File "BaBaiSuyNiem.htm"

Full path: E:/sites/Single15/tinmung2007/webroot/Holiday/MuaChay/TuanThanh/SuyNiem/BaBaiSuyNiem.htm
File size: 41.19 KiB (42178 bytes)
MIME-type:
Charset: utf-8

Download   Open   Back

<html xmlns:v="urn:schemas-microsoft-com:vml" xmlns:o="urn:schemas-microsoft-com:office:office" xmlns="http://www.w3.org/TR/REC-html40">

<head>
<meta http-equiv="Content-Type" content="text/html; charset=utf-8">
<title>&nbsp;Ba bài suy niệm về ngày thứ Bảy Tuần Thánh của Joseph Ratzinger</title>
<base target="_self">
<meta name="keywords" content="tuần thánh, tuan thanh, mua chay, mùa chay, suy niem, suy niệm">

<!--[if !mso]>
<style>h2
	{margin-bottom:.0001pt;
	text-align:justify;
	page-break-after:avoid;
	text-autospace:none;
	font-size:12.0pt;
	font-family:"Arial","sans-serif";
	color:blue; margin-left:0cm; margin-right:0cm; margin-top:0cm}
 li.MsoNormal
	{mso-style-parent:"";
	margin-top:0cm;
	margin-right:0cm;
	margin-bottom:10.0pt;
	margin-left:0cm;
	line-height:115%;
	font-size:12.0pt;
	font-family:"Times New Roman","serif";
	}
 div.MsoNormal
	{mso-style-parent:"";
	margin-top:0cm;
	margin-right:0cm;
	margin-bottom:10.0pt;
	margin-left:0cm;
	line-height:115%;
	font-size:12.0pt;
	font-family:"Times New Roman","serif";
	}
h3
	{margin-right:0cm;
	margin-left:0cm;
	font-size:13.5pt;
	font-family:"Times New Roman","serif";
	font-weight:bold}
</style>
<![endif]-->
</head>

<body background="../../../../TRANG%20CUA%20ME%20MARIA/Pictures/Background/bgr.gif">

<table border="0" width="500" id="table1" cellspacing="15" cellpadding="0" bgcolor="#FFFFF0">
	<tr>
		<td>
		 <p align="right" style="margin-top: 0; margin-bottom: 0"><b>
			<font face="Verdana" size="4" color="#006666">Suy Niệm Tuần Thánh</font></b></p>
			<hr color="#FF4D20" width="80%" align="right">
			<p style="margin-top: 0; margin-bottom: 0" class="MsoNormal" align="right">
			<font color="#0000FF" face="Arial"><b>&nbsp;Ba bài suy niệm về ngày thứ 
			Bảy Tuần Thánh <br>
			của Joseph Ratzinger</b></font></p>
			<p style="margin-top: 0; margin-bottom: 0" class="MsoNormal" align="right">
			<b><i><span style="font-size: 10pt; font-family: Arial">§ Nguyễn Kim 
			Ngân</span></i></b></td>
	</tr>
	<tr>
		<td align="justify">
		 <p class="MsoNormal" style="line-height: normal; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
			<i><span style="font-size: 12.0pt; font-family: Arial">Trong mùa 
			Phụng Vụ của Hội Thánh Công giáo, không có một ngày nào tĩnh lặng, 
			ảm đạm, trống trải, nhuốm mầu hoang mang và ngao ngán bằng ngày Thứ 
			Bẩy Tuần Thánh, cho dù tiết trời độ này chỉ mới vừa vào xuân. Thế 
			nhưng, vị đương kim Giáo Hoàng của chúng ta, Đức Bênêđictô XVI—từ 
			khi còn là một nhà thần học—đã cống hiến cho chúng ta những suy nghĩ 
			tuyệt vời phản ảnh não trạng của những con người thời đại, vốn ảnh 
			hưởng và chi phối rất đậm đà ngay cả trái tim của những tín hữu 
			trung kiên nhất, chính giữa lòng Hội Thánh.</span></i></p>
			<p class="MsoNormal" style="line-height: normal; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
			<i><span style="font-size: 12.0pt; font-family: Arial">Phải, nhà 
			thần học lỗi lạc ấy, Joseph Ratzinger, đã viết ba bài suy niệm về 
			ngày Thứ Bẩy Tuần Thánh, suy tư về sự vắng mặt của Thiên Chúa trong 
			thế giới hôm nay. Đã bốn mươi năm qua, những dòng suy tư này, theo 
			thiển ý, vẫn còn rất đúng. Chẳng thế mà, trong một buổi hỏi đáp với 
			giới trẻ, Đức Giáo Hoàng (ĐGH) Bênêđictô XVI đã lập lại một trong 
			những tư tưởng chính ngài đề cập đến trong ba bài suy niệm ấy: 
			“Thách đố lớn của thời đại chúng ta là trào lưu tục hóa. Xã hội đang 
			tạo ra cái ảo tưởng là Thiên Chúa không hiện hữu, hoặc giả nếu có, 
			thì Ngài cũng chỉ luẩn quẩn trong cái vòng giới hạn riêng tư của mỗi 
			người. Là Kitô hữu, chúng ta không thể nào chấp nhận thái độ này. 
			Hơn bao giờ hết, Thiên Chúa cần phải hiện diện một cách mới mẻ trong 
			cuộc đời chúng ta” (CWNews.com, ngày 7 tháng 4 năm 2006). Và mới đây 
			nhất, Ngài tuyên bố rõ rằng: “Chỉ khi nào ta thưa ‘vâng’ với Chúa 
			thì đời ta mới thật sự có ý nghĩa” (VIS, 5 tháng 4, 2009).</span></i></p>
			<p class="MsoNormal" style="line-height: normal; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
			<i><span style="font-size: 12.0pt; font-family: Arial">Trong tâm 
			tình ấy, xin cống hiến bạn đọc bản phiên dịch ba bài suy niệm Thứ 
			Bẩy Tuần Thánh.</span></i></p>
			<p class="MsoNormal" style="line-height: normal; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
			<b><span style="font-size: 12.0pt; font-family: Arial">Lời dẫn nhập 
			của Lucio Brunelli</span></b></p>
			<p class="MsoNormal" style="line-height: normal; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
			<span style="font-size: 12.0pt; font-family: Arial">“Thứ Bẩy Tuần 
			Thánh: ngày Thiên Chúa được mai táng; điều này chẳng áp dụng thật 
			chính xác cho thời đại chúng ta hôm nay hay sao? Thế kỷ ta đang sống 
			chẳng phải là đã khai mào cho một ngày thứ Bẩy Tuần Thánh, ngày 
			Thiên Chúa vắng mặt đó sao? Đây là điều nhà thần học Joseph 
			Ratzinger đã nêu lên trong bài suy niệm Phục Sinh năm 1969 trước khi 
			ĐGH Phaolô VI đặt ngài làm Hồng Y, và trước khi ĐGH Gioan Phaolô II 
			triệu ngài về Roma nắm chức vụ Tổng Trưởng Bộ Tín Lý. Ngài có một 
			nhận định khá bi thảm về thời đại chúng ta. Nhưng đó cũng lại là một 
			nhận định rất sáng suốt về nỗi hoang mang như đang phủ tràn lương 
			tâm của người Kitô hữu hôm nay. “Hội Thánh, niềm tin, chẳng giống 
			như chiếc thuyền mong manh sắp đắm chìm vì không cưỡng nổi những đợt 
			sóng cả và những trận cuồng phong dập vùi, chính trong cái giờ khắc 
			mà Thiên Chúa tưởng như đang vắng mặt đó sao?”</span></p>
			<p class="MsoNormal" style="line-height: normal; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
			<span style="font-size: 12.0pt; font-family: Arial">Nhiều năm trước 
			đây, Đức Ông Luigi Giussani nhắc lại sự kiện ĐGH Phaolô VI bắt đầu 
			phát động phong trào Hiệp Thông và Giải Phóng (HTGP), vào những năm 
			cuối triều giáo hoàng của ngài, lý do là chính ngài và phong trào 
			đều có cùng một nhận định về thảm trạng của Hội Thánh. Ngày 8 tháng 
			9 năm 1977, ngài nói với Jean Guitton rằng: “Hiện thời Hội Thánh như 
			đang chìm lún vào một cơn khốn quẫn sâu xa, và vấn nạn lại chính là 
			niềm tin. Tôi thấy như phải lập lại câu nói mang đầy nét u ám tối 
			tăm của Chúa Giêsu được ghi lại trong Phúc Âm Luca: “Khi Con Người 
			đến, liệu Ngài còn có thể tìm thấy niềm tin trên mặt đất này chăng?” 
			(…). Rất có thể cái lối suy nghĩ phản Công giáo này mai mốt đây sẽ 
			còn mạnh mẽ hơn nữa trong giới Công giáo. Thế nhưng lối suy nghĩ đó 
			không bao giờ có thể đại diện cho suy tư của Hội Thánh được. Dù bé 
			bỏng đến đâu, đoàn chiên nhỏ vẫn cần phải tồn tại.” Giussani kết 
			luận thế này về nhận xét của ĐGH Phaolô VI: “Đây là tóm tắt suy tư 
			của ĐGH về hiện tình và định mệnh của Hội Thánh. Đó chính là lý do 
			ngài phát động phong trào HTGP.” Quả thực, khi ĐGH băng hà, niềm hy 
			vọng của Giussani còn lại gì? “Có một người tiếp tục cảm nhận được 
			cái thảm trạng đang bủa vây Hội Thánh. Nhân vật đó cảm nhận rằng 
			phương dược duy nhất có thể chữa trị cho tình trạng này, chính là 
			trở về với niềm tin vào đấng siêu nhiên như là yếu tố quyết định cho 
			cuộc sống của Hội Thánh: đó là cuộc trở về với tính chân truyền của 
			Truyền Thống” (xem Luigi Giussani, Un avvernimento di vita cioé una 
			storia, II Sabato, 1993, từ trang 72).</span></p>
			<p class="MsoNormal" style="line-height: normal; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
			<span style="font-size: 12.0pt; font-family: Arial">Trong lòng Hội 
			Thánh cũng thấy chớm nở một cảm nhận về sự gần gũi mang tính nhân 
			loại khi ta khám phá ra nơi một ai khác cùng một nhận định về thời 
			khắc lịch sử ta đang sống. Việc này xẩy đến khi chia sẻ những điều 
			khơi gợi niềm đau đớn và những điều làm vươn lên mầm hy vọng. Đọc 
			lại ba bài suy niệm của Ratzinger về Thứ Bẩy Tuần Thánh, ta sẽ lại 
			tìm thấy cùng một nhận định về hiện trạng của niềm tin, và hôm nay 
			hơn bao giờ hết, nó trở thành một cái gì rất hợp thời. Niềm tin phải 
			bao quát cả tình trạng choáng váng của con người, nỗi hư vô đang gậm 
			mòn trong chúng ta và qua chúng ta. Lúc nào cũng vẫn thế, nhưng càng 
			đặc biệt áp dụng đúng cho ngày hôm nay. “Cô có biết sự vắng mặt nào 
			lại mãnh liệt hơn sự có mặt không?” Đó là câu Bác sĩ Schweitzer hỏi 
			cô y tá trong vở kịch của Gilbert Cesbron: ‘Nửa Đêm Rồi, Bác sĩ 
			Schweitzer ơi’ (xem Luigi Giussani, At the Origin of the Christian 
			Claim).</span></p>
			<p class="MsoNormal" style="line-height: normal; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
			<span style="font-size: 12.0pt; font-family: Arial">Ta sẽ đọc thấy 
			trong bài suy niệm II: “Một nỗi ưu tư chợt đến, một thứ ưu tư chính 
			hiệu vừa khai sinh trong cõi sâu của niềm cô đơn; không thể dùng lý 
			trí mà xua tan nó được; chỉ sự có mặt của một ai đó hằng thương yêu 
			ta mới trị được nó mà thôi.” Ta chỉ có thể nài xin và nhận ra sự có 
			mặt này khi nó bừng sáng trước đôi mắt và trái tim ta. Khi nó được 
			tỏ lộ như là những biến cố của ân sủng, nghĩa là, “của sự thánh 
			thiện chân thực, ở đây và bây giờ, trên mặt đất này” (Lumen Gentium 
			48), thì nỗi kinh ngạc của con người mới được đánh động và niềm hoài 
			mong của con người mới được no thỏa. Và rồi nhà thần học lừng danh 
			Ratzinger đã kết luận bằng một lời kinh mộc mạc: “Xin ban cho chúng 
			con một niềm tin khiêm tốn đơn sơ.”</span></p>
			<p class="MsoNormal" style="line-height: normal; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
			<b><span style="font-size: 12pt; font-family: Arial">Bài I: ƯU TƯ VỀ 
			MỘT SỰ VẮNG MẶT</span></b></p>
			<p class="MsoNormal" style="line-height: normal; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
			<span style="font-size: 12.0pt; font-family: Arial">Càng ngày người 
			ta càng nhấn mạnh rằng hôm nay Thiên Chúa đã chết rồi. Lần đầu tiên 
			người ta nói thế, trong tác phẩm của Jean Paul, đó thật là một giấc 
			mộng hãi hùng: Giêsu, kẻ đã chết, công bố với những người đã chết, 
			từ trên thượng tầng thế giới rằng, khi du hành sang qua bên kia thế 
			giới, ông chẳng thấy gì cả, không thiên đàng, không Thượng Đế từ 
			nhân, chỉ có hư không biền biệt, và niềm im lặng của cõi hư vô trống 
			rỗng. Đó vẫn còn là giấc mộng rùng rợn, bị xô đẩy sang một bên, tan 
			biến dần khi trở giấc, đúng theo kiểu của mộng mơ, cho dù nỗi ưu tư 
			nó mang đến sẽ chẳng bao giờ biến tan được, bởi vì lúc nào nó cũng 
			nằm chờ đợi, đầy vẻ nham hiểm, ở sâu trong đáy lòng.</span></p>
			<p class="MsoNormal" style="line-height: normal; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
			<span style="font-size: 12.0pt; font-family: Arial">Một thế kỷ sau, 
			trong tác phẩm của Nietzsche, điều đó lại trở thành một lối trịnh 
			trọng đến chết người, được diễn đạt bằng một tiếng kêu, chất đầy 
			kinh hãi: “Thượng Đế đã chết! Thượng Đế còn tiếp tục chết! Chính 
			chúng ta đã giết Ngài!” Năm mươi năm sau, người ta luận bàn về điều 
			này một cách phóng khoáng theo kiểu hàn lâm, và rồi người ta chuẩn 
			bị cho một thứ “thần học đàng sau cái chết của Thượng Đế,” trong khi 
			đưa mắt </span>
			<span lang="EN-US" style="font-size: 12.0pt; font-family: Arial">dáo</span><span style="font-size: 12.0pt; font-family: Arial"> 
			dác dõi tìm nẻo đường đi tới. Người ta khích lệ nhau chuẩn bị cho 
			việc thế chỗ cho Thượng Đế. Mầu nhiệm kinh hoàng của ngày Thứ Bẩy 
			Tuần Thánh, vực thẳm im lặng của nó, chính ngày hôm nay, đã thủ đắc 
			được một thực tại tan nát. Bởi lẽ, hôm nay là Thứ Bẩy Tuần Thánh: 
			ngày Thiên Chúa ẩn mình, ngày của cái nghịch lý chưa từng có mà ta 
			đọc được trong Kinh Tin Kính với những lời như: “xuống ngục tổ 
			tông,” đi sâu vào lòng mầu nhiệm sự chết. Trong ngày Thứ Sáu Tuần 
			Thánh, ta còn nhìn thấy hình hài kẻ bị đóng đinh. Nhưng sang đến 
			ngày Thứ Bẩy Tuần Thánh, hoàn toàn trống vắng, tảng đá che mồ đang 
			phủ lấp người đã chết, tất cả đã chấm hết, niềm tin dường như đã dứt 
			khoát bị lột mặt nạ trơ ra thành một thứ cuồng tín. Chẳng có vị 
			Thiên Chúa nào cứu nổi ông Giêsu này dù với tư cách là Con Thiên 
			Chúa. Chẳng còn phải lo lắng gì nữa: kẻ thận trọng đã có lúc do dự, 
			đã băn khoăn tự hỏi xem liệu sự việc có thể khác đi được chăng, hay 
			có thể xẩy ra đúng y như mình tưởng không. Thứ Bẩy Tuần Thánh: ngày 
			Thiên Chúa được mai táng; đó không phải là ngày ta đang sống đây 
			sao? Thế kỷ này chẳng phải đã đánh dấu sự khởi đầu của một ngày Thứ 
			Bẩy Tuần Thánh dài dằng dặc, ngày mà Thiên Chúa vắng mặt, và khi 
			ngay cả tâm hồn các môn đệ cũng đắm chìm trong một hố thẳm cóng 
			lạnh, càng ngày như càng khoét sâu thêm, để rồi khi trở về nhà, lòng 
			các ông trĩu nặng niềm xấu hổ và ưu tư, tinh thần rã rời, trống rỗng 
			và tuyệt vọng, lê bước trên đường về Emmaus, thật không ngờ kẻ mà 
			mình tin rằng đã chết, nay lại đang hiện diện giữa các ông? “Thiên 
			Chúa đã chết, và chúng ta đã giết Ngài”: có bao giờ ta ý thức rằng 
			câu nói này đã được lấy ra, từng chữ một, từ trong truyền thống Kitô 
			giáo, và trong khi đi đàng thánh </span>
			<span lang="EN-US" style="font-size: 12.0pt; font-family: Arial">giá</span><span style="font-size: 12.0pt; font-family: Arial">, 
			chúng ta cũng thường lặp lại câu nói ấy mà không hề nhận thức được 
			hết cái sức nặng khủng khiếp của điều ta thốt lên? Ta đã giết Ngài, 
			khi giam hãm Ngài trong cái vỏ rệu rã của lối nghĩ suy cũ kỹ sáo 
			mòn, khi đầy ải Ngài vào một cõi hình thức xót thương rỗng tuếch, 
			khiến Ngài bị mất hút trong cái vòng tròn của những lời lẽ đạo đức, 
			hoặc của những thứ của cải cổ lỗ. Ta đã giết Ngài khi lối sống hàm 
			hồ của ta buông phủ bức màn tăm tối che lấp đi hình ảnh của Ngài. 
			Quả vậy, còn điều gì làm cho Thiên Chúa trở thành vấn đề trong thế 
			giới hôm nay ngoài chính niềm tin và tình yêu của người tín hữu, vốn 
			tự nó đã chất chứa đủ mọi thứ vấn đề?</span></p>
			<p class="MsoNormal" style="line-height: normal; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
			<span style="font-size: 12.0pt; font-family: Arial">Sự khuất bóng 
			Thiên Chúa ngày hôm nay, trong thế kỷ này, đang dần trở thành một 
			ngày Thứ Bẩy Tuần Thánh dài dằng dặc. Sự khuất vắng này đang lên 
			tiếng gọi mời lương tâm chúng ta. Nhưng dù sao chăng nữa, điều đó 
			cũng an ủi ta phần nào. Cái chết của Thiên Chúa nơi Đức Giêsu Kitô 
			cùng một lúc biểu lộ tình Ngài triệt để liên đới với ta. Cùng một 
			lúc, cái mầu nhiệm tăm tối nhất của đức tin lại cũng chính là dấu 
			chỉ sáng chói nhất của một niềm hy vọng vô tận. Còn hơn thế nữa, chỉ 
			qua cái thất bại của ngày Thứ Sáu Tuần Thánh, chỉ qua niềm thinh 
			lặng của nỗi chết trong ngày Thứ Bẩy Tuần Thánh mà các môn đệ mới mở 
			trí ra để thấu hiểu được chân tính của Chúa Giêsu và chân lý của sứ 
			điệp Ngài. Thiên Chúa phải chết cho họ thì Ngài mới sống thực nơi 
			họ. Cái hình ảnh không tốt đẹp mà họ có về Thiên Chúa phải bị </span>
			<span lang="EN-US" style="font-size: 12.0pt; font-family: Arial">xoá</span><span style="font-size: 12.0pt; font-family: Arial"> 
			bỏ, ngõ hầu, qua đống hoang tàn của căn nhà đổ nát, họ có thể thấy 
			được bầu trời cao xanh, và nhìn nhận Ngài vẫn mãi vĩ đại, cao cả vô 
			biên. Ta cần đến niềm im lặng của Thiên Chúa để có thể cảm nghiệm 
			lại được cái hố thẳm nơi vẻ cao cả của Ngài và cái vực sâu trong nỗi 
			hư vô của ta, cái cõi thăm thẳm ấy sẽ cứ mãi ngoác to hơn và khoét 
			sâu thêm, nếu không có Ngài.</span></p>
			<p class="MsoNormal" style="line-height: normal; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
			<span style="font-size: 12.0pt; font-family: Arial">Có một hoạt cảnh 
			Tin Mừng lột tả hết sức kỳ diệu niềm thinh lặng của ngày Thứ Bẩy 
			Tuần Thánh, và do đó, một lần nữa, phản ảnh trung thực cái giai đoạn 
			lịch sử mà ta đang sống. Chúa Kitô đang thiêm thiếp ngủ trên mạn 
			thuyền, giữa cảnh phong ba bão táp. Ngôn sứ Êlia đã có lần diễu cợt 
			các tư tế tôn thờ thần Ba-al khi họ gào thét khẩn cầu thần linh của 
			họ cho lửa xuống thiêu đốt hy lễ. Ông khích bác họ nên hò hét dữ dội 
			hơn, ngộ nhỡ vị thần của họ đang còn say ngủ. Thế nhưng, có đúng là 
			Thiên Chúa không hề ngủ say chăng? Có phải lời diễu cợt của vị ngôn 
			sứ đã chẳng rơi xuống trên đầu các tín hữu hằng tôn thờ Đức Chúa của 
			Israel, là vị đang cùng ta ở trên một con thuyền sắp sửa đắm chìm? 
			Thiên Chúa thì say ngủ trong khi các tín hữu của Ngài sắp sửa chết 
			đuối? Đó chẳng phải là cái kinh nghiệm của cuộc đời ta đang sống hay 
			sao? “Hội Thánh, niềm tin, chẳng giống như chiếc thuyền mong manh 
			sắp đắm chìm vì không cưỡng nổi những đợt sóng cả và những trận 
			cuồng phong dập vùi, chính trong cái giờ khắc mà Thiên Chúa tưởng 
			như đang vắng mặt đó sao?” Các môn đệ đang kêu cứu đến tuyệt vọng. 
			Họ vội đánh thức Ngài dậy. Thế nhưng Chúa lại tỏ vẻ ngạc nhiên và 
			quở trách họ vì lòng tin yếu kém. Tình trạng này có hề khác với 
			những gì đang xẩy đến cho ta chăng? Khi giông bão đã qua đi rồi, ta 
			sẽ hiểu ngay rằng sự yếu tin đã khiến ta trở thành ngu muội biết bao 
			nhiêu.</span></p>
			<p class="MsoNormal" style="line-height: normal; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
			<span style="font-size: 12.0pt; font-family: Arial">“Chúa ơi, làm 
			sao chúng con có thể không đánh thức Chúa dậy được, bởi vì Chúa cứ 
			mãi lặng im, cứ mãi ngủ say, còn chúng con thì không thể không kêu 
			gào: thức dậy đi, Chúa ơi, Chúa không thấy chúng con sắp chìm xuồng 
			sao? Xin Chúa chỗi dậy, đừng để bóng tối của ngày Thứ Bẩy Tuần Thánh 
			phủ tràn mãi mãi. Xin Chúa cho tia sáng của ngày Phục Sinh toả chiếu 
			trên thời đại chúng con hôm nay. Xin Chúa đồng hành với chúng con 
			đang hoang mang lầm lũi tiến về Emmaus, để cho tâm hồn chúng con 
			bừng nóng lên trong sức ấm nồng </span>
			<span lang="EN-US" style="font-size: 12.0pt; font-family: Arial">toả</span><span style="font-size: 12.0pt; font-family: Arial"> 
			ra từ sự hiện diện gần gũi của Chúa. L</span><span lang="EN-US" style="font-size: 12.0pt; font-family: Arial">ạy</span><span style="font-size: 12.0pt; font-family: Arial"> 
			Chúa, Chúa đã âm thầm ẩn mình, len lỏi bước đi trên những nẻo đường 
			Do Thái, để trở thành một con người giữa lòng thế nhân, xin chớ để 
			chúng con đắm chìm trong bóng tối; xin đừng để lời Ngài biến tan đi 
			trong lúc chúng con đang phí phạm lời nói, đang tuôn ra những lời 
			phù phiếm. Xin hãy giúp chúng con, bởi vì không có Chúa, chúng con 
			sẽ chìm lỉm mất thôi. AMEN.</span></p>
			<p class="MsoNormal" style="line-height: normal; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
			<b><span style="font-size: 12pt; font-family: Arial">Bài II: ƯU TƯ 
			VỀ NỖI CHẾT</span></b></p>
			<p class="MsoNormal" style="line-height: normal; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
			<span style="font-size: 12.0pt; font-family: Arial">Việc Thiên Chúa 
			ẩn mình trong thế giới đã tạo nên mầu nhiệm thực sự của ngày Thứ Bẩy 
			Tuần Thánh, cái mầu nhiệm đã thoát lộ qua những từ ngữ bí ẩn: Chúa 
			Giêsu “xuống ngục tổ tông.” Cùng lúc ấy, kinh nghiệm thời đại đã 
			hiến tặng cho ta một lối tiếp cận ngày Thứ Bẩy Tuần Thánh hoàn toàn 
			mới mẻ, giả định việc Thiên Chúa ẩn mình trong thế giới vốn thuộc về 
			Ngài, và lẽ ra phải công bố danh thánh Ngài bằng muôn vàn ngôn ngữ, 
			cái kinh nghiệm về nỗi bất lực của một vị Thiên Chúa toàn năng—chính 
			đây là kinh nghiệm và nỗi khốn cùng của thời đại chúng ta.</span></p>
			<p class="MsoNormal" style="line-height: normal; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
			<span style="font-size: 12.0pt; font-family: Arial">Thế nhưng ngay 
			cả khi Thứ Bẩy Tuần Thánh có lôi kéo chúng ta tiến sâu về phía chiều 
			hướng đó, ngay cả khi ta thấu hiểu vị Thiên Chúa của ngày Thứ Bẩy 
			Tuần Thánh nhiều hơn là sự mạc khải đầy quyền năng của Thiên Chúa 
			qua sấm chớp được Cựu Ước nói đến, thì có một câu hỏi vẫn chưa có 
			câu trả lời—đó là giải thích ý nghĩa chân thực của dòng chữ nhiệm 
			mầu: Chúa Giêsu “xuống ngục tổ tông.” Ta nên nhớ rõ rằng: chẳng ai 
			thực sự có khả năng giải thích được câu nói trên. Tình trạng cũng 
			chẳng khả quan gì hơn nếu bảo rằng “ngục tổ tông” chỉ là lối dịch 
			tồi tệ từ ngữ “shê-ol” trong tiếng Do Thái, vốn chỉ có nghĩa là 
			vương quốc của thần chết. Như thế, cái công thức ấy nguyên thủy chỉ 
			có nghĩa là Chúa Giêsu đã bước xuống tận đáy thẳm của nỗi chết; Ngài 
			đã chết thưc sự để chia sớt với ta cái hố thẳm định mệnh của sự 
			chết. Thực ra, câu hỏi là thế này: chết thực sự có ý nghĩa gì? Cái 
			gì sẽ thực sự xẩy ra khi ta bước xuống tận đáy thẳm của cái chết? Ta 
			còn phải ghi nhận sự kiện là: sự chết đã không còn như trước nữa, nó 
			đã khác đi kể từ ngày Chúa Kitô chịu chết, chấp nhận cái chết, và đi 
			vào cõi chết. Y như sự sống cũng thế: nó không còn giống như trước 
			đây nữa, kể từ khi Chúa Kitô đến với con người, lấy cuộc hiện hữu 
			thần linh hòa nhập với hiện hữu con người. Trước đây, chết chỉ đơn 
			thuần là chết, là cách biệt với cõi sống, cho dù ở những độ sâu khác 
			nhau, một cái gì như thể là cõi địa ngục, khía cạnh tối đen của vùng 
			bóng tối sinh động và bất khả thấu nhập. Thế nhưng, từ đây, chết 
			cũng chính là sống, và khi ta bước qua ngưỡng cửa của sự chết, như 
			một vùng hoang mạc giá băng, ta sẽ luôn gặp lại được đấng hiện thân 
			cho sự sống; Ngài luôn ấp ủ ước muốn trở thành người bạn đường cùng 
			đi với ta vào cõi cô đơn cuối cùng. Trong cuộc thống khổ nơi vườn 
			Cây Dầu, giữa cảnh cô đơn tuyệt cùng nhuốm mầu tang tóc, khiến Chúa 
			thảm thiết thốt lên lời này từ trên thánh giá: “</span><span lang="EN-US" style="font-size: 12.0pt; font-family: Arial">Lạ</span><span style="font-size: 12.0pt; font-family: Arial">y 
			Chúa, </span>
			<span lang="EN-US" style="font-size: 12.0pt; font-family: Arial">lạ</span><span style="font-size: 12.0pt; font-family: Arial">y 
			Chúa Trời con, sao nỡ bỏ rơi con thế này?” Chúa Giêsu đã trở thành 
			đấng thông chia nỗi cô đơn khổ sầu với ta. Vào một đêm tối, khi em 
			nhỏ phải một mình băng qua một cánh rừng già, thì chắc hẳn em sẽ sợ 
			hãi, cho dù ta có trấn an em cả trăm lần rằng không có gì phải sợ 
			đâu. Thực ra, em không sợ một cái gì rõ rệt, nỗi sợ của em là nỗi sợ 
			không tên, nhưng trong bóng đêm rợn rùng, em không khỏi cảm thấy bất 
			an, cô độc, có cái gì đó nguy hiểm đang rình chờ đâu đây. Chỉ một 
			giọng nói của một ai đó mới có thể an ủi em; chỉ có bàn tay của một 
			người nào đó em yêu thương mới ngăn chận được nỗi ưu tư trĩu nặng 
			như một cơn ác mộng. Một nỗi ưu tư chính hiệu vừa khai sinh từ đáy 
			sâu của niềm cô đơn; không thể dùng lý trí mà xua tan đi được; chỉ 
			sự có mặt của một ai đó hằng thương yêu ta mới trị được nó mà thôi. 
			Nỗi ưu tư này thực ra là nỗi ưu tư không tên. Nó chính là biểu hiệu 
			kinh khủng của niềm cô đơn tối hậu. Ai trong chúng ta chưa từng trải 
			nghiệm cái cảm giác bị chối từ đầy hãi hùng này? Ai chưa hề nghe 
			thấy phép lạ đầy ủi an và phúc lành xẩy ra trong những hoàn cảnh như 
			thế xuất phát từ một câu nói ân cần? Thế nhưng, chính ở nơi nào phủ 
			ngập cô đơn mà lại không thể nghe được những lời nói yêu thương có 
			mãnh lực biến đổi, thì nơi đó chính là địa ngục rồi đấy. Trong thời 
			đại chúng ta, không phải là có ít người, đầy vẻ lạc quan, nhưng lại 
			chủ trương rằng cuộc gặp gỡ nào cũng đều hời hợt nông cạn hết thảy; 
			họ cho rằng chẳng ai thấu đạt được cõi sâu thẳm chân thực của người 
			khác, và do đó, ngay trong đáy sâu tột cùng của mọi hiện hữu đều 
			thấy chực chờ một nỗi tuyệt vọng, một nền địa ngục. Jean Paul Sartre 
			đã diễn tả tình trạng này một cách thi vị trong một vở kịch của ông 
			và đồng thời cũng bộc lộ cái cốt lõi của lý thuyết ông có về con 
			người. Có một điều chắc chắn sẽ xẩy ra: đó là sẽ có một đêm khi 
			không một lời nói ủi an nào có thể thấu nhập vào sự chối từ tăm tối, 
			để rồi một cánh cửa sẽ mở ra cho ta bước qua trong tuyệt cùng cô 
			đơn: đó là cánh cửa của nỗi chết. Rốt cuộc, tất cả mọi ưu tư trên 
			cõi đời này đều xuất phát từ nỗi cô đơn tuyệt cùng ấy. Chính vì thế 
			mà trong Cựu Ước, từ ngữ ám chỉ vương quốc của thần chết cũng chính 
			là từ ngữ ám chỉ địa ngục: shê-ol. Chết, thực ra, chính là niềm cô 
			đơn tuyệt đối. Thế nhưng, nỗi cô đơn nào đã chìm quá sâu đến nỗi 
			không một tia sáng tình yêu nào dọi thấu, thì đó chính là địa ngục 
			vậy.</span></p>
			<p class="MsoNormal" style="line-height: normal; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
			<span style="font-size: 12.0pt; font-family: Arial">“Xuống ngục tổ 
			tông”--lời thú nhận này của ngày Thứ Bẩy Tuần Thánh có nghĩa là Chúa 
			Kitô đã bước qua cánh cửa cô đơn, rồi Ngài đã đi xuống sâu, thật sâu 
			đến độ thân phận cô đơn của ta không sao dò thấu, không sao tiến đến 
			gần được. Thế nhưng đó cũng có nghĩa là, ngay trong khi bức màn đêm 
			mù đặc khiến cho không lời nào thấu nhập vào được, và khi tất cả 
			chúng ta đây chẳng khác gì lũ trẻ bị đuổi xua, nức nghẹn, thì bỗng 
			vang lên một giọng nói, gọi đúng tên ta, một cánh tay vươn ra nắm 
			lấy tay ta và dẫn ta đi. Niềm cô đơn bất khuất đã bị khuất phục ngay 
			từ giây phút Ngài bước vào đó. Địa ngục đã bị đánh bại ngay từ 
			khoảnh khắc tình yêu bước nhẹ vào cõi chết và vùng đất cô đơn hoang 
			lạnh có Ngài cắm lều định cư. Tự đáy sâu thăm thẳm, con người không 
			sống bằng cơm bánh. Trong chân tính hữu thể của mình, con người sống 
			bằng sự kiện mình được thương yêu, và được trao cho khả năng yêu 
			thương. Ngay từ cái khoảnh khắc có tình yêu hiện diện trong cõi 
			chết, thì sự sống thấu nhập sự chết: “Sự sống các tín hữu Ngài không 
			bị tước đoạt, </span>
			<span lang="EN-US" style="font-size: 12.0pt; font-family: Arial">lạ</span><span style="font-size: 12.0pt; font-family: Arial">y 
			Chúa, mà được biến đổi,” đó là điều Hội Thánh cầu xin trong phụng vụ 
			lễ an táng.</span></p>
			<p class="MsoNormal" style="line-height: normal; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
			<span style="font-size: 12.0pt; font-family: Arial">Rốt cuộc, chẳng 
			ai có thể đo lường được tầm mức của những lời “xuống ngục tổ tông.” 
			Thế nhưng khi nào đã gần đến giờ bước vào niềm cô đơn tuyệt cùng, 
			chắc hẳn chúng ta sẽ được ban cho ơn hiểu biết một cách rõ ràng cái 
			mầu nhiệm tăm tối này. Ta có thể tin chắc rằng khi đã đến giờ phút 
			cô đơn tột cùng, ta sẽ không đơn độc, bởi vì ngay từ bây giờ, ta đã 
			có thể mường tượng điều gì sẽ xẩy ra. Chính trong cơn thống khổ vì 
			phải đối chọi với bóng tối sự chết của Chúa mà ta bắt đầu biết cảm 
			tạ hồng ân vì đã nhìn thấy ánh sáng </span>
			<span lang="EN-US" style="font-size: 12.0pt; font-family: Arial">toả</span><span style="font-size: 12.0pt; font-family: Arial"> 
			ra từ chính vùng tăm tối ấy.</span></p>
			<p class="MsoNormal" style="line-height: normal; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
			<b><span style="font-size: 12pt; font-family: Arial">Bài III: HƯỚNG 
			VỀ ÁNH SÁNG PHỤC SINH</span></b></p>
			<p class="MsoNormal" style="line-height: normal; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
			<span style="font-size: 12.0pt; font-family: Arial">Trong Sách 
			Nguyện Rôma, phụng vụ của Tam Nhật Thánh được sắp đặt một cách đặc 
			biệt; qua những lời nguyện, Hội Thánh ước mong thông chuyển cho ta 
			thực tại cuộc khổ nạn của Chúa, rồi xuyên qua và vượt qua các từ 
			ngữ, ta đi đến cái cốt lõi thiêng liêng của những biến cố xẩy ra. 
			Nếu muốn diễn tả bằng cách thâu tóm lại trong một vài từ ngữ các 
			kinh nguyện phụng vụ của ngày Thứ Bẩy Tuần Thánh, thì trước hết, ta 
			phải nói đến hiệu năng của niềm bình an sâu xa toát ra từ đó. Chúa 
			Kitô đã thấu nhập vào sự ẩn mình (Verborgenheit), nhưng trong cùng 
			một lúc và tận ở cái cốt lõi của niềm tăm tối bất khả thấu nhập, 
			Ngài đã đi sâu vào sự an toàn (Geborgenheit). Quả thế, Ngài đã trở 
			thành niềm chắc chắn tối hậu. Thế là lời khích lệ của Vịnh gia đã 
			trở thành sự thật: “Ngay cả khi con muốn lẩn trốn vào nơi địa ngục, 
			thì Chúa cũng ở đó rồi.” Càng đi sâu vào trong phụng vụ, ta càng 
			thấy nhiều thêm những tia sáng Phục Sinh chói lọi trong đó, y như 
			vầng hào quang của ánh bình minh. Trong khi ngày Thứ Sáu Tuần Thánh 
			mở ra trước mắt ta cái dung nhan méo mó của kẻ bị đóng đinh, thì 
			phụng vụ ngày Thứ Bẩy Tuần Thánh lại phản ảnh nhiều hơn cái bóng 
			dáng cây thánh giá thật thân gần với Hội Thánh ngày xưa: bóng thánh 
			giá phủ đầy ánh sáng, trong cùng một lúc, vừa là dấu chỉ của sự 
			chết, vừa là chỉ dấu của sự phục sinh.</span></p>
			<p class="MsoNormal" style="line-height: normal; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
			<span style="font-size: 12.0pt; font-family: Arial">Vì thế, ngày Thứ 
			Bẩy Tuần Thánh nhắc nhở ta một khía cạnh của lòng thương xót Kitô 
			giáo, có thể đã bị mai một với thời gian. Khi ngước lên thánh giá 
			cầu nguyện, ta thường nhìn nó chỉ như một dấu chỉ cuộc khổ hình lịch 
			sử của Chúa trên đồi Golgotha. Thế nhưng, nguồn gốc việc tôn sùng 
			thánh giá đã đổi thay: ngày xưa, khi cầu nguyện, các tín hữu quay 
			mặt về hướng Đông, vừa nói lên niềm hy vọng rằng Chúa Kitô, là mặt 
			trời chân chính, sẽ mọc lên trên dòng lịch sử, vừa biểu lộ niềm tin 
			vào ngày Chúa sẽ trở lại. Trước hết, thánh giá được trực tiếp gắn 
			liền với ý hướng cầu nguyện này. Nó được biểu hiện như một tấm bích 
			chương được giương lên khi vị hoàng đế giáng lâm; trong hình ảnh 
			thánh giá, đội tiền phong của đoàn quân đã xuất hiện giữa lòng đám 
			người đang cầu nguyện. Đối với các Kitô hữu ngày xưa, thánh </span>
			<span lang="EN-US" style="font-size: 12.0pt; font-family: Arial">giá</span><span style="font-size: 12.0pt; font-family: Arial"> 
			vượt lên trên tất cả mọi dấu ấn hy vọng. Nó trỏ về một Đức Chúa sắp 
			đến hơn là một Đức Chúa của quá khứ. Hẳn nhiên, với thời gian, ta 
			không thể không cảm thấy nhu cầu nội tại ngoái nhìn về biến cố đã 
			xẩy ra: điều thiết yếu là bảo vệ cái bản chất bao dung đến điên 
			cuồng của tình Chúa yêu thương thế nhân khốn cùng, đến nỗi đã trở 
			thành một phàm nhân, ôi phàm nhân tuyệt vời! Phải bảo vệ tình yêu 
			Chúa chống lại những xu hướng trốn tránh điều linh thánh, chống lại 
			mọi cái nhìn sai lạc về việc Thiên Chúa nhập thể. Phải bảo vệ tính 
			ngu dại thánh thiện của tình Chúa yêu thương, Đấng đã cố ý không 
			muốn biểu dương quyền lực, mà đã chọn con đường yếu nhược đến bất 
			lực để đẩy những ước mơ quyền lực của ta lên cái giá treo cổ và đánh 
			bại nó từ trong trứng nước.</span></p>
			<p class="MsoNormal" style="line-height: normal; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
			<span style="font-size: 12.0pt; font-family: Arial">Nhưng liệu như 
			thế có phải là ta đang quên đi mối dây liên kết giữa thánh giá và 
			niềm hy vọng, giữa quá khứ và tương lai trong Kitô giáo, và quên 
			rằng hướng Đông và hướng thánh </span>
			<span lang="EN-US" style="font-size: 12.0pt; font-family: Arial">giá</span><span style="font-size: 12.0pt; font-family: Arial"> 
			cũng chỉ là một mà thôi chăng?. Thần khí của hy vọng đang thổi làn 
			hơi sinh động trong những lời nguyện của ngày Thứ Bẩy Tuần Thánh 
			phải một lần nữa thấu nhập vào toàn thể cuộc hiện hữu Kitô giáo của 
			ta. Kitô giáo không chỉ là một tôn giáo của quá khứ, mà hơn hết, còn 
			là tôn giáo của tương lai; niềm tin Kitô giáo cũng chính là niềm hy 
			vọng, bởi vì Chúa Kitô không chỉ đã chết và đã sống lại, mà Ngài còn 
			là đấng sẽ lại đến.</span></p>
			<p class="MsoNormal" style="line-height: normal; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
			<span lang="EN-US" style="font-size: 12.0pt; font-family: Arial">Lạ</span><span style="font-size: 12.0pt; font-family: Arial">y 
			Chúa, xin dùng mầu nhiệm của niềm hy vọng này để soi sáng lòng trí 
			chúng con hầu cho chúng con nhận ra dòng ánh sáng chiếu toả từ thánh 
			giá Chúa. Xin ban cho các tín hữu Chúa đây biết mau bước hướng về 
			tương lai, mong chờ cuộc gặp gỡ trong ngày Chúa lại đến. AMEN.</span></p>
			<p class="MsoNormal" style="line-height: normal; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
			<b><span style="font-size: 12.0pt; font-family: Arial">LỜI NGUYỆN</span></b></p>
			<p class="MsoNormal" style="line-height: normal; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
			<span style="font-size: 12.0pt; font-family: Arial">L</span><span lang="EN-US" style="font-size: 12.0pt; font-family: Arial">ạy</span><span style="font-size: 12.0pt; font-family: Arial"> 
			Chúa Giêsu Kitô, trong bóng tối của cái chết, Chúa đã chiếu </span>
			<span lang="EN-US" style="font-size: 12.0pt; font-family: Arial">toả</span><span style="font-size: 12.0pt; font-family: Arial"> 
			một tia ánh sáng rạng ngời; trong vực thẳm nỗi cô đơn tuyệt cùng, 
			tình yêu bao dung đầy quyền lực của Chúa nay sống mãi muôn đời; 
			trong nỗi thống khổ của việc Chúa ẩn mình, giờ đây chúng con có thể 
			cất tiếng hát lên bài Allêluia của những kẻ được cứu thoát. Xin ban 
			cho chúng con lòng tin khiêm tốn đơn sơ, khiến chúng con không lạc 
			bước khi Chúa gọi chúng con trong những giờ phút tăm tối, lúc chúng 
			con thấy như bị bỏ rơi, và khi mọi sự đều chất ngất khó khăn; xin 
			ban cho chúng con, khi đang chới với giữa một cuộc chiến sống còn, 
			nhuốm mầu chết chóc, được nhìn thấy ánh sáng để không lạc mất Chúa; 
			xin chiếu sáng chúng con để đến lượt mình, chúng con có thể dọi 
			chiếu ánh sáng ấy đến cho những ai đang cần đến. Xin làm cho mầu 
			nhiệm Niềm Vui Phục Sinh của Chúa bừng sáng lên như vầng hào quang 
			của ánh bình minh, toả lan trên dòng đời chúng con đang sống; xin 
			cho chúng con thực sự trở thành những con người của Phục Sinh ngay 
			giữa ngày Thứ Bẩy Tuần Thánh lịch sử. Xin ban cho chúng con, khi 
			đang sống những chuỗi ngày thời đại tranh tối tranh sáng hôm nay, 
			được luôn thấy mình mang những trái tim vui tươi bước đi trên đường 
			hướng về vinh quang ngày mai của Chúa. AMEN.</span></td>
	</tr>
	<tr>
		<td>
		 <center>
   <a target="_top" href="http://tinmung.net">
<img border="0" src="../../../../logo/LOGOtinmung.gif" width="67" height="40"></a></center>
</td>
	</tr>
</table>

</body>

</html>

PHP File Manager