File "Y-nghia-ngay-tet-trong-tam-thuc-nguoi-viet.htm"
Full path: E:/sites/Single15/tinmung2007/webroot/Holiday/NewYear/TimHieuXuan/Y-nghia-ngay-tet-trong-tam-thuc-nguoi-viet.htm
File size: 17.65 KiB (18072 bytes)
MIME-type:
Charset: utf-8
<html>
<head>
<meta http-equiv="Content-Type" content="text/html; charset=utf-8">
<title>Happy New Year</title>
<base target="_self">
</head>
<body background="../../../TRANG%20CUA%20ME%20MARIA/Pictures/Background/bgr.gif">
<table border="0" width="500" id="table1" cellspacing="15" cellpadding="0" bgcolor="#FFFFF0">
<tr>
<td colspan="2">
<p align="right" style="margin-top: 0; margin-bottom: 0"><b>
<font face="Verdana" size="4" color="#006666">Tim hiểu về Mùa
Xuân</font></b></p>
<hr color="#FF4D20" width="80%" align="right">
<p class="MsoNormal" align="right" style="margin-top: 0; margin-bottom: 0">
<font face="Arial" color="#0000FF"><b><span style="font-size: 12pt"> Ý
NGHĨA NGÀY TẾT TRONG TÂM THỨC VIỆT<br>
</span></b></font><i><font size="2" color="#008000" face="Arial">Phạm
Trần Anh</font></i></p></td>
</tr>
<tr>
<td align="justify" colspan="2">
<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<font face="Arial">Trong lễ hội dân gian, người Việt cổ xem trọng
nhất là Tết. Tết là phong tục truyền thống của người Việt từ xa xưa
cho đến ngày nay. Dân gian vẫn thường phân biệt là Tết ta và Tết Tây
chứ không ai nói là tết Tàu vì chỉ dân tộc Việt Nam mới có chữ “TẾT”
mà thôi, Tầu không có chữ tết nên Tết là của Việt Nam chứ không phải
của Tàu. Thật vậy, trong Kinh Lễ viết Tế-Sạ # Tết mà Khổng Tử, người
thầy muôn đời của người Trung Quốc đã nói:"Ta không biết Tết là gì,
nghe đâu đó là tên của một ngày lễ hội lớn của bọn nguời Man, họ
nhảy múa như điên, uống rượu và ăn chơi vào những ngày đó, họ gọi
tên cho ngày đó là "Tế-Sạ". Điều này chứng tỏ rằng người tàu không
có tết và Kinh Lễ là của người Việt cổ nên tên gọi tết cổ của người
Thái là chi Âu Việt trong Bách Việt cũng gọi Tết là Thê-Sa.<br>
<br>
Tết là ngày lễ mừng đầu năm mới của rất nhiều dân tộc và sắc dân ở
khắp miền đông nam Á. Ngày nay, các công trình nghiên cứu đã xác
định cư dân Đông Nam Á cùng chung chỉ số sọ, cùng một mã di truyền
DNA, nên là những chi tộc Việt trong Bách Việt. Chính vì vậy, tất cả
đều ăn tết, chữ tết cùng một nguồn gốc với chữ Tết của Việt tộc.
Đồng bào Nùng cũng đọc là tết (nèn tết=năm tết), đồng bào Mường cũng
ăn “Thêt”= ăn tết như đồng bào Việt, đồng bào Thái thì có lễ mừng
năm mới gọi là Thêts. Thêts khal là mùa tết, những ngày tết, khal
text là ngày tết. Đồng bào Chàm cũng có tết mà họ gọi là “Tít” vào
lễ tháng năm của lịch Chàm cổ, “băng tít” là ăn tết, kTêh là lễ hội
lớn nhất trong năm của ngươờ Chàm. Người Mon cũng ăn tết mà họ gọi
là Ktêk. Người Khmer cũng có lễ hội “Chêtr” # Tết mừng tháng 5 theo
cổ lịch Khmer là tháng gió mùa bắt đầu thổi ngược lại, tháng của mùa
gió nồm ở Đông Nam Á tùy theo nơi, từ cuối tháng tư đến cuối tháng
năm. Ấn Độ cũng có chữ “Chetr” để chỉ tên tháng tư và tháng năm là 2
tháng giao mùa từ mùa nắng sang mùa mưa trong lịch Ấn Độ cổ. Đặc
biệt ở Népal cũng ăn tết trong “Lễ đầu năm” cổ truyền của người
Népal và người Munda cũng có lễ ăn mừng mùa mưa đến gọi là “Teej”*
như các quốc gia nông nghiệp trong Bách Việt.<br>
<br>
Về sau, trong văn học thường viết Tết gắn liền với chữ Nguyên đán là
Tết Nguyên Đán. Truyền thuyết xa xưa kể lại rằng Đế Chuyên Húc, ông
vua thời cổ đại gọi tháng giêng là NGUYÊN, gọi mồng một là ĐÁN rồi
ghép lại là Nguyên Đán tức mồng một tháng giêng. Tầm nguyên ngữ
nghĩa của hai chữ Nguyên Đán sẽ cho ta thấy rõ hơn ý nghĩa và tầm
quan trọng của Tết Nguyên Đán. Nguyên là mới bắt đầu, Đán là một chữ
tượng hình, ở bên trên là chữ nhật chỉ mặt trời, bên dưới là chữ
nhất thay cho mặt bằng phẳng khiến chúng ta liên tưởng mặt trời từ
từ lên cao, tượng trưng cho một ngày mới bắt đầu. Nguyên Đán là ngày
đầu năm đầu tháng giêng Âm lịch. Do đó, Tết Nguyên Đán là ngày đầu
tiên của tiết đầu của một năm mới.<br>
<br>
Từ thời cổ đại cho tới Nhà Hạ vẫn lấy ngày mồng một tháng giêng là
ngày Tết của người Việt cổ. Nhà Hạ ăn tết nhằm cung dần, dựa theo
nông lịch tức tết đầu xuân lúc khởi đầu có sấm. Khi tộc Thương (Hán
tộc) đánh đuổi Nhà Hạ (Việt tộc) khỏi Hoa Bắc thì Hán tộc chọn ngày
1 tháng 12 âm là Tết Nguyên Đán, đến triều Chu chọn ngày 1 tháng 11
âm lịch, triều Tần chọn ngày 1 tháng 10 âm lịch cho cả Trung Quốc.
Mãi đến thời Hán Vũ đế chịu ảnh hưởng của văn hoá Bách Việt phương
Nam nên chọn lại ngày 1 tháng giêng là Tết Nguyên Đán. Ngày nay,
Trung Quốc lại chọn ngày 1 tháng 1 Dương lịch tức Tết Dương lịch của
Tây phương làm ngày Tết Nguyên Đán còn ngày 1 tháng giêng là Tết
Xuân Tiết. Duy chỉ có dân tộc Việt Nam trước sau như một vẫn bảo lưu
truyền thống “Nông lịch” của người Việt cổ lấy ngày mồng một tháng
giêng Âm lịch là ngày Tết Nguyên Đán còn gọi là Tết Ta để phân biệt
với Tết Dương lịch 1 tháng 1 Dương lịch là Tết Tây.<br>
<br>
Đối với người Việt, cái Tết có một ý nghĩa đặc biệt trong đời sống.
Thật vậy, ngoài cái giờ phút thiêng liêng chuyển đổi của đất trời
qua “Giao thừa” sang năm mới, mọi người trong gia đình mỗi người đều
mang một tâm trạng riêng, nhớ tới những người thân đã khuất còn hiển
hiện quanh đây, bên bàn thờ với đĩa ngũ quả khói hương nghi ngút,
đan quyện linh hồn những người đã khuất với kẻ còn sống đang tưởng
nhớ tới họ. Tết nhất cũng là dịp gia đình đoàn tụ xum vầy, cháu con
dù đi làm ăn xa đến đâu nếu có phương tiện vẫn trở về mái ấm gia
đình, để hàn huyên tâm sự những khó khăn trong cuộc sống.<br>
<br>
Hàng năm cứ vào những ngày cuối tháng chạp (tháng 12 ÂL) ai cũng nao
nao trong lòng và ngày Tết sắp đến. Qua ngày hai mươi là Tết đến nơi
rồi, không biết năm nay những người thân xa quê hương ai sẽ về đón
Tết, ăn Tết với gia đình? Để chuẩn bị vui đón cái tết đúng ý nghĩa
của nó, gia đình nào cũng phải trang hoàng nhà cửa, sửa soạn bàn thờ
Gia Tiên với đĩa “Ngũ quả” gồm 5 loại trái cây là trái sung, trái
mãng cầu, trái dưa, đu đủ, xoài nói lên ước vọng tâm tư dân dã miền
Nam Cầu (mãng cầu) trời khấn phật cho vừa (dừa) đủ (đu đủ) xài (
Xoài). Người Việt miền Bắc thì trong đĩa ngũ quả phải có một chùm
quả Sung ước mong sự sung túc cho gia đình.<br>
<br>
" Mỗi năm hoa Đào nở,<br>
<br>
lại thấy ông Đồ già ..<br>
<br>
Nghiên mực tàu giấy đỏ,<br>
<br>
bên phố đông người qua…"<br>
<br>
Ngày xưa dân gian thường nhờ ông Đồ viết đôi câu đối để chúc tụng,
cầu mong tài lộc hạnh phúc theo ý của mỗi người:“ Hoa tay thảo những
nét, Như Phượng múa Rồng bay”. Năm nay “Đào lại nở” nhưng ít thấy
ông Đồ xưa nên chúng ta phải nhờ mấy “ông Thư pháp trẻ” viết vài
chữ, vài câu gọi là mừng xuân. Giới trẻ thì trước tét đã rủ nhau đến
hiệu sách chọn mua thiệp Xuân để gởi chúc tết đến gia đình, bạn bè,
đồng nghiệp với những lời chúc mừng nhân dịp Xuân về. Ngày 23 tháng
chạp là ngày ông Táo lên trời. Đêm giao thừa 30 tháng chạp, ông Táo
lại trở về trần gian với gia đình để phù hộ cho con cháu có của ăn
của để. Gia đình nào cũng lo sơn quét nhà cửa đón Tét nhưng cũng
không quên ra thăm viếng sửa sang sơn quét những ngôi mộ của người
thân, đó chính là lúc tâm hồn người ta chùng xuống chạnh nhớ ông bà
cha mẹ, nhớ những ngày tháng đã qua trong cuộc đời, trong tâm thức
mỗi con người. Lẽ Tết còn thể hiện tình bà con nghĩa làng nước, gia
đình này bàn với gia đình kia mổ chung một con heo, nấu chung nồi
bánh chưng, bánh tét để được ngồi bên nhau canh nồi bánh kể chuyện
râm ran cả một quá khứ tuổi thơ hiện về ngập tràn tâm tưởng.<br>
<br>
Trước Tết nhà nào cũng lo đi sắm Tết, mua cho con trẻ bô áo mới để
mặc tết. Đúng giờ Giao thừa, gia đình tập họp trước bàn thờ gia tiên
để khấn vái ông bà Tiên Tổ phù hộ cho mọi người. Trong không khí
trang trọng đặc biệt của ngày Tết, trên bàn thờ khói hương nghi
ngút, con cháu lần lượt chúc tuổi các bậc trưởng thượng ông bà cha
mẹ được sống lâu trăm tuổi, rồi ông bà cha mẹ lại mừng tuổi cho con
cháu mau khôn lớn, học hành thành đạt … Sau đó, gia đình anh chị em
rủ nhau đến chùa lễ Phật hoặc đến nhà thờ nhưng không quên tập tục
dân gian xưa là bẻ một cành cây có lá non gọi là “Hái lộc” mới đem
về nhà cho sang năm gia đình được nhiều may mắn, tài lộc.<br>
<br>
Truyền thống dân gian Việt là “Mồng một tết cha, mồng ba tết thầy”
đã nói lên đạo hiếu của bổn phận làm con và truyền thống “tôn sư
trọng đạo” của người Việt. Ngày mồng một tết, sau khi chúc tuổi thọ
cha mẹ, dân gian còn phải đến chúc tết các bậc trưởng thượng trong
dòng họ rồi chúc tết bà con cô bác, hàng xóm láng giềng. Đi đến đâu,
vào nhà nào cũng được tiếp đón linh đình nồng hậu hơn mọi ngày với
nay đủ món ngon vật lạ ngày tết.<br>
<br>
Ngoài ý nghĩa tâm linh của ngày tết, dân gian Việt thiên về cuộc
sống tình cảm nên xem ngày tết như là một dịp để quên đi những vất
vả gian truân của cuộc sống, quên đi những buồn phiền hiềm khích năm
cũ để vui vẻ đón tết, ăn tết. Không một ai trong chúng ta lại không
nhớ đến nỗi vui mừng khi nhận những bao tiền “Mừng Tuổi” “lì xì” màu
đỏ rực thời còn nhỏ dại của người thân mừng tuổi cho những đồng tiền
mới tinh. Người Việt Nam chúng ta không ai có thể quên được không
khí tưng bừng nao nức của ngày tết với câu đối đỏ, những bức tranh
tết đỏ rực, những câu đối chúc tụng, những tràng pháo đỏ treo trên
cây nêu hoặc trên cao để đúng giờ giao thừa nổ liên hồi để xua đuổi
tà ma nên đêm ba mươi dân gian còn gọi là “đêm trừ tịch”. Tiếng pháo
nổ dòn giã vang rền, có nơi còn múa lân để chúc mừng gia chủ khiến
lòng người ai ai cũng hoan mừng chờ đón giây phút thiêng liêng trọng
đại đó để “Tống cựu nghinh tân”, đạp cái xấu xa xui xẻo năm cũ để
đón mồng một năm mới tràn đầy hi vọng. Làm sao ai có thể quên được
những đôi môi mọng đỏ của các cô gái khi cắn hạt dưa. Cái thú ngồi
cắn hạt dưa đến rát cả lưỡi mà vẫn cắn không biết chán, những tiếng
cười ròn rã, những câu truyện râm ran suốt cả đêm. Tết nhất với đủ
mọi món ăn nào là thịt mỡ dưa hành, giò chả rồi bánh chưng, bánh tét
tha hồ mà ăn đến ngán ngẫm ê hề.<br>
<br>
Nói đến Tết không ai không nhớ đến bài thơ Ông Đồ của Vũ Đình Liên,
nhất là 2 câu thơ châm biếm trào phúng của thi sĩ Trần Tế Xương đã
lột tả trung thực ý nghĩa của cái tết dân gian với những “ Nêu cao,
pháo đỏ bánh chưng xanh, thịt mỡ dưa hành …” mà không một người Việt
Nam nào lại không nhớ tới không khí ngày tết ở quê :“Đì đẹt ngoài
sân tràng pháo chuột. Loẹt loè trên vách bức tranh gà ..! Bên cạnh
những tấm lòng chân thật còn có những lời chúc chót lưỡi đầu môi của
những phường giả dối nên thi sĩ Tú Xương đã mỉa mai cay đắng:<br>
<br>
“ Lẳng lặng mà nghe nó chúc nhau,<br>
<br>
Chúc nhau trăm tuổi bạc đầu râu!!!”<br>
<br>
Mỗi lứa tuổi đón tết một cách khác, trẻ em thì vui mừng mong đợi
ngày tết với những ước mơ đơn giản đời thường với bao tiền lì xì
mừng tuổi, bộ quần áo mới và bánh thịt phủ phê năm ba ngày tết. Tuổi
thanh xuân thì ngao du đây đó xa nhà, có người lo làm ăn sinh kế nên
phải xa nhà tha hương nơi đất khách quê người, chợt một lúc nào đó
cảm thấy hụt hẫng thiếu vắng một cái gì khiến tâm tư lắng đọng nhất
là những chiều cuối năm nắng hanh vàng vọt bên thềm khiến ta xao
xuyến:<br>
<br>
Chiều cuối năm gợi nhớ,<br>
<br>
Trở về mái nhà xưa ..<br>
<br>
Ngập tràn bao kỷ niệm,<br>
<br>
Thương biết mấy cho vừa ..!<br>
<br>
Chiều cuối năm gợi nhớ,<br>
<br>
Một thoảng buồn xa đưa …<br>
<br>
Những người thân thương cũ,<br>
<br>
Chờ ai đón Giao thừa ..?!<br>
<br>
<b>(Thơ Phạm Trần Anh)</b><br>
<br>
Thi sĩ Thế Lữ cũng đã trải qua những ngày tết xa nhà nơi gác trọ mới
cảm thấy một nỗi buồn thấm thía:<br>
<br>
Hôm nay tạm nghỉ bước gian nan,<br>
<br>
Trong lúc gần xa pháo nổ ran ..<br>
<br>
Rũ áo phong sương trên gác trọ,<br>
<br>
Lặng nhìn thiên hạ đón xuân sang!<br>
<br>
Với tuổi già thì những ngày cuối năm biết bao nhiêu buồn vui cuộc
sống đủ để trầm ngâm về thế thái nhân tình, về cõi nhân sinh riêng
mình chứng nghiệm ..! Nhìn bàn thờ khói hương nghi ngút, nhớ những
người thân đã qua đời, những bạn bè không còn nữa, chậm rãi vuốt
chòm râu bạc nhấp một hớp rượu rồi khè khà ngâm vịnh:<br>
<br>
“ Nén hương khói tỏa thờ Tiên Tổ,<br>
<br>
Chén rượu ngâm nga chúc bạn bè ...!”<br>
<br>
Vào tuổi “Thát thập cổ lai hi”, với cái nhìn thấu suốt toàn diện
cuộc đời sau bao năm thể nghiệm cuộc sống để cuối đời nhận chân được
qui luật muôn đời của con tạo xoay vần, của sinh lão bệnh tử nên
bình thản chấp nhận tuổi già xồng xộc đến, chờ đón cái chết một cách
ung dung tự tại như bài kệ “Cáo tật Thị chúng” của thiền sư Mãn
Giác:<br>
<br>
Xuân khứ bách hoa lạc,<br>
<br>
Xuân đáo bách hoa khai ..<br>
<br>
Sự trục nhãn tiền quá,<br>
<br>
Lão tòng đầu thượng lai ..<br>
<br>
Mạc vị Xuân tàn hoa lạc tận,<br>
<br>
Đình tiền tạc dạ nhất chi mai ..!<br>
<br>
Xuân qua trăm hoa rụng,<br>
<br>
Xuân đến trăm hoa tươi ..<br>
<br>
Việc đời qua trước mắt,<br>
<br>
Trên đầu già đến rồi …<br>
<br>
Đừng tưởng Xuân tàn hoa rụng mãi,<br>
<br>
Đêm qua sân trước một cành mai ..!</font></td>
</tr>
<tr>
<td width="219">
<center>
<a target="_top" href="http://tinmung.net">
<img border="0" src="../../../logo/LOGOtinmung.gif" width="67" height="40"></a><p>
<font face="Arial" size="2" color="#008000"><b>Trang nhà</b></font></p>
</center>
</td>
<td width="236">
<p align="center"><a target="_top" href="../NewYear_INDEX.htm">
<img border="0" src="../../LOGOtinmung2.gif" width="78" height="45"></a><p align="center">
<b><font face="Arial" size="2" color="#008000">Happy new year</font></b></td>
</tr>
</table>
</body>
</html>