì sót lại để mà xuống âm ti? Thực ra, các tác giả Cựu 
		ước không phải là những nhà siêu hình học, vì thế xem ra họ không nghĩ 
		tới vấn nạn đó. Tuy vậy họ không hề nghĩ rằng chết đồng nghĩa với trở về 
		với hư vô. Vẫn còn có cái gì tồn tại đó, và cái yếu tố đó xuống âm phủ. 
		Trong tiếng Do thái, cái yếu tố được gọi là rephaim (Is 14,19; 26,14.19; 
		Tv 88,11; Gb 26,5; Cn 2,18; 9,18; 21,16), tạm dịch là: &quot;bóng ma, âm 
		hồn&quot;. Niềm tin đó cũng được biểu lộ qua tục chiêu hồn, tuy rằng Kinh 
		thánh đã tuyệt đối ngăn cấm việc đó (Xh 22,17; Lv 19,31; Ðnl 18,11; 1Sam 
		28,8-15).</p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
		&nbsp;3/ Tuy dù tin rằng sau khi chết, con người vẫn còn có cái gì tồn tại ở 
		chốn âm ti (tạm gọi là &quot;âm hồn&quot;) nhưng các tác giả Cựu ước đồng ý rằng 
		cuộc sống ở dưới âm ti không đáng gọi là sự sống đúng nghĩa. Theo họ, 
		&quot;sống&quot; có nghĩa là sinh hoạt, yêu thương, chia sẻ hiệp thông. Thế mà 
		trong cõi âm ti, con người chỉ thoi thóp, cầm hơi chứ đâu phải là sống 
		thực! Hơn thế nữa, theo các tác giả Sách thánh, sự &quot;sống&quot; chỉ có ý nghĩa 
		khi được thông hiệp với Thiên Chúa: một đàng vì được Chúa nhớ đến, và 
		đàng khác vì được tham dự các buổi hội với cộng đoàn để ca ngợi Chúa. 
		Tiếc thay, cả hai điều đó đều thiếu trong cõi âm ti. Trong bối cảnh đó, 
		ta mới hiểu được những lời than khóc của thánh vịnh 88 (đọc ở Kinh tối 
		ngày thứ 6): &quot;Con nằm đây giữa bao người chết, / như các tử thi vùi 
		trong mồ mả / đã bị Chúa quên đi / và không được tay Ngài săn sóc... 
		Trong mồ mả, ai nói về tình thương của Chúa? Cõi âm ty, ai kể lại lòng 
		thành tín của Ngài? Những kỳ công Chúa, nơi tối tăm ai rõ? Ðức công 
		chính Ngài, chốn quên lãng ai hay?&quot; (Xem thêm lời than van của vua 
		Edêkia ở Is 38,10-20, - Kinh sáng, thứ Ba tuần 2- : &quot;Vì ở chốn tử vong, 
		không người ca tụng Chúa, / và trong nơi âm phủ, chẳng ai ngợi khen 
		Ngài. Kẻ xuống mồ cũng dứt niềm trông cậy / vào lòng Chúa tín trung. Chỉ 
		người sống, vâng chỉ người sống / mới ca tụng Ngài như thể con nay.&quot;</p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
		&nbsp;4/ Ngoài vấn đề thiếu thông hiệp với Thiên Chúa, nguồn của sự sống, một 
		mối băn khoăn khác của các tác giả Sách thánh là chuyện thưởng phạt. Vào 
		lúc đầu, người Do thái tin rằng sự thưởng phạt xảy ra ở trên đời này mà 
		thôi, chứ còn qua thế giới bên kia thì ai cũng như ai. Vì thế người nào 
		trung thành tuân giữ giao ước thì sẽ được Chúa ban phúc lành, cụ thể là 
		được tiền tài phúc lộc, con đàn cháu đống. (Chỉ cần trưng dẫn những lời 
		chúc lành và chúc dữ kèm theo giao ước ở chương 28 sách Ðệ nhị luật thì 
		đủ rõ). Tuy nhiên, thực tại cho thấy rằng trên đời này thiếu chi kẻ thất 
		nhân ác đức mà lại được giàu sang phú quý; còn bao nhiêu kẻ tuân giữ 
		luật Chúa thì nghèo rớt mồng tơi, đó là chưa nói tới chuyện bị bách hại 
		nữa. Lẽ nào Chúa lại đối xử bất công như vậy sao? Chừng nào Chúa mới 
		thưởng kẻ lành và phạt kẻ dữ? Nếu sự thưởng phạt chưa xảy ra ở đời này 
		thì ắt phải xảy ra ở thế giới bên kia chứ? Dần dần, chúng ta thấy rằng 
		trong cõi âm ti có sự phân biệt người lành với người dữ, chứ không phải 
		tất cả đều chịu số phận như nhau: Ed 32,22; Is 14,15 cho thấy người dữ 
		bị nhốt ở tận dưới đáy âm phủ (như vậy thì hiểu là các người lành thì ở 
		tầng trên). Nhưng nhất là càng tới gần tới Tân ước, người ta thấy niềm 
		thâm tín mãnh liệt rằng Thiên Chúa sẽ không để những người tôi trung ở 
		mãi trong âm phủ: Ngài sẽ đưa họ ra để họ được sống kề bên Ngài. Tư 
		tưởng này được phản ánh qua 3 thánh vịnh 16, 49 và 73 (quen gọi là thánh 
		vịnh thần bí): &quot;Chúa chẳng đành bỏ mặc con trong cõi âm ty, / không để 
		kẻ hiếu trung này hư nát trong phần mộ. Chúa sẽ dạy con biết đường về 
		cõi sống: / trước thánh nhan, ôi vui sướng tràn trề, ở bên Ngài / hoan 
		lạc chẳng hề vơi&quot; (Tv 16,10-11). &quot;Nhưng Chúa Trời sẽ cứu mạng tôi, gỡ 
		tôi ra khỏi quyền lực âm phủ&quot; (Tv 49,15). &quot;Dẫu cho hồn xác suy tàn, thì 
		nơi ẩn náu, kỷ phần lòng con, muôn đời là Chúa cao tôn... Hạnh phúc của 
		con là ở kề bên Chúa, chốn ẩn thân đặt ở Chúa Trời.&quot; (Tv 73,26-27). 
		Nhưng mà điều đó sẽ xảy ra như thế nào? Chỉ có hồn được về với Chúa hay 
		là cả xác nữa? Vịnh gia chưa trả lời được.</p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
		&nbsp;B. Phục sinh: người chết sẽ sống lại</p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
		&nbsp;Ðề tài &quot;phục sinh&quot; xuất hiện vào cuối thời Cựu ước. Thực ra thì lúc đầu 
		từ ngữ này chỉ có nghĩa là &quot;phục hồi, chỗi dậy&quot; và được áp dụng vào việc 
		khôi phục của dân Israel. Sau một thời kỳ phân tán tiêu vong do cảnh lưu 
		đầy, dân tộc Israel được hồi phục lại. Hình ảnh này xuất hiện ở ngôn sứ 
		Hosêa 6,1-3 và nhất là Edekiel chương 37. Việc khôi phục Israel là kết 
		quả của sự can thiệp cứu độ của Thiên Chúa, một tác động của Thần khí 
		Chúa. Từ ý tưởng khôi phục dân tộc Israel, từ ngữ &quot;phục hồi&quot; được áp 
		dụng cho sự khôi phục sức sống của con người do quyền năng của Thiên 
		Chúa. Sự chuyển ý được thấy ở Isaia chương 26, cách riêng ở câu 19: 
		&quot;Những vong nhân của Người sẽ sống lại, thây ma của chúng sẽ chỗi dậy&quot;. 
		Sự &quot;chỗi dậy&quot; áp dụng cho sự sống lại của người chết càng trở thành rõ 
		rệt hơn ở sách Maccabê quyển 2, chương 7. Các người anh em Maccabê bị 
		giết vì lòng trung thành với đức tin; nhưng họ tin rằng Chúa sẽ cho trả 
		lại sự sống cho những kẻ đã hiến mạng sống vì Ngài (câu 9.11.14.23). Nên 
		biết rằng sự phục sinh chỉ được ban thưởng cho người lành; còn quân bất 
		lương sẽ không được sống lại đâu! Tuy nhiên, sách Ðaniel 12,2-3.13 thì 
		nói rằng cả quân bất lương cũng sẽ sống lại: có điều là người lành sẽ 
		sống lại vinh quang rực rỡ còn phường bất lương sẽ sống lại trong tủi 
		nhục. Cả quyển hai Maccabê lẫn sách Ðaniel được viết vào thế kỷ thứ 2 
		trước công nguyên.</p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
		&nbsp;C. Phục sinh và Bất tử.</p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
		&nbsp;Dĩ nhiên, theo quan điểm Do thái về con người, sự &quot;phục sinh&quot; ảnh hưởng 
		tới toàn thể con người. Bên cạnh từ ngữ &quot;phục sinh&quot;, chúng ta gặp thấy 
		từ ngữ &quot;bất tử&quot; ở nhiều đoạn của sách Khôn ngoan, một tác phẩm ra đời 
		tại Alexanđria, chịu ảnh hưởng văn hóa Hy lạp. Theo tác giả này, sau khi 
		chết, linh hồn (psyché, anima) của người công chính về với Chúa (3,1), 
		sống bên Chúa mãi mãi (5,15). Sự thưởng phạt dành cho kẻ lành người dữ 
		xảy ra liền ngay sau khi chết (3,1-10; 4,7-5,23). Tuy nhiên, tư tưởng về 
		linh hồn bất tử tách rời khỏi thân xác rất là họa hiếm trong các sách 
		Cựu ước.</p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
		&nbsp;III. Mặc Khải Tân Ước về sự Phục Sinh</p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
		&nbsp;A Phúc Âm</p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
		&nbsp;1) Vào thời Chúa Giêsu, nhiều người Do thái đã tin rằng con người sẽ 
		sống lại vào thời cánh chung. Khi đọc Phúc âm, chúng ta nhận thấy đức 
		Kitô nói tới sự phục sinh của chính mình sau khi tử nạn, nhiều hơn là 
		nói tới sự phục sinh của loài người. Tuy vậy, Ngài đã bày tỏ lập trường 
		trong một cuộc tranh luận giữa nhóm Biệt phái và nhóm Sađốc (Mc 
		12,18-27; Mt 22,22-23; Lc 20,27-40). Nhóm Sađốc bảo thủ chỉ chấp nhận 
		giáo huấn cổ truyền từ thời Maisen; vì thế họ không tin có sự sống lại. 
		Ðể biện minh cho lập trường của mình, họ đưa ra vấn nạn về một bà có 7 
		đời chồng. Giả như có sự sống lại thì sẽ xảy ra bao nhiêu cảnh rối ren 
		trong xã hội! Chúa Giêsu đã vặn lại thế này: &quot;Các ông tự hào là chấp 
		nhận thế giá của ông Maisen hả? Thế thì các ông quên rằng Thiên Chúa đã 
		mặc khải cho ông Maisen như là Chúa của các tổ phụ Abraham, Isaac, 
		Giacob hay sao? Ngài là Chúa của người sống chứ đâu phải là Chúa của 
		người chết? Như vậy thì hiểu rằng các tổ phụ phải sống chứ?&quot;- Tuy nhiên, 
		Chúa Giêsu cũng sửa sai một quan niệm bình dân (nói được là duy vật) về 
		cuộc sống mai sau: Ngài nhấn mạnh rằng vào ngày sống lại, con người sẽ 
		không còn cưới hỏi sinh sản kiểu như thời nay nữa đâu!</p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
		2) Sang đến Phúc âm thánh Gioan, chúng ta nhận thấy có vài điểm mới về 
		sự sống. Sự sống không phải chỉ được nhìn dưới khía cạnh vật lý, nhưng 
		còn được nhìn dưới khía cạnh thần học. Sự sống được gắn với bản thân của 
		đức Kitô. Ngài tự xưng là &quot;đường, sự thực, sự sống&quot; (Ga 14, 16). Nhất là 
		trong cuộc đối thoại với bà Marta, ngài nói: &quot;Thầy là sự sống lại và là 
		sự sống. Ai tin vào Thầy thì dù đã chết cũng sẽ được sống. Ai sống và 
		tin vào Thầy, sẽ không bao giờ chết&quot; (Ga 11,25). Những tư tưởng &quot;sự 
		sống, sống lại, trường sinh&quot; trở thành chủ đề nổi bật của Phúc âm theo 
		thánh Gioan. Con người sẽ lãnh nhận sự sống vĩnh cửu nếu tin nhận đức 
		Kitô, lời hằng sống, bánh hằng sống (5,25; 6,39.40.44.54). Ðối lại, ai 
		khước từ đức Kitô thì sẽ bị luận phạt, bị chết. Sự sống và sự phục sinh 
		là hồng ân ban cho các tín hữu, chứ không phải là cái gì tự nhiên dành 
		cho hết mọi người. Chỉ có một chỗ (5,28-29) nói tới việc người dữ cũng 
		sẽ sống lại để mà chịu luận phạt. Xét trong toàn bộ Tân ước, xem ra chỉ 
		có một nơi nói tới sự sống lại của tất cả mọi người, bất luận tốt xấu 
		(Tđcv 24,15). Ngoài ra, khi nói tới người dữ bị phạt cả hồn cả xác trong 
		hỏa ngục (Mt 5,29-30), thì Phúc âm cũng giả thiết rằng thân xác họ cũng 
		sẽ sống lại (để mà chịu phạt).</p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
		3) Như vậy, hồng ân quý giá nhất mà đức Kitô đã mang lại cho nhân loại 
		là sự phục sinh. Tuy nhiên, sự phục sinh chỉ xảy ra vào ngày sau hết (Ga 
		6,39.40.44.54; 12,46-48). Vậy thì từ nay cho đến ngày tận thế, những 
		người chết sẽ đi đâu? Họ ngủ yên trong mồ hay sao? Phúc âm chỉ có một 
		chỗ hé mở câu trả lời, đó là cuộc đối thoại giữa Chúa Giêsu với người 
		trộm lành trên thập giá. Anh ta nghĩ rằng nếu mà chuyện thưởng phạt có 
		đặt ra thì ắt sẽ chỉ xảy tới vào thời cánh chung mà thôi; vì vậy anh ta 
		thưa mới Chúa: &quot;Ông Giêsu à, khi nào ông vào Nước của ông, thì xin nhớ 
		đến tôi!&quot;. Nhưng Ngài đã trả lời cho anh ta rằng: &quot;Tôi bảo thật anh, hôm 
		nay anh sẽ được ở với tôi trên Thiên đàng&quot; (Lc 23,43). Như vậy, người 
		trộm lành sẽ được hạnh phúc ngay từ hôm đó, chứ không cần phải chờ tới 
		khi thân xác sống lại trong ngày tận thế. Anh ta sẽ được vào thiên đàng 
		bằng cách nào? Bản văn Phúc âm không đi vào vấn nạn siêu hình đó. Một 
		điều chắc là hôm đó thân xác của anh ta vẫn còn bị chết treo trên thập 
		giá, rồi tới tối thì được hạ xuống an táng, giống như bao nhiêu con 
		người khác (Ga 19,31).</p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
		B. Thánh Phaolô</p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
		Trong các tác phẩm còn lại của Tân ước, không có ai nói nhiều tới việc 
		con người phục sinh như là thánh Phaolô. Qua sách Tông đồ công vụ 
		(23,6-8), chúng ta biết rằng thánh Phaolô thuộc nhóm Biệt phái, cho nên 
		tin có sự sống lại (đối lại với nhóm Sađốc). Tuy nhiên, trên đường 
		truyền giáo, thánh Phaolô không phải chiến đấu chống lại với nhóm Sađốc 
		cho bằng phải chống lại người Hy lạp. Vào thời ấy, văn hóa Hy lạp chịu 
		ảnh hưởng của triết học Platon. Họ quan niệm rằng linh hồn đã được dựng 
		nên từ trên thiên giới, nhưng vì phạm tội cho nên bị đày đọa xuống hạ 
		giới vào trong thân xác. Thân xác là cái tù ngục của linh hồn. Linh hồn 
		cố gắng đền tội để được giải thoát ra khỏi thân xác và trở về thiên 
		giới. Vì vậy đối với người Hy lạp, nói tới chuyện thân xác sống lại là 
		một điều phi lý: thân xác là cái gì đồi trụy, đáng khinh; vì thế cho nó 
		sống lại làm gì? Trong khung cảnh ấy, chúng ta hiểu được vì sao khi 
		thánh Phaolô diễn thuyết tại thành phố Athen, các thính giả đã đứng lên 
		rời bỏ hội trường khi nghe nói tới chuyện người chết sống lại. Lý do là 
		vì họ nghĩ rằng ông Phaolô mát dây (Tđcv 17,32). Ðây là khó khăn lớn 
		nhất trong cuộc đời truyền giáo của thánh Phaolô: làm sao thuyết phục 
		được người ta chấp nhận mặc khải về sự phục sinh? Nên biết là những đối 
		thủ không phải là hạng người duy vật vô thần, song là những người chỉ 
		chấp nhận hồn thiêng bất tử chứ không chấp nhận thân xác sẽ sống lại! 
		Thánh Phaolô đã nói đi nói lại đề tài này trong các thư gửi cho các giáo 
		đoàn, đặc biệt hơn cả là ngài đã dành trọn chương 15 trong thư thứ nhất 
		Corintô để trình bày đạo lý. Những lập luận chính trong đoạn văn này có 
		thể tóm lại 4 điểm sau đây:</p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
		1/ Nếu chúng ta cho rằng việc người chết phục sinh là chuyện không thể 
		có được, thì rồi cả chuyện đức Kitô phục sinh cũng chẳng có thể xảy ra 
		được. Thế nhưng, giả như mà đức Kitô không phục sinh thì công cuộc cứu 
		rỗi nhân loại chưa có hoàn thành. Chúng ta đâu có được cứu rỗi? Từ đó 
		đức tin của chúng ta trở thành vô nghĩa, bởi vì thiếu cơ sở! (câu 
		13-17).</p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
		2/ Nếu mà người chết không được sống lại, thì thân phận của chúng ta quả 
		là tang thương: tu thân tích đức để làm chi, nếu sau khi chết rồi chẳng 
		còn có gì tồn tại nữa hết! Biết vậy thì ăn chơi cho đã đời đi, kẻo mai 
		ngày mà chết thì đâu còn được hưởng thụ sung sướng nữa? (câu 19.33).</p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
		3/ Sau hai luận cứ nhằm bày tỏ cho thấy hậu quả tai hại của việc chối bỏ 
		sự phục sinh, thánh Phaolô lật ngược lại thế cờ. Ngài khẳng định rằng: 
		có sự phục sinh (câu 20). Lời khẳng định này dựa trên niềm tin rằng đức 
		Kitô đã phục sinh. Ðây là một sự thực đã được nhiều người làm chứng. Có 
		tới hơn 500 người đã thấy Chúa phục sinh hiện ra với họ, trong đó có cả 
		thánh Phaolô nữa (câu 3-8). Nếu đức Kitô đã phục sinh, thì việc con 
		người phục sinh là chuyện có thể được. Ðức Kitô được ví như hoa trái đầu 
		mùa: ngài khai trương một giai đoạn trong lịch sử của nhân loại. Ðức 
		Kitô mở đường dẫn đầu, và chúng ta lần lượt tiến theo Ngài (câu 20-24).</p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
		4/ Mặt khác, thánh Phaolô cảm thấy cũng cần phải sửa sai vài hiểu lầm về 
		sự sống lại. Sự sống lại sẽ xảy ra vào ngày quang lâm chứ không phải 
		ngay lập tức đâu (câu 23). Ngoài ra, thân xác mai sau sẽ không hoàn toàn 
		y như bây giờ đâu! Hiện giờ thân xác chúng ta hư nát, yếu đuối; nhưng 
		mai ngày thân xác sẽ bất diệt, vinh quang. Thân xác sẽ được thần khí 
		biến đổi (câu 42-46).</p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
		Khi nói tới sự sống lại, thánh Phaolô không bao giờ dừng lại ở sự sống 
		vật lý. Ðối với Phaolô, sống lại có nghĩa là sống với đức Kitô. Ðức Kitô 
		là tiêu chuẩn mẫu mực cho sự sống lại của chúng ta; sự sống lại của 
		chúng ta là kết quả của việc chúng ta kết hợp gắn bó với Ngài, bắt đầu 
		từ khi chúng ta lãnh bí tích rửa tội (Rm 6,4-11; 8,11.23; Cl 1,18; 3,4). 
		Sự sống lại là kết quả cao nhất của ơn cứu rỗi: đức Kitô đã chiến thắng 
		tội lỗi và hết mọi hình thức của sự dữ: sự dữ cuối cùng cần phải diệt là 
		cái chết (1Cr 15,54-57). Hậu nhiên, sự sống lại là một hồng ân được ban 
		cho các tín hữu được thông dự vào ơn cứu rỗi của đức Kitô. Thánh Phaolô 
		không coi sự sống lại như là cái gì tự nhiên dành cho tất cả mọi người.</p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
		Từ những điều vừa trình bày, chúng ta sẽ thấy nảy lên ít là hai câu hỏi.</p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
		1/ Nếu sự sống lại là hồng ân ban cho các Kitô hữu, thì số phận của các 
		người dữ sẽ ra sao? Họ sẽ không được sống lại ư? Họ sẽ bị tiêu diệt ra 
		hư vô ư? Thánh Phaolô không để ý tới câu hỏi này. Có lẽ tại vì ngài là 
		một mục tử lo lắng cho phần rỗi của các tín hữu, chứ không phải là một 
		triết gia siêu hình! </p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
		2/ Sự sống lại sẽ xảy ra trong ngày Chúa quang lâm. Trong khi chờ đợi, 
		các người chết sẽ đi đâu? họ sẽ ngủ yên trong mồ, hay là họ được hưởng 
		hạnh phúc ngay từ khi qua đời? Về điểm này, ta nhận thấy có sự tiến 
		triển trong tư tưởng của thánh Phaolô. Trong những thư đầu tiên, thánh 
		Phaolô nghĩ rằng ngày quang lâm sẽ xảy ra trong đời mình (1Tx 4,15-17); 
		vì vậy mà ngài không đặt ra vấn nạn. Vào lúc cuối đời, khi thấy rằng 
		ngày chết đã kề mà ngày quang lâm chưa tới, ngài mới thấy vấn nạn. Thánh 
		Phaolô đã để lại câu trả lời trong thư 2 Corintô 5,8: sau khi rời bỏ 
		thân xác này, ngài sẽ về gặp đức Kitô. Ðiều này còn rõ hơn nữa ở thư gửi 
		Philippê 1,21-22: khi chết rồi, mình sẽ được ở với đức Kitô. </p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
		IV. Vấn đề Bất tử và Phục Sinh trong lịch sử của Giáo Hội </p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
		Khi khảo sát Kinh thánh Cựu ước và Tân ước, chúng ta nhận thấy có sự 
		tiến triển rất lớn về mặc khải chung quanh số phận của người chết. Trong 
		Cựu ước, người ta tin rằng sau khi chết, con người sẽ xuống dưới cõi âm 
		ti. Cuộc sống ở dưới âm ti chỉ thoi thóp và không đáng gọi là sự sống 
		đúng nghĩa, bởi vì chẳng có sinh hoạt gì và nhất là bởi vì chẳng được 
		thông hiệp với Thiên Chúa. Vào cuối thời Cựu ước, người ta tin rằng 
		Thiên Chúa tín trung sẽ không để cho những người tôi trung của mình ở 
		mãi trong cõi âm ti, nhưng Ngài sẽ đưa họ ra khỏi đó: Ngài sẽ cho họ 
		được sống lại. Sang đến Tân ước, sự sống lại được công bố như là cao 
		điểm của công cuộc cứu chuộc của đức Kitô. Tuy nhiên có hai điểm gây ra 
		thắc mắc không nhỏ: </p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
		1/ sự phục sinh sẽ diễn ra vào thời cánh chung; thế thì từ nay cho tới 
		ngày ấy, số phận của những chết sẽ ra sao? Vấn nạn này được nêu lên bởi 
		vì theo quan điểm Do thái, con người là một toàn bộ, chứ không phải gồm 
		bởi hai yếu tố thiêng liêng và chất thể như là quan niệm Hy lạp.</p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
		2/ Sự phục sinh là một hồng ân cứu độ dành cho những ai tin nhận đức 
		Kitô. Thế thì những người tội lỗi có được sống lại hay không, hay là họ 
		sẽ bị hủy diệt ra hư vô? Chúng ta hãy theo dõi diễn tiến của vấn đề 
		trong lịch sử của Giáo hội.</p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
		A. Số phận của những người chết</p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
		Như đã nói trước đây, trên con đường truyền giáo, thánh Phaolô gặp trở 
		ngại rất lớn khi trình bày đạo lý về sự phục sinh thân xác. Ðối thủ của 
		ngài không phải là những người duy vật vô thần cho bằng những người chịu 
		ảnh hưởng của triết học Hy lạp, theo đó hồn thiêng đã sống kiếp trước 
		trên thiên giới và sau đó bị đày xuống hạ giới nhốt trong thân xác để 
		đền tội. Do đó, đối với họ, sự cứu rỗi hệ tại việc linh hồn được giải 
		thoát ra khỏi thân xác chứ không phải là ở tại chỗ thân xác được sống 
		lại.</p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
		Trong những thế kỷ đầu tiên của Kitô giáo, các giáo phụ cũng phải đương 
		đầu với những khó khăn tương tự về phía phe ngộ đạo: những người này chỉ 
		chấp nhận linh hồn bất tử chứ không chấp nhận thân xác sẽ sống lại. 
		Trong bầu khí như vậy, ta có thể hiểu được vì sao một số giáo phụ cho 
		rằng đạo lý về linh hồn bất tử đe dọa niềm tin Kitô giáo về sự phục 
		sinh. Ra như hai điểm đó tương phản với nhau. Mặt khác, vào thời đó, 
		triết học Hy lạp nổi bật là thuyết của Platon chứ không phải là thuyết 
		của Aristote. Chính vì thiếu một cơ sở triết học vững chắc về linh hồn 
		cho nên các giáo phụ đã có những ý kiến khác nhau về số phận của những 
		người chết.</p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
		Tất cả mọi người đều tin rằng sau khi chết, vẫn còn có cái gì tồn tại. 
		Niềm tin này được diễn tả qua các buổi cử hành phụng vụ an táng cũng như 
		qua thói tục cầu nguyện cho người chết. Niềm tin đó cũng được diễn tả 
		qua việc tôn kính các vị tử đạo: Hội thánh tin rằng họ đang được hưởng 
		vinh quang trên thiên quốc. Còn số phận của những người khác thì sao? Ða 
		số các bản văn Tân ước nói tới sự phục sinh vào thời cánh chung; duy chỉ 
		có hai đoạn văn Luca 23,42-43 và Philippe 1,21-23 (có lẽ 2 Cr 5,8 nữa) 
		nói tới việc hưởng phúc với Chúa liền sau khi chết. Bởi vì chỉ có hai 
		đoạn văn thì quá ít, cho nên không mấy ai để ý tới. Vì vậy một số giáo 
		phụ (thí dụ Giustinô, Ireneô, Tertullianô) cho rằng sau khi chết thì hồn 
		con người được giữ ở một nơi đặc biệt, cho tới ngày tận thế thì mới được 
		hưởng nhan Chúa. Mãi tới thời thánh Bênađô (thế kỷ 12), thì mới nói được 
		là hầu như thần học Kitô giáo đã nhất trí về số phận của con người sau 
		khi chết, tức là: sau khi chết linh hồn sẽ ra trước tòa Chúa phán xét, 
		và sẽ lãnh phần thưởng và hình phạt ngay lập tức. Ðạo lý này được khẳng 
		định dứt khoát với tông hiến Benedictus Deus của ÐTC Beneđictô XII 
		(29-1-1336). Chúng ta có thể đọc một vài đoạn của văn kiện đó ở Sách 
		Giáo Lý HTCG số 1023.</p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
		B. Những cuộc tranh luận cận đại.</p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
		Vào hậu bán thế kỷ 20, đạo lý vừa kể đã bị vài nhà thần học Tin lành đòi 
		xét lại. Họ cho rằng Kinh thánh quan niệm con người là một toàn bộ, chứ 
		không phải gồm bởi hồn với xác. Vì thế, cái chết ảnh hưởng tới toàn thể 
		con người: con người chết hoàn toàn; tới ngày tận thế, chỉ những tín hữu 
		nào lành thánh mới được Chúa ban ơn phục sinh mà thôi. Có những nhà thần 
		học công giáo cũng có cảm tình với lý thuyết đó, nhưng họ sửa đổi vài 
		chi tiết. Dần dần, trong thần học về phía Công giáo lẫn về phía Tin lành 
		có ba chủ trương khác nhau về số phận người chết:</p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
		1/ Thuyết cổ điển phân biệt hai giai đoạn bất tử và phục sinh. Sau khi 
		chết, linh hồn bất tử sẽ lãnh phần thưởng hay án phạt. Ðến ngày tận thế, 
		thân xác sẽ sống lại và chia sẻ sự thưởng phạt vĩnh viễn với linh hồn.</p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
		2/ Thuyết của Oscar Cullman chỉ chấp nhận phục sinh vào ngày tận thế. 
		Khi đã chết thì không còn gì tồn tại nữa. Ngày tận thế, Chúa sẽ cho 
		người lành chỗi dậy. Sự phục sinh là một cuộc tái tạo.</p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
		3/ Một thuyết thứ ba thì chủ trương trung dung: sau khi chết, con người 
		sống lại liền, chứ không cần chờ đến ngày tận thế. Khi đã ra khỏi cuộc 
		đời này, thì yếu tố thời gian (trước sau, quá khứ vị lai) không còn ý 
		nghĩa gì nữa.</p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
		Những thuyết vừa nói đã gây hoang mang không nhỏ cho các tín hữu. Vì 
		thế, ngày 17-5-1979 Bộ Giáo lý đức tin đã gửi một lá thư đến các Hội 
		đồng Giám mục, nhằm khẳng định lại những điểm thuộc về đức tin Công giáo 
		cần phải đặt ra ngoài vòng tranh luận. Văn kiện lưu ý rằng khi nói đến 
		sự tồn tại của linh hồn sau khi chết, đức tin công giáo không có lệ 
		thuộc vào một hệ thống triết học nào cả. Một tài liệu của Ủy ban Thần 
		học quốc tế xuất bản năm 1990 còn nói rõ hơn về điểm này. Trong lịch sử 
		tư tưởng triết học, đã có nhiều quan điểm về linh hồn. Thậm chí trong 
		triết học Hy lạp ta cũng thấy chủ trương của Platon thì khác với chủ 
		trương của Aristote. Platon cho rằng hồn đã được hiện hữu từ xa xưa, rồi 
		sau đó vì phạm tội nên bị đày xuống thân xác. Còn Aristote thì quan niệm 
		linh hồn hiện hữu cùng với thân xác. Dù hiểu bản chất của linh hồn thế 
		nào đi chăng nữa, đức tin công giáo nhìn nhận rằng trong con người có 
		một yếu tố thiêng liêng, có ý thức và ý muốn. Cái yếu tố đó duy trì sự 
		liên tục của bản ngã (&quot;tôi&quot;, chủ thể của các hành vi). Yếu tố đó được 
		gọi là &quot;hồn&quot;, và vẫn còn tồn tại sau khi con người chết. Niềm tin đó đã 
		được phát biểu qua việc cầu nguyện cho người quá cố cũng như qua việc 
		tôn kính các thánh. Hội thánh tin rằng người chết sẽ sống lại, và sự 
		sống lại ảnh hưởng cả tới thân xác nữa: đối với người công chính, sự 
		sống lại là hoa trái của ơn cứu độ của việc đức Kitô phục sinh. Ðiều 
		kiện của con người vào ngày Chúa quang lâm sẽ khác với điều kiện của con 
		người liền sau khi chết. Trong vấn đề này, Giáo hội tin rằng đức Maria 
		được hưởng ân huệ độc đáo qua việc phục sinh thân xác, không như các tín 
		hữu khác.</p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
		Qua cuộc tranh luận vừa kể, chúng ta có thể rút ra bốn nhận xét sau đây.</p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
		1. Khi đọc Kinh thánh, chúng ta hãy chú ý tới vài từ ngữ ra đời trong 
		một khung cảnh văn hóa khác biệt với văn hóa hiện đại. Những từ ngữ 
		&quot;hồn, xác, thần khí&quot; cần phải được hiểu tùy theo sự tiến triển của từng 
		thời. Hai từ ngữ &quot;linh hồn&quot; (anima) và &quot;tinh thần&quot; (hay thần trí, tâm 
		trí: spiritus) không đồng nghĩa với nhau. Cũng vậy hai từ ngữ &quot;xác thịt&quot; 
		(caro) và &quot;thân xác&quot; (thân thể: corpus) cũng không đồng nghĩa với nhau. 
		- Vì lý do đó, khi đọc thấy sự đối chọi giữa &quot;xác thịt&quot; và &quot;thần trí&quot;, 
		chúng ta đừng vội kết luận về sự đối chọi giữa &quot;linh hồn&quot; với &quot;thân 
		xác.&quot;</p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
		2. Cách riêng thánh Phaolô là người nói nhiều tới sự đối lập giữa &quot;tinh 
		thần&quot; và &quot;xác thịt&quot;. Nhưng đó là ngài hiểu về nguyên lý tội lỗi và thần 
		khí ở trong con người: xác thịt (hay tội lỗi) thì dẫn tới sự chết; còn 
		thần khí thì đưa tới sự sống. Tuy nhiên, thánh Phaolô không hề có ý 
		tưởng khinh chê thân xác. Trái lại, ngài phải chiến đấu với người Hy lạp 
		để bảo vệ niềm tin Kitô giáo về việc thân xác này sẽ sống lại.</p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
		3. Không thiếu lần, vô tình chúng ta rơi vào thuyết của Platon khi quan 
		niệm rằng thân xác này là tù rạc của linh hồn. Linh hồn cần được mau mau 
		giải thoát khỏi tù rạc xác thịt để về với Chúa. Chúng ta quên rằng thân 
		xác này cũng cần được hưởng ơn cứu chuộc của đức Kitô qua sự phục sinh.</p>
		<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px; margin-left: 0cm; margin-right: 0cm; margin-top: 12.0pt; margin-bottom: .0001pt">
		4. Sau cùng, khi nói tới sự phục sinh thân xác, chúng ta cũng đừng hình 
		dung nó một cách quá duy vật. Chúng ta tin rằng thân xác sẽ sống lại. 
		Nhưng thân xác phục sinh sẽ không hoàn toàn y hệt như thân xác hiện 
		thời. Ngay cả trong cuộc sống tại thế này, cái thân xác của ta cũng đâu 
		có y nguyên từ khi lọt lòng mẹ cho đến khi xuống mồ! Cái thân xác biến 
		hình biến dạng nhiều lần từ khi còn nhỏ cho tới khi lớn, đó là chưa kể 
		các tế bào da thịt không ngừng thay cũ đổi mới: dù vậy ta cũng nhận rằng 
		vẫn là một cái thân thể của ta. Một cách tương tự như vậy, chúng ta tin 
		rằng thân xác tương lai sẽ có phần giống như thân xác hiện tại (chẳng 
		vậy, nó sẽ không còn phải là thân xác của tôi nữa), nhưng đồng thời nó 
		sẽ được biến đổi hoàn toàn, tựa như thân xác của đức Kitô phục sinh, 
		không còn bị chi phối bởi thời gian và không gian nữa. Sách Giáo lý Hội 
		thánh công giáo nhắc cho chúng ta những điểm đó ở các đ.997-1001 (Sách 
		GLCG). Ðành rằng tất cả người lành kẻ dữ sẽ đều sống lại, nhưng mà sự 
		sống lại chỉ có ý nghĩa đầy đủ khi nó được thông dự vào sự sống viên mãn 
		của Thiên Chúa, sự sống trong tình yêu thông hiệp với Ba ngôi và với các 
		anh chị em khác. Trái lại, sự sống mà bị đày đọa thì không đáng gọi là 
		sống: những người dữ dù có sống lại thì cũng như chết lần nữa!</td></tr><tr><td width="474"><p style="text-align: center">&nbsp;&nbsp; <a target="_top" href="http://tinmung.net"><img border="0" src="../../../../../logo/LOGOtinmung.gif" width="67" height="40"></a>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;<a style="text-decoration: none; font-family: Arial; font-size: 10pt" target="_top" href="http://www.tinmung.net/SUYNIEM_HANGTUAN/SuyniemINDEX.htm"><img border="0" src="../../../2011/MuaThuongNien/VuaVuTru/LOGOtinmung2.gif" width="68" height="42"></a>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;</td></tr></table><p style="text-align: center">
&nbsp;</p>

PHP File Manager