File "12.htm"
Full path: E:/sites/Single15/tinmung2007/webroot/SUYNIEM_HANGTUAN/Nam_A/2014/Mua-Chay & Phuc-Sinh/CN III MC A/12.htm
File size: 21.3 KiB (21816 bytes)
MIME-type:
Charset: utf-8
<html><head><meta http-equiv="Content-Language" content="en-us"><meta http-equiv="Content-Type" content="text/html; charset=utf-8"><title>
Chúa Nhật III Mùa Chay - Năm A</title><base target="main">
<meta name="keywords" content="Chúa Nhật III Mùa Chay - Năm A; Bên bờ giếng Giacob; Nhịp cầu thiêng liêng; Cho xin chút nước; Nước hằng sống; trong tinh thần chân lý; Đổi thay; Gặp gỡ; Nguồn nước;"><style>
<!--
.CONTENTS{FONT-SIZE: 11pt;COLOR:Navy;}
span.MsoHyperlink
{color:blue;
text-decoration:underline;
text-underline:single;
text-decoration:none underline;
text-line-through:none;
vertical-align:baseline}
-->
</style>
<meta name="description" content="Chúa Nhật III Mùa Chay - Năm A"><!--mstheme--><link rel="stylesheet" type="text/css" href="../../../../_themes/suyniem3/suyn1011-109.css"><meta name="Microsoft Theme" content="suyniem3 1011">
</head><body><table border="0" width="500" cellspacing="12" style="border-color: #FFFFFF; font-family:Times New Roman; font-size:14pt; text-decoration:none" bgcolor="#FFFFFF"><tr><td width="460"><font size="2" color="#FF0000" face="Arial">Chúa Nhật
III Mùa Chay - Năm A</font></td></tr><tr><td width="474" style="font-family: Arial; font-size: 12pt; text-decoration: none; font-weight: bold; text-align: center"><b>
TIẾN TRÌNH NHẬN RA ĐỨC KITÔ</b></td></tr><tr><td width="474" style="font-family: Arial; font-size: 8pt; text-decoration: none; font-style:italic; text-align:right"><a name="_Toc288591611">
<span style="font-size: 8pt; font-style:italic; font-weight:400">Chú giải của Fiches Dominicales</span></a></td></tr><tr><td width="474" style="font-family: Times New Roman; font-size: 14pt; text-decoration: none; text-align:justify">
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px"><b>
<span style="font-size: 14.0pt">VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI:</span></b></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px"><b>
<span style="font-size: 14.0pt">1. Cuộc gặp gỡ bên bờ giếng Samaria:</span></b></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
<span style="font-size: 14.0pt">Câu chuyện về cuộc gặp gỡ giữa Đức Giêsu và
người phụ nữ Samari, một trong những trang đẹp đẽ nhất của Phúc âm thánh
Gioan, thuộc trong số những bài đọc quan trọng của vị thánh sử thường được
Hội Thánh, ngay từ những thế kỷ đầu, dùng trong nghi thức khai tâm các dự
tòng.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
<span style="font-size: 14.0pt">+ Sự việc xảy ra tại Samari. Miền đất này
ngày xưa đã từng là đất thánh của các tổ phụ nhưng kể từ cuộc phân ly của
người Samari, đã biếrl nên vùng đất bị thù ghét, tránh lai vãng.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px"><b><i>
<span style="font-size: 14.0pt">Đức Giêsu bỏ miền Giuđê mà trở lại miền
Galilê.</span></i></b><span style="font-size: 14.0pt"> Người có hai lối dể
đi: một "nên đi", khó khăn vất vả hơn vì nắng nóng; một "không nên đi",
không tốt cho những người Do Thái phải thường xuyên giữ mình sạch sẽ theo
luật tế tự, thì lại qua ngã Samari.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
<span style="font-size: 14.0pt">Đức Giêsu cố tình chọn lối đi thứ hai này:
"Người phải băng qua Samaria. Theo X. Dufour, có lẽ để chứng tỏ Người đến
"để hoà giải các dân tộc, nối kết những anh em đã phân ly" (xem "Bài đọc
Phúc âm theo thánh Gioan”, tập I, trang 342).</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
<span style="font-size: 14.0pt">+ Sự việc diễn ra bên bờ giếng Giacob. Trong
tất cả các nền văn minh Sêmít, giữa một thiên nhiên khắc nghiệt do hạn hán
và sa mạc nóng cháy, giếng là chỗ duy nhất cung cấp nước, đã trở thành nơi
có tính chất biểu tượng: nơi của sự sống, nơi để gặp gỡ, đối với những ai
thông thạo Kinh Thánh, thì giếng nước còn là khung cảnh cho nhiều cuộc Giao
ước, và là cái gợi nhớ lại ơn Thiên Chúa đã ban cho Dân Người trong thời
xuất hành qua sa mạc.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px"><b>
<span style="font-size: 14.0pt">2. Tiến trình nhận ra Đức Kitô.</span></b></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
<span style="font-size: 14.0pt">Qua bài tường thuật Phúc âm, thánh sử Gioan
muốn đưa chúng ta vào hành trình nhặn biết Đức Kitô.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
<span style="font-size: 14.0pt">+ Những xê dịch đi lại trong không gian là
hình ảnh biểu trưng cho những chuyến trở về nội tâm.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
<span style="font-size: 14.0pt">+ Những thay đổi trong danh xưng Đức Giêsu
đánh dấu từng bước của sự nhận biết: lúc đầu chỉ là "người Do Thái", rồi
được tuyên bố là "lớn hơn tổ phụ Giacob là người đã cho chúng tôi giếng này,
sau đó được gọi là "vị Tiên tri" trước khi xưng mình là "Đấng Messia" và
được những người Samaria nhận là "Đấng cứu độ trần gian".</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
<span style="font-size: 14.0pt">+ Những ngộ nhận giữa đôi bên đối thoại chỉ
cho chúng ta thấy những chặng đường phải vượt qua: Từ nước giếng đến nước
Hằng Sống.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
<span style="font-size: 14.0pt">Từ nơi chân thờ phụng đến việc tôn thờ Thiên
Chúa trong tình thần và chân lý.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
<span style="font-size: 14.0pt">Từ của ăn nuôi thân xác đến lương thực là
thi hành ý Cha.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
<span style="font-size: 14.0pt">Từ chuyện mùa màng đến sứ mạng trên cánh
đồng truyền giáo. Từ nước giếng đến Nước Hằng sống:</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px"><b><i>
<span style="font-size: 14.0pt">"Có một người phụ nữ Samaria đến lấy nước”.</span></i></b><span style="font-size: 14.0pt">
Chị cho tôi xin chút nước uống, Đức Giêsu xin với người phụ nữ ấy, như ngày
xưa dân Israel cũng đã xin cho có nước uống trong sa mạc (Bài đọc I). Người
phụ nữ bỡ ngỡ trước lời đề nghi khó hiểu của người đàn ông Do Thái qua đường
này, bởi trải qua nhiều thế ky đã có quá nhiều hiểu lầm và thù ghét giữa
người Do Thái và người Samari. Chị không ngại chấp nhận cuộc trao đổi: "Ông
là người Do Thái mà lại xin tôi, một phụ nữ Samari, cho ông nước uống sao?”.
Vô tình chị đang từng bước đi vào một cuộc mặc khải nhiệm mầu chưa từng có.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px"><b><i>
<span style="font-size: 14.0pt">Đức Giêsu "xin người phụ nữ nước uống".</span></i></b><span style="font-size: 14.0pt">
Vẫn theo X. Dufour, "Người ta có cảm tưởng là điều mà Người thực sự đang
khát chính là cái khát, là nỗi ước ao của người phụ nữ làm sao có được thứ
Nước Hằng Sống mà chỉ một mình Người có thể ban cho" (Sđd trang 354). Và quả
thực, sau đó Đức Giêsu đã trả lời: "Nếu chị nhận ra ân huệ Thiên Chúa ban và
ai là người nói với chị: cho tôi chút nước uống, thì hẳn chị đã xin, và
người ấy ban cho chị Nước Hằng Sống? Là kẻ "không có thùng để múc nước", giờ
đây Người lại xưng mình sẽ ban Nước Hằng Sống, thứ nước sẽ làm thoả mọi cơn
khát, thứ nước "sẽ trở thành nơi người uống ‘một mạch nước vọt lên, đem lại
sự sống đời đời’.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
<span style="font-size: 14.0pt">Câu chuyện chuyển dần theo nhận định của
Alain Marchadour - từ cái giếng nước vật chất sang người đàn ông, một người
Do Thái đã mệt lả và đói khát. Con người ấy, ngay trong tình thế thiếu thốn
của mình, lại tự giới thiệu như một Đấng có quyền ban phát. Mà ân ban ở đây
lại không có liên can gì tới thứ nước trong giếng cả, vòi từ nơi con người
ấy, nó trở thành một nguồn suối mới ngàn trùng vượt xa cái giếng nước ban
đầu Đức Giêsu đã đưa vào trong cuộc đối thoại một chiều kích mầu nhiệm từ
chuyện một cái giếng nước vật chất mà Người ghé vào để xin nước uống, người
đã huớng đến chính bản thân Người, là ân ban của Thiên Chúa, Đấng có quyền
năng ban cho loài người Nước Hằng Sống" ("Phúc âm thánh Gioan”, Centurion,
1992, trang 76-77).</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px"><b><i>
<span style="font-size: 14.0pt">Từ nơi chốn thờ phượng đến việc tôn thờ
Thiên Chúa trong tinh thần và chân lý:</span></i></b></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
<span style="font-size: 14.0pt">Đức Giêsu lúc này đặt người phụ nữ trở về
đối diện trước chuyện đời tư của mình: một cuộc sống thiếu chung thuỷ chẳng
khác gì biểu tượng về sự bất trung tôn giáo nơi những người dân Samari. Chúa
nói với người phụ nừ: "Chị hãy gọi chồng chị rồi trở lại đây”. "Tôi không có
chồng, chị ta đáp. Chúa không nhượng bộ: "Chị nói tôi không có chồng là
phải, vì chị đã năm đời chồng rồi (con số có thể khiến liên tưởng tới năm vị
thần mà người Samari thờ), và hiện người đang sống với chị không phải là
chồng chị. Chị đã nói đúng. "Thưa ông tôi thấy ông thật là một ngôn sứ,
người phụ nữ nói tiếp, thêm một bước khám phá về chân tính của người khách
lạ. Sau đó chị lái câu chuyện sang một vấn đề đã từng là nguyên cớ gây chia
rẽ giữa người Do Thái và người Samari: nơi phải thờ phượng Thiên Chúa. "Trên
núi này (núi Garizim)?” hay "ở Giêrusalem?”. Đức Giêsu báo cho chị ta hay
rằng từ nay, với Người, một thời cũ đã qua, một thời mới bắt đầu: không còn
chỗ cho thứ thờ phượng gắn liền với một ngọn núi; đã hết thời cho những cái
đã là đền thờ này hay đền thờ kia (D. Mollat). Kể từ bây giờ sự hiện diện
của Thiên Chúa không còn lệ thuộc vào một nơi chốn hay một đền đài nào nữa,
nhưng vào một con người: Đức Giêsu Kitô. Người loan báo: "Những người thờ
phượng đích thực sẽ thờ phượng Chúa Cha trong thần khí và sự thật". Họ sẽ
thờ phượng Chúa Cha trong Người, Đức Giêsu, Đấng là đền thờ mới (Ga
2,19-22), và nhờ Chúa Thánh Thần, Đấng được ban cho họ để trở nên con cái
Thiên Chúa trong Người Con.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px"><b><i>
<span style="font-size: 14.0pt">Và khi người phụ nữ đề cập tới việc “Đấng
Messia mà người ta gọi là Kitô sẽ đến, Đức Giêsu trả lời: "Đấng ấy chính là
tôi, người đang nói với chị đây”.</span></i></b></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
<span style="font-size: 14.0pt">Để vò nước lại, bởi nó chẳng còn dùng vào
việc gì nữa, người phụ nữ chạy đi chia sẻ với bà con của mình niềm vui của
cuộc gặp gỡ: người phụ nữ từng thèm khát được uống, được tồn tại, nay đã tìm
ra được con người đã làm vọt lên trong chị một nguồn sống mới: "Ông ấy không
phải là Đấng Kitô sao?”</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px"><b>
<span style="font-size: 14.0pt">3. Dẫn tới việc tuyên xưng đức tin:</span></b></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
<span style="font-size: 14.0pt">Đang lúc đó thì các môn đệ trở về, mang theo
đồ ăn thức uống. Người phụ nữ đã đi khỏi, các ông mời Chúa: “Rabbi, xin mời
Thầy dùng bữa". Lại một ngộ nhận nữa liền xảy ra về chuyện "lương thực".
Điều Đức Glêsu hằng tìm kiếm, cái là lương thực là sự sống của người chính
là “thi hành ý muốn của Đấng đã sai Thầy, và họàn tất công trình của Người”.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
<span style="font-size: 14.0pt">Rồi từ đề tài lương thực và sứ mạng dẫn tới
đề tài “mùa gặt”. Thêm một ngộ nhận mới: các môn đệ chỉ nhìn thấy cánh đồng
còn phải chờ bốn tháng nữa mới tới mùa gặt, còn Đức Giêsu lại mời gọi các
ông "hãy ngước mắt lên mà xem" thấy những người Samari đang lại gần kia, họ
chính là những hoa trái đầu tiên của mùa gặt truyền giáo. Bài tường thuật
đạt tới đỉnh cao với lời tuyên xưng đức tin của những người Samari: chính
chúng tôi đã nghe và biết rằng người thật là Đấng cứu độ trần gian. Lời
tuyên xưng không trực tiếp nói với Đức Giêsu, nhưng với người phụ nữ. X.
Dufour nhận xét: Ngay những kẻ đã được nghe Tin Mừng người phụ nữ loan báo,
nay lại loan báo cho chị ta biết Đức Giêsu kia thực sự là ai: đúng là một
trao đổi lạ lùng!, và kết luận: Qua phong cách và lời nói của người đàn ông
Do Thái tên Giêsu đã đến ở giữa họ này, những người Samari đã được mở ra tới
một chân trời mới vượt xa ranh giới mảnh đất của họ. Họ đã nhận ra con người
này không chỉ là Đấng Messia cho một dân tộc mà họ mong đợi, nhưng là Đấng
Cứu độ trần gian. (Sđđ, trang 39S và 395).</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
<span style="font-size: 14.0pt">Đức Giêsu đã sẵn lòng ở lại với họ hai ngày,
điều này làm sáng tỏ rằng đối với Người, không còn đâu là "miền đất được ưu
tiên", không còn đâu là "miến đất bị ghét bỏ" nữa, nhưng tất cả mọi người
không phân biệt đều được mời gọi đến với ơn cứu độ.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px"><b>
<span style="font-size: 14.0pt">BÀI ĐỌC THÊM:</span></b></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px"><b>
<span style="font-size: 14.0pt">1. “Theo kiểu của họ, các anh chị tân tòng
nói với chúng ta về tính chất muôn đời mới mẻ của Đức tin”.</span></b></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
<span style="font-size: 14.0pt">"Người phụ nữ Samari". Đối với nhiều người
đó là tên một cửa tiệm lớn ở Paris mà người ta đôi lúc còn nhắc đến thời còn
bán đồ cũ. Nếu từ này còn có thể khiến ai đó chú ý đến chương IV của Phúc âm
thánh Gioan này, thì chúng ta tin chắc rằng phải có một cái gì đó đặc biệt
có sức thu hút, “nói là thu hút", nhưng trong câu chuyện Phúc âm không hề có
vấn đề thu hút gì cả. Đúng hơn đây là một sự tiếp cận. Một sự khám phá và là
một lời mời gọi không thể chối từ. Người phụ nữ Samari ở đây đúng là mẫu
mực, là điển hình của người tân tòng đang dấn thân tìm gặp Đức Giêsu.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
<span style="font-size: 14.0pt">Chị ta lại chịu hai mặt bất lợi: là phụ nữ
và là thành phần của một sắc dân bị người Do Thái miệt thị (bằng chứng về sự
xuất hiện và có mặt của những cộng đoàn Kitô hữu tại Samari ngay vào thời
Tin Mừng IV đang được biên soạn). Nhưng đó không thành vấn đề, Đức Giêsu vẫn
tìm cách lôi kéo người phụ nữ này, nhưng một sức hấp dẫn vô hình. Cách tiếp
cận thật lạ lùng: người khách lạ đã mỏi mệt dừng chân bên bờ giếng xin người
phụ nữ chút nước uống. Đấng có quyền năng ban phát mọi sự, nay lại làm kẻ
ngửa tay xin. Thiên Chúa luôn rộng ban ơn của Người cho tất cả những ai biết
sẵn sàng cho đi chút của cải mình có. Người tân tòng sẽ tìm thấy không phải
là một vị Thiên Chúa thích huỷ diệt để rồi lại ban phước, nhưng một Thiên
Chúa nghèo, dường như phải cần đến loài người. Thế rồi câu chuyện bỗng đổi
chiều, giờ đây cái nhìn của Đức Giêsu soi thấu vào ngõ ngách đời tư của
người phụ nữ. Cái nhìn của loài người chỉ dừng lại ở bề ngoài, nhưng Thiên
Chúa nhìn sâu vào cõi lòng. Người tân tòng phải chăng là kẻ mà Đức Giêsu đã
trở nên thiết thân hơn chính bản thân họ?</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
<span style="font-size: 14.0pt">Đến đây, người phụ nữ ngỡ ngàng nhận ra vị
ngôn sứ Chị biết rằng giòng Nước Hằng Sống kia có thể rửa sạch mọi bất trung
tội tình của chị. Kẻ sắp lãnh nhận phép Thánh Tẩy cũng thế, họ khát khao
giòng nước rồi đây sẽ cho phép họ thầm thì kêu tên Thiên Chúa là Cha. Chưa
hết, người phụ nữ còn bỏ lại tất cả, cả cái vò nước, cả những người tình, cả
cuộc đời chị, để loan báo cho mọi người về cuộc gặp gỡ có tính chất quyết
định cho chị. Chúng ta có khả năng để lắng nghe tiếng của những anh chị em
tân tòng nói với chúng ta, theo cách của họ, sau khi đã giã từ cuộc đời dĩ
vãng, về cái mới mẻ muôn thuở của Đức Tin?".</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px"><b>
<span style="font-size: 14.0pt">2. “Người phụ nữ bỏ quên vò nước bên bờ
giếng”</span></b></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
<span style="font-size: 14.0pt">"Bên bờ giếng, có một khánh bộ hành mỏi mệt
dừng chân, chân lý đã vọt lên từ những lời ông ta nói. Cũng bên bờ giếng đó,
người phụ nữ nọ đã để lại cái vò nước của mình, bởi từ nay nó những giúp gì
cho chị đón nhận hồng ân Thiên chúa ban. Cái vò nước bỏ quên đó sẽ mãi mãi
nói với chúng ta về một người phụ nữ mà số phận từng bị giam hãm trong đủ
thứ công việc hằng ngày, trong những quan hệ không tới đâu với một loạt đời
chồng, nay bỗng tìm thấy ý nghĩa cho đời mình qua cuộc gặp gỡ với Đức Giêsu,
qua những trao đổi với Người. Cũng thế đối với những người Samari kia, những
kẻ đã biết đón nhận người khách đường xa không hẹn mà đến này. Như thế,
chính qua những chuyện của đời thường như ăn, uống, cuộc sống chung, cố gắng
quay về với Thiên Chúa... mà con người nghe tiếng nói của Thánh Thần. Nhưng
ở đây và lúc này, lại đến như một ân ban qua những bất trắc khôn lường của
lời nói, qua thái độ chân thành của các bên đối thoại qua những khoảnh khắc
thinh lặng để cho chân lý nói.</span></td></tr><tr><td width="474"><p style="text-align: center"> <a target="_top" href="http://tinmung.net"><img border="0" src="../../../../../logo/LOGOtinmung.gif" width="67" height="40"></a> <a style="text-decoration: none; font-family: Arial; font-size: 10pt" target="_top" href="http://www.tinmung.net/SUYNIEM_HANGTUAN/SuyniemINDEX.htm"><img border="0" src="../../../2011/MuaThuongNien/VuaVuTru/LOGOtinmung2.gif" width="68" height="42"></a> </td></tr></table><p style="text-align: center"> </p>