File "08.htm"
Full path: E:/sites/Single15/tinmung2007/webroot/SUYNIEM_HANGTUAN/CN XX TN A/08.htm
File size: 25.11 KiB (25709 bytes)
MIME-type:
Charset: utf-8
<html><head><meta http-equiv="Content-Language" content="en-us"><meta http-equiv="Content-Type" content="text/html; charset=utf-8"><title>
Chúa Nhật XIX thường niên - Năm A</title><base target="main">
<meta name="keywords" content="Chúa Nhật XIX thường niên - Năm A; Con thuyền Giáo hội; Biển đời; Đức tin sóng gió; Xin cứu tôi; gió yên lặng; Chúa đi trên biển."><style>
<!--
.CONTENTS{FONT-SIZE: 11pt;COLOR:Navy;}
span.MsoHyperlink
{color:blue;
text-decoration:underline;
text-underline:single;
text-decoration:none underline;
text-line-through:none;
vertical-align:baseline}
span.apple-converted-space
{}
-->
</style>
<meta name="description" content="Chúa Nhật XIX thường niên - Năm A"><!--mstheme--><link rel="stylesheet" type="text/css" href="../../_themes/suyniem3/suyn1011-109.css"><meta name="Microsoft Theme" content="suyniem3 1011">
</head><body><table border="0" width="500" cellspacing="12" style="border-color: #FFFFFF; font-family:Times New Roman; font-size:14pt; text-decoration:none" bgcolor="#FFFFFF"><tr><td width="460"><font size="2" color="#FF0000" face="Arial">Chúa Nhật XIX thường niên - Năm A</font></td></tr><tr><td width="474" style="font-family: Arial; font-size: 12pt; text-decoration: none; font-weight: bold; text-align: center">
NGƯỜI PHỤ NỮ CANAAN</td></tr><tr><td width="474" style="font-family: Arial; font-size: 8pt; text-decoration: none; font-style:italic; text-align:right">
<a name="_Toc300661604">
<span style="font-size: 8pt; font-style:italic">Chú giải của Lm Vũ Phan Long</span></a></td></tr><tr><td width="474" style="font-family: Times New Roman; font-size: 14pt; text-decoration: none; text-align:justify">
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px"><b>
<span style="font-size: 14.0pt">1.- Ngữ cảnh</span></b></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
<span style="font-size: 14.0pt">Trong các bản văn trước, ta thấy, sau
khi Đức Giêsu bị dân Nadarét loại trừ và Gioan Tẩy Giả bị chém đầu, Đức
Giêsu đã hoàn toàn tập trung vào việc giáo huấn các môn đệ; Người có
chữa bệnh, nhưng không còn ngỏ lời với đám đông nữa. Tuy nhiên, các
tranh luận với người Pharisêu vẫn còn, ngày càng gay gắt hơn. Đức Giêsu
trách họ là đã thêm quá nhiều quy tắc vào Luật Môsê khiến cho Luật này
trong thực tế không còn giá trị nữa; cùng lắm chỉ một số chuyên viên rất
rành các truyền thống tiền nhân mới giữ được mà thôi. Đức Giêsu phản ứng
bằng cách đưa Luật Môsê trở lại với sự đơn giản ban đầu, để toàn dân có
thể tuân giữ.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
<span style="font-size: 14.0pt">Trong bản văn đi trước sát đoạn văn của
chúng ta, Đức Giêsu còn đi xa hơn. Trong một dịp tranh luận với người
Pharisêu về món ăn trong sạch và không trong sạch, dường như Người gợi ý
là người ta có thể ăn mọi thức mà chính Luật Môsê cấm! Thế mà điều này
đã từng là một trong những lý do gây chia rẽ Do Thái và Dân ngoại. Vậy
Đức Giêsu dường như đang quay về với một thái độ mềm dẻo hơn đối với Dân
ngoại. Chính trong khung cảnh này mà ta đọc được truyện "Người phụ nữ
Canaan". Tác giả Mt trình bày cho thấy Đức Giêsu đã làm một phép lạ theo
lời thỉnh cầu của một phụ nữ ngoại giáo. Đứng trước sự cứng lòng tin của
dân Người và sự chống đối ngày càng gia tăng của giới lãnh đạo tôn giáo,
phải chăng Đức Giêsu đã quyết định bỏ mạc Israel mà quay sang hẳn với
người ngoại?</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px"><b>
<span style="font-size: 14.0pt">2.- Bố cục</span></b></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
<span style="font-size: 14.0pt">Bản văn được bố trí thành những đoạn đối
thoại với Đức Giêsu, như những bậc đi lên tới một cao điểm:</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
<span style="font-size: 14.0pt">* Mở: Hoàn cảnh (15,21);</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
<span style="font-size: 14.0pt">1) Đoạn một: Đức Giêsu và người phụ nữ:
Đức Giêsu làm ngơ = từ chối (15,22-23a);</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
<span style="font-size: 14.0pt">2) Đoạn hai: Đức Giêsu và các môn đệ:
Đức Giêsu trả lời = từ chối (15,23b-24);</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
<span style="font-size: 14.0pt">3) Đoạn ba: Đức Giêsu và người phụ nữ:
Đức Giêsu trả lời = từ chối (15,25-26);</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
<span style="font-size: 14.0pt">4) Đoạn bốn: Đức Giêsu và người phụ nữ:
Đức Giêsu khen ngợi = đồng ý (15,27-28).</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px"><b>
<span style="font-size: 14.0pt">3.- Vài điểm chú giải</span></b></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px"><b><i>
<span style="font-size: 14.0pt">- Đức Giêsu lui về miền Tia và Xiđôn</span></i></b><span style="font-size: 14.0pt">
(21): Ghi chú về nơi chốn này có tính cách thần học. Tác giả Mt cho thấy
Đức Giêsu tiếp xúc với Dân ngoại cư ngụ trong vùng này. Cụm từ "Tia và
Xiđôn" thường được dùng để gọi vùng Dân ngoại cư ngụ ở về phía biên giới
tây bắc Paléttina; nơi này cũng còn được gọi là Phênikia. Dân Phênikia
tự gọi mình là "dân Canaan", và Cựu Ước cũng như Tân Ước đã lấy lại tên
gọi đó.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px"><b><i>
<span style="font-size: 14.0pt">- ở vùng ấy đi ra</span></i></b><span style="font-size: 14.0pt">
(22): Giải thích như BJ (1998) rằng "ân huệ cuối cùng được Đức Giêsu ban
cho người phụ nữ ngoại giáo này rất có thể sẽ là trong đất Israel", hay
như Bd CGKPV (2004): "Mátthêu hình như muốn ngụ ý rằng, sở dĩ người đàn
bà ngoại giáo biết tuyên xưng Chúa Giêsu là Con vua Đavít là vì bà đã đi
ra khỏi miền dân ngoại và chỉ trong đất Ít-ra-en bà mới được Chúa thi
ân" dường như có phần ép nghĩa. Nhưng c. 21 lại cho hiểu rằng chính Đức
Giêsu mới đi ra khỏi đất Israel để đi vào vùng Dân ngoại. Trong thực tế,
các biên giới địa lý, chính trị và dân tộc giữa Galilê, Xyri và Phêniki
cũng chẳng rõ ràng gì. Đàng khác động từ "đi ra" (exelthousa) và giới từ
apo cũng rất có thể chỉ liên hệ đến xuất xứ ngoại giáo của bà ấy mà
thôi. Vì thế, giáo sư Guillemette đề nghị dịch là "... thì này có một
người đàn bà Canaan của vùng ấy...". Dịch như thế, thì hài hòa với câu
trước (c. 21). TOB (1994) dịch là "này đây một người đàn bà Canaan đến
từ đó...".</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px"><b><i>
<span style="font-size: 14.0pt">- Con vua Đavít</span></i></b><span style="font-size: 14.0pt">
(23): Vì danh tiếng Đức Giêsu đã lan tới các vùng này, người ta biết các
tên của Người. Do đó, không chắc là khi gọi Người như thế, người phụ nữ
đã tin Người là Đấng Mêsia. Rất có thể bà gọi Người như thế là chỉ bắt
chước người Do Thái. Tuy nhiên, lời kêu của bà cũng vẫn là một lời trách
gửi đến cho dân Do Thái vì họ đã không biết nhận ra Đức Giêsu là Đấng
Mêsia.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px"><b><i>
<span style="font-size: 14.0pt">- Thầy chỉ được sai đến với những con
chiên lạc của nhà Ít-ra-en mà thôi</span></i></b><span style="font-size: 14.0pt">
(24): "Chỉ được sai đến" là một thái bị động thay tên Thiên Chúa (=
Thiên Chúa chỉ sai Thầy đến với...). Đức Giêsu nhắc lại một bài sai rất
phù hợp với các sấm ngôn nói rằng sẽ đến một ngày Yhwh đuổi các mục tử
giả hiệu ra khỏi Israel và trao nhiệm vụ chăn dắt cho Đấng Mêsia (x. Ed
34,23). Nay Người loan báo rằng giờ đó đã đến. Người có vai trò tái lập
Israel thành một đoàn chiên duy nhất, trung thành với Yhwh. Khi dân
Israel đã được quy tụ lại rồi, khi họ đã lại đi theo vị mục tử chân thật
của Thiên Chúa rồi, chỉ khi ấy các dân trên thế giới mới có thể được quy
tụ lại quanh Thiên Chúa chân thật. Nhưng giai đoạn hai này của chương
trình cứu độ không trực tiếp liên hệ đến sứ mạng của Người là Mêsia. Về
chú giải, "những con chiên lạc nhà Israel" (ta probata... oikou Israêl)
cũng có thể là một thuộc-cách giải nghĩa (epexegetical genitive), và có
nghĩa là "những con chiên lạc là nhà Israel".</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px"><b><i>
<span style="font-size: 14.0pt">- Chó con </span></i></b>
<span style="font-size: 14.0pt">(26): Từ Hy Lạp kynarion ("chó con") là
dạng giảm nhẹ của từ kyôn ("chó"). Người Do Thái thường gọi Dân ngoại là
"chó" (Híp-ri keleb). Phải chăng Đức Giêsu dùng từ ở dạng giảm nhẹ để
giảm bớt tính khinh bỉ trong từ "chó"? Không chắc, bởi vì: 1) Trong Hy
Lạp koinê (bình dân), không chắc là dạng giảm nhẹ ấy có giá trị là một
sự giảm thiểu; 2) Ngôn ngữ A-ram không có dạng từ tương ứng với "chó
con". Do đó, hẳn là Đức Giêsu đã dùng từ A-ram truyền thống là kalơbâ'
(chó) để gọi Dân ngoại.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px"><b>
<span style="font-size: 14.0pt">4.- Ý nghĩa của bản văn</span></b></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
<span style="font-size: 14.0pt">Phải chăng Đức Giêsu đã quyết định bỏ
mạc Israel mà quay sang hẳn với người ngoại? Bản văn Mt đọc hôm nay trả
lời với chúng ta rằng đấy không phải là ý định của Đức Giêsu. Quả thế,
Đức Giêsu đã chỉ chấp nhận làm phép lạ sau khi đã từ chối lâu dài, y như
thể Người đã chấp nhận cực chẳng đã. Chúng ta tìm hiểu bản văn.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
<span style="font-size: 14.0pt">Người phụ nữ đã thưa với Đức Giêsu: "Lạy
Ngài là Con vua Đavít, xin rủ lòng thương tôi" (c. 22). Khi nói" Xin rủ
lòng thương tôi", bà đã dùng ngôn ngữ Kinh Thánh lấy từ các Thánh vịnh
(Tv 6,3; 9,14; 26,7; 30,10; 40,56; 85,.3; 122,3; v.v.). Đây là ngôn ngữ
quen thuộc với Hội Thánh. "Ngài/Chúa, kyrie", là danh hiệu các môn đệ và
những người cầu xin thường dùng để thưa với Đức Giêsu. Khi gọi Người là
"Con vua Đavít", cho dù đức tin của bà chưa rõ ràng, bà cho thấy bà đang
quay về với Đấng Mêsia của Israel, Đấng đã chữa lành nhiều người đau ốm
trong dân. Như vậy, bà biết rằng Đức Giêsu được gửi đến với con cái
Israel; độc giả thấy được đức tin của bà ở chỗ là, dù biết như thế, bà
vẫn kêu cầu Người.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
<span style="font-size: 14.0pt">Các môn đệ tìm cách đuổi bà ấy đi. Các
ông đóng một vài trò tiêu cực, giống như ở 14,15; 19,13. Các ông giải
thích xấu tiếng kêu la của người phụ nữ; các ông không nghe ra được nỗi
cùng quẫn của bà, mà chỉ thấy là bà đang đi theo nhóm và làm phiền bằng
tiếng kêu la. Lời đáp của Đức Giêsu nằm trong ngữ cảnh này: "Thầy chỉ
được sai đến với những con chiên lạc của nhà Ít-ra-en mà thôi" (c. 24);
Người tuyên bố như vậy trước mặt các môn đệ và trong hoàn cảnh dân Do
Thái khép lòng lại trong thái độ cứng tin. Điều này, chính Người đã một
lần nói lên khi sai phái Nhóm Mười Hai (x. 10,6). Như thế Người hỗ trợ
cho việc dứt khoát từ chối người phụ nữ và còn cho thấy điều này thuộc
về lịch sử cứu độ. Nếu vậy, sau này khi Đức Giêsu truyền dạy các môn đệ
đi đến với muôn dân (28,18-20), điều này có nghĩa là có một sự thay đổi
căn bản trong chương trình của Thiên Chúa. "Các con chiên lạc của nhà
Israel" không phải chỉ là "các con chiên đen" tại Israel, nhưng có thể
hiểu là toàn thể dân Thiên Chúa mà Đức Giêsu được gửi tới. Câu trả lời
của Đức Giêsu cho thấy Người không dành cho người phụ nữ một chút quan
tâm nào nữa. Thế nhưng bà vẫn quay về Đức Giêsu và bái lạy Người (x.
8,2; 9,18). Một lần nữa, bà gọi Người là "Ngài/Chúa, kyrie", và một lần
nữa, bày nài xin Người với những lời lấy từ các Thánh vịnh (Tv 43,27;
69,6; 78,9; 108,28). Một lần nữa, Đức Giêsu từ chối bằng lời lẽ rất
mạnh: "Không nên lấy bánh dành cho con cái mà ném cho lũ chó con" (c.
26). Người muốn nói rằng Tin Mừng chỉ được nhắm phân phát cho "con cái",
tức là dân tộc Do Thái, những người thừa kế lời Thiên Chúa hứa. Không
chắc người phụ nữ hiểu được ý này, khi bà trả lời: "Thưa Ngài, đúng thế,
nhưng mà lũ chó con cũng được ăn những mảnh vụn trên bàn chủ rơi xuống"
(c. 27). Có lẽ phải nói rằng bà tự gọi mình là "chó" không phải là một
sự khiêm nhường, nhưng là để bẻ lại Đức Giêsu: Trong gia đình, nhưng con
chó cũng được hưởng những mảnh vụn từ bàn chủ rơi xuống. Dù bị từ chối
nhiều lần, người phụ nữ vẫn không nản chí, bà vẫn tiếp tục cầu xin. Thế
là Đức Giêsu chấp nhận lời bà thỉnh cầu.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
<span style="font-size: 14.0pt">Đức Giêsu mô tả sự tin tưởng vô điều
kiện của người phụ nữ, được diễn tả bằng những lời xin được lặp lại liên
tục, là "lòng/đức tin" (x. 8,10.13; 9,22.29). Đức tin có nghĩa là người
ta không có bất cứ điều gì ngoại trừ sự tin tưởng đặt nơi Đức Giêsu. Câu
truyện kết thúc giống như truyện viên sĩ quan ở Caphácnaum. Lời thỉnh
cầu không ngơi nghỉ của bà đã được chấp nhận. Con gái bà được khỏi (c.
28).</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
<span style="font-size: 14.0pt">Việc Đức Giêsu chấp nhận lời thỉnh cầu
của bà trở thành một lời gián tiếp kết án sự công chính và sự an toàn mà
dân Do Thái nghĩ là họ đang có, dựa trên truyền thống và tư cách thừa kế
lời Thiên Chúa hứa cho tổ phụ Abraham: họ không còn biết đón nhận ơn
Thiên Chúa tuyển chọn trong đức tin nữa. Còn bà Canaan, bà đã đạt được
điều bà muốn có, là bởi vì bà ở trước nhan Thiên Chúa trong tư thế chờ
đợi khiêm tốn như những người được nói đến trong các Mối Phúc. Bà đã tỏ
ra như là một người hành khất dưới chân Đức Giêsu, cứ không ngừng cầu
xin, cứ hy vọng ngược lại mọi hy vọng, giống như Abraham, như bà góa
trong dụ ngôn Lc (Lc 18,1-8), như những người biết dùng sức mạnh mà vào
Nước Trời (Mt 11,12). Lời bà cầu xin chính là hình thái cụ thể và sống
động của niềm tin bà. Đức Giêsu thấy "lòng tin của bà mạnh thật" (c.
28), bởi vì lòng tin của bà là trọn vẹn, nó cho thấy một con tim không
chia sẻ đang chờ đợi được no lòng thỏa dạ từ sự hào phóng của Thiên
Chúa, từ ý muốn của Chủ. Đồng thời, chính đức tin này càng cho thấy là
sự mù quáng và định kiến của dân Do Thái đối với Đức Giêsu thật thê
thảm, vì họ đã từ khước nhìn nhận Người là Đấng Mêsia, trong khi "con
chó" ngoại giáo này đã biết nhận ra Người là "Con vua Đavít" (c. 22). Sự
tin tưởng vô điều kiện đặt nơi Đức Chúa và Con vua Đavít cũng hàm chứa
kinh nghiệm cụ thể về sự chữa lành.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px"><b><i>
<span style="font-size: 14.0pt">+ Kết luận</span></i></b></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px">
<span style="font-size: 14.0pt">Truyện người phụ nữ Canaan hàm chứa hai
khẳng định bề ngoài mâu thuẫn nhau: sự tuyển chọn Israel làm dân riêng
của Thiên Chúa và Thiên Chúa hoàn toàn tự do trong việc thực hiện chương
trình cứu độ. Ta vẫn có thể đọc truyện bà Canaan để ghi nhận sứ điệp cứu
độ và hy vọng, nhưng cũng phải luôn đề phòng xu hướng duy tín hoặc cuồng
tín. Nếu bà ấy cuối cùng đã được Đức Giêsu lắng nghe, tác giả vẫn không
có ý nói rằng bất cứ ai có đức tin y như đức tin của bà thì luôn luôn
đạt được thành công như thế. Các mầu nhiệm của Thiên Chúa không phải bao
giờ cũng trở nên minh bạch khi con người thỉnh cầu Ngài.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px"><b>
<span style="font-size: 14.0pt">5.- Gợi ý suy niệm</span></b></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px"><b>
<span style="font-size: 14.0pt">1.</span></b><span style="font-size: 14.0pt">
Bản văn hôm nay cho hiểu rằng tư cách của chúng ta là người đã được rửa
tội không phải là một quyền để chúng ta có thể phê phán hoặc khinh bỉ
người khác. Tư cách này thật ra là một ơn Thiên Chúa ban cho chúng ta.
Riêng Ngài, Thiên Chúa không hề bị ràng buộc vào bất cứ cấu trúc tôn
giáo nào hay bất cứ tư cách nào của con người cả. Ngài vẫn đang thấy có
"lòng tin mạnh thật" nơi những người mà chúng ta coi thường. Ngài vẫn có
thể làm dấy lên một dân mới cho Ngài.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px"><b>
<span style="font-size: 14.0pt">2.</span></b><span style="font-size: 14.0pt">
Bà Canaan này đã vượt qua được mọi trở ngại, bằng sự kiên trì, bằng khả
năng thuyết phục riêng của phái nữ: nhẹ nhàng, bình thản, nhưng cương
quyết. Bà đã vượt qua được các trở ngại bằng trí thông minh đầy khiêm
tốn, chứ không phải bằng sự ngạo mạn khiêu khích, hoặc bằng thái độ quỵ
lụy, hạ mình, cầu cạnh. Để làm được như thế, trước tiên bà phải rất
thương yêu đứa con của bà. Bà thương yêu đứa con nhỏ yếu đuối, không có
thể tự làm gì để cứu mình. Bà trở thành đại diện cho nó; bà cũng trở
thành đại diện cho những người không thể tự mình diễn tả ra vấn đề của
họ. Bà là phát ngôn viên của những người cô thế cô thân, những người yếu
đuối. Bà hiểu vụ việc của bà, bà xác tín bà có lý, bà chắc chắn là bà có
quyền xin được cứu giúp. Không phải bà chỉ muốn bày tỏ nguyện vọng của
mình, còn đáp ứng thế nào thì tùy Đức Giêsu; bà đã có cách xin khiến Đức
Giêsu không thể từ chối được.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px"><b>
<span style="font-size: 14.0pt">3.</span></b><span style="font-size: 14.0pt">
Không biết là bà có linh cảm được rằng Đức Giêsu thế nào cũng chấp nhận
lời bà thỉnh cầu chăng. Không biết là bà có đã nghe biết nhiều về Đức
Giêsu chưa. Không biết là bà có hiểu biết phần nào nhân cách của Người
chăng. Nhưng cách bà xin cho thấy là bà biết là bà có thể cậy dựa vào
Đức Giêsu. Dù sao người phụ nữ cũng có linh cảm sắc bén hơn về con
người, có cảm thức rất chính xác về từng con người họ gặp gỡ. Chắc chắn
bà này đã được hỗ trợ bằng sự linh cảm rất nữ tính này. Khi biết rằng bà
xin không phải cho bà, khi biết rằng con người mà bà đến gặp để thỉnh
cầu là con người có lòng nhân ái, thì bà chẳng có gì để sợ mất. Bà đã
xin, xin mãi. Ta có thể nhớ đến dụ ngôn Đức Giêsu kể về bà góa nhất định
xin ông quan toà bất nhân cứu xét cho vụ việc của mình ở chương 18 của
Tin Mừng Luca. Dường như sự kiên trì là một đức tính chủ yếu của phái
nữ.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px"><b>
<span style="font-size: 14.0pt">4.</span></b><span style="font-size: 14.0pt">
Dường như tôi dễ buông xuôi trước một khó khăn dù bé nhỏ. Dường như tôi
không có xác tín mãnh liệt về ơn gọi của tôi để sống cho đến mức độ cuối
cùng. Dường như tôi không có cảm thức rằng số phận của người khác liên
hệ đến cách tôi sống ơn gọi của tôi. Quả thật, tôi lùi bước tức khắc khi
vừa bị từ chối. Có mấy khi tôi kiên trì cầu xin Chúa cho một người đã
cậy nhờ tôi cầu nguyện cho đâu. Dường như tôi chẳng dám lên tiếng cho
những người cô thế cô thân, vì tôi sợ liên lụy đến tôi, tôi sợ mất quyền
lợi, mất chỗ đứng, mất sự tín nhiệm... Có khi chỉ nguyên nghĩ rằng tôi
chẳng đạt được kết quả gì đâu, là tôi đã cảm thấy tê liệt, chân tôi
không sao nhúc nhích được nữa rồi. Người phụ nữ Canaan này, một người
ngoại, cho tôi thấy rằng kiên trì là một nhân đức, bởi vì nó lay chuyển
được lòng của Thiên Chúa! Bà ý thức rằng bày tỏ nguyện vọng tốt lành,
nhất là để trợ giúp kẻ khác, thì không phải là chuyện xấu để phải cả nể,
để phải giữ kẽ, để phải nổi tự ái lên.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-indent: 36px"><b>
<span style="font-size: 14.0pt">5.</span></b><span style="font-size: 14.0pt">
Hội Thánh sống giữa Dân ngoại có nhiệm vụ công bố sứ điệp của Đức Giêsu
cho họ: Đức Giêsu không giam hãm Thiên Chúa bên trong biên cương của
Israel, nhưng đã để chính mình được đánh động bởi lòng tin của người phụ
nữ ngoại giáo. Đối với cộng đoàn đã tách khỏi Israel, giai thoại này cho
thấy các tín hữu có thể tìm được một cuộc sống mới và một vùng dấn thân
mới giữa các Dân ngoại.</span></td></tr><tr><td width="474"><p style="text-align: center"> <a target="_top" href="http://tinmung.net"><img border="0" src="../../../../../logo/LOGOtinmung.gif" width="67" height="40"></a> <a style="text-decoration: none; font-family: Arial; font-size: 10pt" target="_top" href="http://www.tinmung.net/SUYNIEM_HANGTUAN/SuyniemINDEX.htm"><img border="0" src="../../../2011/MuaThuongNien/VuaVuTru/LOGOtinmung2.gif" width="68" height="42"></a> </td></tr></table><p style="text-align: center"> </p>