File "TongthucuaDTCvenamductin.htm"

Full path: E:/sites/Single15/tinmung2007/webroot/GIAOHOI/THONG DIEP/Sua lai/ThongdiepmoicuDTC/TongthucuaDTCvenamductin.htm
File size: 42.9 KiB (43928 bytes)
MIME-type:
Charset: utf-8

Download   Open   Back

<html>

<head>
<style>
<!--
/* Style Definitions */
 div.MsoNormal
	{mso-style-parent:"";
	margin-bottom:.0001pt;
	font-size:12.0pt;
	font-family:"Times New Roman";
	margin-left:0mm; margin-right:0mm; margin-top:0mm}
 li.MsoNormal
	{mso-style-parent:"";
	margin-bottom:.0001pt;
	font-size:12.0pt;
	font-family:"Times New Roman";
	margin-left:0mm; margin-right:0mm; margin-top:0mm}
 p.MsoNormal
	{mso-style-parent:"";
	margin-bottom:.0001pt;
	font-size:12.0pt;
	font-family:"Times New Roman";
	margin-left:0mm; margin-right:0mm; margin-top:0mm}
p
	{margin-right:0mm;
	margin-left:0mm;
	font-size:12.0pt;
	font-family:"Times New Roman";
	}
@page Section1
	{size:210.0mm 842.0pt;
	margin:20.0mm 20.0mm 20.0mm 20.0mm;
	mso-header-margin:36.0pt;
	mso-footer-margin:36.0pt;
	mso-paper-source:0;}
div.Section1
	{}
-->
</style>
<meta http-equiv="Content-Language" content="en-us">
<meta http-equiv="Content-Type" content="text/html; charset=utf-8">
<title>Thông Điệp Đức Thánh Cha</title>
<base target="main">
</head>

<body>

<table border="0" width="500" cellspacing="20" style="border-color: #FFFFFF; font-family:Times New Roman; font-size:12pt" bgcolor="#FFFFE6">
	<!-- MSTableType="nolayout" -->
	<tr>
				<td bgcolor="#bdf3fd" height="29">
				<p style="text-align: center"><font color="#ff0000" size="4"><b>
				TIN TỨC GIÁO HỘI</b></font></td>
			</tr>
	<tr>
		<td align="justify">
		<p align="center"><b><font color="#0000FF">TÔNG THƯ CỦA ĐỨC THÁNH CHA VỀ 
		NĂM ĐỨC TIN<br>
&nbsp;</font></b></td>
	</tr>
	<tr>
		<td align="justify">
		<p align="center">
		<img border="0" src="PICTURE/00000t1.jpg" width="250" height="170"></td>
	</tr>
	<tr>
		<td align="justify">
		Sáng ngày 17-10-2011, Đức Thánh Cha đã cho công bố Tông thư tự sắc của 
		ngài ”Porta Fidei” về Năm Đức Tin, trong đó ngài trình bày lý do, mục 
		đích và những đường hướng chỉ đạo về việc cử hành Năm này.<br>
		<br>
		Sau đây là bản dịch nguyên văn:<br>
		<br>
		1. ”Cánh cửa đức tin” (Xc Cv 14,27) dẫn vào đời sống hiệp thông với 
		Thiên Chúa và vào Giáo Hội vẫn luôn mở rộng cho chúng ta. Chúng ta có 
		thể bước qua ngưỡng cửa đó khi Lời Chúa được loan báo và để cho tâm hồn 
		được ân thánh biến đổi. Việc bước qua cánh cửa ấy kèm theo sự dấn thân 
		trong một hành trình kéo dài suốt đời. Hành trình này bắt đầu với bí 
		tích Rửa Tội (Xc Rm 6,4), nhờ đó chúng ta có thể gọi Thiên Chúa là Cha, 
		và kết thúc với sự tiến qua cái chết đi vào sự sống đời đời, thành quả 
		sự phục sinh của Chúa Giêsu, Đấng đã muốn cho tất cả những người tin nơi 
		Ngài (Xc Ga 17,22) được tham dự cùng vinh quang của Ngài, nhờ hồng ân 
		của Thánh Linh. Tuyên xưng niềm tin nơi Chúa Ba Ngôi - Cha, Con và Thánh 
		Linh - cũng có nghĩa là tin nơi một Thiên Chúa duy nhất là Tình Thương 
		(Xc 1 Ga 4,8): Chúa Cha đã sai Con của Ngài đến, khi thời gian viên mãn, 
		để cứu độ chúng ta; Chúa Giêsu Kitô đã cứu chuộc trần thế trong mầu 
		nhiệm cái chết và sống lại của Ngài; Chúa Thánh Linh dẫn đưa Giáo Hội 
		qua dòng thời gian trong khi chờ đợi Chúa tái lâm trong vinh quang.<br>
		<br>
		2. Ngay từ khi bắt đầu sứ vụ như Người Kế Vị Thánh Phêrô, tôi đã nhắc 
		nhở về sự cần thiết phải tái khám phá hành trình đức tin để ngày càng 
		làm nổi bật niềm vui và lòng hăng say phấn khởi được đổi mới nhờ được 
		gặp gỡ Chúa Giêsu. Trong bài giảng Thánh Lễ khai mạc triều đại Giáo 
		Hoàng, tôi đã nói: ”Giáo Hội nói chung và các vị Mục Tử trong Giáo Hội, 
		giống như Chúa Kitô, phải lên đường, để dẫn đưa con người ra khỏi sa 
		mạc, tiến đến sự sống, hướng về tình bạn với Con Thiên Chúa, về Đấng ban 
		cho chúng ta sự sống, sự sống sung mãn” (1). Nhưng xảy ra là nhiều khi 
		các tín hữu Kitô bận tâm nhiều hơn tới những hậu quả xã hội, văn hóa và 
		chính trị trong sự dấn thân của họ, họ tiếp tục nghĩ tới đức tin như một 
		điều giả thiết hiển nhiên của cuộc sống chung. Trong thực tế, giả thiết 
		ấy không còn hiển nhiên như vậy nữa, nhưng thậm chí nhiều khi còn bị phủ 
		nhận (2). Trong quá khứ người ta có thể nhận ra một hệ thống văn hóa 
		nhất thống, được đa số chấp nhận, có tham chiếu nội dung đức tin và các 
		giá trị được đức tin gợi hứng, nhưng ngày nay, trong phần lớn các lãnh 
		vực xã hội không còn như thế nữa, vì có cuộc khủng hoảng đức tin sâu xa 
		nơi nhiều người.<br>
		<br>
		3. Chúng ta không thể chấp nhận để cho muối trở nên nhạt và ánh sáng bị 
		che kín (Xc Mt 5,13-16). Cả con người ngày nay cũng có thể tái cảm thấy 
		nhu cầu như người phụ nữ xứ Samaria đến giếng nước để lắng nghe Chúa 
		Giêsu, Đấng mời gọi hãy tin nơi Người và kín múc nơi nguồn mạch của Ngài 
		vọt lên dòng nước sự sống (Xc Ga 4,14). Chúng ta phải tìm lại sở thích 
		nuôi dưỡng mình bằng Lời Chúa được Giáo Hội trung thành truyền lại, và 
		bằng Bánh Sự Sống, được trao ban để nâng đỡ các môn đệ của Chúa (Xc Ga 
		6,51). Thực vậy, giáo huấn của Chúa Giêsu vẫn còn vang dội mạnh mẽ ngày 
		nay như trước đây: ”Các con hãy cố gắng làm việc không phải để được 
		lương thực mau qua, nhưng là lương thực tồn tại mãi mãi” (Ga 6,27). Câu 
		hỏi mà những người nghe Chúa nêu lên cũng là thắc mắc đối với chúng ta 
		ngày này: ”Chúng tôi phải làm gì thể thi hành những công việc của Thiên 
		Chúa?” (Ga 6,28). Chúng ta biết câu trả lời của Chúa Giêsu: ”Công việc 
		của Thiên Chúa là: Anh em hãy tin nơi Đấng mà Ngài đã sai đến” (Ga 
		6,29). Vì thế, tin nơi Chúa Giêsu Kitô là con đường để có thể đạt tới ơn 
		cứu độ một cách vĩnh viễn.<br>
		<br>
		4. Dưới ánh sáng tất cả những điều đó, tôi quyết định ấn định Năm Đức 
		Tin. Năm này sẽ bắt đầu từ ngày 11 tháng 10 năm 2012, kỷ niệm 50 năm 
		khai mạc Công đồng chung Vatican 2, và sẽ kết thúc vào lễ Chúa Kitô Vua 
		Vũ Trụ, ngày 24 tháng 11 năm 2013. Ngày 11-10-2012 chúng ta cũng kỷ niệm 
		20 năm ”Sách Giáo Lý của Hội Thánh Công Giáo”, được vị Tiền Nhiệm của 
		tôi, Đức Chân Phước Giáo Hoàng Gioan Phaolô 2 (3) công bố, với mục đích 
		trình bày cho tất cả các tín hữu sức mạnh và vẻ đẹp của đức tin. Văn 
		kiện này, thành quả đích thực của Công đồng chung Vatican 2, đã được 
		Thượng HĐGM khóa đặc biệt năm 1985 mong ước như một dụng cụ để phục vụ 
		việc huấn giáo (4) và được thực hiện với sự cộng tác của toàn thể hàng 
		Giám Mục của Giáo Hội Công Giáo. Và chính Thượng HĐGM đã được tôi triệu 
		tập vào tháng 10 năm 2012 về đề tài ”Tái truyền giảng Tin Mừng để thông 
		truyền đức tin Kitô”. Đó sẽ là một dịp thích hợp để dẫn đưa toàn thể 
		cộng đoàn Giáo Hội tiến vào một thời điểm để đặc biệt suy tư và tái khám 
		phá đức tin. Đây không phải lần đầu tiên Giáo Hội được kêu gọi cử hành 
		Năm Đức Tin. Vị Tiền Nhiệm đáng kính của tôi, Vị Tôi Tớ Chúa Phaolô 6 
		cũng đã ấn định Năm Đức Tin như thế hồi năm 1967, để tưởng niệm 1900 năm 
		cuộc tử đạo của thánh Phêrô và Phaolô Tông Đồ khi làm chứng tá tột đỉnh. 
		Người đã nghĩ đến năm đó như một thời điểm long trọng để trong toàn thể 
		Giáo Hội có ”một sự tuyên xưng cùng đức tin ấy một cách đích thực và 
		chân thành”; ngoài ra, Người muốn rằng đức tin được củng cố ”cá nhân và 
		tập thể, tự do và ý thức, trong nội tâm cũng như bên ngoài, khiêm tốn và 
		chân thành” (5). Qua đó, Đức Cố Giáo Hoàng đã nghĩ rằng toàn thể Giáo 
		Hội có thể ”tái ý thức chính xác về đức tin của mình, để làm cho đức tin 
		được tái sinh động, thanh tẩy, củng cố, để tuyên xứng đức tin” (6). 
		Những đảo lộn lớn xảy ra trong năm Đức Tin ấy, càng làm cho sự cần thiết 
		cử hành như thế trở nên hiển nhiên hơn. Việc cử hành Năm Đức Tin ấy đã 
		kết thúc với ”Bản tuyên xưng Đức Tin của Dân Chúa” (7), để làm chứng 
		rằng các nội dung thiết yếu từ bao thế kỷ vốn là gia sản của mọi tín 
		hữu, đang cần được củng cố, hiểu biết và đào sâu một cách ngày càng mới 
		mẻ để làm chứng tá hợp với cuộc sống trong những hoàn cảnh lịch sử khác 
		với quá khứ.<br>
		<br>
		5. Dưới một số khía cạnh, vị Tiền Nhiệm đáng kính của tôi đã coi Năm Đức 
		Tin ấy như ”một hệ luận và là một đòi hỏi sau Công đồng” (8), Ngài ý 
		thức rõ về những khó khăn lớn của thời ấy, nhất là về việc tuyên xưng 
		đức tin chân thực và giải thích đúng đắn. Tôi cho rằng việc khởi sự Năm 
		Đức Tin trùng với dịp kỷ niệm 50 năm khai mạc Công đồng chung Vatican 2 
		có thể là một cơ hội thích hợp để hiểu rằng các văn kiện Công đồng, được 
		các Nghị Phụ để lại như gia sản, ”không bị mất giá trị, cũng như vẻ tươi 
		sáng”. Cần đọc các văn kiện ấy một cách thích hợp, cần biết rõ và hấp 
		thụ các văn kiện ấy như những văn bản giá trị và có tính chất qui phạm 
		của Huấn Quyền Hội Thánh, giữa lòng Truyền Thống của Giáo Hội.. Hơn bao 
		giờ hết tôi cảm thấy nghĩa vụ phải nêu cao Công đồng như ”hồng ân lớn 
		lao mà Giáo Hội được hưởng trong thế kỷ 20”: trong đó chúng ta được một 
		địa bàn chắc chắn để định hướng trong con đường của thế kỷ đang mở ra” 
		(9). Tôi cũng muốn mạnh mẽ lập lại điều tôi đã quả quyết về Công đồng 
		vài tháng sau khi tôi được bầu kế vị Thánh Phêrô, rằng: ”Nếu chúng ta 
		đọc và đón nhận Công đồng, với sự giải thích đúng đắn, thì Công đồng 
		ngày càng có thể và trở thành sức mạnh lớn để thực hiện sự canh tân Giáo 
		Hội ngày càng cần thiết” (10).<br>
		<br>
		6. Sự canh tân Giáo Hội cũng tiến hành qua chứng tá cuộc sống của các 
		tín hữu, qua chính cuộc sống giữa trần thế, các tín hữu được mời gọi làm 
		cho Lời Chân lý mà Chúa Giêsu để lại cho chúng ta được chiếu sáng rạng 
		ngời. Chính Công đồng, trong Hiến chế tín lý Lumen gentium, Ánh sáng 
		muôn dân, đã quả quyết: ”Trong khi Chúa Kitô, &#39;là đấng thánh, vô tội, 
		không tỳ ố&#39; (Dt 7,26) không hề biết tội (Xc 2 Cr 5,21), đã đến để đền 
		tội bù tội lỗi của dân (Dt 2,17), thì Giáo Hội, có cả những người tội 
		lỗi trong cộng đoàn của mình, và vì thế Giáo Hội vừa thánh thiện đồng 
		thời cũng luôn cần được thanh tẩy, vẫn liên tục tiến bước trên con đường 
		thống hối và canh tân. Giáo Hội ”tiếp tục cuộc lữ hành giữa những cuộc 
		bách hại của trần thế và những an ủi của Thiên Chúa”, loan bao cuộc khổ 
		nạn và cái chết của Chúa cho đến khi Ngài đến (Xc 1 Cr 11,26). Từ sức 
		mạnh của Chúa phục sinh, Giáo Hội kín múc năng lực để kiên trì và yêu 
		thương khắc phục những sầu muộn và khó khăn, đến từ bên trong cũng như 
		bên ngoài, và để tỏ lộ mầu nhiệm về Chúa, giữa lòng thế giới, một cách 
		trung thực, tuy không hoàn hảo, cho đến khi mầu nhiệm ấy được tỏ lộ 
		trong ánh sáng sung mãn vào cuối thời gian” (11).<br>
		<br>
		Trong viễn tượng đó, Năm Đức Tin là một lời mời gọi thực hiện một cuộc 
		trở về cùng Chúa là Đấng duy nhất cứu độ thế giới, một cách chân thực và 
		mới mẻ. Trong mầu nhiệm sự chết và sống lại, Thiên Chúa đã biểu lộ trọn 
		vẹn Tình Thương cứu độ và kêu gọi con người hoán cải cuộc sống nhờ ơn 
		tha thứ tội lỗi (Xc Cv 5,31). Đối với thánh Phaolô Tông Đồ, Tình Thương 
		ấy dẫn con người đến cuộc sống mới: ”Nhờ phép rửa, chúng ta cùng được 
		chôn táng với Chúa trong cái chết, để như Chúa Kitô sống lại từ cõi chết 
		nhờ vinh quang của Chúa Cha, cả chúng ta cũng có thể bước đi trong sự 
		sống mới” (Rm 6,4). Nhờ đức tin, sự sống mới này hình thành toàn thể 
		cuộc sống con người theo sự mới mẻ tuyệt đối của sự sống lại. Tùy theo 
		mức độ tự nguyện sẵn sàng, các tư tưởng và tình cảm, tâm thức và thái độ 
		của con người dần dần được thanh tẩy và biến đổi, trên con đường không 
		bao giờ được hoàn tất ở đời này. Đức tin ”được năng động nhờ đức mến” 
		(Gl 5,6) trở thành một tiêu chuẩn mới để hiểu biết và hành động, thay 
		đổi toàn thể cuộc sống của con người (Xc Rm 12,2; Cl 3,9-10; Ep 4,20-29; 
		2 Cr 5,17).<br>
		<br>
		7. ”Tình yêu Chúa Kitô thúc bách chúng ta” (2 Cr 5,14): chính tình yêu 
		Chúa Kitô làm đầy tâm hồn chúng ta và thúc đẩy chúng ta loan báo Tin 
		Mừng. Ngày nay cũng như xưa kia, Chúa sai chúng ta ra đi trên các nẻo 
		đường thế giới để công bố Tin Mừng của Ngài cho mọi dân tộc trên trái 
		đất (Xc Mt 28,19). Chúa Giêsu Kitô yêu thương, lôi kéo con người thuộc 
		mọi thế hệ đến với Ngài: trong mọi thời đại, Ngài triệu tập Giáo Hội, ủy 
		thác cho Giáo Hội việc loan báo Tin Mừng, với một mệnh lệnh luôn luôn 
		mới mẻ. Vì thế, ngày nay cũng cần có một sự dấn thân xác tín hơn nữa của 
		Giáo Hội, thực hiện công cuộc tái truyền giảng Tin Mừng để tái khám phá 
		niềm vui đức tin và tìm lại sự hăng say thông truyền đức tin. Việc dấn 
		thân truyền giáo của các tín hữu - vốn là điều không thể thiếu - kín múc 
		được sức mạnh và năng lực trong sự khám phá hằng ngày tình yêu của Chúa. 
		Thực vậy, đức tin tăng trưởng khi được sống như một cảm nghiệm về tình 
		yêu đã nhận lãnh và khi được thông truyền như một kinh nghiệm về ơn 
		thánh và niềm vui. Đức tin phong phú hóa, vì mở rộng con tim trong niềm 
		hy vọng và giúp mang lại một chứng tá có khả năng sinh sản: nó mở rộng 
		tâm trí của những người lắng nghe và đón nhận lời Chúa mời gọi gắn bó 
		với Lời Ngài để trở thành môn đệ của Ngài. Thánh Augustino làm chứng 
		rằng các tín hữu ”trở nên vững mạnh hơn nhờ tin tưởng” (12). Thánh Giám 
		Mục thành Hippone đã có lý khi nói như vậy. Như chúng ta biết, cuộc sống 
		của thánh nhân là một cuộc không ngừng tìm kiếm vẻ đẹp của đức tin cho 
		đến khi tâm hồn ngài được nghỉ an trong Thiên Chúa (13). Nhiều tác phẩm 
		của Người, trong đó có giải thích tầm quan trọng của đức tin và chân lý 
		đức tin, cho đến nay vẫn còn là một gia sản phong phú khôn sánh và giúp 
		bao nhiêu người tìm kiếm Thiên Chúa thấy được hành trình đúng đắn để 
		tiến tới ”cánh cửa đức tin”.<br>
		<br>
		Vì vậy, chỉ nhờ tin tưởng mà đức tin tăng trưởng và vững mạnh; không có 
		cách khác để đạt tới sự chắc chắn về chính cuộc sống của mình nếu không 
		liên tục phó thác trong tay của một tình yêu ngày càng được cảm nghiệm 
		lớn lao hơn vì bắt nguồn từ nơi Thiên Chúa.<br>
		<br>
		8. Trong dịp kỷ niệm tốt đẹp này, tôi muốn mời gọi các anh em GM trên 
		toàn thế giới hãy hiệp với Người Kế Vị Thánh Phêrô, trong thời điểm ân 
		phúc thiêng liêng mà Chúa ban cho chúng ta, để tưởng niệm hồng ân đức 
		tin quí giá. Chúng ta hãy cử hành Năm Đức Tin này một cách xứng đáng và 
		phong phú. Cần gia tăng suy tư về đức tin để giúp tất cả các tín hữu của 
		Chúa Kitô ý thức hơn và củng cố lòng gắn bó với Tin Mừng, nhất là trong 
		lúc có những thay đổi sâu xa mà nhân loại đang trải qua như hiện nay. 
		Chúng ta sẽ có dịp tuyên xưng đức tin nơi Chúa Phục Sinh trong các nhà 
		thờ chính tòa của chúng ta và các thánh đường trên toàn thế giới; trong 
		các gia cư và gia đình chúng ta, để mỗi người mạnh mẽ cảm thấy nhu cầu 
		cần biết rõ hơn về đức tin ngàn đời và thông truyền cho các thế hệ trẻ. 
		Các cộng đoàn dòng tu cũng như các giáo xứ, và toàn thể các tổ chức Giáo 
		Hội cũ cũng như mới, hãy tìm cách làm cho việc tuyên xưng Kinh Tin Kính 
		một cách công khai trong Năm Đức Tin này.<br>
		<br>
		9. Chúng ta mong muốn rằng Năm Đức Tin khơi dậy nơi mỗi tín hữu khát 
		vọng tuyên xưng đức tin trọn vẹn và với xác tín được đổi mới, trong niềm 
		tín thác và hy vọng. Năm này sẽ là một cơ hội thích hợp để tăng cường 
		việc cử hành đức tin trong phụng vụ, đặc biệt là trong Thánh Thể, vốn là 
		&#39;tột đỉnh mà hoạt động của Giáo Hội hướng tới và đồng thời cũng là nguồn 
		mạch từ đó phát sinh toàn thể năng lực của Giáo Hội” (14). Đồng thời, 
		chúng ta mong muốn rằng cuộc sống chứng tá của các tín hữu tăng trưởng 
		trong sự đáng tín nhiệm. Tái khám phá nội dung đức tin được tuyên xưng, 
		cử hành, sống và cầu nguyện (15), và suy tư về chính hành động đức tin, 
		đó là một sự quyết tâm mà mỗi tín hữu phải biến thành của mình, nhất là 
		trong Năm Đức Tin này.<br>
		<br>
		Không phải tình cờ mà trong những thế kỷ đầu tiên, các tín hữu Kitô phải 
		học thuộc lòng kinh Tin Kính. Kinh này được dùng như kinh nguyện hằng 
		ngày của họ để không quên quyết tâm đã nhận khi chịu phép rửa. Với những 
		lời xúc tích đầy ý nghĩa, thánh Augustino nhắc nhở điều đó khi ngài nói 
		trong một bài giảng về việc trao Kinh Tinh Kính: ”Kinh Tin Kính về mầu 
		nhiệm thánh mà tất cả anh chị em cùng nhận lãnh nhận và ngày nay anh chị 
		em từng người đọc lên, là những lời đức tin của Mẹ Giáo Hội được xây 
		dựng vững chắc trên nền tảng vững bền là Chúa Kitô.. Vì vậy, anh em đã 
		nhận lãnh và đọc Kinh ấy, nhưng trong tâm trí anh chị em phải luôn giữ 
		cho Kinh ấy hiện diện, anh chị em phải lập lại Kinh này trên giường, 
		nghĩ đến Kinh này nơi đường phố và đừng quên Kinh này khi ăn; cả khi anh 
		chị em ngủ, con tim của anh chị em vẫn phải tỉnh thức trong Kinh này” 
		(16).<br>
		<br>
		10. Đến đây, tôi muốn vạch ra một hành trình giúp hiểu một cách sâu xa 
		hơn nội dung đức tin, nhưng cùng với nội dung này còn có hành động qua 
		đó chúng ta quyết định hoàn toàn phó thác cho Thiên Chúa, trong tự do 
		trọn vẹn. Thực vậy, có sự hiệp nhất sâu xa giữa hành vi tin tưởng và nội 
		dung đức tin mà chúng ta chấp nhận. Thánh Phaolô Tông đồ giúp đi vào 
		thực tại này khi ngài viết: ”Với con tim.. ta tin, và bằng miệng ta 
		tuyên xưng đức tin” (Rm 10,10). Con tim chỉ rằng hình vi đầu tiên ta đạt 
		đến đức tin la một hồng ân của Thiên Chúa và tác động của ơn thánh hành 
		động và biến đổi con người ngay từ nội tâm.<br>
		<br>
		Tấm gương của bà Lidia về vấn đề này hùng hồn hơn bao giờ hết. Thánh 
		Luca kể lại rằng Thánh Phaolô, trong lúc ở thành Philiphê, vào ngày thứ 
		bẩy ngài đi rao giảng Tin Mừng cho vài phụ nữ; trong số họ có bà Lidia 
		và Chúa ”mở lòng cho bà tin lời thánh Phaolô” (Cv 16,14). Ý nghĩa cô 
		đọng trong câu ngày thực là quan trọng. Thánh Luca dạy rằng việc hiểu 
		biết nội dung đức tin không đủ nếu con tim, - vốn là cung thánh đích 
		thực của con người,- không cởi mở đối với ơn thánh, giúp ta có đôi mắt 
		để nhìn sâu xa và hiểu rằng điều được loan báo chính là Lời Chúa.<br>
		<br>
		Rồi việc tuyên xưng ngoài miệng cho thấy đức tin bao gồm việc làm chứng 
		và dấn thân công khai. Kitô hữu không bao giờ được nghĩ rằng đức tin là 
		một điều riêng tư. Đức tin là quyết định đứng về phía Chúa để sống với 
		Ngài. Và thành ngữ ”ở với Chúa” giúp hiểu biết những lý do tại sao ta 
		tin. Chính vì đức tin là một hành vi tự do, nên cũng đòi hỏi một trách 
		nhiệm xã hội về những gì ta tin. Giáo Hội, trong ngày lễ Chúa Thánh Thần 
		hiện xuống, đã chứng tỏ rõ ràng chiều kích công khai ấy của việc tin 
		tưởng và loan báo không chút sợ hãi về niềm tin của mình cho mỗi người. 
		Đó là một hồng ân của Chúa Thánh Linh làm cho ta có khả năng thi hành sứ 
		mạng và củng cố việc làm chứng tá của chúng ta, biến chứng tá ấy thành 
		điều thẳng thắn và can đảm.<br>
		<br>
		Chính việc tuyên xưng đức tin là một hành vi bản thân và đồng thời cũng 
		có tính chất cộng đoàn. Thực vậy, chính Giáo Hội là chủ thể đầu tiên của 
		đức tin. Trong đức tin của cộng đoàn Kitô, mỗi người lãnh nhận bí tích 
		Rửa tội, là dấu chỉ hữu hiệu về sự gia nhập cộng đoàn các tín hữu để 
		được ơn cứu độ. Như Sách Giáo Lý của Hội Thánh Công Giáo làm chứng: ”Tôi 
		tin”; là đức tin của Giáo hội được mỗi tín hữu tuyên xưng cá nhân, nhất 
		là trong lúc chịu phép Rửa tội. ”Chúng tôi tin” là đức tin của Giáo hội 
		được các Giám Mục họp nhau trong Công đồng, hoặc tổng quát hơn, được 
		cộng đồng phụng vụ các tín hữu tuyên xưng. ”Tôi tin” cũng là Giáo Hội Mẹ 
		chúng ta, đáp lại Thiên Chúa bằng đức tin của mình và dạy chúng ta nói 
		”Tôi tin”, ”Chúng tôi tin” (17).<br>
		<br>
		Như ta có thể nhận xét, việc hiểu biết nội dung đức tin là điều thiết 
		yếu để chấp nhận tin, nghĩa là hoàn toàn gắn bó trong tâm trí với những 
		gì Giáo Hội đề nghị. Việc hiểu biết đức tin dẫn vào toàn bộ mầu nhiệm 
		cứu độ được Thiên Chúa mạc khải. Vì vậy sự chấp nhận ấy được biểu lộ bao 
		hàm điều này là, khi ta tin, ta tự nguyện chấp nhất toàn thể mầu nhiệm 
		đức tin, vì vị bảo đảm tính chất xác thực của điều ta tin là chính Thiên 
		Chúa, Đấng tự mạc khải và cho phép được biết mầu nhiệm tình thương của 
		Ngài (18).<br>
		<br>
		Đàng khác, chúng ta không thể quên rằng trong bối cảnh văn hóa của chúng 
		ta ngày nay, bao nhiêu người, tuy không nhìn nhận hồng ân đức tin nơi 
		mình, nhưng họ chân thành tìm kiếm ý nghĩa chung kết và chân lý chung 
		cục về cuộc sống của họ và về thế giới. Sự tìm kiếm này thực là một 
		”tiền đề” của đức tin, vì nó thúc đẩy con người trên con đường dẫn đến 
		mầu nhiệm Thiên Chúa. Thực thế, chính lý trí con người mang trong mình 
		một đòi hỏi về ”điều có giá trị và tồn tại mãi mãi” (19). Đòi hỏi ấy là 
		một lời mời gọi trường kỳ, được ghi khắc không hề phai mờ trong tâm hồn 
		con người, kêu gọi con người lên đường để tìm thấy Đấng mà chúng ta sẽ 
		không tìm kiếm nếu Ngài đã không đến gặp chúng ta (20). Chính đức tin 
		mời chúng ta đi tới cuộc gặp gỡ ấy và mở cho chúng ta sự viên mãn.<br>
		<br>
		11. Để hiểu biết một cách hệ thống về nội dung đức tin, tất cả mọi người 
		đều có thể tìm thấy trong Sách Giáo Lý của Hội Thánh Công Giáo một trợ 
		lực quí giá và không thể thiếu được. Sách này là một trong những thành 
		quả quan trọng nhất của Công Đồng chung Vatican 2. Trong Tông Hiến 
		”Fidei depositum” (Kho tàng đức tin), không phải tình cờ được ký vào 
		ngày kỷ niệm 30 năm khai mạc Công đồng chung Vatican 2, Đức Chân Phước 
		Gioan Phaolô 2 đã viết: ”Sách Giáo lý nà sẽ mang lại một đóng góp quan 
		trọng cho công trình canh tân toàn thể đời sống Giáo Hội.. Tôi nhìn nhận 
		Sách này như một dụng cụ giá trị và hợp pháp phục vụ tình hiệp thông của 
		Giáo Hội và như một qui luật chắc chắn để giảng dạy đức tin” (21).<br>
		<br>
		Trong viễn tượng đó, Năm Đức Tin phải biểu lộ sự dấn thân chung tái khám 
		phá và học hỏi nội dung cơ bản của đức tin ở trong Sách Giáo Lý này, 
		trong đó có một tổng hợp có hệ thống. Thực vậy, ở đây, ta thấy nổi bật 
		sự phong phú của giáo huấn mà Giáo Hội đã đón nhận, gìn giữ và trao tặng 
		trong hai ngàn năm lịch sử của mình. Từ Kinh Thánh tới các Giáo Phụ, từ 
		các vị Tôn Sư thần học cho đến cách Thánh qua các thế kỷ, Sách Giáo Lý 
		cống hiến một ký ức trường kỳ về bao nhiêu cách thức Giáo Hội suy niệm 
		về đức tin và tạo nên sự tiến triển trong đạo lý để mang lại sự chắc 
		chắn cho các tín hữu trong đời sống đức tin của họ.<br>
		<br>
		Sách Giáo Lý của Hội Thánh Công Giáo, qua cấu trúc của mình, trình bày 
		sự phát triển đức tin và đề cập đến cả những đề tài chính của đời sống 
		hằng ngày. Trang này sang trang khác, chúng ta khám phá thấy rằng điều 
		được trình bày trong Sách Giáo Lý không phải là một lý thuyết, nhưng là 
		một cuộc gặp gỡ với Đấng sống trong Giáo Hội. Thực vậy, sau khi tuyên 
		xưng đức tin, Sách này đi đến phần giải thích đời sống bí tích, trong đó 
		Chúa Kitô hiện diện, hoạt động và tiếp tục xây dựng Giáo Hội của Ngài. 
		Nếu không có phụng vụ và các bí tích thì việc tuyên xưng đức tin sẽ 
		không hiệu quả, vì thiếu ơn thánh nâng đỡ chứng tá của các tín hữu Kitô. 
		Cũng vậy, giáo huấn của Sách Giáo Lý về đời sống luân lý có một ý nghĩa 
		quan trọng nếu được đặt trong tương quan với đức tin, phụng vụ và kinh 
		nguyện.<br>
		<br>
		12. Vì thế, trong Năm Đức Tin, Sách Giáo Lý của Hội Thánh Công Giáo có 
		thể là một dụng cụ đích thực nâng đỡ đức tin, nhất là những người quan 
		tâm đến việc huấn luyện các tín hữu Kitô, một điều rất quan trọng trong 
		bối cảnh văn hóa ngày nay. Với mục đích đó, tôi đã mời gọi Bộ giáo lý 
		đức tin, thỏa thuận với các Cơ quan trung ương khác của Tòa Thánh, soạn 
		một Văn kiện, để cống hiến cho Giáo Hội và các tín hữu một số chỉ dẫn để 
		sống Năm Đức Tin này một cách hiệu quả và thích hợp hơn, phục vụ sự tin 
		tưởng và rao giảng Tin Mừng.<br>
		<br>
		”Thực vậy, so với quá khứ, đức tin ngày nay đang phải chịu một loạt 
		những vấn nạn đến từ não trạng thay đổi, đặc biệt là ngày nay não trạng 
		này thu hẹp lãnh vực những điều chắc chắn hợp lý vào lãnh vực những 
		chinh phục của khoa học và kỹ thuật. Nhưng Giáo Hội không bao giờ sợ 
		chứng minh rằng giữa đức tin và khoa học chân chính không hề có xung 
		đột, vì cả hai đều hướng về sự thật, tuy là bằng những con đường khác 
		nhau (22).<br>
		<br>
		13. Một điều quan trọng trong Năm Đức tin là duyệt lại lịch sử đức tin 
		của chúng ta, trong đó có một mầu nhiệm khôn lường giữa sự thánh thiện 
		và tội lỗi. Lịch sử thánh thiện cho thấy sự đóng góp lớn lao của những 
		người nam nữ để làm tăng trưởng và phát triển cộng đoàn bằng chứng tá 
		cuộc sống của họ, còn lịch sử tội lỗi phải thúc giục mỗi người hoán cải 
		chân thành và trường kỳ để cảm nghiệm lòng từ bi của Chúa Cha Đấng đến 
		gặp tất cả mọi người.<br>
		<br>
		Trong thời điểm này, chúng ta hãy luôn hướng nhìn về Chúa Giêsu Kitô, 
		”là nguồn gốc và là tận điểm của đức tin” (Dt 12,2): nơi Ngài mọi sóng 
		gió và khát vọng của tâm hồn con người được hoàn tất. Niềm vui của tình 
		yêu, lời đáp trả thảm trạng đau khổ, sức mạnh của tha thứ trước sự xúc 
		phạm phải chịu, và chiến thắng của sự sống trước cái trống rỗng của sự 
		chết, tất cả đều tìm được sự hoàn tất trong mầu nhiệm nhập thể của Chúa, 
		mầu nhiệm Chúa làm người, chia sẻ sự yếu đuối của chúng ta để biến đổi 
		nó bằng quyền năng sự phục sinh của Ngài. Trong Ngài, là Đấng đã chết và 
		sống lại để cứu độ chúng ta, những tấm gương đức tin được tràn đầy ánh 
		sáng, những tấm gương đã ghi dấu 2 ngàn năm lịch sử cứu độ chúng ta.<br>
		<br>
		Nhờ đức tin, Mẹ Maria đã đón nhận lời thiên thần và tin nơi lời loan báo 
		Mẹ sẽ trở thành Mẹ Thiên Chúa trong sự tuân phục tận tụy của Mẹ (Xc Lc 
		1,38). Khi viếng thăm bà Elisabeth, Mẹ cất bài ca chúc tụng Đấng Tối Cao 
		vì những kỳ công Chúa thực hiện nơi những người tín thác nơi Ngài (Xc Lc 
		1,46-55). Mẹ vui mừng và hồi hộp sinh hạ Con duy nhất, mà vẫn giữ nguyên 
		sự đồng trinh (...) (Xc Lc 2,6-7). Tín nhiệm nơi Thánh Giuse hôn phu, Mẹ 
		mang Chúa Giêsu sang Ai Cập để cứu con khỏi cuộc bách hại của Hêrôđê (Xc 
		Mt 2,13-15). Với cùng đức tin Mẹ theo Chúa trong thời gian giảng đạo và 
		ở với Chúa cho đến tận đồi Golgota (Xc Ga 19,25-27). Với đức tin, Mẹ 
		Maria niếm hưởng những thành quả đầu tiên của cuộc phục sinh của Chúa 
		Giêsu, và cẩn giữ mọi kỷ niệm trong lòng (Xc Lc 2,19.51), Mẹ thông 
		truyền kỷ niệm ấy cho 12 Tông Đồ tụ họp với Mẹ trong Nhà Tiệc Ly để lãnh 
		nhận Thánh Linh.<br>
		Nhờ đức tin, các Tông Đồ đã từ bỏ mọi sự để theo Thầy (Xc Mc 10,28). Các 
		vị tin nơi lời Chúa loan báo Nước Trời hiện diện và thể hiện nơi bản 
		thân Ngài (Xc Lc 11,20. Các Tông đồ sống hiệp thông với Chúa Giêsu Đấng 
		dạy dỗ các vị qua lời giáo huấn, để lại cho các vị qui luật sống mới mẻ 
		qua đó người ta nhận ra họ là môn đệ của Ngài sau khi Ngài qua đời (Cx 
		Ga 13,34-35). Nhờ đức tin, các vị đi các nơi trên thế giới, theo mệnh 
		lệnh mang Tin Mừng cho mọi thụ tạo (Xc Mc 16,15) và không chút sợ hãi, 
		các vị loan báo cho mọi người niềm vui Phục sinh mà các vị đã chứng 
		kiến.<br>
		<br>
		Nhờ đức tin, các môn đệ họp thành cộng đoàn đầu tiên, tụ tập quanh giáo 
		huấn của các Tông Đồ, trong kinh nguyện, trong việc cử hành Thánh Thể, 
		để làm của chung những gì họ sở hữu để cứu giúp những anh chị em túng 
		thiếu (Xc Cv 2,42-47).<br>
		<br>
		Nhờ đức tin các vị tử đạo hiến mạng sống của mình để làm chứng về chân 
		lý Phúc Âm đã biến cải và làm cho họ có khả năng đi tới hồng ân tính yêu 
		lớn nhất với việc tha thứ cho những kẻ bách hại họ.<br>
		<br>
		Nhờ đức tin, những người nam nữ đã dâng hiến cuộc sống mình cho Chúa 
		Kitô, bỏ mọi sự để sống, trong sự đơn sơ theo tinh thần Phúc Âm, sự vâng 
		phục, thanh bần và khiết tịnh, những dấu chỉ cụ thể về sự chờ đợi Chúa 
		sắp đến. Nhờ đức tin bao nhiêu Kitô hữu đã thăng tiến những hoạt động 
		bênh vực công lý để cụ thể hóa Lời Chúa, Đấng đã đến để loan báo sự giải 
		thoát khỏi sự áp bức và năm hồng ân cho mọi người (Cx Lc 4,18-19).<br>
		<br>
		Nhờ đức tin qua các thế kỷ, những người nam nữ thuộc mọi lứa tuổi, và 
		tên họ được ghi trong Sách Sự Sống (Xc Kh 7,9; 13,8), đã tuyên xưng vẻ 
		đẹp của sự theo Chúa Giêsu tại nơi họ được kêu gọi làm chứng về cuộc 
		sống Kitô của họ: trong gia đình, nghề nghiệp, trong đời sống công khai, 
		trong việc thi hành các đoàn sủng và sứ vụ mà họ được kêu gọi thi hành.<br>
		<br>
		Nhờ đức tin, cả chúng ta cũng đang sống: để nhìn nhận Chúa Giêsu hiện 
		diện trong cuộc sống chúng ta và trong lịch sử.<br>
		<br>
		14. Năm Đức Tin cũng sẽ là cơ hội thuận tiện để tăng cường chứng tá bác 
		ái. Thánh Phaolô nhắc nhở: ”Vì vậy giờ đây còn lại ba điều là đức tin, 
		đức cậy và đức mến. Nhưng lớn hơn cả là đức mến (1 Cr 13,13). Và Thánh 
		Giacôbê Tông Đồ, với những lời càng mạnh hơn nữa, luôn thúc đẩy các tín 
		hữu Kitô, quả quyết rằng: ”Hỡi anh chị em, nếu một người nói mình có đức 
		tin mà lại không có việc làm thì ích gì? Đức tin ấy có thể cứu họ được 
		không? Nếu một người anh em, chị em, không có y phục và lương thực hằng 
		ngày và một người trong anh chị em nói: ”Hãy đi bình an, hãy sưởi ấm và 
		ăn no” nhưng lại không cho họ những gì cần thiết cho thân thể họ, thì 
		hỏi có ích gì? Đức tin cũng vậy, nếu không có việc làm đi kèm, thì tự nó 
		là đức tin chết. Trái lại một người có thể nói: ”Anh có đức tin và tôi 
		có việc làm; hãy tỏ cho tôi đức tin không có việc làm của anh, và tôi, 
		qua việc làm tôi chứng tỏ cho anh đức tin của tôi” (Gc 2,14-18).<br>
		<br>
		Đức tin không có đức mến thì không mang lại thành quả và đức mến không 
		có đức tin thì sẽ là một tình cảm luôn tùy thuộc sự nghi ngờ. Đức tin và 
		đức mến cần có nhau, đức này giúp đức kia thực hiện hành trình của mình. 
		Có nhiều Kitô hữu yêu thương tận tụy dành cuộc đời phục vụ những người 
		lẻ loi, bị gạt ra ngoài lề hoặc bị loại trừ, coi họ như những người đầu 
		tiên cần đi tới và như người quan trọng nhất cần được nâng đỡ, vì chính 
		nơi người ấy có phản ánh khuôn mặt của Chúa Kitô. Nhờ đức tin, chúng ta 
		có thể nhận ra tôn nhan Chúa phục sinh nơi những người đang xin tình 
		thương của chúng ta. ”Tất cả những gì các con đã làm cho một trong những 
		người anh em bé nhỏ nhất của Thầy đây, tức là các con đã làm cho Thầy” 
		(Mt 25,40): những lời này là một lời cảnh giác không nên quên, và là một 
		lời mời gọi trường kỳ hãy đáp trả tình yêu mà Chúa đã chăm sóc chúng ta. 
		Đó là đức tin giúp nhận ra Chúa Kitô và chính tình yêu Chúa thúc đẩy cứu 
		giúp Chúa mỗi khi Ngài trở thành người thân cận của chúng ta trong cuộc 
		sống. Được đức tin nâng đỡ, chúng ta hy vọng hướng nhìn sự dấn thân của 
		chúng ta trong thế giới, trong khi chờ đợi ”trời mới đất mới, trong đó 
		có công lý cư ngụ” (2 Pr 3,13; Xc Kh 21,1).<br>
		<br>
		15. Vào cuối đời, thánh Phaolô tông đồ yêu cầu môn đệ Timôthê hãy ”tìm 
		kiếm đức tin” (Xc 1 Tm 2,22), với cùng một sự bền chí như hồi còn nhỏ 
		(Xc 2 Tm 3,15). Chúng ta cảm thấy lời mời gọi này được gửi đến mỗi người 
		chúng ta, để không ai trong chúng ta trở nên lười biếng trong đức tin. 
		Đức tin là bạn đồng hành trong cuộc sống, giúp nhận thức với một cái 
		nhìn luôn mới mẻ về những kỳ công mà Thiên Chúa thực hiện nơi chúng ta. 
		Đức tin nhắm đón nhận những dấu chỉ thời đại trong hiện tại của lịch sử, 
		và thúc đẩy mỗi người chúng ta trở thành dấu chỉ sinh động về sự hiện 
		diện của Đấng Phục Sinh trong thế giới. Điều mà thế giới ngày nay đặc 
		biệt cần đến, đó là chứng tá đáng tin cậy của những người được Lời Chúa 
		soi sáng trong tâm trí, có khả năng mở tâm trí của bao nhiêu người mong 
		ước Thiên Chúa và sự sống chân thực, sự sống không tàn lụi.<br>
		<br>
		”Ước gì Lời Chúa hoàn tất hành trình của mình và được tôn vinh” (2 Ts 
		3,1): ước gì Năm Đức Tin này làm cho quan hệ với Chúa Kitô ngày càng 
		vững chắc hơn, vì chỉ trong Ngài mới có sự chắc chắn để hướng nhìn về 
		tương lai và bảo đảm một tình yêu chân thực và lâu bền. Những lời thánh 
		Phêrô Tông đồ chiếu dọi một tia sáng cuối cùng trên đức tin: ”Vì thế, 
		anh chị em tràn đầy vui mừng, cho dù hiện nay anh chị em còn phải chịu 
		ưu sầu ít lâu, bị nhiều thử thách, để đức tin của anh chị em được tôi 
		luyện, quí hơn vàng, vàng là thứ sẽ phải hư nát mà còn được thanh luyện 
		bằng lửa, mang lại lời ngợi khen, vinh quang và vinh dự cho anh em khi 
		Chúa Giêsu Kitô tỏ hiện. Tuy không thấy Ngài, nhưng anh chị em vẫn yêu 
		mến Ngài, và tuy không thấy Ngài, anh chị em vẫn tin nơi Ngài. Vì thế, 
		anh chị em hãy vui mừng khôn tả và vinh quang, trong khi đạt tới mục 
		đích đức tin của anh chị em là ơn cứu độ các linh hồn” (1 Pr 1,6-9). 
		Cuộc sống của các tín hữu Kitô cảm nghiệm niềm vui và đau khổ. Bao nhiêu 
		vị thánh đã sống nỗi cô đơn! Bao nhiêu tín hữu, kể cả ngày nay, bị thử 
		thách vì sự im lặng của Thiên chúa trong khi họ muốn nghe lời an ủi của 
		Ngài! Những thử thách của cuộc sống, trong khi giúp hiểu mầu nhiệm Thập 
		Giá, và tham gia vào đau khổ của Chúa Kitô (Xc Cl 1,24), là tiền đề báo 
		trước niềm vui và hy vọng mà đức tin dẫn đến: ”Khi tôi yếu đuối, đó là 
		lúc tôi mạnh mẽ” (2Cr 12,10). Chúng ta mạnh mẽ tin chắc rằng Chúa Giêsu 
		đã chiến thắng sự ác và sự chết. Với niềm tín thác chắc chắn ấy, chúng 
		ta tín thác nơi Ngài: Chúa hiện diện giữa chúng ta, chiến thắng quyền 
		lực của ác thần (Xc Lc 11,20) và Giáo Hội, cộng đồng hữu hình của lòng 
		từ bi Chúa, ở lại trong Chúa như dấu hiệu hòa giải chung kết với Chúa 
		Cha.<br>
		<br>
		Chúng ta hãy phó thác thời điểm hồng phúc này cho Mẹ Thiên Chúa, được 
		tuyên xưng là ”người có phúc” vì Mẹ &#39;đã tin&#39; (Lc 1,45).<br>
		<br>
		Ban hành tại Roma, nơi Thánh Phêrô,<br>
		<br>
		ngày 11 tháng 10 năm 2011,<br>
		<br>
		năm thứ 7 triều đại Giáo Hoàng.<br>
		<br>
		Biển Đức XVI, Giáo Hoàng<br>
		<br>
		<br>
		G. Trần Đức Anh OP<br>
		<br>
		chuyển ý từ nguyên bản tiếng Ý<br>
		<br>
		(Đài Vatican - 17/10/2011)<br>
&nbsp;</td>
	</tr>
	<tr>
		<td>
				<p align="right"><i>Nguồn http://tonggiaophanhue.net</i></td>
	</tr>
	<tr>
		<td>
		<p align="center">
				<a target="_top" href="../../../../index.htm">
				<img src="http://tinmung.net/tinmungLOGO/homepage.gif" width="100" border="0" height="34"></a></td>
	</tr>
	</table>

</body>

</html>

PHP File Manager