File "_hinh thuc tu tri trong giao hoi.htm"

Full path: E:/sites/Single15/tinmung2007/webroot/NGHITHUC/Phung-Vu-Giai-Dap/_hinh thuc tu tri trong giao hoi.htm
File size: 94.53 KiB (96799 bytes)
MIME-type:
Charset: utf-8

Download   Open   Back

<html>

<head>
<meta http-equiv="Content-Type" content="text/html; charset=utf-8">
<title>Giải đáp Phụng vụ</title>
<meta name="Microsoft Border" content="none, default">
</head>

<body>

<table border="0" width="555" style="text-decoration: none; font-family: Arial; font-size: 10pt">
	<tr>
		<td>&nbsp;</td>
	</tr>
	<tr>
		<td>&nbsp;</td>
	</tr>
	<tr>
		<td>
		<table border="0" style="border-spacing: 0px; border-collapse: collapse; font-size: 12px; color: rgb(0, 0, 0); font-family: arial, sans-serif; font-style: normal; font-variant: normal; font-weight: normal; letter-spacing: normal; line-height: normal; orphans: auto; text-align: left; text-indent: 0px; text-transform: none; white-space: normal; widows: 1; word-spacing: 0px; -webkit-text-stroke-width: 0px; width: 1030px; border: medium none; margin: 0px; padding: 0px; background-color: rgb(250, 250, 250)">
			<tbody style="margin: 0px; padding: 0px">
				<tr style="vertical-align: top; margin: 0px; padding: 0px">
					<td style="vertical-align: top; margin: 0px; padding: 0px">
					<div class="nwsdetail" style="overflow: auto; margin: 0px; padding-left: 5px; padding-right: 10px; padding-top: 0px; padding-bottom: 0px">
						<div style="margin: 0px; padding: 0px">
							<span class="tlt" style="color: rgb(0, 66, 118); display: block; font-size: 20px; font-weight: normal; font-family: arial, sans-serif; margin-left: 0px; margin-right: 0px; margin-top: 0px; margin-bottom: 10px; padding: 0px">
							Sự xuất hiện các hình thức tu trì trong Giáo hội</span><span class="time" style="color: silver; font-size: 11px; display: block; margin-left: 0px; margin-right: 0px; margin-top: 3px; margin-bottom: 7px; padding: 0px">12/20/2014 
							7:19:46 PM</span><span class="desc" style="color: black; font-size: 11px; font-weight: bold; display: block; margin-left: 0px; margin-right: 0px; margin-top: 3px; margin-bottom: 7px; padding: 0px">Có 
							thể chia lịch sử đời tu thành 5 giai đoạn. Mỗi giai 
							đoạn được ghi dấu bởi một hình ảnh/hình thức tu trì 
							tiêu biểu.</span><span class="detail" style="font-size: 12px; color: black; display: block; margin-left: 0px; margin-right: 0px; margin-top: 3px; margin-bottom: 7px; padding: 0px"><span class="grame" style="margin: 0px; padding: 0px"><span style="font-size: 10pt; font-family: Arial; margin: 0px; padding: 0px"><p align="justify" style="margin: 0px; padding: 0px">&nbsp;</p>
							<table cellspacing="0" cellpadding="0" width="1" align="left" border="0" style="border-spacing: 0px; border-collapse: collapse; font-size: 12px; border: medium none; margin: 0px; padding: 0px">
								<tbody style="margin: 0px; padding: 0px">
									<tr style="margin: 0px; padding: 0px">
										<td style="margin: 0px; padding: 0px">
										<p align="justify" style="margin: 0px; padding: 0px">
										<font color="#000080" size="1" face="Verdana" style="margin: 0px; padding: 0px">
										<img border="0" alt="Franciscan.jpg" src="http://conggiao.info/pic/news/2014/Dec/20/Franciscan.jpg" width="350" height="362" style="border: medium none; margin: 0px; padding: 0px">&nbsp;&nbsp;<br style="margin: 0px; padding: 0px">
&nbsp;</font></td>
										<td style="margin: 0px; padding: 0px">&nbsp;</td>
									</tr>
							</table>
							<p style="margin: 0px; padding: 0px">&nbsp;</p>
							<p class="MsoNormal" align="justify" style="text-align: justify; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; margin-bottom: 0pt; padding: 0px">
							1. Giai<span class="Apple-converted-space">&nbsp;</span>đoạn 
							từ 300- 500: Ẩn tu- đan tu</p>
							<p class="MsoNormal" align="justify" style="text-align: justify; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; margin-bottom: 0pt; padding: 0px">
							2. Giai đoạn từ 500- 1200: Phát triển Đan tu</p>
							<p class="MsoNormal" align="justify" style="text-align: justify; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; margin-bottom: 0pt; padding: 0px">
							3. Giai đoạn từ 1200- 1500: Hành khất</p>
							<p class="MsoNormal" align="justify" style="text-align: justify; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; margin-bottom: 0pt; padding: 0px">
							4. Giai đoạn 1500- 1800: Hoạt động tông đồ</p>
							<p class="MsoNormal" align="justify" style="text-align: justify; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; margin-bottom: 0pt; padding: 0px">
							5. Giai đoạn 1800- 2000: Giảng dạy/truyền giáo</p>
							<p class="MsoNormal" align="justify" style="text-align: justify; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; margin-bottom: 0pt; padding: 0px">
							&nbsp;Giai đoạn 2000-… :<span class="Apple-converted-space">&nbsp;</span>…</p>
							<p class="MsoNormal" align="justify" style="text-align: justify; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; margin-bottom: 0pt; padding: 0px">
							&nbsp;</p>
							<p class="MsoNormal" align="justify" style="text-align: justify; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; margin-bottom: 0pt; padding: 0px">
							<b style="margin: 0px; padding: 0px">
							<span style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: blue; margin: 0px; padding: 0px">
							1.Giai<span class="Apple-converted-space">&nbsp;</span>đoạn 
							từ 300- 500: Ẩn tu /Các tổ phụ của nếp sống ẩn tu</span></b></p>
							<p class="MsoNormal" align="justify" style="text-align: justify; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; margin-bottom: 0pt; padding: 0px">
							&nbsp;</p>
							<p class="MsoNormal" align="justify" style="text-align: justify; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; margin-bottom: 0pt; padding: 0px">
							Đời tu đã có từ thời Cựu ước: Tiên tri Giêrêmia sống 
							đời độc thân.<span class="Apple-converted-space">&nbsp;</span>Các 
							ngôn sứ Elia<span class="MsoFootnoteReference" style="margin: 0px; padding: 0px"><span style="font-family: Arial; color: blue; margin: 0px; padding: 0px">[1]</span></span><span class="Apple-converted-space">&nbsp;</span>và 
							Eliseô cũng sống đời sống cộng đoàn với một số đệ tử 
							của họ, cùng chia sẻ với họ nếp sống khổ hạnh và sứ 
							vụ.</p>
							<p class="MsoNormal" align="justify" style="text-align: justify; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; margin-bottom: 0pt; padding: 0px">
							&nbsp;</p>
							<p class="MsoNormal" align="justify" style="text-align: justify; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; margin-bottom: 0pt; padding: 0px">
							Sở dĩ đời sống tu trì chưa xuất hiện ngay từ đầu, vì 
							vào những thế kỷ đầu, không có sự phân biệt về nếp 
							sống giữa người Kitô hữu và tu sĩ, chưa có hàng rào 
							phân cách giữa giáo sĩ và giáo dân.<span class="Apple-converted-space">&nbsp;</span>Danh 
							từ giáo sĩ (kleros) chỉ được sử dụng từ năm 200, còn 
							danh từ giáo dân (laicus) mới bắt đầu được sử dụng 
							từ năm 220.<span class="Apple-converted-space">&nbsp;</span>Sau 
							đó, danh từ tư tế (linh mục), bắt đầu được sử dụng 
							trong các cộng đoàn nhỏ.<span class="Apple-converted-space">&nbsp;</span>Mọi 
							Kitô hữu đều được mời gọi sống thánh thiện, đều được 
							kêu mời vào làm vườn nho của Chúa tùytheo<span class="Apple-converted-space">&nbsp;</span>nhu 
							cầu, các đặc sủng và ơn gọi của họ.</p>
							<p class="MsoNormal" align="justify" style="text-align: justify; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; margin-bottom: 0pt; padding: 0px">
							&nbsp;</p>
							<p class="MsoNormal" align="justify" style="text-align: justify; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; margin-bottom: 0pt; padding: 0px">
							Lúc đó, ảnh hưởng của Phúc âm và của thánh Phaolô 
							còn rất mạnh nơi người tín hữu.<span class="Apple-converted-space">&nbsp;</span>Những 
							cộng đoàn tiên khởi nghĩ rằng Chúa sắp đến rồi, nên<span class="Apple-converted-space">&nbsp;</span>theo<span class="Apple-converted-space">&nbsp;</span>lời 
							khuyên của thánh Phaolô, ai có vợ hãy sống như không 
							có vợ: “Thưa anh em, tôi xin nói với anh em điều 
							này: thời gian chẳng còn bao lâu. Vậy từ nay những 
							người có vợ hãy sống như không có;ai khóc lóc, hãy 
							làm như không khóc; ai vui mừng, như chẳng mừng vui; 
							ai mua sắm, hãy làm như không có gì cả; kẻ hưởng 
							dùng của cải đời này, hãy làm như chẳng hưởng.<span class="Apple-converted-space">&nbsp;</span>Vì 
							bộ mặt thế gian này đang biến đi.”<span class="Apple-converted-space">&nbsp;</span>(1Cr 
							7, 29-31).<span class="Apple-converted-space">&nbsp;</span>Họ 
							bán hết của cải và giao nộp cho các tông đồ.<span class="Apple-converted-space">&nbsp;</span>Họ 
							bắt chước cách sống của Chúa Kitô và cố gắng đem ra 
							thực hành những lời dạy của Ngài.<span class="Apple-converted-space">&nbsp;</span>Giai 
							đoạn này Giáo hội đang bị bách hại, nên hình thức 
							đặc biệt của việc bắt chước này là sự tử đạo, chết 
							vì đức tin: đó là cách bổ túc vào sự khổ nạn của 
							Chúa.<span class="Apple-converted-space">&nbsp;</span>Đức 
							Kitô tiếp tục chịu đau khổ và chịu chết nơi người tử 
							đạo.</p>
							<p class="MsoNormal" align="justify" style="text-align: justify; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; margin-bottom: 0pt; padding: 0px">
							&nbsp;</p>
							<p class="MsoNormal" align="justify" style="text-align: justify; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; margin-bottom: 0pt; padding: 0px">
							Nhưng ngay từ đầu đã có một số người sống độc thân.<span class="Apple-converted-space">&nbsp;</span>Đó 
							là các trinh nữ (x. 1Cr 7) và những người nam sống 
							khổ hạnh.Họ sống xả kỷ, từ bỏ, chấp nhận mọi hy sinh 
							gian khổ, dành thời giờ vào việc cầu nguyện hay làm 
							việc bác ái, tuy họ vẫn sống tại gia đình, giữa lòng 
							xã hội.<span class="Apple-converted-space">&nbsp;</span>Họ 
							đi từ cộng đoàn này sang cộng đoàn khác để rao giảng 
							Tin mừng, thăm viếng bệnh nhân, tham gia vào đời 
							sống Giáo hội, củng cố đức tin anh chị em trong lúc 
							Giáo hội đang bị bách hại. &nbsp;Nhưng họ không có gì 
							khác biệt với các tín hữu.<span class="Apple-converted-space">&nbsp;</span>Đôi 
							khi có những trinh nữ sống<span class="Apple-converted-space">&nbsp;</span>chung<span class="Apple-converted-space">&nbsp;</span>với 
							những người nam độc thân như anh chị em. Thánh Luca 
							cũng nói đến 4 người con gái của phó tế Philipphê.<span class="Apple-converted-space">&nbsp;</span>Họ 
							ở đồng trinh và được ơn nói tiên tri (Cv 21, 8).<span class="Apple-converted-space">&nbsp;</span>Họ 
							sống độc thân tự nguyện như đoạn Tin mừng Mt 19, 
							10-12.<span class="Apple-converted-space">&nbsp;</span>Họ 
							đang mong chờ ngày Chúa Kitô trở lại, nên họ không 
							có ý định xây dựng một nếp sống tu<span class="Apple-converted-space">&nbsp;</span>theo<span class="Apple-converted-space">&nbsp;</span>định 
							chế kéo dài mãi.</p>
							<p class="MsoNormal" align="justify" style="text-align: justify; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; margin-bottom: 0pt; padding: 0px">
							&nbsp;</p>
							<p class="MsoNormal" align="justify" style="text-align: justify; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; margin-bottom: 0pt; padding: 0px">
							Nhưng từ thế kỷ IV, tình thế đã thay đổi: Giáo hội 
							không còn bị ngược đãi nữa.<span class="Apple-converted-space">&nbsp;</span>Giáo 
							hội được hợp thức hóa sau 300 năm bị bách hại qua 
							sắc chỉ<span class="Apple-converted-space">&nbsp;</span><u1:place u2:st="on" style="margin: 0px; padding: 0px;"><u1:city u2:st="on" style="margin: 0px; padding: 0px;"><st1:city w:st="on" style="margin: 0px; padding: 0px;"><st1:place w:st="on" style="margin: 0px; padding: 0px;">Milan</st1:place></st1:city></u1:city></u1:place><span class="Apple-converted-space">&nbsp;</span>năm 
							313, thời hoàng đế Constantinô.<span class="Apple-converted-space">&nbsp;</span>Khi 
							đó, Giáo hội Kitô giáo trở thành một xã hội lý 
							tưởng. Tới thời hoàng đế Thêôđôsiô I, năm 395, Kitô 
							giáo trở thành quốc giáo. Hàng giáo sĩ, nhất là các 
							Giám mục, trở thành như các quan chức trong các tổ 
							chức chính quyền, nắm giữ cả hai quyền lực thần 
							quyền và thế quyền, đã đưa đến tình trạng hàng giáo 
							sĩ đi vào thoái hóa. Giáo hội lệ thuộc quốc gia và 
							đôi khi còn hy sinh các lợi ích thiêng liêng cho các 
							mục tiêu cai trị. Từ những suy thoái chạy theo quyền 
							lực và sống thế tục, trong Giáo hội xẩy ra nhiều tệ 
							trạng, đời sống đạo sa sút, sống xa rời Tin mừng. 
							Tinh thần do các vị tử đạo nung nấu bắt đầu phai 
							lạt. Nhiều người xem Giáo hội như đang trải qua một 
							cuộc bách hại mới, cuộc bách hại không đổ máu, nhưng 
							gây tai hại khủng khiếp. Bởi đó, họ tìm vào sống 
							trong rừng vắng hay trong sa mạc để tiếp tục bắt 
							chước Đức Kitô, trở về với Tin mừng, trở về với nếp 
							sống của cộng đoàn Kitô hữu tiên khởi. Họ sống đời 
							ẩn tu đơn độc, khổ hạnh, cầu nguyện, chuyên chăm đọc 
							Sách Thánh, thực hành các nhân đức và lao động cực 
							nhọc thay thế cho việc tử đạo trước đó. Do đó, một 
							hình thức tu trì mới xuất hiện. Đây mới thực sự là 
							khởi điểm của đời sống tu trì, mở ra một con đường 
							hoàn thiện khác với con đường do các vị tử đạo khai 
							phá. Các vị ẩn tu một mình này có ảnh hưởng lớn trên 
							Giáo hội và nhiều vị trở thành giám mục và các nhà 
							lãnh đạo thánh thiện.</p>
							<p class="MsoNormal" align="justify" style="text-align: justify; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; margin-bottom: 0pt; padding: 0px">
							&nbsp;</p>
							<p class="MsoNormal" align="justify" style="text-align: justify; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; margin-bottom: 0pt; padding: 0px">
							Họ hiểu và thực hành các bản văn Kinh thánh về việc 
							bước theo Chúa theo nghĩa đen. Chẳng hạn, thánh 
							Antôn, khi vào nhà thờ nghe đoạn Tin mừng: “Nếu con 
							muốn nên trọn lành, hãy về bán hết…” (Mt 19, 21; Mt 
							6, 34), đã cảm nhận được tiếng Chúa gọi ngài. Đối 
							với ngài, việc theo Chúa là bắt chước các môn đệ 
							trong việc từ bỏ nhà cửa, gia đình.</p>
							<p class="MsoNormal" align="justify" style="text-align: justify; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; margin-bottom: 0pt; padding: 0px">
							&nbsp;</p>
							<p class="MsoNormal" align="justify" style="text-align: justify; text-indent: 0.5in; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; margin-bottom: 0pt; padding: 0px">
							<b style="margin: 0px; padding: 0px">
							<span style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: blue; margin: 0px; padding: 0px">
							a. Tại phương đông</span></b></p>
							<p class="MsoNormal" align="justify" style="text-align: justify; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; margin-bottom: 0pt; padding: 0px">
							&nbsp;</p>
							<p class="MsoNormal" align="justify" style="text-align: justify; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; margin-bottom: 0pt; padding: 0px">
							Nếp sống ẩn tu đơn độc này khai sinh tại Ai Cập. 
							Thánh<span class="Apple-converted-space">&nbsp;</span><b style="margin: 0px; padding: 0px">Phaolô 
							Thèbes<span class="Apple-converted-space">&nbsp;</span></b>(236 
							- 347)<b style="margin: 0px; padding: 0px"><span class="Apple-converted-space">&nbsp;</span></b>và 
							thánh<b style="margin: 0px; padding: 0px"><span class="Apple-converted-space">&nbsp;</span>Antôn<span class="Apple-converted-space">&nbsp;</span></b>(250- 
							356)<b style="margin: 0px; padding: 0px"><span class="Apple-converted-space">&nbsp;</span></b>được 
							coi như là những nhân vật tiêu biểu<b style="margin: 0px; padding: 0px">,<span class="Apple-converted-space">&nbsp;</span></b>tổ 
							phụ của nếp sống ẩn tu. Thánh Phaolô thành Thèbes 
							sống xa cách mọi người. Ngài không viết lách, không 
							rao giảng, không thu nhận đệ tử. Nhưng ngài tỏa sáng 
							bằng chính đời sống gương mẫu, thánh thiện. Thánh 
							Antôn mồ côi cha mẹ năm 18 tuổi và ngài phải chăm 
							sóc đứa em gái. Nhưng khi nghe được tiếng Chúa gọi, 
							ngài đã bán hết tài sản, bố thí cho kẻ nghèo, đem em 
							gái đến ký thác cho một nhóm trinh nữ rồi bước theo 
							Chúa. Lúc đầu ngài đến một nơi hoang vắng gần nhà và 
							thường tới trò chuyện với một cụ già có kinh nghiệm 
							về cuộc sống. Sau thời gian chuẩn bị này, ngài đi 
							sâu hơn vào hoang địa để chiến đấu với ma qủy. Trước 
							tiên, ngài đến sống gần một ngôi mộ trong khoảng 13 
							năm. Ngài bị ma qủi quấy phá, nhưng chúng đã không 
							làm gì được ngài. Năm 286, lúc 35 tuổi, ngài sống 
							đơn độc trong một pháo đài bị bỏ hoang trong suốt 
							gần 20 năm trời. Năm 306, 55 tuổi, ngài mới bắt đầu 
							thu nhận đệ tử. Ngài sống ẩn mình trong sa mạc. 
							Nhưng từ năm 338, ngài xuất đầu lộ diện để chống lại 
							bè rối Ariô và qua đời năm 356.</p>
							<p class="MsoNormal" align="justify" style="text-align: justify; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; margin-bottom: 0pt; padding: 0px">
							&nbsp;</p>
							<p class="MsoNormal" align="justify" style="text-align: justify; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; margin-bottom: 0pt; padding: 0px">
							Các ẩn sĩ đã can đảm mở ra một hình thức tu trì độc 
							đáo của Kitô giáo. Sự nhiệt tâm và thánh thiện của 
							họ đã thu hút nhiều người bước theo.</p>
							<p class="MsoNormal" align="justify" style="text-align: justify; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; margin-bottom: 0pt; padding: 0px">
							&nbsp;</p>
							<p class="MsoNormal" align="justify" style="text-align: justify; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; margin-bottom: 0pt; padding: 0px">
							Nói chung, họ được gọi là các ẩn sĩ/đan sĩ, sống một 
							mình với Chúa, sống cho một mình Chúa dưới sự hướng 
							dẫn của một nhà dìu dắt thiêng liêng. Họ vào sa mạc, 
							nơi được coi là miền đất của ma qủi, để chống lại 
							chúng, kẻ thù của con người trên đường tiến về quê 
							trời (vào hang cọp để bắt cọp, vào tận sào huyệt của 
							chúng để diệt chúng) và nhất là để bắt chước Chúa 
							Giêsu, Đấng đã vào sa mạc để chịu cám dỗ. Ngày Chúa 
							nhật họ cũng tìm đến nhà thờ nào đó tham dự thánh 
							lễ, và có dịp trao đổi hàng hóa để sinh sống.</p>
							<p class="MsoNormal" align="justify" style="text-align: justify; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; margin-bottom: 0pt; padding: 0px">
							&nbsp;</p>
							<p class="MsoNormal" align="justify" style="text-align: justify; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; margin-bottom: 0pt; padding: 0px">
							Dần dần, các đan sĩ từ bỏ nếp sống đơn độc để qui tụ 
							thành từng nhóm. Tuy nhiên, vẫn còn những người 
							thích nếp sống ẩn tu một mình. Bởi đó, hai lối sống 
							cộng đoàn và ẩn tu vẫn phát triển song song. Cũng có 
							người sau khi đã tu luyện ở cộng đoàn, lại rút lui 
							vào sống ẩn tu.</p>
							<p class="MsoNormal" align="justify" style="text-align: justify; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; margin-bottom: 0pt; padding: 0px">
							&nbsp;</p>
							<p class="MsoNormal" align="justify" style="text-align: justify; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; margin-bottom: 0pt; padding: 0px">
							Bộ Giáo luật ngày nay vẫn còn công nhận hai hình 
							thức tu: trinh nữ (can 604) và ẩn sĩ (can 603).<br style="margin: 0px; padding: 0px">
							<br style="margin: 0px; padding: 0px">
&nbsp;</p>
							<p class="MsoNormal" align="justify" style="text-align: justify; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; margin-bottom: 0pt; padding: 0px">
							Có thể nói thánh<b style="margin: 0px; padding: 0px"><span class="Apple-converted-space">&nbsp;</span>Pacômiô</b><span class="Apple-converted-space">&nbsp;</span>(292- 
							346) là người đầu tiên khai sinh ra đời sống tu 
							trong cộng đoàn (koinonia), tại Tabenne, miền thượng 
							Ai Cập, năm 325. Thánh Pacômiô và các môn đệ sau này 
							đều đến từ ngoại giáo. Chính đời sống bác ái của 
							những người Kitô hữu đã cảm hóa ngài và ngài quyết 
							định gia nhập Kitô giáo. Sau khi gia nhập Kitô giáo, 
							ngài đã dấn thân phục vụ những người chung quanh, 
							rồi vào sa mạc sống gần nhà khổ hạnh Palêmôn vài năm 
							và nhận ông này làm linh hướng. Sau đó, ngài lại trở 
							về sống phục vụ và khổ hạnh như một đan sĩ. Lối sống 
							của ngài đã thu hút được nhiều người đi theo và ngài 
							đã tụ họp họ lại thành cộng đoàn theo tinh thần cộng 
							đoàn tiên khởi tại Giêrusalem. Đời sống cộng đoàn 
							đòi hỏi phải có qui củ, giờ giấc. Ngài đã soạn ra bộ 
							luật cho cộng đoàn và đó là bản luật cổ nhất của đời 
							tu. Lối sống cộng đoàn này cũng không khác gì nếp 
							sống đan tu đơn độc. Họ cũng sống độc thân, ẩn dật, 
							khổ hạnh, cầu nguyện, suy gẫm Lời Chúa. Luật của 
							thánh Pacômiô lần đầu tiên đề ra chức viện phụ và 
							đức vâng lời. Vâng lời đòi hỏi phải từ bỏ ý riêng, 
							tùng phục công ích. Vâng lời mang tính huynh đệ và 
							vâng lời viện phụ là tôn trọng lề luật. Mặc dù bước 
							đầu gặp rất nhiều khó khăn, thánh Pacômiô cũng đã 
							lập được một cộng đoàn nam và một cộng đoàn nữ. Ngài 
							coi sóc cộng đoàn nam, còn em gái của ngài trông coi 
							cộng đoàn nữ. Ngài mất năm 346. Ngài được coi là tổ 
							phụ của đời sống tu trong cộng đoàn. Lối sống tu trì 
							cộng đoàn này phát triển mạnh mẽ với 9 cộng đoàn nam 
							và 2 cộng đoàn nữ.</p>
							<p class="MsoNormal" align="justify" style="text-align: justify; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; margin-bottom: 0pt; padding: 0px">
							&nbsp;</p>
							<p class="MsoNormal" align="justify" style="text-align: justify; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; margin-bottom: 0pt; padding: 0px">
							Từ Ai cập, đời sống đan tu mở rộng sang<span class="Apple-converted-space">&nbsp;</span><u1:place u2:st="on" style="margin: 0px; padding: 0px;"><u1:city u2:st="on" style="margin: 0px; padding: 0px;"><st1:place w:st="on" style="margin: 0px; padding: 0px;"><st1:city w:st="on" style="margin: 0px; padding: 0px;">Palestine</st1:city></st1:place></u1:city>,<span class="Apple-converted-space">&nbsp;</span><u1:country-region u2:st="on" style="margin: 0px; padding: 0px;"><st1:country-region w:st="on" style="margin: 0px; padding: 0px;">Syria</st1:country-region></u1:country-region></u1:place>, 
							Tiểu Á.</p>
							<p class="MsoNormal" align="justify" style="text-align: justify; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; margin-bottom: 0pt; padding: 0px">
							&nbsp;</p>
							<p class="MsoNormal" align="justify" style="text-align: justify; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; margin-bottom: 0pt; padding: 0px">
							Tại Palestine, Hilarion, sinh tại Gaza, sau khi tìm 
							gặp và sống với thánh Antôn gần 2 tháng, ông đã khám 
							phá ra lý tưởng đời đan tu. Trở về quê hương, ông 
							bán tất cả của cải và sống ẩn dật 45 năm. Hilarion 
							lại qua Ai Cập và mất tại đảo Chypre năm 371. Những 
							nơi ông đi qua đều thu hút được nhiều người bước 
							theo lối sống của ông. Nhiều vị ẩn tu, theo gương 
							Hilarion, tìm vào sa mạc Giuđa và dọc bờ biển Gaza, 
							tạo nên những trung tâm đan tu rất phồn thịnh. Ngoài 
							ra, đất thánh<u1:city u2:st="on" style="margin: 0px; padding: 0px;"><u1:place u2:st="on" style="margin: 0px; padding: 0px;"><st1:city w:st="on" style="margin: 0px; padding: 0px;"><st1:place w:st="on" style="margin: 0px; padding: 0px;">Palestine</st1:place></st1:city></u1:place></u1:city><span class="Apple-converted-space">&nbsp;</span>còn 
							là nơi thu hút các khách hành hương và nhiều người 
							đã lưu lại lập nên những đan viện gần những nơi có 
							di tích thánh. Trong số này, có một đan viện nữ, do 
							nữ đan sĩ Mélanie lập tại Giêrusalem năm 375. Cũng 
							tại Giêrusalem, có các cộng đoàn ẩn tu, do<span class="Apple-converted-space">&nbsp;</span><u1:place u2:st="on" style="margin: 0px; padding: 0px;"><st1:place w:st="on" style="margin: 0px; padding: 0px;">Chariton</st1:place></u1:place><span class="Apple-converted-space">&nbsp;</span>thành 
							lập. Mỗi đan sĩ sống đơn độc trong một hang và<span class="Apple-converted-space">&nbsp;</span><u1:place u2:st="on" style="margin: 0px; padding: 0px;"><st1:place w:st="on" style="margin: 0px; padding: 0px;">Chariton</st1:place></u1:place><span class="Apple-converted-space">&nbsp;</span>làm 
							linh hướng cho họ. Mỗi tuần, họ gặp nhau vào ngày 
							thứ bảy để kiểm điểm đời sống. Từ năm 350, lối sống 
							này đã biến thành những tu viện ẩn tu và chúng phát 
							triển rộng khắp từ Biển đỏ đến thành Ninivê. &nbsp;Năm 
							385, thánh Jêrôme đến sống tại Bêlem và ngài đã 
							thành lập 3 cộng đoàn ẩn tu nữ và 1 cộng đoàn ẩn tu 
							nam ở đó. Dần dần, Giêrusalem và Bêlem trở thành 2 
							trung tâm phát triển lối sống đan tu. Cách chung, 
							mỗi cộng đoàn thường sống dưới sự điều khiển của một 
							vị linh hướng (Abbas). Các đan sĩ cũng đã bắt đầu 
							tham gia vào các sinh hoạt của Giáo hội và xã hội.</p>
							<p class="MsoNormal" align="justify" style="text-align: justify; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; margin-bottom: 0pt; padding: 0px">
							&nbsp;</p>
							<p class="MsoNormal" align="justify" style="text-align: justify; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; margin-bottom: 0pt; padding: 0px">
							Tại<span class="Apple-converted-space">&nbsp;</span><u1:country-region u2:st="on" style="margin: 0px; padding: 0px;"><st1:country-region w:st="on" style="margin: 0px; padding: 0px;">Syria</st1:country-region></u1:country-region>, 
							không có những khuôn mặt nổi bật như tại Ai Cập và<span class="Apple-converted-space">&nbsp;</span><u1:city u2:st="on" style="margin: 0px; padding: 0px;"><u1:place u2:st="on" style="margin: 0px; padding: 0px;"><st1:place w:st="on" style="margin: 0px; padding: 0px;"><st1:city w:st="on" style="margin: 0px; padding: 0px;">Palestine</st1:city></st1:place></u1:place></u1:city>. 
							Trung tâm đan tu nổi tiếng của Syria nằm ở Chalcis, 
							cách Antiôkia khoảng 50 km. Nơi đây có đan sĩ 
							Malchos và là nơi thánh Jêrôme tập sống đời đan tu 3 
							năm, từ 375- 378. Các đan sĩ ở<span class="Apple-converted-space">&nbsp;</span><u1:country-region u2:st="on" style="margin: 0px; padding: 0px;"><u1:place u2:st="on" style="margin: 0px; padding: 0px;"><st1:country-region w:st="on" style="margin: 0px; padding: 0px;"><st1:place w:st="on" style="margin: 0px; padding: 0px;">Syria</st1:place></st1:country-region></u1:place></u1:country-region><span class="Apple-converted-space">&nbsp;</span>sống 
							rải rác, nay đây mai đó và cá thể. Cách sống này đã 
							tạo ra những hình thức tu khác thường và ly kỳ: Có 
							nhóm ẩn tu sống trên cột. Từ trên cột, họ cũng giảng 
							dạy, khuyên nhủ tín hữu,… Simon cột (389-459) là 
							người sáng lập và tiêu biểu của nhóm này. Ngài đã 
							sống trên một trụ cột bằng đá cao 5m, rồi 6m, 10m và 
							sau cùng là 18m trong suốt 30 năm, gần Antiôkia. 
							Ngài ao ước được cách xa dần trái đất và bay bổng về 
							trời. Hoặc có những người sống trên cành cây, trong 
							hốc cây, trong những cái am, nấm mồ, hoặc chỉ đứng 
							chứ không ngồi hay nằm, không ngủ (sống thành cộng 
							đoàn và luôn có người thức để cầu nguyện)</p>
							<p class="MsoNormal" align="justify" style="text-align: justify; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; margin-bottom: 0pt; padding: 0px">
							&nbsp;</p>
							<p class="MsoNormal" align="justify" style="text-align: justify; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; margin-bottom: 0pt; padding: 0px">
							Tại Tiểu Á, một nhân vật nổi tiếng là thánh<b style="margin: 0px; padding: 0px"><span class="Apple-converted-space">&nbsp;</span>Basiliô</b><span class="Apple-converted-space">&nbsp;</span>(329- 
							379), tác giả của một bản luật mà ngày nay còn được 
							tuân giữ bên các Giáo hội Đông phương. Thánh Basiliô 
							sinh ra trong một gia đình có nhiều người nên thánh 
							như bà nội, bố, mẹ và em trai. Ngài đã sống ẩn dật 5 
							năm tại Annesi. Năm 25 tuổi, ngài du hành qua Syria, 
							Ai Cập, Palestine và Lưỡng Hà Địa để tìm hiểu lối 
							sống đan tu. Ngài bị lôi cuốn bởi nếp sống đan tu 
							của thánh Pacômiô. Trở về quê quán, ngài liền thành 
							lập một đan viện với những phương tiện riêng. Đan 
							viện này chỉ kéo dài được gần 8 năm, vì ngài được 
							chọn làm Giám mục năm 370. Ngài luôn luyến tiếc nếp 
							sống đan tu và nghĩ rằng mình chỉ có ơn gọi làm đan 
							sĩ. Ngài thường đi thăm các đan viện và ngài đã 
							thành lập một đan viện rất lớn bên cạnh Tòa Giám mục 
							của ngài. Bên cạnh đan viện còn có một trường học và 
							một bệnh viện. Luật của thánh Basiliô nhen nhúm đức 
							ái. Có thể tóm tắt như sau: để yêu mến Chúa, phải xa 
							lánh thế gian; để yêu mến tha nhân, phải sống chung 
							với nhau. Bộ luật lấy nguồn từ Kinh thánh và bám rễ 
							sâu vào Giáo hội. Ngài dựa trên những câu Tin mừng 
							đầy tinh thần bác ái, nhưng khi áp dụng vào đời sống 
							cụ thể, lại chú trọng đến những lời cảnh cáo và 
							trừng phạt. Do vậy, luật của ngài mới chỉ nhen nhúm 
							tinh thần bác ái Tin mừng mà thôi. Thánh Basiliô áp 
							dụng tinh thần huynh đệ theo luật thánh Pacômiô, 
							nhưng thay đổi nếp sống bằng cách giảm bớt số người 
							trong cộng đoàn, giúp cho viện phụ dễ quan tâm đến 
							tất cả mọi người và đưa ra những luật lệ gắt gao 
							hơn. Vai trò của viện phụ và đức vâng phục được đề 
							cao hơn. Các đan sĩ có thể được lãnh tác vụ linh mục 
							để phục vụ cộng đoàn.</p>
							<p class="MsoNormal" align="justify" style="text-align: justify; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; margin-bottom: 0pt; padding: 0px">
							&nbsp;</p>
							<p class="MsoNormal" align="justify" style="text-align: justify; text-indent: 0.5in; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; margin-bottom: 0pt; padding: 0px">
							<b style="margin: 0px; padding: 0px">
							<span style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: blue; margin: 0px; padding: 0px">
							b. Tại phương tây</span></b></p>
							<p class="MsoNormal" align="justify" style="text-align: justify; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; margin-bottom: 0pt; padding: 0px">
							&nbsp;</p>
							<p class="MsoNormal" align="justify" style="text-align: justify; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; margin-bottom: 0pt; padding: 0px">
							Đời sống tu trì được truyền bá sang Âu châu nhờ 
							những người hành hương thánh địa, các thương gia, 
							đặc biệt nhờ công lao của Giám mục Athanasiô khi 
							ngài bị lưu vong tại thành Trèves mang về. Bên Tây 
							phương, hình thức ẩn tu không phát triển, chỉ có 
							hình thức cộng đồng. Lúc đầu, các cộng đoàn này 
							thường do các Giám mục thành lập và qui tụ quanh các 
							ngài như Giám mục Martinô ở Tours (317- 397), bên 
							Pháp. Đây là cộng đoàn đan tu đầu tiên bên tây 
							phương, sống theo luật của thánh Pacômiô. Hoặc như 
							cộng đoàn của Giám mục Eusebiô ở<span class="Apple-converted-space">&nbsp;</span><st1:city w:st="on" style="margin: 0px; padding: 0px;"><st1:place w:st="on" style="margin: 0px; padding: 0px;">Vercelli</st1:place></st1:city><span class="Apple-converted-space">&nbsp;</span>(+ 
							371), Ambrôsiô ở Milanô (+ 397), Italia; Augustinô 
							thành Hippône (354- 430). Ngoài ra, Honorat cũng 
							thành lập một cộng đoàn đan tu Lérins nổi tiếng khắp 
							vùng năm 410, và sau khi trở thành Giám mục, ngài 
							còn lập thêm một đan viện nữa. Một nhân vật nổi 
							tiếng khác cùng miền là Cassianô (360- 435) cũng đã 
							lập ra 2 đan viện: đan viện thánh Victor dành cho 
							nam và đan viện Đấng Cứu Chuộc dành cho nữ. Cassianô 
							ghi lại những kinh nghiệm ông đã thu lượm được từ 
							đông phương và cho phát hành bộ Instittions 
							cénobitiques (Hiến pháp đời sống cộng đoàn ẩn tu) 
							gồm 12 cuốn.</p>
							<p class="MsoNormal" align="justify" style="text-align: justify; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; margin-bottom: 0pt; padding: 0px">
							&nbsp;</p>
							<p class="MsoNormal" align="justify" style="text-align: justify; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; margin-bottom: 0pt; padding: 0px">
							Các cộng đoàn đan tu bên tây phương sống tại các 
							thành thị, và thường bao gồm cả các giáo sĩ. Cũng có 
							cả các cộng đoàn các trinh nữ nữa.</p>
							<p class="MsoNormal" align="justify" style="text-align: justify; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; margin-bottom: 0pt; padding: 0px">
							&nbsp;</p>
							<p class="MsoNormal" align="justify" style="text-align: justify; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; margin-bottom: 0pt; padding: 0px">
							Nổi bật nhất là bản luật của thánh Augustinô: &nbsp;bản 
							luật này có ảnh hưởng đối với các đan viện thời các 
							giáo phụ và thời trung cổ, được nhiều dòng áp dụng 
							như dòng Prémontrès, Tôi tớ Đức Mẹ, đặc biệt là các 
							dòng nam mang danh là dòng thánh Augustinô (Ordo S. 
							Augustini). Luật của thánh Augustinô là bản đầu tiên 
							được viết thành văn bên tây phương, được kể vào loại 
							cổ xưa nhất trong đời tu, sau bản luật của thánh 
							Pacômiô và Basiliô và trước luật của thánh Bênêdictô 
							cả một thế kỷ. Thánh Augustinô được coi là người đầu 
							tiên viết luật cho dòng nữ.</p>
							<p class="MsoNormal" align="justify" style="text-align: justify; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; margin-bottom: 0pt; padding: 0px">
							&nbsp;</p>
							<p class="MsoNormal" align="justify" style="text-align: justify; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; margin-bottom: 0pt; padding: 0px">
							Đối với phái nữ, đời sống tu trì phát triển một cách 
							chậm chạp. Ngay từ đầu đã có những trinh nữ, nhưng 
							khi hình thức ẩn tu hình thành thì chỉ có nam tu mới 
							dám lên rừng tu luyện. Khi hình thức tu cộng đồng 
							xuất hiện, cũng có những cộng đồng trinh nữ, nhưng ở 
							tại thành thị, vì lý do an ninh. Từ thế kỷ IV, đã có 
							những cộng đồng trinh nữ bên cạnh các tòa Giám mục.</p>
							<p class="MsoNormal" align="justify" style="text-align: justify; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; margin-bottom: 0pt; padding: 0px">
							&nbsp;</p>
							<p class="MsoNormal" align="justify" style="text-align: justify; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; margin-bottom: 0pt; padding: 0px">
							<b style="margin: 0px; padding: 0px">
							<span style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: blue; margin: 0px; padding: 0px">
							2. Giai đoạn từ 500- 1200: Phát triển Đan tu</span></b></p>
							<p class="MsoNormal" align="justify" style="text-align: justify; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; margin-bottom: 0pt; padding: 0px">
							&nbsp;</p>
							<p class="MsoNormal" align="justify" style="text-align: justify; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; margin-bottom: 0pt; padding: 0px">
							Đây là giai đoạn phát triển, cải tổ đời sống đan tu 
							bên tây phương.</p>
							<p class="MsoNormal" align="justify" style="text-align: justify; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; margin-bottom: 0pt; padding: 0px">
							&nbsp;</p>
							<p class="MsoNormal" align="justify" style="text-align: justify; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; margin-bottom: 0pt; padding: 0px">
							Đế quốc Rôma sụp đổ (450-800): Giáo hội chuyên chế 
							sụp đổ cùng với sự sụp đổ của Đế quốc Rôma. Từ đây 
							phát sinh phong trào Giáo hội trở về sống lối sống 
							khắc khổ (monasticism) của các đan sĩ với cao điểm 
							là thánh Bênêđictô thành Norcia. Lối sống này tác 
							động đến Giáo hội thật sâu rộng với chủ trương các 
							tín hữu sống “vừa cầu nguyện vừa lao động”, thích 
							nghi theo lối sống nông thôn và tập trung thành các 
							cộng đoàn cầu nguyện và tôn sùng Thánh Thể.</p>
							<p class="MsoNormal" align="justify" style="text-align: justify; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; margin-bottom: 0pt; padding: 0px">
							&nbsp;</p>
							<p class="MsoNormal" align="justify" style="text-align: justify; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; margin-bottom: 0pt; padding: 0px">
							Đức Giáo Hoàng Grêgôriô Cả thiết lập Thánh Thể như 
							một khuôn mẫu cho lối sống tu trì và lối sống của 
							các đan sĩ trở thành khuôn mẫu cho lối sống của hàng 
							giáo sĩ cũng như cho những ai nắm giữ chức sắc trong 
							Giáo hội.</p>
							<p class="MsoNormal" align="justify" style="text-align: justify; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; margin-bottom: 0pt; padding: 0px">
							&nbsp;</p>
							<p class="MsoNormal" align="justify" style="text-align: justify; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; margin-bottom: 0pt; padding: 0px">
							Khuôn mặt đan tu thay đổi toàn diện với thánh<span class="Apple-converted-space">&nbsp;</span><b style="margin: 0px; padding: 0px">Bênêdictô</b><span class="Apple-converted-space">&nbsp;</span>(480- 
							547). Ngài đã thành lập những cộng đoàn đan tu nổi 
							tiếng ở Subiacô và Monte Casinô (Italia). Sau khi 
							thành lập nhiều đan viện ở Subiacô, ngài bắt đầu 
							viết luật cho họ. Bản luật của thánh Benedictô thu 
							gom những tinh hoa của các bản luật trước: Pacomiô, 
							Basiliô, Cassianô, Augustinô. Nhưng trên tất cả là 
							chính kinh nghiệm sống đời đan tu của ngài. Thánh 
							Benedictô đề cao việc ngợi khen Chúa qua phụng vụ, 
							kế đó là lao động. Phương châm của người đan sĩ là 
							“cầu nguyện và lao động” (Ora et Labora). Viện phụ 
							được anh em bầu lên vĩnh viễn và ngài là đại diện 
							cho Chúa Kitô. Đan sĩ tuyên hứa vĩnh cư, hoán cải 
							(bao gồm việc từ bỏ tài sản, tính hư nết xấu) và 
							vâng phục (thế kỷ 13 mới có 3 lời khấn như ngày 
							nay). Lúc đầu, các đan viện hoàn toàn biệt lập, tự 
							trị. Mỗi tu viện hình thành đều được phát sinh ra từ 
							một tu viện mẹ. Vào thế kỷ VIII và IX, luật của 
							thánh Benedictô trở thành luật chung cho đời sống 
							đan tu bên Tây phương. Ngài được coi là tổ phụ của 
							đời đan tu bên Tây phương. Các đan viện trở thành 
							những trung tâm văn hóa với di tích các thánh, những 
							kho tàng phụng vụ, những thư viện và những thủ bản. 
							Lối sống đan tu trở thành hình thái độc nhất của nền 
							văn hóa cổ.</p>
							<p class="MsoNormal" align="justify" style="text-align: justify; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; margin-bottom: 0pt; padding: 0px">
							&nbsp;</p>
							<p class="MsoNormal" align="justify" style="text-align: justify; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; margin-bottom: 0pt; padding: 0px">
							Năm 800, hoàng đế Charlemagne của nước Pháp được 
							phong làm hoàng đế đầu tiên của đế quốc Rôma và là 
							người bảo vệ ngai giáo hoàng. Thế quyền và giáo 
							quyền lại liên kết với nhau thành một tổ chức được 
							coi là linh thánh. Hàng giáo sĩ vừa nắm thần quyền 
							và thế quyền nên đã phát sinh ra nhiều tệ nạn làm 
							cho Giáo hội trở thành Giáo hội của thế gian, không 
							còn là Giáo hội của Chúa nữa. Đứng trước những suy 
							thoái trầm trọng này, Đức Giáo Hoàng Grêgoriô VII đã 
							cố công cải cách hàng giáo sĩ. Trước tiên, ngài tấn 
							công vào việc buôn thần bán thánh, bán các đồ thờ 
							phượng trong Giáo hội, kiểm soát chuyện phòng the 
							giáo sĩ, chuyển tài sản cho con cái của giáo sĩ. Đức 
							Grêgoriô cũng bắt buộc các giáo sĩ phải sống độc 
							thân. Nhiều phong trào cải cách nổi lên, đòi hỏi 
							Giáo hội trở về với nếp sống giản dị của thời Giáo 
							hội nguyên thủy. Các dòng khổ tu cũng phát động công 
							cuộc canh tân Giáo hội.</p>
							<p class="MsoNormal" align="justify" style="text-align: justify; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; margin-bottom: 0pt; padding: 0px">
							&nbsp;</p>
							<p class="MsoNormal" align="justify" style="text-align: justify; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; margin-bottom: 0pt; padding: 0px">
							Đối với nội bộ các dòng tu, sau một thời gian sống 
							theo hình thức mới, có nhiều vấn đề nảy sinh, nhiều 
							vấn đề tiêu cực, nhiều khi đi quá trớn, hoặc đi 
							trệch đường cần được uốn nắn. Bởi đó, vấn đề cải 
							cách được đặt ra. Từ thế kỷ 10, chúng ta có các cuộc 
							cải tổ. Ở đây, chỉ nói sơ qua về sự cải tổ của<span class="Apple-converted-space">&nbsp;</span><st1:city w:st="on" style="margin: 0px; padding: 0px;"><st1:place w:st="on" style="margin: 0px; padding: 0px;"><b style="margin: 0px; padding: 0px">Cluny</b></st1:place></st1:city>, 
							từ thế kỷ X; và<span class="Apple-converted-space">&nbsp;</span><b style="margin: 0px; padding: 0px">Xitô</b>, 
							thế kỷ XI. Do sự cải tổ của dòng<st1:city w:st="on" style="margin: 0px; padding: 0px;"><st1:place w:st="on" style="margin: 0px; padding: 0px;">Cluny</st1:place></st1:city>, 
							một số đan viện liên kết với nhau chung quanh một 
							đan viện mẹ, quyền hành được tập trung vào trung 
							ương. Một đặc điểm nữa là tại<span class="Apple-converted-space">&nbsp;</span><st1:city w:st="on" style="margin: 0px; padding: 0px;"><st1:place w:st="on" style="margin: 0px; padding: 0px;">Cluny</st1:place></st1:city>, 
							vai trò của phụng vụ rất được đề cao. Đây là sự cố 
							gắng áp dụng triệt để luật của thánh Benedictô (kinh 
							sĩ: hát kinh thần vụ). Sang thế kỷ XI, cuộc cải cách 
							Xitô đi ngược lại: không tập trung quyền hành vào 
							nhà mẹ, tôn trọng sự tự trị của mỗi đan viện. Các 
							đan viện vẫn liên kết với nhau qua việc tuân giữ một 
							luật lệ chung, qua các tổng hội hàng năm và qua việc 
							kinh lý của các viện phụ trưởng. Một sự thay đổi nữa 
							là các đan sĩ dần dần chịu chức linh mục để đáp ứng 
							nhu cầu mục vụ. Các đan sĩ không sống trong rừng 
							vắng hay nơi cô quạnh, nhưng họ luôn biết “xuất thế” 
							để sống cho một mình Thiên Chúa. &nbsp;</p>
							<p class="MsoNormal" align="justify" style="text-align: justify; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; margin-bottom: 0pt; padding: 0px">
							&nbsp;</p>
							<p class="MsoNormal" align="justify" style="text-align: justify; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; margin-bottom: 0pt; padding: 0px">
							<b style="margin: 0px; padding: 0px">
							<span style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: blue; margin: 0px; padding: 0px">
							3. Giai đoạn từ 1200- 1500: Hành khất</span></b></p>
							<p class="MsoNormal" align="justify" style="text-align: justify; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; margin-bottom: 0pt; padding: 0px">
							&nbsp;</p>
							<p class="MsoNormal" align="justify" style="text-align: justify; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; margin-bottom: 0pt; padding: 0px">
							Trong hai giai đoạn trước, có hai hình thức chính là 
							ẩn tu đơn độc và đan tu cộng đoàn. Trong giai đoạn 
							này, đời sống đan tu cộng đoàn vẫn tiếp tục phát 
							triển, nhưng một hình thức mới xuất hiện: các dòng 
							hành khất.</p>
							<p class="MsoNormal" align="justify" style="text-align: justify; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; margin-bottom: 0pt; padding: 0px">
							&nbsp;</p>
							<p class="MsoNormal" align="justify" style="text-align: justify; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; margin-bottom: 0pt; padding: 0px">
							Trong giai đoạn này, văn minh Âu châu bước sang một 
							bước ngoặt mới: từ kinh tế nông nghiệp chuyển sang 
							kinh tế thương mại ở thành thị và nhiều đại học ra 
							đời. Bởi đó, các cộng đoàn tu giã từ nông thôn và 
							nơi hoang vắng để tiến về thành phố, tiến về nơi đô 
							hội, hầu<span class="Apple-converted-space">&nbsp;</span><b style="margin: 0px; padding: 0px">đáp 
							ứng những nhu cầu mới của xã hội và Giáo hội</b>. 
							Hơn nữa, đời tu cũng cần được cải tổ, vì các đan 
							viện lớn trở thành những dinh thự giàu có và đầy 
							quyền lực, các viện phụ cũng nắm quyền hành không 
							khác gì các lãnh chúa.</p>
							<p class="MsoNormal" align="justify" style="text-align: justify; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; margin-bottom: 0pt; padding: 0px">
							&nbsp;</p>
							<p class="MsoNormal" align="justify" style="text-align: justify; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; margin-bottom: 0pt; padding: 0px">
							Các phong trào canh tân Giáo hội trong giới tu sĩ 
							rầm rộ mọc lên, nhất là các dòng hành khất của thánh<span class="Apple-converted-space">&nbsp;</span><b style="margin: 0px; padding: 0px">Phanxicô 
							Assisi</b>(1181- 1226) và thánh<span class="Apple-converted-space">&nbsp;</span><b style="margin: 0px; padding: 0px">Đaminh</b><span class="Apple-converted-space">&nbsp;</span>(1170- 
							1220), với chủ trương: Hăng say đi loan báo Tin 
							Mừng, rao giảng bằng gương mẫu đời sống khó nghèo; 
							chăm lo về mục vụ hơn là cai trị trong Giáo hội; 
							phát động canh tân về thần học, nhờ đó đã tạo ra 
							được những nhà thần học sáng chói trong Giáo hội.</p>
							<p class="MsoNormal" align="justify" style="text-align: justify; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; margin-bottom: 0pt; padding: 0px">
							&nbsp;</p>
							<p class="MsoNormal" align="justify" style="text-align: justify; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; margin-bottom: 0pt; padding: 0px">
							Đối với các dòng hành khất, ý thức về sứ vụ loan báo 
							Tin mừng trở nên rõ rệt hơn. Việc bước theo Đức Kitô 
							không chỉ là tu thân tích đức, nhưng còn phải ra đi 
							loan báo Tin mừng như Chúa đã sai các môn đệ đi rao 
							giảng (Lc 10, 1- 15). Họ không còn khấn vĩnh cư nữa, 
							nhưng có thể được di chuyển tới bất cứ đâu, bất cứ 
							nơi nào. Tất cả đời sống của họ từ cầu nguyện, hy 
							sinh hãm mình, khó nghèo, vâng lời, đời sống cộng 
							đoàn… đều hướng về truyền giáo, nhằm chuẩn bị tâm 
							hồn để sẵn sàng được sai đi.</p>
							<p class="MsoNormal" align="justify" style="text-align: justify; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; margin-bottom: 0pt; padding: 0px">
							&nbsp;</p>
							<p class="MsoNormal" align="justify" style="text-align: justify; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; margin-bottom: 0pt; padding: 0px">
							Thánh Đaminh và thánh Phanxicô đã đi tiên phong, 
							khai mở một hình thức tu trì mới cho các dòng hành 
							khất thời Trung cổ. Họ sống khó nghèo tập thể, sống 
							nhờ vào sự khất thực hằng ngày chứ không dựa trên 
							của cải, tài sản. Đối tượng rao giảng Tin mừng của 
							họ là những tầng lớp xã hội mới ra đời: trí thức, 
							thương gia. Tuy vẫn giữ luật nghiêm ngặt như trước; 
							nhưng cách tổ chức, sinh hoạt của các dòng này cũng 
							được canh tân để thích nghi với sứ vụ mới. Bề trên, 
							do anh em bầu ra, được coi như anh trưởng, chứ không 
							như viện phụ như trước đây. Hầu hết các tu sĩ lãnh 
							tác vụ linh mục để đáp ứng với nhu cầu về mục vụ và 
							truyền giáo.</p>
							<p class="MsoNormal" align="justify" style="text-align: justify; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; margin-bottom: 0pt; padding: 0px">
							&nbsp;</p>
							<p class="MsoNormal" align="justify" style="text-align: justify; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; margin-bottom: 0pt; padding: 0px">
							Ngoài hai dòng Đa minh và Phanxicô, dòng Augustinô, 
							carmelô, Chúa Ba Ngôi, dòng Bệnh viện thánh Gioan 
							Thiên Chúa, dòng Tôi tớ Đức Bà cũng được xếp vào 
							loại hành khất.</p>
							<p class="MsoNormal" align="justify" style="text-align: justify; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; margin-bottom: 0pt; padding: 0px">
							&nbsp;</p>
							<p class="MsoNormal" align="justify" style="text-align: justify; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; margin-bottom: 0pt; padding: 0px">
							Bên cạnh các dòng nam cũng thường xuất hiện các dòng 
							nữ như Biển đức, Augustino, Đaminh, Clara, Cát minh 
							(thế kỷ 15), …Nhưng vì luật lệ còn nghiêm ngặt, nên 
							các dòng nữ thường là các dòng kín. (Thời trung cổ 
							tỉ lệ tu sĩ giữa nam và nữ là 5/1: Cứ 5 nam mới có 1 
							nữ. Nhưng tình thế đã thay đổi. Năm 1992, số nữ tu 
							là 759.177, nam tu là 232.636).</p>
							<p class="MsoNormal" align="justify" style="text-align: justify; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; margin-bottom: 0pt; padding: 0px">
							&nbsp;</p>
							<p class="MsoNormal" align="justify" style="text-align: justify; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; margin-bottom: 0pt; padding: 0px">
							<b style="margin: 0px; padding: 0px">
							<span style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: blue; margin: 0px; padding: 0px">
							4. Giai đoạn 1500- 1800: Hoạt động tông đồ</span></b></p>
							<p class="MsoNormal" align="justify" style="text-align: justify; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; margin-bottom: 0pt; padding: 0px">
							&nbsp;</p>
							<p class="MsoNormal" align="justify" style="text-align: justify; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; margin-bottom: 0pt; padding: 0px">
							Giai đoạn này có 4 hình thức mới:</p>
							<p class="MsoNormal" align="justify" style="text-align: justify; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; margin-bottom: 0pt; padding: 0px">
							&nbsp;</p>
							<p class="MsoNormal" align="justify" style="text-align: justify; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; margin-bottom: 0pt; padding: 0px">
							<b style="margin: 0px; padding: 0px">- Các giáo sĩ 
							lề luật</b></p>
							<p class="MsoNormal" align="justify" style="text-align: justify; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; margin-bottom: 0pt; padding: 0px">
							&nbsp;</p>
							<p class="MsoNormal" align="justify" style="text-align: justify; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; margin-bottom: 0pt; padding: 0px">
							Hình thức này xuất hiện vào đầu thế kỷ XVI, gồm: 
							dòng Teatinô (1524), dòng Barnabiti (1533), dòng Tên 
							(1540), dòng Somasca (1540), dòng Camilianô (1591). 
							Họ là những giáo sĩ chuyên về các công tác mục vụ 
							của chức linh mục. Họ có luật riêng, có lời khấn 
							dòng, nhưng không theo nếp sống của đan tu (như đọc 
							kinh Thần vụ chung) để dành nhiều thời giờ hơn cho 
							các công tác mục vụ: việc hoạt động tông đồ được coi 
							như một phương thế để nên thánh. Cách tổ chức và 
							sinh hoạt của họ cũng được sắp xếp phù hợp với việc 
							tông đồ: Bề trên tổng quyền nắm mọi quyền hành để có 
							thể dễ dàng điều động nhân sự, các chức vụ đều do 
							trung ương chỉ định. Có thể nói thế kỷ 16 là thế kỷ 
							của giáo sĩ lề luật.</p>
							<p class="MsoNormal" align="justify" style="text-align: justify; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; margin-bottom: 0pt; padding: 0px">
							&nbsp;</p>
							<p class="MsoNormal" align="justify" style="text-align: justify; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; margin-bottom: 0pt; padding: 0px">
							(Bên cạnh đó, thế kỷ 16 cũng đánh dấu một thời kỳ 
							truyền giáo rộng lớn của các hội dòng như dòng 
							Đaminh, Phanxicô, Augustinô, dòng Tên,… Họ đến những 
							vùng đất mới cùng với thời kỳ khám phá ra Châu Mỹ 
							(1492), xâm chiếm thuộc địa của các nước Tây ban 
							nha, Bồ đào nha, Pháp,…)</p>
							<p class="MsoNormal" align="justify" style="text-align: justify; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; margin-bottom: 0pt; padding: 0px">
							&nbsp;</p>
							<p class="MsoNormal" align="justify" style="text-align: justify; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; margin-bottom: 0pt; padding: 0px">
							<b style="margin: 0px; padding: 0px">- Các hội dòng 
							hoạt động tông đồ</b></p>
							<p class="MsoNormal" align="justify" style="text-align: justify; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; margin-bottom: 0pt; padding: 0px">
							&nbsp;</p>
							<p class="MsoNormal" align="justify" style="text-align: justify; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; margin-bottom: 0pt; padding: 0px">
							Từ thế kỷ XVI- XVII, các trường học phần lớn được 
							dành riêng cho các con em thuộc tầng lớp qúi tộc, 
							quyền thế và trung lưu. Các con em của giới thợ 
							thuyền, lao động nghèo bị bỏ rơi. Do đó, một số cha 
							sở đã lập ra những ngôi trường từ thiện cho các con 
							em trong giáo xứ. Một số dòng tu cũng chuyên chú vào 
							giáo dục như dòng Thánh Thể, dòng Chúa Giêsu Hài 
							Đồng, dòng Nữ Kinh sĩ Âu Tinh.</p>
							<p class="MsoNormal" align="justify" style="text-align: justify; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; margin-bottom: 0pt; padding: 0px">
							&nbsp;</p>
							<p class="MsoNormal" align="justify" style="text-align: justify; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; margin-bottom: 0pt; padding: 0px">
							Bên cạnh đó, khác với các đan viện trước đây nhắm 
							tới việc tu thân tích đức,<b style="margin: 0px; padding: 0px"><span class="Apple-converted-space">&nbsp;</span>nhiều 
							dòng ra đời trong giai đoạn này đều theo đuổi một 
							công tác tông đồ nhất định</b>, đáp ứng nhu cầu cụ 
							thể của Giáo hội hay xã hội như giáo dục, săn sóc 
							bệnh nhân, cô nhi, người già, người tàn tật,... Một 
							số dòng nam trong giai đoạn này gồm có dòng các Sư 
							huynh Lasan (1680), Dòng thánh Gioan Thiên Chúa 
							(1572), Tu đoàn Truyền giáo thánh Vinh sơn (1625),… 
							Nhưng các dòng nữ thuộc loại này chiếm đa số. Thường 
							lúc đầu họ chỉ là những nhóm nhỏ, hội, giống như là 
							nhà tình thương, hội bác ái,… hoạt động trong các 
							giáo xứ hay giáo phận. Sau đó, khi đã đủ lông đủ 
							cánh, họ xin Tòa thánh phê chuẩn. Tuy nhiên, tiến 
							trình phê chuẩn rất chậm chạp, vì để thực thi nghị 
							định cải tổ đời tu của công đồng Trentô, đức Piô V, 
							với tông hiến Circa Pastoralis (1566), đã ra lệnh 
							cho tất cả các nữ tu phải khấn trọng và sống trong 
							nội vi. Do đó, nếu dòng nữ muốn tham gia vào hoạt 
							động xã hội ngoài đời, thì chỉ được nhìn nhận là 
							bán-nữ tu. Mãi cho tới đầu thế kỷ 20, giáo luật mới 
							coi các nữ tu hoạt động tông đồ cũng là nữ tu thực 
							thụ.</p>
							<p class="MsoNormal" align="justify" style="text-align: justify; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; margin-bottom: 0pt; padding: 0px">
							&nbsp;</p>
							<p class="MsoNormal" align="justify" style="text-align: justify; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; margin-bottom: 0pt; padding: 0px">
							Mặc dù giáo luật đòi buộc khắt khe như vậy, từ cuối 
							thế kỷ 16 - kỷ 18, các dòng tu nữ thiên về hoạt động 
							tông đồ cũng đã xuất hiện:</p>
							<p class="MsoNormal" align="justify" style="text-align: justify; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; margin-bottom: 0pt; padding: 0px">
							&nbsp;</p>
							<p class="MsoNormal" align="justify" style="text-align: justify; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; margin-bottom: 0pt; padding: 0px">
							1579: dòng Mẹ Vô nhiễm (Daughters of the Immaculate 
							Conception)</p>
							<p class="MsoNormal" align="justify" style="text-align: justify; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; margin-bottom: 0pt; padding: 0px">
							1609: dòng Trinh nữ Maria (Institute of the Blessed 
							Virgin Mary- English Ladies)</p>
							<p class="MsoNormal" align="justify" style="text-align: justify; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; margin-bottom: 0pt; padding: 0px">
							1633: Tu đoàn Nữ tử bác ái Vinh sơn, do thánh Vinh 
							sơn thành lập tại Pháp. Vì giáo luật lúc đó cấm các 
							nữ tu ra khỏi nội vi để làm việc tông đồ và thánh 
							Vinh Sơn lại không muốn từ bỏ đặc sủng phục vụ người 
							nghèo của mình, nên ngài đành chấp nhận việc các nữ 
							tử không được xếp vào hàng nữ tu thực thụ: họ chỉ có 
							lời khấn tư và lặp lại hàng năm.</p>
							<p class="MsoNormal" align="justify" style="text-align: justify; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; margin-bottom: 0pt; padding: 0px">
							1667: dòng Chúa Giêsu Hài đồng, Pháp, do mẹ Anne 
							Marie Martel (1644-1673).</p>
							<p class="MsoNormal" align="justify" style="text-align: justify; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; margin-bottom: 0pt; padding: 0px">
							1670: dòng Mến thánh Giá (Việt<span class="Apple-converted-space">&nbsp;</span><st1:country-region w:st="on" style="margin: 0px; padding: 0px;"><st1:place w:st="on" style="margin: 0px; padding: 0px;">Nam</st1:place></st1:country-region>)</p>
							<p class="MsoNormal" align="justify" style="text-align: justify; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; margin-bottom: 0pt; padding: 0px">
							1696: dòng thánh Phaolô thành<span class="Apple-converted-space">&nbsp;</span><st1:city w:st="on" style="margin: 0px; padding: 0px;"><st1:place w:st="on" style="margin: 0px; padding: 0px;">Chartres</st1:place></st1:city></p>
							<p class="MsoNormal" align="justify" style="text-align: justify; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; margin-bottom: 0pt; padding: 0px">
							1715: Nữ Đaminh Việt<span class="Apple-converted-space">&nbsp;</span><st1:country-region w:st="on" style="margin: 0px; padding: 0px;"><st1:place w:st="on" style="margin: 0px; padding: 0px;">Nam</st1:place></st1:country-region></p>
							<p class="MsoNormal" align="justify" style="text-align: justify; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; margin-bottom: 0pt; padding: 0px">
							1762: dòng Chúa Quan phòng</p>
							<p class="MsoNormal" align="justify" style="text-align: justify; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; margin-bottom: 0pt; padding: 0px">
							&nbsp;</p>
							<p class="MsoNormal" align="justify" style="text-align: justify; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; margin-bottom: 0pt; padding: 0px">
							Thế kỷ 16 có thêm 18 hội dòng mới. Thế kỷ 17 có thêm 
							22 hội dòng mới.</p>
							<p class="MsoNormal" align="justify" style="text-align: justify; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; margin-bottom: 0pt; padding: 0px">
							&nbsp;</p>
							<p class="MsoNormal" align="justify" style="text-align: justify; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; margin-bottom: 0pt; padding: 0px">
							<b style="margin: 0px; padding: 0px">- Các tu đoàn 
							tông đồ</b></p>
							<p class="MsoNormal" align="justify" style="text-align: justify; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; margin-bottom: 0pt; padding: 0px">
							&nbsp;</p>
							<p class="MsoNormal" align="justify" style="text-align: justify; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; margin-bottom: 0pt; padding: 0px">
							&nbsp;Bộ Giáo luật cũ gọi họ là các tu đoàn sống chung 
							không có lời khấn. Nói chung, họ là những giáo sĩ 
							muốn sống chung với nhau để giúp nhau nên thánh hay 
							để cùng nhau thực hiện một công việc nào đó, nhưng 
							họ không muốn bị ràng buộc bởi lời khấn dòng. Ở Việt 
							Nam chúng ta có các Tu đoàn thuộc quyền Giáo hoàng: 
							Tu đoàn Truyền giáo thánh Vinh Sơn (1625), Hội linh 
							mục Xuân Bích (1641), Hội Thừa sai Paris (1664); và 
							sau này có các tu đoàn thuộc quyền giáo phận: Tu 
							đoàn Tông đồ Giáo sĩ Nhà Chúa (1996), Tu đoàn Nhập 
							Thể- Tận hiến- Truyền giáo (2000), Tu đoàn Thừa sai 
							Thánh Mẫu Chúa Cứu Thế (1991), Hội Thừa sai Việt Nam 
							(1972). Cũng có những tu đoàn tông đồ nữ đang hoạt 
							động tại Việt Nam như: Tu đoàn Nữ tử Bác ái Vinh Sơn 
							(thuộc quyền giáo hoàng) và 2 Tu đoàn thuộc quyền 
							giáo phận là Tu đoàn Ảnh Phép lạ (1947) và Tu đoàn 
							Nhập Thể- Tận hiến- Truyền giáo (1998).</p>
							<p class="MsoNormal" align="justify" style="text-align: justify; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; margin-bottom: 0pt; padding: 0px">
							&nbsp;</p>
							<p class="MsoNormal" align="justify" style="text-align: justify; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; margin-bottom: 0pt; padding: 0px">
							<b style="margin: 0px; padding: 0px">- Các tu hội 
							đời</b></p>
							<p class="MsoNormal" align="justify" style="text-align: justify; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; margin-bottom: 0pt; padding: 0px">
							&nbsp;</p>
							<p class="MsoNormal" align="justify" style="text-align: justify; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; margin-bottom: 0pt; padding: 0px">
							Hình thức này đã nhen nhúm từ thế kỷ 16, khi thánh 
							Angela Merici (1470/4- 1540), lúc đã ngoài 60 tuổi, 
							lập một hội những thiếu nữ muốn dâng mình cho Chúa 
							và đồng thời chăm sóc các trẻ em mồ côi vào năm 
							1533, nhưng họ vẫn tiếp tục sống tại gia đình, không 
							có tu phục. Có thể nói đây là một cuộc cách mạng táo 
							bạo và quá cấp tiến so với thời đó. Do đó, hình thức 
							này chỉ tồn tại được một thời gian ngắn. Cho mãi tới 
							năm 1947, giáo luật mới nhìn nhận hình thức tu này, 
							nên các tổ chức ra đời trước đó phải sống lén lút, 
							tu chui, ngoài vòng giáo luật. Sự phát triển thực sự 
							của hình thức tu hội đời chỉ phát triển ở thế kỷ 20, 
							khi Giáo hội cần có những người dấn thân để làm 
							chứng giữa đời. Năm 1992, đã có 163 tu hội đời trên 
							toàn thế giới (42 nam và 97 nữ; 53 thuộc quyền Giáo 
							hoàng và 110 thuộc quyền giáo phận). Họ sống giữa 
							đời, giống như mọi người, để phục vụ.</p>
							<p class="MsoNormal" align="justify" style="text-align: justify; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; margin-bottom: 0pt; padding: 0px">
							&nbsp;</p>
							<p class="MsoNormal" align="justify" style="text-align: justify; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; margin-bottom: 0pt; padding: 0px">
							<b style="margin: 0px; padding: 0px">
							<span style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: blue; margin: 0px; padding: 0px">
							5. Giai đoạn 1800- 2000: Giảng dạy/truyền giáo</span></b></p>
							<p class="MsoNormal" align="justify" style="text-align: justify; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; margin-bottom: 0pt; padding: 0px">
							&nbsp;</p>
							<p class="MsoNormal" align="justify" style="text-align: justify; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; margin-bottom: 0pt; padding: 0px">
							Giai đoạn trăm hoa đua nở.</p>
							<p class="MsoNormal" align="justify" style="text-align: justify; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; margin-bottom: 0pt; padding: 0px">
							&nbsp;</p>
							<p class="MsoNormal" align="justify" style="text-align: justify; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; margin-bottom: 0pt; padding: 0px">
							Đây là giai đoạn các hội dòng mới thành lập dấn thân 
							mạnh mẽ vào việc truyền giáo và vào đời sống xã hội, 
							đặc biệt là các dòng nữ khi giáo luật (đầu thế kỷ 
							20) nhìn nhận các nữ tu hoạt động tông đồ cũng là nữ 
							tu thực sự (không còn bị coi là bán nữ tu nữa).</p>
							<p class="MsoNormal" align="justify" style="text-align: justify; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; margin-bottom: 0pt; padding: 0px">
							&nbsp;</p>
							<p class="MsoNormal" align="justify" style="text-align: justify; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; margin-bottom: 0pt; padding: 0px">
							Trong giai đoạn này, nhiều dòng ra đời để đáp ứng 
							những nhu cầu khác nhau của Giáo hội và xã hội, như 
							giáo dục (nhu cầu mở nhà trẻ để trẻ em có được sự 
							giáo dục Kitô giáo ngày càng lớn mạnh), chăm sóc 
							bệnh nhân, người già, trẻ mồ côi, người tàn tật, mở 
							rộng sự phục vụ đến những người ngoài Công giáo, nhu 
							cầu về truyền giáo. Thế kỷ XIX đã đánh dấu sự phát 
							triển mạnh mẽ của những hội dòng loại này.<span class="Apple-converted-space">&nbsp;</span>Chỉ 
							trong thế kỷ này, có khoảng 600 cộng đoàn mới được 
							thành lập.<font color="#0000ff" style="margin: 0px; padding: 0px"><span style="margin: 0px; padding: 0px"><span class="MsoFootnoteReference" style="margin: 0px; padding: 0px"><span style="font-family: Arial; margin: 0px; padding: 0px">[2]</span></span></span></font>Thế 
							kỷ XX ghi dấu ấn của một đấng sáng lập được cả thế 
							giới khâm phục và ngưỡng mộ: mẹ Têrêxa Calcutta. 
							Dòng của mẹ đã đem tình yêu Thiên Chúa đến với những 
							người cùng khốn nhất qua việc phục vụ trong khiêm 
							nhường.</p>
							<p class="MsoNormal" align="justify" style="text-align: justify; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; margin-bottom: 0pt; padding: 0px">
							&nbsp;</p>
							<p class="MsoNormal" align="justify" style="text-align: justify; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; margin-bottom: 0pt; padding: 0px">
							Giai đoạn này cũng đánh dấu sự xuất hiện của các hội 
							dòng đa sắc tộc, nhất là những hội dòng hướng đến 
							truyền giáo.</p>
							<p class="MsoNormal" align="justify" style="text-align: justify; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; margin-bottom: 0pt; padding: 0px">
							&nbsp;</p>
							<p class="MsoNormal" align="justify" style="text-align: justify; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; margin-bottom: 0pt; padding: 0px">
							&nbsp;Các Hội dòng cố gắng bước theo Chúa Kitô, họa lại 
							cuộc đời của Ngài. Mỗi dòng có mục đích khác nhau, 
							tùy vào việc họa lại khía cạnh nào của cuộc sống 
							Chúa Giêsu. Cách chung có 4 loại dòng:</p>
							<p class="MsoNormal" align="justify" style="text-align: justify; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; margin-bottom: 0pt; padding: 0px">
							1) Chúa Giêsu cầu nguyện: đây là mục tiêu của những 
							hội dòng thuần túy chiêm niệm.</p>
							<p class="MsoNormal" align="justify" style="text-align: justify; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; margin-bottom: 0pt; padding: 0px">
							2) Chúa Giêsu loan báo nước trời: mục đích của những 
							dòng phục vụ Lời Chúa (giảng, dạy).</p>
							<p class="MsoNormal" align="justify" style="text-align: justify; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; margin-bottom: 0pt; padding: 0px">
							3) Chúa Giêsu thi ân giáng phúc cho nhân loại: những 
							dòng chuyên về công tác bác ái xã hội.</p>
							<p class="MsoNormal" align="justify" style="text-align: justify; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; margin-bottom: 0pt; padding: 0px">
							4) Chúa Giêsu sống giữa đời: các Tu hội đời.<font color="#0000ff" style="margin: 0px; padding: 0px"><span style="margin: 0px; padding: 0px"><span class="MsoFootnoteReference" style="margin: 0px; padding: 0px"><span style="font-family: Arial; margin: 0px; padding: 0px">[3]</span></span></span></font>&nbsp;</p>
							<p class="MsoNormal" align="justify" style="text-align: justify; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; margin-bottom: 0pt; padding: 0px">
							&nbsp;</p>
							<p class="MsoNormal" align="justify" style="text-align: justify; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; margin-bottom: 0pt; padding: 0px">
							Mỗi thời đại, mỗi nhu cầu, có cách đáp trả riêng.</p>
							<p class="MsoNormal" align="justify" style="text-align: justify; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; margin-bottom: 0pt; padding: 0px">
							&nbsp;</p>
							<p class="MsoNormal" align="justify" style="text-align: justify; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; margin-bottom: 0pt; padding: 0px">
							<b style="margin: 0px; padding: 0px">
							<span style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: blue; margin: 0px; padding: 0px">
							6. Giai đoạn 2000-...?</span></b></p>
							<p class="MsoNormal" align="justify" style="text-align: justify; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; margin-bottom: 0pt; padding: 0px">
							&nbsp;</p>
							<p class="MsoNormal" align="justify" style="text-align: justify; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; margin-bottom: 0pt; padding: 0px">
							Hình thức tu trì nào sẽ nổi bật trong giai đoạn mới 
							này?</p>
							<p class="MsoNormal" align="justify" style="text-align: justify; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; margin-bottom: 0pt; padding: 0px">
							&nbsp;</p>
							<p class="MsoNormal" align="justify" style="text-align: justify; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; margin-bottom: 0pt; padding: 0px">
							Các hình thức tu trì xuất hiện trong lịch sử Giáo 
							hội thường là để đáp ứng 2 mục đích chính: trở về 
							với Tin mừng (khi đời sống đạo trong Giáo hội sa 
							sút, xa rời Tin mừng) và đáp ứng những nhu cầu khẩn 
							cấp của Giáo hội và xã hội.</p>
							<p class="MsoNormal" align="justify" style="text-align: justify; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; margin-bottom: 0pt; padding: 0px">
							&nbsp;</p>
							<p class="MsoNormal" align="justify" style="text-align: justify; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; margin-bottom: 0pt; padding: 0px">
							Qua các giai đoạn, chúng ta thấy có một khuynh hướng 
							chung:<span class="Apple-converted-space">&nbsp;</span><b style="margin: 0px; padding: 0px">đời 
							tu càng ngày càng dấn thân hơn, càng ý thức về sứ vụ 
							hơn.</b><span class="Apple-converted-space">&nbsp;</span>Từ 
							thời Trung cổ, ý thức về sứ vụ ngày càng trở nên 
							mãnh liệt. Từ trong sa mạc, nơi thôn làng hẻo lánh, 
							họ bước ra ngoài xã hội nhưng vẫn sống trong khung 
							cảnh của tu viện (kín cổng cao tường), rồi dần dần 
							đảm nhận những vai trò trong Giáo hội và xã hội. 
							Ngày nay, đời tu thâm nhập vào mọi khía cạnh của đời 
							sống Giáo hội cũng như xã hội. Các hội dòng ngày 
							càng ý thức hơn về sứ mệnh của họ trong việc phục vụ 
							những nhu cầu tinh thần hay vật chất của nhân loại 
							theo đặc sủng của mình. Mỗi giai đoạn được đánh dấu 
							bằng một hình thức tu trì nổi bật. Những thay đổi 
							lớn trong Giáo hội và xã hội là những dấu chỉ thời 
							đại mà Chúa Thánh Thần tác động nơi các vị sáng lập, 
							để họ lập nên những hình thức tu trì mới, đáp ứng 
							những nhu cầu của Giáo hội và xã hội.</p>
							<p class="MsoNormal" align="justify" style="text-align: justify; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; margin-bottom: 0pt; padding: 0px">
							&nbsp;</p>
							<p class="MsoNormal" align="justify" style="text-align: justify; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; margin-bottom: 0pt; padding: 0px">
							Ngày nay, con số các dòng tu cũng giảm sút nhiều: 
							hơn 2/3 các dòng thành lập trước năm 1500 nay không 
							còn nữa, gần ½ các dòng thành lập sau năm 1600 cũng 
							bị xóa tên: nhu cầu họ đáp ứng không còn nữa, nhưng 
							họ đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình.<font color="#0000ff" style="margin: 0px; padding: 0px"><span style="margin: 0px; padding: 0px"><span class="MsoFootnoteReference" style="margin: 0px; padding: 0px"><span style="font-family: Arial; margin: 0px; padding: 0px">[4]</span></span></span></font><span class="Apple-converted-space">&nbsp;</span>Con 
							số các nam nữ tu sĩ cũng đang giảm sút nhiều. Con số 
							nam nữ tu sĩ đã giảm 18,7%, từ 1 triệu 225,056 xuống 
							còn 995,639 trong khoảng thời gian từ năm 1978 đến 
							năm 2000.</p>
							<p class="MsoNormal" align="justify" style="text-align: justify; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; margin-bottom: 0pt; padding: 0px">
							&nbsp;</p>
							<p class="MsoNormal" align="justify" style="text-align: justify; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; margin-bottom: 0pt; padding: 0px">
							Chúng ta đang ở thời kỳ đầu của giai đoạn mới, là 
							những người đang góp phần tạo nên một hình ảnh mới 
							nổi bật của giai đoạn này. Người tu sĩ hôm nay đang 
							sống trong một thế giới khác hẳn trước đây: toàn cầu 
							hóa, tục hóa, sự phân chia và đối đầu ngày càng gay 
							gắt giữa thần quyền và thế quyền, sự bất công trong 
							xã hội ngày càng gay gắt, tình trạng di dân lan 
							tràn,…Thiên niên kỷ này là của Châu Á, của đối thoại 
							tôn giáo, đại kết, hội nhập văn hóa, của giáo dân, 
							đặc biệt là phụ nữ.</p>
							<p class="MsoNormal" align="justify" style="text-align: justify; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; margin-bottom: 0pt; padding: 0px">
							&nbsp;</p>
							<p class="MsoNormal" align="justify" style="text-align: justify; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; margin-bottom: 0pt; padding: 0px">
							Trong bối cảnh hiện nay, có nhiều hình thức tu trì 
							mới, nhiều cộng đoàn mới ra đời. Đây là những hình 
							thái mới của đời tu: gồm nam và nữ, giáo sĩ và giáo 
							dân, người đã lập gia đình và người độc thân, các 
							phong trào tông đồ giáo dân, các đan viện đại kết 
							(chia sẻ nếp sống đan tu giữa Giáo hội Công giáo và 
							Giáo hội Kitô khác, hoặc giữa Công giáo với các tôn 
							giáo khác như Ấn giáo, Phật giáo), các hội dòng đa 
							sắc tộc ngày càng phát triển, các phong trào Giáo 
							hội liên kết với các hội dòng, v.v.</p>
							<p class="MsoNormal" align="justify" style="text-align: justify; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; margin-bottom: 0pt; padding: 0px">
							&nbsp;</p>
							<p class="MsoNormal" align="justify" style="text-align: justify; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; margin-bottom: 0pt; padding: 0px">
							Trong thời đại chúng ta, người giáo dân đóng vai trò 
							chủ đạo trong sứ mệnh loan báo Tin mừng và tân Phúc 
							âm hóa. Qua các đặc sủng của họ, họ tích cực loan 
							báo Tin mừng cho toàn thế giới qua con đường đối 
							thoại bằng đời sống, mang sứ điệp của Tin mừng đến 
							khắp mọi nơi. Một số phong trào Giáo hội đã liên kết 
							chặt chẽ với các hội dòng và chia sẻ đoàn sủng, linh 
							đạo và sứ mệnh đặc biệt của các hội dòng đó. Sự hiệp 
							thông và cộng tác này giúp phổ biến linh đạo hướng 
							tới hoạt động ra ngoài biên giới của hội dòng, giúp 
							cho hội dòng đào sâu và làm phong phú thêm đoàn sủng 
							của mình và từ đó rút ra nhiều gợi ý cho hoạt động 
							tông đồ mới mẻ. Nhờ gương thánh thiện của những 
							người tận hiến, người giáo dân sẽ có kinh nghiệm 
							trực tiếp về tinh thần của các lời khuyên Phúc âm, 
							được khích lệ và làm chứng cho tinh thần các mối 
							phúc để biến đổi trần thế theo ý định của Thiên Chúa 
							(x. VC 54- 56; FLC 62, 70). Bởi đó, các hội dòng nên 
							xem xét lại những hoạt động truyền thống của mình để 
							hợp tác với người giáo dân trong công việc truyền 
							giáo, đáp ứng tốt hơn những nhu cầu tông đồ và mục 
							vụ đang nổi lên, đặc biệt trong những lãnh vực công 
							bằng xã hội, xây dựng những cộng đoàn cơ bản được 
							năng động bởi sự hiệp thông và tham gia vào biến đổi 
							xã hội nên tốt đẹp hơn.</p>
							<p class="MsoNormal" align="justify" style="text-align: justify; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; margin-bottom: 0pt; padding: 0px">
							&nbsp;</p>
							<p class="MsoNormal" align="justify" style="text-align: justify; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; margin-bottom: 0pt; padding: 0px">
							Chúng ta không thể dự đoán được hình thức tu trì nào 
							sẽ nổi bật trong giai đoạn mới này. Đây là công việc 
							của Chúa Thánh Thần. Lắng nghe tiếng nói của Chúa 
							Thánh Thần, nhạy bén với những dấu chỉ thời đại…</p>
							<p class="MsoNormal" align="justify" style="text-align: justify; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; margin-bottom: 0pt; padding: 0px">
							&nbsp;</p>
							<p class="MsoNormal" align="justify" style="text-align: right; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; margin-bottom: 0pt; padding: 0px">
							<b style="margin: 0px; padding: 0px">JB. Trần Hữu 
							Hạnh, fsf</b></p>
							<p class="MsoNormal" align="justify" style="text-align: justify; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; margin-bottom: 0pt; padding: 0px">
							&nbsp;</p>
							<p class="MsoNormal" align="justify" style="text-align: center; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; margin-bottom: 0pt; padding: 0px">
							<b style="margin: 0px; padding: 0px">
							<span style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: blue; margin: 0px; padding: 0px">
							TÀI LIỆU THAM KHẢO</span></b></p>
							<p class="MsoNormal" align="justify" style="text-align: justify; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; margin-bottom: 0pt; padding: 0px">
							&nbsp;</p>
							<p class="MsoNormal" align="justify" style="text-align: justify; margin-left: 0.25in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; margin-bottom: 0pt; padding: 0px">
							&nbsp; &nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;Arbuckle, Gerald A, S.M.&nbsp;<span class="Apple-converted-space">&nbsp;</span><i style="margin: 0px; padding: 0px">From 
							Chaos to<span class="Apple-converted-space">&nbsp;</span><st1:city w:st="on" style="margin: 0px; padding: 0px;"><st1:place w:st="on" style="margin: 0px; padding: 0px;">Mission</st1:place></st1:city>, 
							Refounding Religious Life Formation</i>.&nbsp;<span class="Apple-converted-space">&nbsp;</span><st1:city w:st="on" style="margin: 0px; padding: 0px;"><st1:place w:st="on" style="margin: 0px; padding: 0px;">London</st1:place></st1:city>: 
							Geoffrey Chapman, 1996</p>
							<p class="MsoNormal" align="justify" style="text-align: justify; margin-left: 0.25in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; margin-bottom: 0pt; padding: 0px">
							&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; M. Ngọc Đính (Chuyển ngữ).<span class="Apple-converted-space">&nbsp;</span><i style="margin: 0px; padding: 0px">Đời 
							tu dưới ánh sáng công đồng Vatican II và Giáo luật</i>, 
							Quyển I. The Daughters of<st1:city w:st="on" style="margin: 0px; padding: 0px;"><st1:place w:st="on" style="margin: 0px; padding: 0px;">St. 
							Paul</st1:place></st1:city>, 1986, p. 69-80.</p>
							<p class="MsoNormal" align="justify" style="text-align: justify; margin-left: 0.25in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; margin-bottom: 0pt; padding: 0px">
							&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Phan Tấn Thành.<span class="Apple-converted-space">&nbsp;</span><i style="margin: 0px; padding: 0px">Giải 
							Thích Giáo Luật Quyển 2- Dân Thiên Chúa</i>, tập 3 
							và 4 Các Hội Dòng Tận Hiến và các Tu Đoàn Tông Đồ. 
							Rôma, 1993, p. 350-369, 411-412, 429- 432</p>
							<p class="MsoNormal" align="justify" style="text-align: justify; margin-left: 0.25in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; margin-bottom: 0pt; padding: 0px">
							&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;<span class="Apple-converted-space">&nbsp;</span><st1:place w:st="on" style="margin: 0px; padding: 0px;">Union</st1:place><span class="Apple-converted-space">&nbsp;</span>of 
							Superiors General.<span class="Apple-converted-space">&nbsp;</span><i style="margin: 0px; padding: 0px">Consecrated 
							Life Today- Charisms in the Church for the World</i>. 
							International Congress.<st1:city w:st="on" style="margin: 0px; padding: 0px;"><st1:place w:st="on" style="margin: 0px; padding: 0px;">Rome</st1:place></st1:city>, 
							22- 27 November 1993.</p>
							<span style="font-size: 9pt; font-family: Arial; margin: 0px; padding: 0px">
							<p class="MsoNormal" align="justify" style="margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; margin-bottom: 0pt; padding: 0px">
							<br clear="all" style="margin: 0px; padding: 0px">
							&nbsp;</p>
							<div class="MsoNormal" align="justify" style="margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; margin-bottom: 0pt; padding: 0px">
								<hr align="left" size="1" width="33%" style="margin: 0px; padding: 0px">
							</div>
							<p class="MsoFootnoteText" align="justify" style="text-align: justify; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; margin-bottom: 0pt; padding: 0px">
							<font color="#0000ff" style="margin: 0px; padding: 0px">
							<span style="margin: 0px; padding: 0px">
							<span class="MsoFootnoteReference" style="margin: 0px; padding: 0px">
							[1]</span></span></font><span class="Apple-converted-space">&nbsp;</span>Dòng 
							Carmelo đã chọn ngôn sứ Elia làm tổ phụ…vì dòng được 
							thành lập ở núi<span class="Apple-converted-space">&nbsp;</span><u1:city u2:st="on" style="margin: 0px; padding: 0px;"><st1:city w:st="on" style="margin: 0px; padding: 0px;">Carmel</st1:city></u1:city><span class="Apple-converted-space">&nbsp;</span>(<u1:city u2:st="on" style="margin: 0px; padding: 0px;"><u1:place u2:st="on" style="margin: 0px; padding: 0px;"><st1:city w:st="on" style="margin: 0px; padding: 0px;"><st1:place w:st="on" style="margin: 0px; padding: 0px;">Palestine</st1:place></st1:city></u1:place></u1:city>), 
							nơi trước đó ngôn sứ Elia đã sống và hoạt động.</p>
							<p class="MsoFootnoteText" align="justify" style="text-align: justify; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; margin-bottom: 0pt; padding: 0px">
							<font color="#0000ff" style="margin: 0px; padding: 0px">
							<span style="margin: 0px; padding: 0px">
							<span class="MsoFootnoteReference" style="margin: 0px; padding: 0px">
							[2]</span></span></font><span class="Apple-converted-space">&nbsp;</span>X. 
							Gerald A. Arbuckle, SM,<span class="Apple-converted-space">&nbsp;</span><i style="margin: 0px; padding: 0px">From 
							Chaos to<span class="Apple-converted-space">&nbsp;</span><u1:city u2:st="on" style="margin: 0px; padding: 0px;"><u1:place u2:st="on" style="margin: 0px; padding: 0px;"><st1:city w:st="on" style="margin: 0px; padding: 0px;"><st1:place w:st="on" style="margin: 0px; padding: 0px;">Mission</st1:place></st1:city></u1:place></u1:city>, 
							Refounding Religious Life Formation</i><span class="Apple-converted-space">&nbsp;</span>(London: 
							Geoffrey Chapman, 1996), tr. 27.</p>
							<p class="MsoFootnoteText" align="justify" style="text-align: justify; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; margin-bottom: 0pt; padding: 0px">
							<font color="#0000ff" style="margin: 0px; padding: 0px">
							<span style="margin: 0px; padding: 0px">
							<span class="MsoFootnoteReference" style="margin: 0px; padding: 0px">
							[3]</span></span></font><span class="Apple-converted-space">&nbsp;</span>X. 
							LG 46; Can 577;&nbsp; P.T.Thành, Giải thích GL, tập 4, p. 
							564</p>
							<p class="MsoFootnoteText" align="justify" style="text-align: justify; margin-left: 0in; margin-right: 0in; margin-top: 0in; margin-bottom: 0pt; padding: 0px">
							<font color="#0000ff" style="margin: 0px; padding: 0px">
							<span style="margin: 0px; padding: 0px">
							<span class="MsoFootnoteReference" style="margin: 0px; padding: 0px">
							[4]</span></span></font><span class="Apple-converted-space">&nbsp;</span>Thí 
							dụ những dòng Hiệp sĩ<span class="Apple-converted-space">&nbsp;</span><u1:country-region u2:st="on" style="margin: 0px; padding: 0px;"><st1:country-region w:st="on" style="margin: 0px; padding: 0px;">Malta</st1:country-region></u1:country-region><span class="Apple-converted-space">&nbsp;</span>(1099), 
							lo giải phóng và bảo vệ những nơi thánh tại<span class="Apple-converted-space">&nbsp;</span><u1:city u2:st="on" style="margin: 0px; padding: 0px;"><u1:place u2:st="on" style="margin: 0px; padding: 0px;"><st1:city w:st="on" style="margin: 0px; padding: 0px;"><st1:place w:st="on" style="margin: 0px; padding: 0px;">Palestine</st1:place></st1:city></u1:place></u1:city>; 
							dòng Đức Bà chuộc kẻ làm tôi (1192).Đầu tiên, họ chỉ 
							là những hiệp hội giáo dân, rồi dần dần trở thành 
							dòng tu khi có hiến pháp và lời khấn.</span></span></span></span></div>
					</div>
					</td>
				</tr>
		</table>
&nbsp;</td>
	</tr>
</table>

</body>

</html>

PHP File Manager