File "13.htm"

Full path: E:/sites/Single15/tinmung2007/webroot/SUYNIEM_HANGTUAN/Nam_A/2014/Mua-Chay & Phuc-Sinh/CN III MC A/13.htm
File size: 15.97 KiB (16352 bytes)
MIME-type:
Charset: utf-8

Download   Open   Back

<html><head><meta http-equiv="Content-Language" content="en-us"><meta http-equiv="Content-Type" content="text/html; charset=utf-8"><title>
Chúa Nhật III Mùa Chay - Năm A</title><base target="main">
<meta name="keywords" content="Chúa Nhật III Mùa Chay - Năm A; Bên bờ giếng Giacob; Nhịp cầu thiêng liêng; Cho xin chút nước; Nước hằng sống; trong tinh thần chân lý; Đổi thay; Gặp gỡ; Nguồn nước;"><style>
<!--
	.CONTENTS{FONT-SIZE: 11pt;COLOR:Navy;}
span.MsoHyperlink
	{color:blue;
	text-decoration:underline;
	text-underline:single;
	text-decoration:none underline;
	text-line-through:none;
	vertical-align:baseline}
-->
</style>
<meta name="description" content="Chúa Nhật III Mùa Chay - Năm A"><!--mstheme--><link rel="stylesheet" type="text/css" href="../../../../_themes/suyniem3/suyn1011-109.css"><meta name="Microsoft Theme" content="suyniem3 1011">
</head><body><table border="0" width="500" cellspacing="12" style="border-color: #FFFFFF; font-family:Times New Roman; font-size:14pt; text-decoration:none" bgcolor="#FFFFFF"><tr><td width="460"><font size="2" color="#FF0000" face="Arial">Chúa Nhật 
	III Mùa Chay - Năm A</font></td></tr><tr><td width="474" style="font-family: Arial; font-size: 12pt; text-decoration: none; font-weight: bold; text-align: center">
		THIÊN CHÚA LÀ THẦN KHÍ</td></tr><tr><td width="474" style="font-family: Arial; font-size: 8pt; text-decoration: none; font-style:italic; text-align:right"><a name="_Toc288591612">
	<span style="font-size: 8pt; font-style:italic; font-weight:400">Chú giải của Giáo Hoàng Học Viện Đà Lạt</span></a></td></tr><tr><td width="474" style="font-family: Times New Roman; font-size: 14pt; text-decoration: none; text-align:justify">
	<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px"><b><i>
	<span style="font-size: 14.0pt">&quot;Người phải băng qua Samari&quot;</span></i></b><span style="font-size: 14.0pt">. 
	Lộ trình ngắn nhất và dễ nhận từ Giuđê đến Galilê chạy ngang qua miền 
	Samari. Edei, &quot;Người phải&quot;, diễn tả một sự bắt buộc hay một sự tiện lợi về 
	địa dư? &#39;Động từ dei, trong Tin Mừng Gioan (3, 7.14.30; 4, 20. 24; 9, 4; 10, 
	16; 12, 34...) cũng như trong các Tin Mừng Nhất Lãm (Mc 8, 31; 9,11) thường 
	có nghĩa một sự bắt buộc phát xuất từ ý định cứu rỗi của Thiên Chúa. Có thể 
	bảo ‘edei’ vừa xác định thêm chi tiết địa dư, vừa đặc biệt ám chỉ rằng Thiên 
	Chúa muốn có câu chuyện này xảy ra ở Samari để mặc khải tính cách phổ quát 
	của ơn cứu độ do Con Ngài mang đến.</span></p>
	<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px"><b><i>
	<span style="font-size: 14.0pt">&quot;Lúc ấy chừng giờ thứ sáu&quot;.</span></i></b><span style="font-size: 14.0pt"> 
	Những lối xác định thời gian loại đó ta còn gặp thấy trong 1, 39; 4, 52 và 
	19, 14. Trong 19, 14, cũng một thành ngữ như ở đây tái hiện trong bối cảnh 
	vụ xử án Chúa Giêsu: có thể Gioan đã muốn dùng cùng một cách nói như vậy để 
	ngụ ý là tính cách phổ quát của ơn cứu rỗi, được tỏ lộ trong câu chuyện hôm 
	nay, tùy thuộc vào cái chết cứu chuộc của Chúa Kitô.</span></p>
	<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px"><b><i>
	<span style="font-size: 14.0pt">&quot;Cho tôi uống với&quot;:</span></i></b><span style="font-size: 14.0pt"> 
	Như trong mọi trình thuật của Gioan, chính Chúa Giêsu là người khởi xướng. 
	Lời xin của Người có vẻ tự nhiên, vì lúc đó là buổi trưa, sau khi đi đường 
	xa mệt mỏi. Nhưng đối với độc giả của Gioan, thì một lời xin như thế có vẻ 
	lạ thường, vì người xin uống nước là chính người phải ban cho nước sống dư 
	tràn.</span></p>
	<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px"><b><i>
	<span style="font-size: 14.0pt">&quot;Trong Thần khí và sự thật&quot;.</span></i></b><span style="font-size: 14.0pt"> 
	Một lối chú giải rất được phổ biến cho đây là lời ám chỉ việc phụng tự 
	thiêng liêng, nội tâm, loại bỏ mọi hy tế và mọi nơi thờ phượng. Việc phụng 
	tự hoàn toàn nội tâm này được khơi nguồn do sự hiểu biết đích thực về Thiên 
	Chúa và do lòng sùng kính thành thật đối với chân lý. Song một lối giải 
	thích như vậy vẫn còn thiếu sót, vì không lưu ý tới tính cách mới mẻ của 
	việc phụng tự do Chúa Kitô thiết lập. Thật vậy, các ngôn sứ đã đòi hỏi việc 
	phụng tự nội tâm nhiều lần rồi (Am 5, 20-26; Is 1, 11-20; 29, 13; Tv 50, 
	7-23; 51, 18tt). Vào thời Chúa Giêsu, người Do thái cũng như dân ngoại đều 
	biết rằng phụng tự nội tâm trồi vượt phụng tự bên ngoài. Việc phụng tự mới 
	được Chúa Kitô trình bày ở đây không thể chỉ là lặp lại lý tưởng các ngôn sứ 
	rao giảng; nó phải được đặt vào trong bối cảnh chung của khởi điểm mới trong 
	Chúa Kitô. Việc phụng tự Chúa Cha đích thực phải đáp ứng với địa vị mới của 
	người tín hữu là được trở thành con Thiên Chúa: &quot;Những kẻ thờ phượng đích 
	thật&quot; là những kẻ &quot;sinh bởi Thiên Chúa&quot; (1,13) bằng nước và Thần khí (3,5) 
	và được hiến thánh nhờ sự thật (17, 17.19). Thành ra việc phụng tự mới là 
	việc phụng tự khơi nguồn bởi nguyên lý sự sống của các Kitô hữu. Đây là 
	phụng tự trong sự thật&quot;, vì được thành hình do mặc khải vẹn toàn của Chúa 
	Giêsu.</span></p>
	<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px"><b><i>
	<span style="font-size: 14.0pt">&quot;Thiên Chúa là Thần khí&quot;.</span></i></b><span style="font-size: 14.0pt"> 
	Xác quyết này là một trong ba xác quyết quan trọng của Gioan về Thiên Chúa 
	(&quot;Thiên Chúa là ánh sáng&quot; 1Ga 1,5; &quot;Thiên Chúa là Tình yêu&quot; 1Ga 4, 8-16). Nó 
	có vẻ như là một định nghĩa về Ngài. Nó gần giống như phản ứng của các người 
	Do thái hy hóa và các triết gia ngoại giáo chống lại những lối trình bày 
	nhân hình về Thiên Chúa. Với lại ta không thấy một giáo huấn nào tương tự 
	trong Cựu ước cả. Vì vậy có kẻ nghĩ rằng lời xác quyết của Gioan ở đây mang 
	nguồn gốc Hy lạp. Tuy nhiên, không nên giả thiết một sự vay mượn như thề vì 
	giáo thuyết của Gioan về Thần khí nối dài giáo thuyết của Cựu ước, theo đó 
	thì Thần khí không phải là cách hiện hữu đối nghịch với vật chất, nhưng là 
	hoạt động sáng tạo của Thiên Chúa nhằm phát sinh sự sống. Đó cũng là ý nghĩa 
	cơ bản mà ta thường gặp nơi Gioan (3, 5-8; 6, 63; 7,38; 14, 17-19). Thành ra 
	phải kết luận rằng ớ đây Gioan không có ý chống lại những cái nhìn vật chất, 
	như nhìn về Thiên Chúa, song chỉ muốn xác nhận quyền năng đáng tạo sự sống 
	của Ngài.</span></p>
	<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px"><b>
	<span style="font-size: 14.0pt">KẾT LUẬN</span></b></p>
	<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
	<span style="font-size: 14.0pt">Qua việc dùng các tước hiệu khác nhau, những 
	tước hiệu mời gọi niềm tin dần dần, trang sách này của thánh Gioan đã mặc 
	khải một khía cạnh cơ bản trong mầu nhiệm Chúa Giêsu. Lúc đầu, Người chỉ là 
	một lữ khách vô danh. Sau đó, thiếu phụ Samari khám phá ra Người là một 
	người Do thái (c. 9). Khi nghe lời hứa kỳ lạ về một thứ nước sống, bà hỏi 
	Người: &quot;Dễ chừng Ngài lại lớn hơn Giacóp cha chúng tôi sao?&quot; (c. 12). Lúc 
	nhìn thấy là Người đã thấu rõ bí mật đời tư của mình, bà mới nhận ra Người 
	là một ngôn sứ (c. 19). Sau cùng, khi Chúa Giêsu đã mặc khải cách hoàn toàn 
	rồi, bà phỏng đoán Người có lẽ là Đấng Kitô (c.29). Nhưng chính dân thành 
	Samari, hoa quả đầu mùa của các dân tộc, mới tuyên xưng đức tin của họ vào 
	Chúa Giêsu &quot;Đấng Cứu Thế&quot; (c.42). Từ đầu đến cuối, việc mặc khải vẫn nằm 
	trong viễn ảnh lịch sử cứu độ. Các chương Tin Mừng khác mặc khải Chúa Giêsu 
	là Đấng Thiên Chúa sai đến và là Con Chúa Cha. &quot;Kitô&quot; và &quot;Con Thiên Chúa&quot; là 
	hai tước hiệu căn bản của bản tuyên tín theo thánh Gioan (20,31). Còn “Đấng 
	Cứu Thế&quot; là tước hiệu tổng hợp: Kẻ đã đến như ánh sáng trần gian (8,12; 
	12,46), như Người mặc khải, như Đấng Kitô, là chính Con Một được Thiên Chúa 
	sai đến để cứu rỗi thế gian và cho mọi người có sự sống vĩnh cửu trong mình 
	(3, 16-18).</span></p>
	<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px"><b>
	<span style="font-size: 14.0pt">Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG</span></b></p>
	<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
	<span style="font-size: 14.0pt">1) Chúa Giêsu khai mào câu chuyện với thiếu 
	phụ Samari bằng cách khêu gợi tính tò mò của bà. Người tự đặt mình vào thực 
	tế tầm thường của đời sống thường nhật, vào hoàn cảnh của kẻ phải mệt mỏi 
	kín nước đều đều, để rồi làm cho bà cảm thấy không phải chỉ cần có thứ nước 
	ấy mới sống được, không phải chỉ có những thực tại vật chất là đáng kể trong 
	đời sống. Hôm nay đây, Chúa còn hiện diện trong cuộc sống thường ngày của 
	ta. Ta có biết nhận ra Người chăng? Có chấp nhận đối thoại với Người? Có 
	đồng ý là không phải chỉ những thực tại vật chất mới đáng kể trong đời sống 
	của ta Có cố gắng để đừng bị vật chất chi phối chăng? Vì không chỉ có thứ 
	nước tự nhiên mà thôi, song còn thứ nước siêu nhiên vọt đến sự sống vĩnh 
	cửu. Cuộc đời của ta còn phải được nuôi dưỡng bằng việc cầu nguyện và tôn 
	thờ Thiên Chúa.</span></p>
	<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
	<span style="font-size: 14.0pt">2) “Ai uống nước giiếng này, sẽ còn khát 
	lại&quot; (c.13). Nước này không giải khát thật sự, nó vừa tạm thời xoa dịu cơn 
	khát, vừa duy trì và kích thích cơn khát. Ai lại không biết cái chu kỳ quỷ 
	quái của dục vọng, luôn luôn tái phát, chẳng bao giờ nó thỏa; ai mà không 
	cảm thấy các nhu cầu được thỏa mãn cứ trào lên vô tận, thúc đẩy mình hưởng 
	thụ cách nào đó: càng khát, lại càng uống, càng uống lại càng khát! Và luôn 
	luôn theo lối lý luận ích kỷ ấy mà người thiếu phụ Samari đón nghe những lại 
	của Chúa Giêsu về nước sống và tìm cách lợi dụng cơ hội: xin Ngài ban cho 
	tôi thứ nước ấy để tôi hết khát và khỏi đến cây múc nước&quot; (c.15). Một ngộ 
	nhận như thế cũng gặp thấy nơi người Do thái trong diễn từ Bánh sự sống: 
	thưa Ngài, hãy luôn luôn cho chúng tôi bánh ấy&quot; (6,34). Theo bản năng tự 
	nhiên, ta có khuynh hướng muốn chụp lấy ơn Thiên Chúa như một thứ bảo hiểm 
	sinh mạng khả dĩ miễn cho mình lăn lộn với đời, như một số vốn mang lại 
	nhiều lợi giúp mình mãi mãi an cư, muốn thứ bánh, thứ nước Ngài ban cho ấy 
	trở thành kho vô tận, dùng mãi không bao giờ cạn. Nhưng ơn Thiên Chúa đâu có 
	muốn giản lược ta vào trong sự thỏa mãn cái tính cách dinh dưỡng đó: “Ai 
	uống nước Ta sẽ ban, thì đời đời sẽ không khát nữa&quot; Chúa Giêsu bảo vậy 
	(c.14). người không giữ nước ấy trong một bình đóng kín, bưng bít một cách 
	ích kỷ. Trái lại, nước Ta sẽ ban cho nó sẽ trở nên trong nó một suối nước 
	vọt đến sự sống đời đời&quot; (c.14). Nước sống ấy có sức giải khát vì, vượt ra 
	ngoài-bản năng bảo tồn, nó làm phát sinh trong ta chính nguồn sống, và dạy 
	chúng ta rằng sống chính là trao ban, là chia sẻ không tính toán, là phun 
	trào ra mà không giữ lại.</span></p>
	<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
	<span style="font-size: 14.0pt">3) Cuộc đối thoại chuyển qua hướng mới với 
	mệnh lệnh của Chúa Giêsu: “Hãy đi gọi chồng bà...&quot;. Để cho thiếu phụ Samari 
	hiểu và đón nhận ơn Thiên Chúa, Chúa Giêsu đột ngột đề cập đến bí mật đời tư 
	của bà. Trong lãnh vực này, cơn khát của người đàn bà, cơn khát tình yêu, 
	cũng chẳng được thỏa mãn; thiếu phụ đã có năm đời chồng và người đang sống 
	với bà hiện giờ không phải là chồng đích thực (c.18). Giống như nước mà bà 
	phải đến múc uống luôn song chẳng đã khát, những nỗ lực tình yêu liên tiếp 
	của bà đã làm bà thất vọng và đẩy bà vào nỗi cô đơn. Mục đích của Chúa Giêsu 
	không phải là đem người thiếu phụ trở về thái độ sám hối song là cho bà 
	thấy, như đã cho Nathanael thấy (1, 47-50). Người thông suốt lạ lùng, là 
	khiến bà cúi đầu trước uy nhan của vị Ngôn sứ và từ đó chuẩn bị cho bà lãnh 
	hội mặc khải của Thần khí. Thực vậy, không một tiếng quở trách, không một 
	lời khuyến khích nào trên môi miệng Chúa Giêsu; không một tâm trạng tội lỗi, 
	không một giọng thống hối nơi người đàn bà; nhưng chỉ có một lời khen ngợi 
	đầy vẻ ngạc nhiên: thưa Ngài, tôi thấy Ngài là một ngôn sứ (c.19), và sau 
	đó, trong câu nói với dân làng: một người đã bảo cho tôi biết mọi sự tôi đã 
	làm (c.9). Nếu có chuyện tội chăng nữa, thì vấn đề không phải chỗ đó, hoặc 
	hình như bị gác ngay qua một bên. Với ánh mắt nhân từ và sáng suốt, Chúa 
	Giêsu cũng mời gọi ta hãy nhìn thăng mình không chút tự mãn song cũng chẳng 
	chút xấu hổ, cay đắng và thất vọng. Đặc biệt Người muốn dẫn đưa ta đến chỗ 
	nhìn nhận Người là vị &quot;Ngôn sứ Thiên Chúa sai đến, là Đấng mặc khải về bản 
	tính nhân loại đích thực của ta, là Đấng giúp ta khám phá ý nghĩa và không 
	chiều kích của cơn đói khát trong ta, là Đấng tố cáo những mưu kế mà ta dùng 
	để đánh lừa hoặc thỏa mãn cơn khát ấy một cách rẻ tiền. là Đấng dạy cho ta 
	biết sống và trào dâng nước sống của ơn Chúa.</span></td></tr><tr><td width="474"><p style="text-align: center">&nbsp;&nbsp; <a target="_top" href="http://tinmung.net"><img border="0" src="../../../../../logo/LOGOtinmung.gif" width="67" height="40"></a>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;<a style="text-decoration: none; font-family: Arial; font-size: 10pt" target="_top" href="http://www.tinmung.net/SUYNIEM_HANGTUAN/SuyniemINDEX.htm"><img border="0" src="../../../2011/MuaThuongNien/VuaVuTru/LOGOtinmung2.gif" width="68" height="42"></a>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;</td></tr></table><p style="text-align: center">&nbsp;</p>

PHP File Manager