File "ThongdiepTinhyeutrongchanly.htm"

Full path: E:/sites/Single15/tinmung2007/webroot/GIAOHOI/THONG DIEP/Sua lai/ThongdiepmoicuDTC/ThongdiepTinhyeutrongchanly.htm
File size: 254.44 KiB (260550 bytes)
MIME-type:
Charset: utf-8

Download   Open   Back

<html>

<head>
<style>
<!--
/* Style Definitions */
 div.MsoNormal
	{mso-style-parent:"";
	margin-bottom:.0001pt;
	font-size:12.0pt;
	font-family:"Times New Roman";
	margin-left:0mm; margin-right:0mm; margin-top:0mm}
 li.MsoNormal
	{mso-style-parent:"";
	margin-bottom:.0001pt;
	font-size:12.0pt;
	font-family:"Times New Roman";
	margin-left:0mm; margin-right:0mm; margin-top:0mm}
 p.MsoNormal
	{mso-style-parent:"";
	margin-bottom:.0001pt;
	font-size:12.0pt;
	font-family:"Times New Roman";
	margin-left:0mm; margin-right:0mm; margin-top:0mm}
p
	{margin-right:0mm;
	margin-left:0mm;
	font-size:12.0pt;
	font-family:"Times New Roman";
	}
@page Section1
	{size:210.0mm 842.0pt;
	margin:20.0mm 20.0mm 20.0mm 20.0mm;
	mso-header-margin:36.0pt;
	mso-footer-margin:36.0pt;
	mso-paper-source:0;}
div.Section1
	{}
-->
</style>
<meta http-equiv="Content-Language" content="en-us">
<meta http-equiv="Content-Type" content="text/html; charset=utf-8">
<title>Thông Điệp Đức Thánh Cha</title>
<base target="main">
</head>

<body>

<table border="0" width="500" cellspacing="20" style="border-color: #FFFFFF; font-family:Times New Roman; font-size:12pt" bgcolor="#FFFFE6">
	<!-- MSTableType="nolayout" -->
	<tr>
				<td bgcolor="#bdf3fd" height="29">
				<p style="text-align: center"><font color="#ff0000" size="4"><b>
				TIN TỨC GIÁO HỘI</b></font></td>
			</tr>
	<tr>
		<td height="30">
		<p align="center"><font color="#0000FF" size="4"><b>THÔNG ĐIỆP “TÌNH YÊU 
		TRONG CHÂN LÝ”</b></font></td>
	</tr>
	<tr>
		<td align="justify">
		<p align="justify"><strong style="font-weight: 400"><font size="3">
		CARITAS IN VERITATE</font></strong></p>
		<p align="justify"><strong style="font-weight: 400"><font size="3">LÀ 
		TÔNG THƯ HẾT SỨC Ý NGHĨA VÀ QUAN TRỌNG TRONG &quot;BỘ BA&quot; TÔNG THƯ &quot; TIN – 
		CẬY – MẾN&quot; CỦA ĐỨC THÁNH CHA BIỂN-ĐỨC XVI,</font></strong></p>
		<p align="justify"><strong style="font-weight: 400"><font size="3">PHẦN 
		ĐÔNG ĐÃ CÓ BẢN VĂN TÔNG THƯ NẦY,XIN KÍNH GỬI BẢN CHUYỂN NGỮ CHÍNH XÁC 
		NHẤT,ĐƯỢC DỊCH GIẢ PHẠM HỒNG LAM DỊCH TRỰC TIẾP TỪ BẢN GỐC TIẾNG 
		ĐỨC.Chân thành cám ơn Dịch giả Phạm Hồng Lam đã cho phép phổ biến. BTGH</font></strong></p>
		<h3 align="justify">&nbsp;Thông Điệp&nbsp;&nbsp; “TÌNH YÊU TRONG CHÂN LÝ”</h3>
		<p align="justify"><font size="4">của Giáo chủ Biển-Đức XVI gởi</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">- Các giám mục</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">- Các linh mục và phó tế</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">- Các nam nữ tu sĩ</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">- Các tín hữu Kitô</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">- Và tất cả những người thiện chí</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">Về sự phát triển con người toàn diện 
		trong Tình yêu và Chân lí</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">Nội dung :</font></p>
		<ol>
			<li>
			<div align="justify">
				<font size="4">Dẫn nhập (số 1-9)</div>
			</li>
			<li>
			<div align="justify">
				Chương một (10-20): Sứ điệp của thông điệp <i>Populorum 
				progressio</i></div>
			</li>
			<li>
			<div align="justify">
				Chương hai (21-33): Sự phát triển con người trong thời đại ngày 
				nay</div>
			</li>
			<li>
			<div align="justify">
				Chương ba (34-42): Tình huynh đệ, Phát triển kinh tế và Xã hội 
				dân sự</div>
			</li>
			<li>
			<div align="justify">
				Chương bốn (43-52): Phát triển các dân tộc, Quyền và bổn phận, 
				Môi trường</div>
			</li>
			<li>
			<div align="justify">
				Chương năm (53-67): Sự cộng tác của gia đình nhân loại</div>
			</li>
			<li>
			<div align="justify">
				Chương sáu (68-77): Phát triển các dân tộc và Kĩ thuật</div>
			</li>
			<li>
			<div align="justify">
				Kết (78-79)</font></div>
			</li>
		</ol>
		<h4 align="justify"><font size="4">DẪN NHẬP</font></h4>
		<p align="justify"><font size="4">1. <i>Caritas in veritate</i> – Tình 
		yêu trong chân lí là điều mà đức Giêsu Kitô đã minh chứng qua cuộc sống 
		trần thế, đặc biệt qua cái chết và phục sinh của Người; đó là động lực 
		chính của sự phát triển đích thực cho mỗi người và cho toàn thể nhân 
		loại. Tình yêu – «caritas» – là nguồn lực lạ lùng thúc đẩy con người can 
		đảm và đại độ dấn thân cho hoà bình và công lí. Nó xuất phát từ Thiên 
		Chúa, Đấng vừa là Tình yêu muôn thủa và cũng là Chân lí tuyệt đối. Mỗi 
		người gặp được hạnh phúc của mình, khi chấp nhận chương trình mà Thiên 
		Chúa đã đề ra cho mình để phát triển thành người: Trong chương trình đó 
		họ gặp được chân lí đời mình, và một khi chấp nhận chân lí này, họ trở 
		thành người tự do (x. Gi 8,22). Như vậy, việc bảo vệ, khiêm tốn và xác 
		tín loan báo cũng như làm chứng cho chân lí bằng cuộc sống mình là những 
		phương cách thể hiện đầy thách đố và không thể thay thế được của tình 
		yêu, bởi chưng tình yêu này «<i>vui mừng trước những gì là sự Thật</i>» 
		(1 Cor 13,6). Mọi người ai cũng cảm thấy có một lực nội tâm thúc đẩy 
		mình yêu thương một cách chân thật: Tình yêu và sự thật không bao giờ 
		tách khỏi con người, bởi vì chúng là ơn gọi mà Thiên Chúa đã đặt để 
		trong tâm trí mỗi người. Đức Giêsu Kitô thanh tẩy và giải thoát chúng ta 
		khỏi những bất cập đáng thương của kiếp người trong hành trình kiếm tìm 
		tình yêu và chân lí. Và Người mạc khải cho chúng ta thấy đầy đủ sáng 
		kiến cùa tình yêu và chương trình của một cuộc sống đích thực mà Thiên 
		Chúa đã chuẩn bị sẵn cho ta. <i>Tình yêu trong chân lí</i> đã trở thành 
		gương mặt của Người; và trong đức Kitô, tình yêu đó đã trở thành ơn gọi 
		yêu thương tha nhân trong số phận chân thật của họ. Thật vậy, chính đức 
		Kitô cũng là Chân lí (x. Gi 14,6).</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">2. Tình yêu là tâm điểm của học thuyết 
		xã hội của Giáo hội. Mọi trách nhiệm và bổn phận được trình bày trong 
		học thuyết này đều xuất phát từ tình yêu, vốn như đức Giêsu đã nói, là 
		luật tóm tắt toàn bộ lề luật của Thiên Chúa (x. Mt 22, 36-40). Nhờ tình 
		yêu, liên hệ giữa con người với Thiên Chúa và liên hệ giữa người với tha 
		nhân có được một nội dung chân thực. Tình yêu không những là nguyên tắc 
		của các liên hệ ở cấp vi mô như trong tình bạn, gia đình và các nhóm 
		nhỏ, mà cả ở cấp vĩ mô như trong các tương giao kinh tế, xã hội và chính 
		trị. Dựa trên Tin Mừng, Giáo hội coi tình yêu là tất cả, bởi vì như 
		thánh Gioan đã dạy (x. Ga 4, 8.16) và như tôi đã nhắc lại trong thông 
		điệp «<i>Thiên Chúa là tình yêu</i>» trước đây: <i>Tất cả đều xuất phát 
		từ tình yêu Thiên Chúa, tình yêu làm cho mọi sự có được hình hài và tất 
		cả mọi loài đều nỗ lực hướng về tình yêu</i>. Tình yêu là tặng phẩm lớn 
		nhất mà Thiên Chúa đã trao ban cho con người; nó là lời hứa của Người và 
		là niềm hi vọng của chúng ta.</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">Tôi biết, tình yêu đã và đang bị con 
		người làm cho biến dạng khiến thành ra vô nghĩa. Và hậu quả là nó rơi 
		vào nguy cơ bị hiểu lầm, bị đẩy ra khỏi đạo đức cuộc sống, bị ngăn cản 
		bằng mọi cách không cho xuất hiện đúng với mặt thật của nó. Trong lãnh 
		vực xã hội, luật pháp, văn hoá, chính trị và kinh tế, nghĩa là trong 
		những quan hệ dễ xẩy ra nguy cơ trên đây nhất, tình yêu dễ bị coi là 
		không quan trọng cho việc suy diễn và định hướng trách nhiệm đạo đức. Vì 
		thế, không những cần phải nối tình yêu và chân lí trong công thức của 
		thánh Phaolô đưa ra «<i>sự thật trong tình yêu</i>» (Êph 4, 15) lại với 
		nhau, mà còn phải đảo ngược nó lại và bổ túc cho nhau thành «<i>tình yêu 
		trong sự thật</i>». Sự thật phải được tìm, gặp và diễn tả ra trong nền 
		tảng «kinh tế» của tình yêu; và ngược lại, tình yêu cũng phải được hiểu, 
		chuẩn nhận và thực thi dưới ánh sáng chân lí. Bằng cách đó chúng ta 
		không những phục vụ cho một tình yêu được chiếu sáng bởi chân lí, mà còn 
		làm cho sự thật trở nên đáng cậy, bằng cách làm sáng tỏ tính xác thực và 
		sức thuyết phục của nó ra trong cuộc sống xã hội hiện thực. Đây là điều 
		quan trọng cần làm cho môi trường xã hội và văn hoá hiện nay, môi trường 
		trong đó sự thật bị tương đối hoá, hay bị coi thường và phủ nhận.</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">3. Qua mối liên kết chặt chẽ với sự 
		thật, tình yêu có thể được nhận diện như sự diễn tả chân thực của nhân 
		tính và như là yếu tố quan trọng nền tảng trong liên hệ giữa người với 
		người – và cả trong lãnh vực công nữa. Tình yêu chỉ tỏa sáng trong chân 
		lí, và chỉ trong chân lí nó mới có thể được sống cách đáng cậy. Chân lí 
		là ánh sáng cung cấp cho tình yêu í nghĩa và giá trị. Đó là ánh sáng của 
		lí trí cũng như của đức tin, nhờ ánh sáng này trí hiểu đạt tới chân lí 
		tự nhiên và siêu nhiên của tình yêu: nó hiểu được tình yêu có nghĩa là 
		tự hiến, chấp nhận và cộng đoàn. Không có sự thật, tình yêu sẽ rơi vào 
		tình cảm uỷ mị. Nó sẽ là chiếc thùng rỗng mà người ta có thể đổ đầy bằng 
		bất cứ thứ gì họ muốn. Đấy là cái nguy cơ bất lường của tình yêu trong 
		một nền văn hoá thiếu sự thật. Nó sẽ là nạn nhân của những tình cảm tình 
		cờ và những quan niệm cá nhân, sẽ là một từ ngữ bị hiểu lầm và làm cho 
		biến nghĩa đến trở thành ngược lại. Sự thật giải thoát tình yêu khỏi 
		vòng chật hẹp của cảm xúc; xúc cảm làm tiêu tan nội dung xã hội và hợp 
		lí của tình yêu. Sự thật cũng giải thoát tình yêu khỏi vòng chật hẹp của 
		một tinh thần duy tín (Fideismus) thiếu hơi thở con người và vũ trụ. 
		Trong sự thật, tình yêu phản chiếu lên chiều kích vừa cá nhân vừa công 
		khai của niềm tin vào Thiên Chúa kinh thánh, Người vừa là «Agape» vừa là 
		«Logos»: Bác ái và sự Thật, Tình yêu và Lời.</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">4. Vì tình yêu tràn đầy sự thật, nên 
		con người có thể nhận ra các giá trị nơi gia sản phong phú của nó, chấp 
		nhận và chia sẻ nó cho nhau. Bởi lẽ <i>sự thật</i> là «<i>lời</i>» 
		(logos) và lời tạo ra «<i>đối thoại</i>» (diá-logos) nên sự thật tạo ra 
		sự trao đổi và cộng đoàn. Vì sự thật kéo con người ra khỏi những quan 
		điểm và cảm nhận chủ quan, nên nó giúp họ khả năng vượt thắng những định 
		kiến văn hoá và lịch sử, để họ có thể găp được nhau qua việc nhận biết 
		giá trị và bản chất của các sự vật. Sự thật khai mở trí hiểu con người 
		và nối kết trí thông minh của họ lại vào trong <i>Logos</i> của tình 
		yêu: Đó là thông điệp và chứng tá kitô giáo của tình yêu. Nếu chúng ta 
		sống tình yêu trong chân lí trong môi trường xã hội và văn hoá mang 
		chiều hướng tương đối hoá chân lí như hiện nay, chúng ta sẽ nhận ra 
		rằng, việc chấp nhận các giá trị kitô giáo là một yếu tố không những có 
		lợi mà còn không thể thiếu cho việc xây dựng một xã hội tốt và cho việc 
		phát triển đích thực và toàn diện của con người. Một Kitô giáo đầy tình 
		thương nhưng thiếu sự thật có thể bị lẫn lộn với một kho chứa tình cảm, 
		những tình cảm này có lợi cho cuộc chung sống xã hội thật đấy, nhưng đó 
		chỉ là những yếu tố phụ thuộc. Trong trường hợp này sẽ chẳng còn chỗ nào 
		cho Thiên Chúa trong thế giới nữa. Thiếu sự thật, tình yêu sẽ bị đẩy vào 
		lãnh vực của những tương giao hạn chế và riêng tư. Nó sẽ bị loại ra khỏi 
		mọi chương trình và tiến trình xây dựng một đường lối phát triển con 
		người với quy mô lớn, nghĩa là bị loại ra khỏi cuộc đối thoại giữa hiểu 
		biết và thực hành.</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">5. Caritas là tình yêu con người lãnh 
		nhận từ Thiên Chúa trao ban. Nó là «hồng ân» (cháris). Cội nguồn phát 
		xuất của nó là tình yêu của Chúa Cha trao cho Chúa Con trong Thánh Thần. 
		Nó là tình yêu của Chúa Con tuôn xuống cho chúng ta. Đó là tình yêu sáng 
		tạo, nhờ đó mà chúng ta có mặt; đó là tình yêu cứu rỗi, nhờ đó mà chúng 
		ta được tái sinh. Đó là tình yêu do đức Kitô mạc khải và hoàn thành (x. 
		Ga 13, 1), «<i>được đổ xuống trên tâm hồn chúng ta nhờ Thánh Thần</i>» 
		(Rom 5, 5). Là kẻ lãnh nhận tình yêu của Thiên Chúa, chúng ta có nhiệm 
		vụ cưu mang tình yêu tha nhân, và chính mình được mời gọi trở thành dụng 
		cụ hồng ân hầu mở rộng tình yêu Thiên Chúa và dệt nên tấm lưới tình yêu 
		tha nhân.</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">Học thuyết xã hội của Giáo hội đặt nền 
		trên lực năng động của tình yêu trao ban và lãnh nhận này. Nó là «<i>caritas 
		in veritate in re sociali</i>»: Quảng bá chân lí tình yêu thiên chúa 
		trong xã hội. Học thuyết này phục vụ tình yêu, nhưng phục vụ tình yêu 
		trong chân lí. Chân lí là mẹ đỡ và là biểu hiện của sức mạnh giải phóng 
		của tình yêu trong một lịch sử luôn chuyển biến đổi thay. Nó đồng thời 
		là chân lí của đức tin và của lí trí, trong việc phân biệt cũng như tác 
		động chung giữa hai lãnh vực nhận thức này. Chân lí này cần thiết cho 
		công cuộc phát triển, cho hạnh phúc xã hội và cho việc tìm ra lời giải 
		đúng đắn cho những vấn nạn kinh tế xã hội khó khăn đang đè nặng nhân 
		loại. Nhưng điều cấp thiết hơn, là làm sao cho chân lí này được ưa 
		chuộng và có sức thuyết phục. Thiếu chân lí, thiếu niềm tin và tình yêu 
		vào những gì là sự thật, thì lương tâm và trách nhiệm xã hội cũng mất 
		luôn: Hành động xã hội sẽ trở thành một trò chơi của những sở thích 
		riêng tư và trở thành lí của kẻ mạnh, với hậu quả là xã hội bị phân 
		thân, nhất là với một xã hội đang trên đường toàn cầu hoá đầy khó khăn 
		như hiện nay.</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">6. „<i>Caritas in veritate</i>“ là 
		nguyên tắc nền tảng của học thuyết xã hội công giáo, một nguyên tắc hình 
		thành những chuẩn mực định hướng cho hành động đạo đức. Tôi muốn đặc 
		biệt nêu ra ở đây hai khía cạnh rất cần thiết cho việc phát triển một xã 
		hội đang trên đường toàn cầu hoá. Đó là Công lí và Công ích (hay Phúc 
		lợi chung). Trước hết là Công lí. <i>Ubi societas, ibi ius</i>: Mỗi xã 
		hội có một nền luật pháp riêng. Tình yêu vượt lên trên công lí, bởi lẽ 
		yêu là trao tặng, là cho người khác cái «của mình». Nhưng chẳng bao giờ 
		có bác ái nếu không có lực công lí thôi thúc tôi cho người khác những gì 
		«của họ», nghĩa là những gì họ phải có để tồn tại và hành động. Tôi 
		không thể «tặng» người khác cái của tôi, nếu trước hết không trả lại cho 
		họ những gì là của họ. Khi tôi lấy tình bác ái đối xử với một ai, lúc đó 
		là tôi thể hiện công bằng đối với họ. Công lí chẳng lạ lẫm gì với tình 
		yêu; nó cũng chẳng phải chỉ là con đường thay thế hay song song với tình 
		yêu: Công lí luôn đi liền với tình yêu[1], nó là một yếu tố nằm trong 
		tình yêu. Công lí là bước đường đầu của tình yêu, hay nói như giáo chủ 
		Phaolô VI, nó là «<i>mức tối thiểu</i>»[2], là một thành phần trọng yếu 
		của thứ tình yêu «<i>trong hành động và sự thật</i>», như thánh Gioan đã 
		kêu gọi (1 Ga 3,18). Một mặt, tình yêu đòi hỏi công lí, nghĩa là phải 
		công nhận và coi trọng các quyền chính đáng của cá nhân và của các dân 
		tộc. Nó thúc đẩy việc xây dựng một «thành phố của người» dựa theo pháp 
		quyền và công lí. Mặt khác, tình yêu vượt trên công lí và hoàn thiện 
		công lí trong cái lôgic của trao tặng và thứ tha [3]. «Thành Phố Của 
		Người» không những được hỗ trợ bằng các tương giao đặt nền trên quyền và 
		nhiệm vụ, nhưng hơn nữa và trước hết bằng các mối dây được đan bện bằng 
		nhân ái, tương thuộc và miễn phí. Qua những liên hệ giữa người với 
		người, bác ái cũng luôn mở ra cho thấy tình yêu của Thiên Chúa; nhờ tình 
		yêu này mà mỗi hành động dấn thân cho công lí trong thế giới có được giá 
		trị thần học và cứu rỗi.</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">7. Ngoài ra cũng cần phải coi trọng 
		đặc biệt tính công ích. Yêu ai có nghĩa là quan tâm tới phúc lợi của 
		người đó và cố gắng tạo phúc lợi cho họ. Bên cạnh phúc lợi cá nhân còn 
		có phúc lợi liên quan tới nhiều người trong xã hội, gọi là «công ích» 
		hay «phúc lợi chung». Đó là thứ phúc lợi của «chúng ta», của cả tập hợp 
		xã hội chung bao gồm các phúc lợi cá nhân, gia đình và nhóm nhỏ [4]. Đây 
		không phải là thứ phúc lợi mạnh ai nấy tìm cho riêng mình, nhưng là của 
		chung cho những ai thuộc vào một cộng đồng xã hội, và chỉ khi ở trong 
		một cộng đồng ta mới đạt được phúc lợi này một cách hiệu quả. <i>Công lí 
		và tình yêu đòi hỏi phải làm sao có được công ích.</i> Dấn thân cho công 
		ích một mặt có nghĩa là bảo vệ toàn bộ các định chế điều hoà cuộc sống 
		xã hội về mặt pháp lí, dân sự, chính trị và văn hoá, mặt khác sử dụng 
		các cơ cấu này để nhờ đó <i>Polis</i> (thành phố, nhà nước) hình thành. 
		Tình yêu tha nhân sẽ trở nên hữu hiệu hơn, khi ta dấn thân cho một ích 
		lợi chung, và ích lợi này đồng thời cũng phù hợp với các nhu cầu thiết 
		thực của ta. Mỗi kitô hữu được mời gọi thực thi tình yêu này theo ơn gọi 
		của họ và trong mức độ phù hợp với các khả năng tạo ảnh hưởng của họ 
		trong Polis. Đó là con đường định chế – cũng gọi được là con đường chính 
		trị – của bác ái; bác ái này cũng thích hợp và hữu hiệu không kém tình 
		yêu ta trao cho người khác cách trực tiếp, bên ngoài vòng định chế của 
		Polis. Dấn thân cho công ích vì động lực tình yêu mang giá trị cao hơn 
		việc dấn thân do động lực trần tục hay chính trị. Cũng giống như mọi dấn 
		thân khác cho công lí, dấn thân vì tình yêu là một chứng tá về tình yêu 
		thiên chúa, chứng ta này tác động trong hiện tại nhưng đồng thời chuẩn 
		bị cho ta phần phúc đời đời. Khi hành động của con người trần thế được 
		khơi nguồn và hỗ trợ bởi tình yêu, hành động đó góp phần dựng xây nên <i>
		Thành Phố Thiên Chúa</i> trên địa cầu, đây là một mô hình chung sống 
		tương lai mà lịch sử nhân loại vẫn đang hướng tới. Trong một xã hội đang 
		trên đường toàn cầu hoá, công ích và việc dấn thân cho công ích chắc 
		chắn phải hướng tới những chiều kích về một gia đình chung của nhân 
		loại, nghĩa là về một cộng đồng các dân tộc và quốc gia chung [5], ngõ 
		hầu nhờ đó mà Thành Phố Con Người có được hoà bình và hợp nhất, và đó sẽ 
		là mô hình tiền dự cho Thành Phố Thiên Chúa vượt mọi biên cương sẽ tới.</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">8. Với thông điệp <i>Populorum 
		progressio</i> ra đời năm 1967, vị tiền nhiệm đáng kính của tôi là 
		Phaolô VI đã dùng hào quang chân lí và ánh sáng tình yêu của đức Kitô đề 
		rọi chiếu lên một đề tài lớn, đó là đề tài phát triển các dân tộc. Ngài 
		nhấn mạnh, việc loan báo đức Kitô là yếu tố phát triển đầu tiên và quan 
		yếu nhất [6]; và ngài đòi hỏi chúng ta bước vào con đường phát triển với 
		tất cả con tim và trí óc 7], nghĩa là với lửa tình yêu và trí huệ chân 
		lí. Chính chân lí cội nguồn của tình yêu thiên chúa, vốn là một hồng ân 
		do Thiên Chúa trao ban, đã mở toang cánh cửa cuộc đời ta khiến ta sẵn 
		sàng trao nó đi tiếp; cũng nhờ chân lí cội nguồn này ta mới có hi vọng 
		trở nên một «<i>con người và một nhân loại toàn hảo</i>»[8], mới có hi 
		vọng vượt qua được những khó khăn chắc chắn gặp phải trên đường đời, để 
		từ «<i>những điều kiện sống ít nhân bản</i>» đạt tới được «<i>những điều 
		kiện sống nhân bản hơn</i>»[9].</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">Nhân dịp bốn mươi năm thông điệp <i>
		Populorum progressio</i> ra đời, tôi hân hạnh được lấy lại tư tưởng và 
		đường hướng suy tư về phát triển con người toàn diện của vị tiền nhiệm 
		lớn của tôi. Tôi sẽ cập nhật chúng để áp dụng cho hoàn cảnh hiện nay. 
		Tiến trình cập nhật này đã khởi đi từ thông điệp <i>Sollicitudo rei 
		socialis</i>, do giáo chủ Gioan Phaolô II đưa ra nhân dịp kỉ niệm hai 
		mươi năm ra đời của <i>Populorum progressio</i>. Trước đó, chỉ <i>Rerum 
		novarum</i> có được một kỉ niệm như thế mà thôi. Giờ đây, sau thêm hai 
		mươi năm nữa trôi qua, tôi muốn nói lên xác tín của mình rằng, <i>
		Populorum progressio</i> là một thứ «<i>Rerum novarum của thời đại chúng 
		ta hiện nay</i>», nó giúp chúng ta hiểu được những bước đi tiến về hợp 
		nhất của nhân loại.</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">9. Tình yêu trong sự thật – <i>caritas 
		in veritate</i> – là một thử thách lớn cho Giáo hội trong một thế giới 
		đang trên đường toàn cầu hoá cách tiệm tiến và đều khắp. Con người và 
		các dân tộc trong thế giới ngày nay sống tương thuộc vào nhau. Nhưng sự 
		tương thuộc này thiếu mất tương giao đạo đức phù hợp của lương tâm và lí 
		trí. Thiếu tương giao này, con người không thể có được một phát triển 
		đúng đắn. Chỉ có một tình yêu được soi sáng bởi lí trí và đức tin mới 
		giúp ta thành người hơn và đạt được những cùng đích phát triển mang giá 
		trị nhân bản hơn. Nếu chỉ dựa vào tiến bộ kĩ thuật và những tính toán 
		trong các quan hệ nhất định, chúng ta sẽ không có được sự phân chia của 
		cải và tài nguyên, vốn là nền tảng cho một phát triển đích thực. Song 
		chỉ với tiềm năng tình yêu, con người mới có thể lấy thiện để thắng ác 
		(xem Rom 12,21), mới có thể chia sẻ của cải và tài nguyên cho nhau, mới 
		có thể tự do đi tới với nhau theo tiếng lương tâm.</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">Giáo hội không đưa ra những giải pháp 
		kĩ thuật[10] và hoàn toàn không muốn «<i>xen vào chuyện nội bộ của nhà 
		nước</i>»[11]. Nhưng trong mọi thời và mọi hoàn cảnh, Giáo hội phải hoàn 
		thành sứ mạnh chân lí, để giúp xã hội trở nên xứng hợp với con người, 
		với nhân phẩm và ơn gọi của họ. Thiếu chân lí, cuộc sống con người sẽ 
		rơi vào thực dụng và bi quan. Với quan điểm sống đó, họ không thể vươn 
		lên được khỏi tầng thực hành, bởi lẽ chẳng ai còn màng gì tới những giá 
		trị – và đôi khi ngay cả tới í nghĩa – được coi là chuẩn mực định giá và 
		định hướng cho cuộc sống. Muốn trung thành với con người, phải trung 
		thành với sự thật. Chỉ có sự thật mới bảo đảm cho tự do (xem Ga 8,32) và 
		mới mở ra một phát triển toàn diện cho con người. Vì thế Giáo hội luôn 
		đi tìm sự thật, không mệt mỏi loan truyền sự thật và sẵn sàng công nhận 
		sự thật bất kể nó tới từ đâu. Sứ mạng chu toàn sự thật của Giáo hội là 
		nhiệm vụ không thể thiếu được. Một trong những khía cạnh đặc biệt của sứ 
		mạng loan truyền này là giáo huấn xã hội của Giáo hội: Nhiệm vụ của giáo 
		huấn là phục vụ sự thật, sự thật giải thoát. Giáo hội luôn mở cửa đón 
		nhận sự thật. Dù sự thật tới bất kể từ lãnh vực kiến thức nào, giáo huấn 
		xã hội cũng đón nhận nó, ghép từng mảnh chân lí có được lại thành một 
		thể thống nhất và giới thiệu nó cho con người và các dân tộc đang sống 
		giữa một hoàn cảnh luôn đổi thay [12].</font></p>
		<p align="justify"><b><font size="4">CHƯƠNG MỘT</font></b></p>
		<p align="justify"><b><font size="4">SỨ ĐIỆP CỦA THÔNG ĐIỆP PHÁT TRIỂN 
		CÁC DÂN TỘC (</font><i><font size="4">POPULORUM PROGRESSIO)</font></i></b></p>
		<p align="justify"><font size="4">10. Việc đọc lại thông điệp <i>
		Populorum progressio</i> sau bốn mươi năm xuất hiện mời gọi chúng ta 
		tiếp tục trung thành với sứ điệp tình yêu và chân lí của Thông điệp và 
		hãy đặt nó trong nội dung giáo huấn của giáo chủ Phaolô VI cũng như đọc 
		nó theo truyền thống giáo huấn xã hội của Giáo hội. Ngoài ra, chúng ta 
		cũng cần phải cân nhắc tới những điều kiện phát triển xã hội hiện nay đã 
		khác với ngày trước. Như vậy, nền tảng đúng đắn để hiểu Thông điệp là 
		đức tin truyền thừa của các Tông đồ[13]; đó là gia sản vừa cũ vừa mới, 
		không có nó <i>Populorum progressio</i> sẽ là một bản văn thiếu gốc rễ 
		và những vấn nạn về phát triển được đề cập trong đó sẽ bị giản lược vào 
		những dữ kiện thuần xã hội mà thôi.</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">11. <i>Populorum progressio</i> được 
		phổ biến ngay sau khi kết thúc công đồng Vaticano II. Ngay trong những 
		đoạn đầu của thông điệp cho thấy có sự liên hệ chặt chẽ với Công 
		đồng[14]. Trong thông điệp <i>Sollicitudo rei socialis</i> viết nhân dịp 
		kỉ niệm hai mươi năm <i>Populorum progressio</i> ra đời, giáo chủ Gioan 
		Phaolô II đã ca ngợi mối liên hệ phong phú đó, đặc biệt là mối liên hệ 
		với Hiến chế mục vụ <i>Gaudium et spes</i> (Niềm vui và Hi vọng)[15]. Ở 
		đây, tôi cũng muốn nhắc lại tầm quan trọng của công đồng Vaticano II 
		trên Thông điệp của giáo chủ Phaolô VI và trên toàn bộ giáo huấn của các 
		giáo chủ kế tiếp liên quan tới vấn đề xã hội. Công đồng đào sâu điểm 
		này: Vì Giáo hội có nhiệm vụ phục vụ Thiên Chúa, nên Giáo hội cũng phục 
		vụ thế giới về mặt tình yêu và chân lí, đó cũng là một khắng định xưa 
		nay thuộc chân lí đức tin của chúng ta. Xuất phát từ chính cái nhìn đó, 
		giáo chủ Phaolô VI đã công bố cho chúng ta hai chân lí lớn. Chân lí thứ 
		nhất: Khi rao truyền, cử hành bí tích thánh thể và hoạt động bác ái, 
		toàn thể hiện hữu và hành động của Giáo hội đều nhắm tới việc cổ xuý cho 
		một phát triển con người toàn diện. Giáo hội đóng một vai trò công cộng. 
		Vai trò này không hạn hẹp trong việc cứu tế hay giáo dục mà thôi, nhưng 
		sức mạnh đặc thù của nó toả ra trong việc thăng hoa con người và cổ xuý 
		tình huynh đệ hoàn vũ, khi nó được phục vụ cho một thể chế tự do. Trong 
		không ít trường hợp sự tự do này bị cản trở bởi những cấm đoán hay đàn 
		áp bắt bớ, hoặc bị hạn chế, khi người ta chỉ cho phép Giáo hội thi hành 
		công tác bác ái mà thôi. Chân lí thứ hai: sự phát triển đích thực của 
		con người có liên hệ tới toàn diện nhân vị trong mọi chiều kích của 
		nó[16]. Thiếu viễn ảnh về một cuộc sống đời đời, sự tiến bộ của con 
		người trong thế giới sẽ thiếu hơi thở. Nếu tiến bộ này chỉ đóng khung 
		trong lịch sử, nó sẽ có nguy cơ thúc đẩy con người chỉ nghĩ tới việc gia 
		tăng của cải cho riêng mình. Như vậy, nhân loại sẽ mất đi can đảm sẵn 
		sàng đón nhận những giá trị cao hơn, sẵn sàng đón nhận những sáng kiến 
		vị tha lớn do tình bác ái phổ quát đòi hỏi. Con người không tự phát 
		triển bằng chính nội lực mình, và phát triển cũng không đơn thuần do từ 
		ngoài đến với họ. Suốt dọc dài lịch sử người ta thường cho rằng, chỉ cần 
		có những định chế là quyền phát triển của nhân loại được bảo đảm. Tiếc 
		rằng con người đã đặt quá nhiều niềm tin vào những định chế, làm như thể 
		những định chế đó sẽ đương nhiên mang lại thoả mãn cho mình. Thực tế cho 
		thấy, định chế không đủ, bởi lẽ cuộc phát triển toàn diện con người 
		trước hết là một ơn gọi và vì thế nó đòi hỏi mọi người phải nhận lấy 
		trách nhiệm trong tự do và liên đới. Ngoài ra, một phát triển như thế 
		đòi hỏi phải có cái nhìn siêu việt về nhân vị, nó cần Thiên Chúa: Thiếu 
		Thiên Chúa, phát triển hoặc sẽ bị cản trở hoặc sẽ bị hoàn toàn thả mặc 
		vào trong tay con người. Cơ nguy ở đây là con người có thể rơi vào tự 
		tin quá đỗi và như vậy cuối cùng sẽ tạo biến dạng khuôn mặt phát triển. 
		Hơn nữa, chỉ qua gặp gỡ Thiên Chúa, ta mới không „<i>nhìn kẻ khác thuần 
		tuý mãi mãi là một kẻ khác</i>“[17], nhưng nhận ra khuôn mặt thiên chúa 
		nơi họ, và nhờ đó mới thật sự khám phá ra kẻ khác và mới hun đúc cho 
		mình có được một tình yêu chuyên „<i>quan tâm tới và cho kẻ khác</i>“[18].</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">12. Mối liên kết giữa <i>Populorum 
		progressio</i> với công đồng Vaticano II không có nghĩa là một gián đoạn 
		giữa giáo huấn xã hội của giáo chủ Phaolô VI với giáo huấn của các vị 
		tiền nhiệm của ngài, bởi lẽ Công đồng là một nỗ lực đào sâu giáo huấn 
		này trong sự liên tục của cuộc sống Giáo hội[19]. Hiểu như thế thì một 
		số phân biệt trừu tượng cấp thấp được diễn tả bằng những phạm trù mới lạ 
		trong giáo huấn xã hội thời nay chỉ là những đóng góp thêm, chứ không 
		phải để làm sáng tỏ cho các giáo huấn trước đây. Không có hai loại giáo 
		huấn xã hội, tiền Công đồng và hậu Công đồng, khác biệt nhau, mà tất cả 
		đều là một cây chung nhưng lại luôn sản sinh ra những hoa trái mới[20]. 
		Ta có thể nhấn mạnh tới những đặc trưng của một thông điệp hay nét cá 
		biệt giáo huấn của một giáo chủ nào đó, nhưng không bao giờ được phép bỏ 
		qua mối liên kết trong toàn bộ giáo huấn của Giáo hội[21]. Liên kết ở 
		đây không có nghĩa là đóng chặt trong một hệ thống, nhưng đúng hơn luôn 
		trung thành với nguồn sáng nhận lãnh. Giáo huấn xã hội của Giáo hội luôn 
		soi tỏ cho những vấn nạn mới mẻ, nhưng với một nguồn sáng bất biến[22]. 
		Nguồn sáng vừa bảo đảm cho tính luôn mãi thời sự lẫn tính lịch sử của 
		„gia sản“ tín lí này[23]; gia sản này, với những điểm đặc trưng của nó, 
		là thành phần của một truyền thống luôn sống động của Giáo hội[24]. Giáo 
		huấn xã hội của Giáo hội được xây dựng trên nền những gì các tông đồ 
		truyền lại cho các giáo phụ và rồi được tiếp tục thâu nhận và đào sâu 
		bởi các bậc thầy trong Giáo hội. Kết cuộc lại, giáo huấn này được khơi 
		nguồn từ Con Người Mới, từ „<i>Ađam Cuối Cùng</i>“ đã trở thành „<i>thần 
		khí ban sự sống</i>“ (1 Cor 15,45) và là nguồn xuất phát của thứ tình 
		yêu „<i>không bao giờ tắt</i>“ (1 Cor 13,8). Giáo huấn được bảo chứng 
		bởi các thánh và bởi tất cả những ai đã hi sinh mạng sống cho Chúa cứu 
		thế Kitô trên lĩnh vực công lí và hoà bình. Giáo huấn xã hội phản ảnh 
		nhiệm vụ tiên tri của các giáo chủ, các ngài hướng dẫn Giáo hội Chúa 
		Kitô tiếp tục theo đường lối của các tông đồ và nhận ra đâu là những đòi 
		hỏi mới của việc rao truyền trong mỗi thời đại. Từ những lí do đó, thông 
		điệp <i>Populorum progressio</i> được viết ra trong dòng chảy truyền 
		thừa chung đó vẫn còn hữu ích cho chúng ta ngày nay.</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">13. Ngoài mối liên hệ quan trọng với 
		toàn bộ học thuyết xã hội của Giáo hội, thông điệp <i>Populorum 
		progressio</i> còn liên hệ chặt chẽ với với toàn bộ giáo huấn của giáo 
		chủ Phaolô VI, đặc biệt với lời dạy của ngài về các vấn đề xã hội. Những 
		chỉ giáo của Thông điệp về đề tài xã hội rất quan trọng: Thông điệp nhấn 
		mạnh đến vai trò tất yếu của Tin Mừng trong công cuộc xây dựng một xã 
		hội dựa trên nền tảng tự do và công bình, và trong viễn tượng một nền 
		văn minh được soi dẫn bởi tình yêu. Giáo chủ Phaolô VI thấy rằng, vấn đề 
		xã hội đã trở thành một vấn đề của toàn cầu [25]. Và ngài cũng nhận ra 
		có sự tương ứng nội tại giữa nỗi thao thúc hướng về một tập hợp chung 
		của nhân loại và lí tưởng kitô giáo về một đại gia đình các dân tộc duy 
		nhất gắn bó với nhau trong tình huynh đệ chung. Ngài gọi cùng đích phát 
		triển đó của con người và của Giáo hội là trái tim của học thuyết xã hội 
		công giáo, và đã trình bày tình yêu kitô giáo như là động lực chính vận 
		hành sự phát triển đó. Với mong ước làm cho con người hôm nay thấy được 
		tình yêu của đức Kitô, ngài thẳng thắn đề cập tới những vấn nạn đạo đức 
		quan trọng, và đã không lùi bước trước những bất cập của nền văn hoá 
		đương thời.</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">14. Với thông điệp <i>Octogesima 
		adveniens</i> năm 1971, giáo chủ Phaolô VI đã bàn về í nghĩa của chính 
		trị và về nguy cơ tác hại phẩm tính con người và đạo đức trong cuộc sống 
		chính trị do những í hệ và viễn tượng không tưởng tạo ra. Ngài đã đề cập 
		tới những lí chứng liên quan mật thiết với việc phát triển. Nhưng tiếc 
		thay, các í thức hệ tiêu cực vẫn không ngừng triển nở. Giáo chủ Phaolô 
		VI đã đặc biệt cảnh giác không nên đặt hết niềm tin vào í hệ kĩ thuật 
		đang lan tràn [26]. Theo ngài, nếu đặt toàn bộ tiến trình phát triển vào 
		trong tay kĩ thuật mà thôi, thì sẽ rất nguy hiểm, bởi lẽ phát triển đó 
		sẽ thiếu phương hướng. Kĩ thuật, tự nó, hàm chứa nhiều mặt lẫn lộn. Một 
		mặt, con người hôm nay có khuynh hướng trao phó tiến trình phát triển 
		hoàn toàn cho kĩ thuật. Nhưng mặt khác, họ đồng thời lại thấy xuất hiện 
		những í thức hệ phủ nhận đại trà sự hữu ích của phát triển, bởi vì các í 
		hệ này xem sự phát triển đó hoàn toàn phản lại con người và cho rằng, nó 
		dẫn đến tình trạng suy đồi chung. Như vậy, rốt cuộc người ta sẽ kết án 
		không những cái đường hướng đôi khi sai và bất công mà người ta gán cho 
		tiến bộ, mà còn kết án ngay cả chính những khám phá khoa học; những khám 
		phá này, trái lại nếu biết sử dụng đúng, sẽ là một cơ hội phát triển cho 
		tất cả mọi người. Còn nếu coi thế giới này chẳng tiến triển gì cả, thì 
		đây lại là dấu chỉ thiếu tin tưởng vào con người và vào Thiên Chúa. Như 
		vậy, ta sẽ rơi vào lầm lẫn lớn, khi coi thường khả năng giữ cân bằng 
		phát triển của con người, hoặc cả khi cố tình không hiểu rằng, bản chất 
		con người là luôn tìm cách vươn tới „cái nhiều hơn“. Tuyệt đối hoá sự 
		tiến bộ kĩ thuật và tôn nó lên thành một í hệ, hay mơ tưởng trở về lại 
		thủa ban đầu của loài người, đó là hai phương thức trái nghịch tìm cách 
		tách rời tiến bộ ra khỏi việc đánh giá đạo đức và như vậy là ra khỏi 
		trách nhiệm của chúng ta.</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">15. Hai tài liệu khác của giáo chủ 
		Phaolô VI, tuy không trực tiếp liên quan tới học thuyết xã hội, cũng rất 
		quan trọng cho việc mô tả đường hướng phát triển con người toàn diện do 
		Giáo hội đề nghị. Đó là thông điệp <i>Humanae vitae</i> ngày 25.07.1968 
		và <i>Evangelii nuntiandi</i> ngày 08.12.1975. Vì thế, cũng nên đối 
		chiếu với chúng khi đọc <i>Populorum progressio</i>.</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">Thông điệp <i>Humanae vitae</i> nhấn 
		mạnh tới í nghĩa kép của tính dục, đó là í nghĩa kết hợp và truyền sinh, 
		và vì thế nó đặt xã hội trên nền tảng một cặp vợ chồng nam nữ chấp nhận 
		nhau trong khác biệt và bổ túc lẫn nhau, nghĩa là một đôi vợ chồng sẵn 
		sàng chấp nhận và lưu truyền tiếp sự sống[27]. Đây không chỉ là một nền 
		đạo đức cá nhân: <i>Humanae vitae</i> chỉ ra những nút thắt chặt chẽ nối 
		liền luân lí sự sống với đạo đức xã hội, và vì thế nó mở ra một đề tài 
		giáo huấn được hình thành từng bước qua nhiều tài liệu khác nhau, mà tài 
		liệu cuối cùng là thông điệp <i>Evangelium vitae</i> của giáo chủ Gioan 
		Phaolô II[28]. Giáo hội cương quyết nhấn mạnh tới mối liên hệ giữa luân 
		lí sự sống và đạo đức xã hội, bởi vì Giáo hội hiểu rằng, không thể có 
		một xã hội „<i>với những nền tảng vững chắc – công nhận các giá trị như 
		nhân phẩm, công lí và hoà bình -, mà lại tự mâu thuẫn mình khi chấp nhận 
		hay dung túng đủ mọi hình thức coi thường và gây thương tổn tới sự sống, 
		nhất là sự sống của những người yếu đuối và bị đẩy ra lề xã hội</i>“.[29]</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">Riêng tài liệu <i>Evangelii nuntiandi</i> 
		thì lại có liên hệ rất mật thiết với phát triển, vì như giáo chủ Phaolô 
		VI viết, „<i>cuộc phúc âm hoá sẽ không toàn hảo, nếu nó không quan tâm 
		tới hoàn cảnh trong đó có sự yêu sách lẫn nhau suốt trong giòng thời 
		gian giữa Tin Mừng và cuộc sống cụ thể, cá nhân và cộng đoàn của mỗi con 
		người</i>“.[30] „<i>Thật ra, giữa loan truyền phúc âm và hỗ trợ con 
		người – phát triển và giải phóng – có những nối kết chặt chẽ</i>“.[31] 
		Bắt nguồn từ nhận thức đó, giáo phủ Phaolô VI đã làm nổi bật lên mối 
		liên hệ giữa việc rao giảng đức Kitô với việc nâng cấp con người trong 
		xã hội. Làm chứng cho tình yêu Chúa Kitô qua các công trình kiến tạo 
		công lí, hoà bình và phát triển cũng thuộc vào việc rao giảng Tin Mừng, 
		bởi vì đối với đức Kitô là Đấng yêu thương chúng ta, con người toàn thể 
		mới quan trọng. Từ nền các giáo huấn quan trọng này đã hình thành nên 
		khía cạnh truyền giáo[32] của học thuyết xã hội của Giáo hội và nó được 
		xem như là thành phần cơ bản của vịêc rao truyền phúc âm[33]. Học thuyết 
		xã hội của Giáo hội là rao truyền lời Chúa và làm chứng đức tin. Nó là 
		dụng cụ và là chỗ không thể thiếu được để giáo dục đức tin.</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">16. Với <i>Populorum progressio</i>, 
		giáo chủ Phaolô VI đặc biệt muốn nói với chúng ta rằng, tiến bộ, theo 
		bản chất và cội nguồn của nó, là một ơn gọi: „<i>Theo chương trình của 
		Thiên Chúa, mỗi người được mời gọi phát triển mình; bởi lẽ toàn bộ cuộc 
		sống là ơn gọi</i>“.[34] Chính sự kiện này biện minh cho sự can thiệp 
		của Giáo hội vào vấn đề phức tạp của phát triển. Nếu như vấn đề chỉ liên 
		quan tới các khía cạnh thuần kĩ thuật của cuộc sống con người mà thôi, 
		và nếu như con người chẳng quan tâm gì tới í nghĩa nhịp tiến của họ song 
		hành với đồng loại mình trong giòng lịch sử, cũng như chẳng để í gì tới 
		cùng đích cuộc hành trình của mình, thì Giáo hội chẳng có quyền nói gì 
		về chuyện này. Cũng như giáo chủ Lêô XIII trước đây với tông thư <i>
		Rerum novarum</i>[35], giáo chủ Phaolô VI đã í thức nhiệm vụ của ngài 
		qua việc đem ánh sáng phúc âm soi toả trên những vấn đề xã hội đương 
		thời[36].</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">Phát triển là một ơn gọi. Điều này có 
		nghĩa một mặt ta công nhận rằng, phát triển xuất phát từ một tiếng gọi 
		siêu việt, và mặt khác hiểu rằng, phát triển không thể tự đặt ra cùng 
		đích cho nó. Không phải không có lí do mà chữ „ơn gọi“ cũng xuất hiện ở 
		một nơi khác trong Tông thư: „<i>Như vậy, chỉ có loại nhân bản nào mở ra 
		cho Tuyệt Đối thì đó mới là loại đúng đắn; nó mở ra cho Tuyệt Đối trong 
		tâm tình biết ơn vì một ơn gọi, nhờ ơn gọi này mà cuộc sống con người có 
		được một í nghĩa đích thực</i>“[37]. Quan điểm về phát triển này là trái 
		tim của <i>Populorum progressio</i> và là động lực cho mọi suy tư của 
		giáo chủ Phaolô VI về tự do, chân lí và tình yêu trong phát triển. Đó 
		cũng là lí do chính cho thấy tại sao Thông điệp của ngài tới nay vẫn còn 
		mang tính thời sự.</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">17. Ơn gọi là tiếng kêu mời đòi hỏi 
		một đáp trả tự do và trách nhiệm. Việc phát triển toàn diện con người 
		chỉ có được khi con người hay các dân tộc có được tự do trong trách 
		nhiệm: Chẳng có một cơ cấu nào có thể bảo đảm cho sự phát triển này, nếu 
		như cơ cấu đó gạt bỏ hoặc không đếm xỉa gì đến trách nhiệm của con 
		người. Các „<i>chủ nghĩa cứu rỗi</i>“ giàu „<i>hứa hẹn, nhưng chỉ là 
		những tay phù thuật của một thế giới mơ tưởng</i>“[38] luôn đưa ra những 
		đường lối phát triển chối bỏ chiều kích siêu việt, bởi họ vững tin rằng, 
		họ đã nắm trong tay chiều kích đó. Sự xác tín vô cứ này đã biến thành 
		nhược điểm, bởi nó đưa tới hậu quả chà đạp con người, biến con người 
		thành phương tiện của phát triển, trong khi việc chấp nhận ơn gọi với 
		lòng khiêm nhu trái lại giúp con người trở nên tự chủ thật sự, vì nó làm 
		cho họ được tự do. Giáo chủ Phaolô VI thừa hiểu có những khó khăn và 
		hoàn cảnh gây trở ngại cho phát triển, nhưng ngài cũng xác tín rằng „<i>mỗi 
		người, cho dù họ bị tác động bởi nhiều ảnh hưởng từ ngoài, vẫn là tác 
		giả của thành công hay thất bại của mình</i>“[39]. Sự tự do này có liên 
		quan tới công cuộc phát triển đã và đang đạt được, nhưng nó đồng thời 
		cũng liên quan tới những hoàn cảnh kém phát triển vốn chẳng phải là kết 
		quả của ngẫu nhiên hay của một tất yếu lịch sử, song tuỳ thuộc vào trách 
		nhiệm con người. Do đó mà „<i>các dân tộc nghèo đói</i>“ kêu cầu „<i>sự 
		giúp đỡ khẩn cấp của các dân tộc sống trong dư đầy</i>“[40]. Đó cũng là 
		ơn gọi, là lời mời của những con người tự do gởi tới những con người tự 
		do để cùng mang lấy trách nhiệm chung. Giáo chủ Phaolô VI có một cảm 
		quan sống động về tầm quan trọng của các cơ cấu kinh tế và các định chế, 
		nhưng ngài đồng thời cũng cảm nhận rằng, các cơ cấu và định chế đó, tự 
		bản chất, chỉ là dụng cụ của tự do con người. Một đường lối phát triển 
		được xem là nhân bản, khi nó hoàn toàn đặt nền trên tự do; chỉ trong 
		tương quan với tự do trong tinh thần trách nhiệm phát triển mới có thể 
		nẩy nở đúng đắn.</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">18. Bên cạnh yêu sách Tự do, phát 
		triển toàn diện con người – được hiểu như một ơn gọi – cũng đòi hỏi phải 
		tôn trọng chân lí. Ơn gọi phát triển thúc đẩy con người phải „<i>hành 
		động thêm, nhận biết thêm, sở hữu thêm, để trở nên nhiều hơn</i>“[41]. 
		Nhưng vấn đề đặt ra: „Để trở nên nhiều hơn“ có nghĩa là gì? Giáo chủ 
		Phaolô VI đã trả lời câu hỏi này, khi ngài đề cập tới chỉ dấu cơ bản của 
		một „phát triển đích thực“: Nó phải „<i>bao trùm mọi mặt, phải quan tâm 
		tới con người toàn diện và tới toàn thể nhân loại</i>“[42]. Giữa bao 
		nhiêu quan niệm khác nhau về con người, mà ngày nay còn nhiều hơn so với 
		thời của giáo chủ Phaolô VI, quan điểm của Giáo hội là luôn nhấn mạnh và 
		biện minh cho vị trí đặc biệt của con người, cho giá trị bất khả nhượng 
		và cho í nghĩa phát triển của họ. Lối quan niệm kitô giáo coi phát triển 
		là một ơn gọi giúp ta theo dõi sự thăng tiến của mọi con người và của 
		mỗi con người toàn thể. Giáo chủ Phaolô VI viết: „<i>Điều quan tâm của 
		chúng tôi là con người, từ con người cá thể, tới nhóm người cho đến toàn 
		thể nhân loại</i>“[43]. Đức tin kitô giáo quan tâm tới phát triển, mà 
		không đặt kì vọng vào đặc ân hoặc vị trí quyền hành và nhất là công 
		trạng của kitô hữu, cho dù những thứ ấy trước kia đã có và cả ngày nay, 
		ngoại trừ các giới hạn tự nhiên, cũng đang có[44]. Đúng hơn, đức tin đặt 
		nền duy nhất nơi đức Kitô, là nguồn xuất phát của mọi ơn gọi đúng đắn về 
		phát triển con người toàn diện. Tin Mừng là yếu tố nền tảng của phát 
		triển, bởi lẽ trong đó đức Kitô „<i>qua mặc khải về Chúa Cha và tình yêu 
		của Người, đã cho con người biết rõ về chính họ</i>“[45]. Với lời chỉ 
		dạy của đức Kitô, Giáo hội tìm hiểu dấu chỉ thời đại, cắt nghĩa chúng và 
		đề nghị cho thế giới „<i>cái đặc trưng nhất của mình, đó là một cái nhìn 
		toàn diện về con người và về nhân loại</i>“[46]. Chính vì Thiên Chúa đã 
		nói lên tiếng „Vâng“ lớn nhất với con người[47], nên con người không thể 
		chối từ việc mở lòng mình ra cho ơn gọi linh thiêng, để thực hiện sự 
		phát triển của chính mình. Chân lí của phát triển hệ tại nơi tính toàn 
		diện: Sẽ không có một phát triển đúng nghĩa, nếu nó không quan tâm gì 
		tới con người toàn vẹn và không quan tâm tới từng con người. Đó là thông 
		điệp nòng cốt của <i>Populorum progressio</i>, thông điệp này đúng cho 
		hôm nay và luôn mãi. Phát triển toàn vẹn con người trên bình diện tự 
		nhiên là sự đáp trả lại lời mời gọi của Thiên Chúa Sáng Tạo[48]. Để hoàn 
		thành phát triển này, đòi hỏi phải có một „<i>nền nhân bản vượt lên trên 
		đời này; nhân bản này ban tặng cho con người một sự thành toàn bao trùm: 
		đó là cùng đích và là í nghĩa tối hậu của phát triển con người</i>“[49] 
		Như vậy, ơn gọi kitô giáo về loại phát triển này có liên hệ tới cả bình 
		diện tự nhiên lẫn siêu nhiên; vì thế: „<i>Nếu đẩy Thiên Chúa ra lề, 
		chúng ta sẽ dần mất đi khả năng nhận biết trật tự và cùng đích của tự 
		nhiên, sẽ chẳng còn khả năng nhận ra cái ‚tốt’</i>[50].</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">19. Cuối cùng, quan niệm phát triển 
		như là ơn gọi còn đòi hỏi phải coi tình yêu là tâm điểm của phát triển. 
		Trong <i>Populorum progressio</i>, giáo chủ Phaolô VI nhận định, các 
		nguyên nhân của kém phát triển trước hết không thuộc loại vật chất. Ngài 
		yêu cầu chúng ta phải tìm chúng nơi các chiều kích khác của con người. 
		Đặc biệt nơi chiều kích í muốn, í muốn này thường lơ là bổn phận đoàn 
		kết. Thứ nữa nơi tư duy, đầu óc con người nhiều khi không biết phải định 
		hướng í muốn mình cách đúng đắn. Vì vậy, phát triển cần phải được hướng 
		dẫn bởi „<i>những người hiền với khả năng suy tư sâu xa, họ luôn tìm 
		kiếm một nền nhân bản mới hầu giúp con người hôm nay tìm gặp được chính 
		mình</i>“[51]. Nhưng đó chưa phải là tất cả. Kém phát triển còn có một 
		nguyên nhân quan trọng hơn sự bất cập của tư duy: Đó là sự „<i>vắng bóng 
		tình huynh đệ giữa con người và giữa các dân tộc</i>“[52]. Con người có 
		bao giờ tự mình vươn tới tình huynh đệ đó được không? Xã hội ngày càng 
		toàn cầu hoá làm cho ta trở thành hàng xóm với nhau, nhưng không biến 
		chúng ta thành anh chị em. Lí trí tự nó có khả năng hiểu được sự bình 
		đẳng giữa người và người và nó có thể tạo ra một cuộc chung sống giữa 
		các công dân, nhưng nó không thể tạo ra tình huynh đệ. Tình huynh đệ bắt 
		nguồn từ một ơn gọi siêu việt do Chúa Cha, Đấng yêu thương chúng ta và, 
		qua Chúa Con, Người dạy cho chúng ta biết thế nào là tình yêu anh chị 
		em. Trong việc trình bày những bình diện khác nhau của tiến trình phát 
		triển con người và sau khi đã đề cập tới đức tin, giáo chủ Phaolô VI đã 
		đưa „<i>sự liên kết trong tình yêu Chúa Kitô, Đấng đã mời gọi tất cả mọi 
		người hãy như những người con tham dự vào sự sống của Thiên Chúa hằng 
		hữu là Cha của mọi người </i>“[53] vào đỉnh điểm suy tư của ngài.</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">20. viễn ảnh do <i>Populorum 
		progressio</i> mở ra vẫn luôn mang tầm quan trọng nền tảng. Nhờ chúng, 
		sự dấn thân của chúng ta trong công cuộc phát triển có được xung lực và 
		định hướng. Ngoài ra, Thông điệp lập đi lập lại nhu cầu cần phải có 
		những cải tổ cấp bách[54], và nó kêu gọi chúng ta phải can đảm gấp rút 
		hành động để giải quyết những bất công to lớn trước mắt trong công cuộc 
		phát triển các dân tộc. Sự cấp bách này cũng xuất phát từ tình yêu trong 
		sự thật. Tình yêu Chúa Kitô thúc đẩy ta gấp rút hành động „<i>caritas 
		Christi urget nos</i>“ (2 Cor 5,14). Sự cấp bách không chỉ xuất phát từ 
		tình hình thực tế. Nó cũng không chỉ là hệ quả của các biến cố và vấn 
		nạn đang dồn dập xẩy tới. Nhưng nó còn là hành động giúp ta đạt được 
		phần thưởng: hình thành nên một tình huynh đệ đích thực. Í nghĩa của 
		cùng đích này đủ lớn để chúng ta quyết tâm hành động, dấn thân cụ thể 
		vào công cuộc chuyển các tiến trình kinh tế và xã hội hiện nay trở thành 
		những kết quả của con người thật sự.</font></p>
		<p align="justify">&nbsp;</p>
		<p align="justify"><b><font size="4">CHƯƠNG HAI</font></b></p>
		<p align="justify"><b><font size="4">PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI TRONG THỜI ĐẠI 
		NGÀY NAY</font></b></p>
		<p align="justify"><font size="4">21. Giáo chủ Phaolô VI có một cái nhìn 
		phân biệt về phát triển. Ngài dùng khái niệm „phát triển“ như là mục 
		tiêu các dân tộc hướng tới để trước hết vượt qua nghèo đói, bần cùng, 
		tật bệnh địa phương và mù chữ. Trên bình diện kinh tế, phát triển như 
		vậy có nghĩa là sự tham dự tích cực và đồng đẳng của các dân tộc vào 
		tiến trình kinh tế toàn cầu. Về mặt xã hội, phát triển có nghĩa là tiến 
		tới những xã hội có giáo dục và đoàn kết. Về mặt chính trị, đó là quá 
		trình củng cố chế độ dân chủ, hầu bảo đảm cho tự do và hoà bình. Sau bao 
		nhiêu năm âu lo quan sát những phát triển và khủng hoảng nối tiếp nhau, 
		chúng ta giờ đây phải tự hỏi, mô hình phát triển của nhiều thập niên qua 
		đã đáp ứng được những kì vọng của giáo chủ Phaolô VI tới mức nào? Và 
		chúng ta thấy rằng, nỗi âu lo của Giáo hội là có cơ sở: Giáo hội âu lo 
		con người hôm nay với lối suy nghĩ thuần kĩ thuật không đủ khả năng đề 
		ra cho mình những mục tiêu thực tế và sử dụng đúng đắn những phương tiện 
		sẵn có của họ. Lợi tức chỉ hữu ích, khi nó là phương tiện để đạt tới cứu 
		cánh, và cứu cánh này phải là thứ đáng để vươn tới và nó phải được sử 
		dụng cách có í nghĩa. Nếu chỉ nhắm chuyện kiếm lời bằng mọi cách kể cả 
		cách bất chính, và kết quả của lợi tức đó không phục vụ cho công ích, 
		thì sẽ có nguy cơ phá hoại tài sản và tạo ra nghèo đói. Mô hình phát 
		triển kinh tế của giáo chủ Phaolô VI là làm sao tạo ra được một phát 
		triển thực sự, bền vững và đưa đến lợi ích cho mọi người. Đúng, phát 
		triển đã là một yếu tố tích cực; nó đã và đang giúp cho hàng tỉ người 
		thoát khỏi cảnh bần cùng, và thời gian gần đây nó đã giúp cho nhiều quốc 
		gia trở thành những đối tác hữu hiệu trong chính trị quốc tế. Nhưng cũng 
		phải nhận rằng, phát triển kinh tế này đã và đang chất chứa nhiều dị 
		dạng và vấn nạn bi thảm, mà cuộc khủng hoảng hiện tại càng cho thấy rõ 
		thêm sự nổi cộm của chúng. Điều này khiến ta không thể chần chờ được 
		nữa, mà phải hành động ngay để giải quyết những vấn nạn vốn luôn gắn 
		liền với chính thân phận và bản chất con người. Những nguồn lực kĩ thuật 
		đang được sử dụng, các tương quan quốc tế, những hậu quả xấu của một 
		sinh hoạt tài chánh không thích hợp và mang tính đầu cơ đối với nền kinh 
		tế hiện thực, những cuộc di dân thường được tạo ra nhưng rồi đã không 
		được điều tiết cách đúng đắn, những khai thác vô tội vạ các nguồn tài 
		nguyên thiên nhiên – tất cả những điều đó buộc chúng ta hôm nay phải 
		nghĩ đến những biện pháp cần thiết để giải quyết chúng. Đây là những vấn 
		nạn không những mới so với thời giáo chủ Phaolô VI, nhưng chúng còn có 
		ảnh hưởng quyết định cho hạnh phúc hiện tại và tương lai của nhân loại. 
		Các khía cạnh của khủng hoảng và các lối ra của nó cũng như bước đường 
		phát triển trong tương lai càng ngày càng quyện lẫn vào nhau, tuỳ thuộc 
		vào nhau, chúng đòi hỏi nhiều nỗ lực mới để có một đồng thuận chung và 
		một tổng hợp nhân bản mới. Cuộc khủng hoảng kinh tế phức tạp và gia 
		trọng hiện nay làm chúng ta âu lo. Nhưng chúng ta phải thực tế đón nhận 
		những trọng trách mới trong tin tưởng và hi vọng, vì với những trọng 
		trách này, chúng ta sẽ mở ra một thế giới với một nền văn hoá hoàn toàn 
		mới gắn liền với sự tái khám phá ra các giá trị căn bản làm nền cho một 
		tương lai sáng lạn hơn. Khủng hoảng buộc chúng ta phải đổi mới hướng đi 
		của mình, đặt ra cho mình những luật lệ mới và tìm ra những lối dấn thân 
		mới, hướng về những kinh nghiệm tích cực và loại bỏ đi những kinh nghiệm 
		xấu. Như vậy, khủng hoảng là cơ hội để ta quyết định và lập chương trình 
		mới. Và những khó khăn hiện tại do đó sẽ được chúng ta đối diện và giải 
		quyết với thái độ tự tin, chứ không phải chỉ miễn cưỡng chấp nhận chúng.</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">22. Khung cảnh phát triển trong thời 
		đại ngày nay mang tính đa tâm. Diễn viên và nguyên nhân của kém phát 
		triển cũng như của phát triển không còn chỉ có một, công và tội cũng 
		không chỉ có một. Sự kiện này lẽ ra thúc đẩy ta phải tự giải thoát ra 
		khỏi những í thức hệ vốn hay đơn giản hoá thực tại một cách giả tạo. Nó 
		còn nhắc nhở ta khách quan xét lại chiều kích con người trong vấn đề 
		phát triển. Đường ranh giữa các nước giàu và nghèo không còn rõ ràng như 
		thời thông điệp <i>Populorum progressio</i>; điểm này trước đây cũng đã 
		được giáo chủ Gioan Phaolô II nói tới[55]. Nhìn chung, của cải thế giới 
		có tăng, nhưng bất bình đẳng cũng mở rộng. Nhiều giai cấp xã hội nghèo 
		nẩy sinh trong các nước giàu, và xã hội cũng xuất hiện thêm nhiều hình 
		thức nghèo mới. Trong những vùng nghèo hơn, có những nhóm cực giàu tiêu 
		pha phung phí nổi lên một cách không thể chấp nhận được giữa cảnh bần 
		cùng bất nhân. “<i>Tiếng thét của bất công</i>”[56] không ngừng vang 
		vọng. Không chỉ trong các nước giàu cũ và mới, mà chính trong các quốc 
		gia nghèo, cũng dẫy đầy tham những và lối làm ăn bất chính nơi các đại 
		biểu kinh tế và chính trị. Nhân quyền của người lao động không những bị 
		vi phạm bởi một số đại công ty liên quốc gia, mà cả do những nhóm sản 
		xuất nhỏ của địa phương. Nhiều giúp đỡ quốc tế rơi vào túi riêng, thường 
		là vì lề lối làm việc vô trách nhiệm của các nước cho lẫn các nước nhận. 
		Tình trạng này cũng xẩy ra trong lĩnh vực các nguyên nhân phát triển và 
		kém phát triển về mặt phi vật chất hay vật chất. Có những hình thức quá 
		lạm nơi các nước giàu về việc bảo vệ tri thức và sử dụng quyền sở hữu 
		trí tuệ quá chặt, đặc biệt trong lĩnh vực i khoa. Đồng thời, nơi một số 
		nước nghèo vẫn còn những mẫu mực văn hoá và hành xử xã hội làm cản trở 
		tiến trình phát triển.</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">23. Ngày nay, có nhiều vùng trên trái 
		đất đã đạt được những bước tiến, dù còn thất thường và chưa đồng bộ, và 
		đã ngồi vào được chung bàn với các thế lực lớn để có thể nắm những vai 
		trò quan trọng trong tương lai. Tuy nhiên, phải nhấn mạnh rằng, chỉ tiến 
		bộ về mặt kinh tế và kĩ thuật không thôi thì chưa đủ. Tiên vàn phát 
		triển phải là thật và toàn diện. Thoát được ra khỏi vòng nghèo đói kinh 
		tế tự nó là một bước tích cực, nhưng điều này vẫn chưa giải quyết được 
		vấn nạn nhiêu khê về mặt thăng tiến con người. Không những các nước còn 
		nghèo, mà cả những nước mới giàu lên hay những nước đã phát triển kinh 
		tế từ lâu cũng chưa giải quyết được vấn đề thăng tiến con người. Ngoài 
		ra, các nước nghèo không chỉ bị xâu xé bởi những hình thức bóc lột hiện 
		hành, mà còn có thể bị xáo trộn bởi hậu quả của một phát triển bất quân 
		bình và méo mó.</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">Sau khi hệ thống kinh tế và chính trị 
		của các nước Đông Âu sụp đổ và các “khối thù nghịch” biến mất, lẽ ra đó 
		là dịp để ta suy nghĩ lại toàn bộ vấn đề phát triển. Giáo chủ Gioan 
		Phaolô II đã yêu cầu chuyện này vào năm 1987, khi ngài cho rằng, sự hiện 
		diện của các “khối” là một trong những nguyên nhân chính tạo ra tình 
		trạng kém phát triển[57], bởi lẽ chính trị đã chiếm hết tiền dành cho 
		kinh tế và văn hoá và í thức hệ đã ngăn cản tự do. Năm 1991, sau những 
		biến cố của năm 1989, ngài cũng yêu cầu phải hoạch định lại vấn đề phát 
		triển sao cho phù hợp với tình trạng thế giới mới: Không những tái hoạch 
		định cho phần đất Đông Âu, mà cả cho phương tây và cho những phần đất 
		thế giới đang phát triển nữa[58]. Yêu cầu đó mới được thực hiện chỉ có 
		một phần. Chúng ta cần phải tiếp tục hoàn thành nhiệm vụ này, và biết 
		đâu nó sẽ giúp ta thắng vượt được những khủng hoảng kinh tế hiện hành.</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">24. Trước đây, do sự tiến triển của 
		tiến trình xã hội hoá, chúng ta đã có thể nói, vấn đề xã hội đã trở 
		thành một vấn đề chung cho toàn cầu. Tuy nhiên, thế giới thời giáo chủ 
		Phaolô VI chưa lệ thuộc nhau như thời nay ta đang sống. Hoạt động kinh 
		tế và sinh hoạt chính trị trước đây đa phần còn diễn ra trong cùng một 
		vùng không gian và vì thế có thể dựa vào và tin tưởng lẫn nhau. Sinh 
		hoạt sản xuất chủ yếu diễn ra trong biên giới quốc gia, và đầu tư tài 
		chánh ra nước ngoài còn ở mức độ hạn hẹp. Vì thế chính quyền của nhiều 
		quốc gia lúc đó còn có khả năng xác định được các ưu tiên kinh kế và còn 
		vận dụng được các phương tiện sẵn có để có thể điều tiết được diễn tiến 
		kinh tế của mình trong mức độ nào đó. Do đó “<i>quyền lực nhà nước</i>”[59] 
		còn được <i>Populorum progressio</i> gán cho một vai trò chính yếu, nếu 
		không nói là vai trò độc nhất.</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">Ngày nay, nhà nước phải đối diện với 
		một hoàn cảnh quốc tế mới, trong đó có sự giao lưu kinh tế, thương mại 
		và tài chánh toàn cầu với đà chu chuyển ngày càng tăng của tư bản tài 
		chính và các phương tiện sản xuất vật chất lẫn phi vật chất. Hoàn cảnh 
		này đã hạn chế chủ quyền quốc gia và làm thay đổi quyền lực chính trị 
		của nhà nước.</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">Ngày nay – một phần cũng do bài học 
		khủng hoảng kinh tế hiện thời buộc chính quyền phải trực tiếp điều chỉnh 
		lại những lầm lỗi và đường lối kinh tế sai lầm – ta có quyền hi vọng vào 
		một sự xác định mới và thực tế hơn về vai trò và quyền lực quốc gia. Cả 
		hai yếu tố này phải được suy nghĩ và đánh giá lại một cách khôn ngoan, 
		để nhờ đó, cho dù giờ đây phải vận dụng quyền hành một cách mới, nhà 
		nước có thể đối đầu được với các thách đố của thế giới hiện tại. Với một 
		vai trò hài hoà hơn của quyền lực nhà nước, người ta hi vọng các tổ chức 
		xã hội dân sự sẽ hình thành nên được những hình thức tham gia chính trị 
		quốc gia và quốc tế mạnh mẽ hơn. Hi vọng với chiều hướng này, các công 
		dân sẽ quan tâm và hăng hái tham gia hơn vào việc chính sự (res 
		publica).</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">25. Nhìn từ mặt xã hội, các tổ chức 
		bảo trợ và chăm sóc xã hội đã có từ thời giáo chủ Phaolô VI nơi một số 
		quốc gia hẳn sẽ gặp khó khăn – có thể trong tương lai sẽ khó khăn hơn – 
		trong hoạt động nhằm kiến tạo công bằng xã hội thật sự, vì phải đối diện 
		với một khung cảnh kinh tế đã hoàn toàn đổi khác. Thị trường toàn cầu 
		hoá đặc biệt thôi thúc các nước giàu chuyển các nhà máy hay công ti của 
		họ sang những vùng có giá thành sản xuất rẻ, với mục đích hạ giá thành 
		sản phẩm để gia tăng sức mua, nhờ đó đẩy mạnh lượng tiêu thụ và tăng gia 
		mức phát triển cho thị trường nội địa của họ. Hậu quả là thị trường tạo 
		ra những hình thái cạnh tranh mới. Bằng đủ loại phương tiện, chẳng hạn 
		như giảm thuế hay chuyển dời lao động, một số quốc gia tìm cách lôi kéo 
		các trung tâm sản xuất ngoại quốc vào nước mình. Những diễn tiến này 
		khiến người ta hạn chế mạng lưới an sinh xã hội để tìm cách mở rộng lợi 
		thế cạnh tranh trên thị trường thế giới. Quyền lợi của người lao động, 
		các nhân quyền căn bản cũng như những thành quả liên đới đã đạt được 
		trong các nhà nước phúc lợi truyền thống do đó bị đe doạ trầm trọng. Các 
		hệ thống an sinh xã hội của những nước nghèo hoặc đang phát triển, ngay 
		cả của những nước đã phát triển từ lâu, có nguy cơ mất đi khả năng hoàn 
		thành nhiệm vụ của chúng. Các chi phí xã hội có thể bị gạch hẳn ra khỏi 
		dự chi ngân sách quốc gia; không ít khi việc chiết giảm ngân sách này 
		cũng là do đề nghị của các định chế tài chánh quốc tế. Và người dân vì 
		vậy bị đẩy vào những nguy cơ vừa cũ vừa mới mà không làm gì được. Nỗi 
		bất lực này lại còn tăng vì không có được sự bảo vệ của những tổ chức 
		hữu hiệu của người lao động. Toàn bộ các biến đổi kinh tế và xã hội đó 
		tạo ra những khó khăn lớn cho các công đoàn trong việc thi hành nhiệm 
		vụ, là vì ngay chính các chính quyền nhiều khi cũng vì cái lợi kinh tế 
		mà hạn chế tự do của công đoàn hoặc giới hạn khả năng đàm phán của họ. 
		Như vậy, các mạng lưới liên đới truyền thống ngày nay lại phải đối đầu 
		với thêm nhiều trở ngại mới ngày càng tăng. Ngày nay, hơn lúc nào hết, 
		chúng ta cần quan tâm hơn nữa trong việc thành lập các tổ chức bảo vệ 
		người lao động đã được đề nghị bởi <i>Rerum novarum</i>[60] và các thông 
		điệp xã hội sau đó. Cần phải đáp ứng tính thế cách tức thời và với viễn 
		kiến, bằng cách tạo ra những hình thái tổ chức sinh hoạt chung mới không 
		chỉ ở cấp địa phương mà còn cả ở cấp quốc tế.</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">Việc di chuyển công ăn việc làm, diễn 
		ra do tiến trình tái phối trí lao động lớn rộng, là một hiện tượng quan 
		trọng và không phải là không mang lại hiệu quả tích cực. Nó tạo nên 
		những tải sản mới và thúc đẩy sự tương tác giữa các văn hoá khác nhau. 
		Nhưng khi bất ổn về điều kiện làm việc do hậu quả của sự di dời và điều 
		tiết lao động trở nên mạnh mẽ, thì nhiều hình thái bất ổn tâm lí sẽ xuất 
		hiện; người ta sẽ gặp khó khăn trong việc đặt kế hoạch cho cuộc sống 
		riêng tư, kể cả việc lập gia đình. Hậu quả: không những các nguồn lực xã 
		hội bị phí phạm, mà con người cũng bị tha hoá. Nếu so sánh điều này với 
		những gì đã xẩy ra trong quá khứ nơi các xã hội kĩ nghệ, ta sẽ thấy là 
		vấn đề thất nghiệp ngày nay kéo theo những khía cạnh mới về sự vô nghĩa 
		của kinh tế, và cuộc khủng hoảng hiện tại càng làm cho tình trạng này 
		thêm bi đát. Một khi bị thất nghiệp lâu dài hay bị lệ thuộc quá lâu vào 
		sự giúp đỡ của cá nhân hoặc tập thể, con người sẽ mất đi tự do, hết sáng 
		kiến, và liên hệ gia đình cũng như xã hội của họ cũng mất luôn; những 
		cái mất đó sẽ kéo theo các đau khổ gia trọng về mặt tâm lí và tinh thần. 
		Tôi muốn nhắc nhở tất cả những ai, đặc biệt các nhà cầm quyền, có trách 
		nhiệm tái tạo trật tự kinh tế và xã hội thế giới, rằng con người là lực 
		lượng tư bản đầu tiên cần phải bảo vệ và sử dụng, chính con người toàn 
		diện “<i>là tác giả, tâm điểm và là cùng đích của mọi kinh tế</i>”[61].</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">26. Về mặt văn hoá, sự khác biệt so 
		với thời giáo chủ Phaolô VI còn rõ nét hơn. Trước đây, các nền văn hoá 
		xem ra còn có những nét đặc thù riêng và còn ít nguy cơ bị đồng dạng 
		hoá. Ngày nay, khả năng giao tiếp giữa các nền văn hoá ngày càng tăng, 
		mở ra không gian và viễn tượng mới cho đối thoại liên văn hoá. Cuộc đối 
		thoại này, để có được kết quả tốt, đòi hỏi các đối tác trước hết phải í 
		thức sâu xa căn cước riêng của văn hoá mình. Nhưng ở đây chúng ta đừng 
		quên rằng, việc trao đổi văn hoá ngày càng bị thương mại hoá hàm chứa 
		một nguy cơ kép: Thứ nhất là thái độ nhắm mắt cóp nhặt văn hoá: Người ta 
		đơn giản xếp các văn hoá bên cạnh nhau, đại để coi chúng ngang hàng với 
		nhau và có thể hoán chuyển cho nhau. Điều này dẫn tới một sự tương đối 
		hoá chẳng giúp gì nhiều cho cuộc đối thoại văn hoá đích thật. Trên bình 
		diện xã hội, sự tương đối hoá văn hoá tạo ra cảnh sống biệt lập bên nhau 
		của nhiều nhóm văn hoá khác nhau, và như vậy chẳng có được sự hội nhập 
		thật sự. Cơ nguy ngược lại thứ hai nằm nơi sự cào bằng văn hoá và nơi 
		việc thống nhất hoá thái cử và lối sống. Các quốc gia đánh mất í nghĩa 
		sâu xa của văn hoá mình và các dân tộc đánh mất đi những truyền thống 
		riêng tư, nghĩa là đánh mất đi nền tảng quy chiếu các giá trị cuộc 
		sống[62]. Cóp nhặt văn hoá và cào bằng văn hoá đưa tới hậu quả là văn 
		hoá bị tách ra khỏi bản chất tự nhiên của con người. Như vậy, các văn 
		hoá không còn gặp được kích thước của chúng trong một thế giới siêu 
		việt[63], và vì thế con người rốt cuộc chỉ còn được xem như là một hiện 
		tượng văn hoá. Một khi điều này xảy ra, nhân loại sẽ rơi vào những nguy 
		cơ bị sai khiến và lạm dụng mới.</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">27. Trong nhiều quốc gia nghèo, nạn 
		thiếu lương thực làm cho cuộc sống trở nên vô cùng bất an, và tình cảnh 
		này có nguy cơ ngày càng gay gắt thêm: Nạn đói không ngừng cuốn đi vô số 
		nạn nhân, trong số đó không biết bao nhiêu là “Ladarô” đã – trái với 
		lòng mong ước của giáo chủ Phaolô VI[64] – không được ngồi chung bàn với 
		người giàu có. Cho kẻ đói ăn (xem Mat 25,35.37.42) là một mệnh lệnh đạo 
		đức đối với Giáo hội hoàn vũ; Giáo hội phải đáp ứng lời dạy về liên đới 
		và chia sẻ của vị sáng lập ra mình là đức Giêsu Kitô. Hơn nữa, để có thể 
		giữ được hoà bình và ổn định địa cầu, thế giới toàn cầu hoá ngày nay đã 
		đưa việc loại trừ nạn đói lên thành một tiêu đích phải đạt cho kì được. 
		Đói không hẳn là vì thiếu thốn vật chất, mà đúng hơn, vì thiếu các nguồn 
		tài nguyên xã hội, trong đó nguồn quan trọng nhất mang tính định chế. 
		Nghĩa là thiếu những định chế kinh tế có khả năng bảo đảm nguồn nước và 
		thực phẩm cũng như cấp thời giải quyết những nhu cầu căn bản xẩy ra do 
		các cuộc khủng hoảng lương thực thực phẩm thực sự – những khủng hoảng do 
		thiên tai hoặc do hành động vô trách nhiệm chính trị của quốc gia hay 
		quốc tế tạo ra. Vấn đề bất an trên lãnh vực lương thực thực phẩm phải 
		được giải quyết bằng một viễn tượng lâu dài, bằng cách loại trừ các 
		nguyên nhân cơ cấu của nó và tài trợ cho việc phát triển canh nông trong 
		các nước nghèo. Điều này có thể thực hiện qua đầu tư vào cơ cấu hạ tầng 
		nông nghiệp, vào các hệ thống tưới tiêu, chuyên chở, tổ chức thị trường, 
		giáo dục và phổ biến các kĩ thuật nông nghiệp phù hợp – nghĩa là qua các 
		đầu tư thích hợp vừa đáp ứng cấp thời vừa mang tính bền vững lâu dài, để 
		giúp kẻ thụ hưởng sử dụng cách tốt nhất các nguồn tài nguyên nhân sự, 
		thiên nhiên và kinh tế xã hội sẵn có tại địa phương. Khi thực hiện những 
		điều đó, phải để cho cộng đồng địa phương tham gia trong việc chọn lựa 
		đất đai và cùng quyết định về việc sử dụng. Từ cái nhìn này, tốt nhất là 
		làm sao kết hợp được các kĩ thuật sản xuất nông nghiệp truyền thống sẵn 
		có và những gì tân tiến ngoại nhập, với điều kiện là những kĩ thuật tân 
		tiến phải phù hợp, không hại cho môi sinh và được đa số nhóm dân thụ 
		hưởng nhận ra sự ích lợi của chúng. Đồng thời cũng không nên sao nhãng 
		việc cải cách nông nghiệp trong các nước đang phát triển. Quyền được có 
		thực phẩm và nước uống đóng vai trò quan trọng trong việc dẫn tới việc 
		sở hữu những quyền khác, khởi đầu trước hết với quyền sống căn bản. Vì 
		thế, thế giới cần có một í thức liên đới sâu rộng nhằm công nhận việc sở 
		hữu lương thực và nguồn nước là quyền căn bản của mọi người, không phân 
		biệt ai mà cũng chẳng miệt thị dân tộc nào[65]. Ngoài ra cũng cần phải 
		xác định rõ rằng, con đường liên đới với các nước nghèo cũng có thể là 
		một kế hoạch nhằm giải quyết cơn khủng hoảng toàn cầu hiện nay. Điều này 
		các nhà chính trị và những kẻ trách nhiệm của các định chế quốc tế mới 
		đây cũng đã hiểu ra. Khi các nước giàu liên đới đưa ra những chương 
		trình hỗ trợ tài chánh cho các nước nghèo về mặt kinh tế, để dân chúng 
		các nước này thoả mãn được nhu cầu tiêu dùng và phát triển, lúc đó các 
		nước nghèo không những đạt được những phát triển thật sự, mà còn qua đó 
		giúp cho các nước giàu giữ vững được khả năng sản xuất, để họ tránh khỏi 
		nguy cơ bị cuốn vào cuộc khủng hoảng.</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">28. Một trong những khía cạnh đặc 
		trưng nhất của cuộc phát triển ngày nay là tầm quan trọng của đề tài bảo 
		vệ sự sống, đề tài này không thể nào tách khỏi chuyện phát triển các dân 
		tộc được. Đây là một khía cạnh mà thời gian qua càng ngày mang tầm í 
		nghĩa lớn. Và nó đòi buộc chúng ta phải nối vấn đề chấp nhận sự sống, 
		đặc biệt ở những nơi bị cản trở bằng nhiều cách, vào với các khái niệm 
		nghèo đói[66] và kém phát triển.</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">Không những tình trạng nghèo đói tạo 
		ra mức tử trẻ em cao nơi một số vùng đất thế giới, mà ở một số vùng khác 
		nhiều chính quyền vẫn còn áp dụng chính sách hạn chế dân số; họ không 
		những cho dùng các biện pháp tránh thai mà còn ra lệnh phá thai. Trong 
		các nước kinh tế phát triển hơn, có nhiều đạo luật chống lại sự sống đã 
		ảnh hưởng quyết định trên thói quen và thực tế đời sống; những đạo luật 
		này góp phần tạo nên một tâm thức chống lại việc sinh sản; và người ta 
		thường tìm cách xuất cảng nếp nghĩ này sang các nước khác, vì cho đó là 
		một tiến bộ văn hoá.</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">Một vài tổ chức phi chính phủ tích cực 
		cộng tác vào việc phổ biến việc phá thai và đôi khi hỗ trợ cho các nước 
		nghèo trong chủ trương triệt sản, ngay cả trên các phụ nữ chẳng hiểu gì 
		về tầm quan trọng của sự việc. Ngoài ra, ta còn có lí do để nghi ngờ đôi 
		khi chính viện trợ phát triển được nối vào những chính sách i tế cụ thể, 
		trong đó đương nhiên bao gồm việc hạn chế sinh đẻ. Càng âu lo hơn nữa là 
		những đạo luật mở đường cho việc trợ tử, được đưa ra dưới áp lực yêu 
		sách của nhiều nhóm quốc gia và quốc tế.</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">Chấp nhận sự sống là tâm điểm của sự 
		phát triển đích thực. Khi một xã hội khước từ hay đàn áp sự sống, xã hội 
		ấy rốt cuộc sẽ không còn có được những động năng và nguồn lực cần thiết 
		để dấn thân cho hạnh phúc thật của con người. Khi cá nhân và xã hội 
		không còn nhìn ra í nghĩa của việc chấp nhận sự sống, thì những hình 
		thức chấp nhận khác có lợi cho cuộc sống xã hội cũng mấ[67]. Việc chấp 
		nhận sự sống tăng cường các lực đạo đức và làm cho con người có khả năng 
		tương trợ lẫn nhau. Khi các dân tộc giàu chấp nhận sự sống, họ có thể 
		hiểu hơn về nhu cầu của của các dân tộc nghèo, họ có thể tránh được 
		chuyện phí phạm các nguồn lực kinh tế và trí tuệ cho việc thoả mãn nhu 
		cầu ích kỉ của dân mình và, thay vào đó, hỗ trợ cho các công tác có lợi 
		cho một sản xuất lành mạnh và liên đới về mặt đạo đức, trong sự kính 
		trọng quyền sống nền tảng của mọi dân tộc, mọi con người.</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">29. Còn một khía cạnh nữa của cuộc 
		sống hôm nay gắn liền với phát triển: khước từ quyền tự do tôn giáo. Ở 
		đây, tôi không những muốn nói tới các cuộc đấu tranh và xung đột mang lí 
		do tôn giáo, dù rằng nhiều khi tôn giáo ở đây cũng chỉ là tấm bình phong 
		cho những nguyên do khác như lòng tham quyền lực và của cải. Đúng là 
		ngày nay vẫn thường có những cuộc chém giết nhân danh Thiên Chúa, như vị 
		tiền nhiệm của tôi là Gioan Phaolô II và cả chính tôi đã nhiều lần công 
		khai nói ra và phản đối[68]. Mọi thứ vũ lực đều kìm hãm phát triển và 
		cản ngăn các dân tộc đạt tới hạnh phúc viên mãn hơn về mặt kinh tế xã 
		hội và tri thức. Đặc biệt là chủ trương khủng bố xuất phát từ khuynh 
		hướng bảo căn[69]; nó đưa tới đau khổ, phá hoại và chết chóc, chận đứng 
		cuộc đối thoại giữa các quốc gia và lấy đi tiền của lẽ ra được dùng cho 
		mục tiêu dân sự và hoà bình. Nhưng phải nói thêm, việc thực thi quyền tự 
		do tôn giáo trên một vài bình diện không những bị cản trở bởi thái độ 
		quá khích tôn giáo, nó còn bị nhiều quốc gia cản trở bằng cách chính 
		quyền hỗ trợ cho vô thần thực hành hoặc cho việc vô tình với tôn giáo. 
		Làm như thế là họ đi ngược lại các nhu cần phát triển của các dân tộc, 
		vì họ lấy đi các gia sản tinh thần và nhân bản khỏi những dân tộc đó. 
		Thiên Chúa là vị cầm cân nẩy mực cho sự phán triển đúng đắn của con 
		người, bởi lẽ Thiên Chúa dựng nên họ theo hình ảnh của Người, khiến họ 
		có được một phẩm giá siêu việt và Người không ngừng thúc đẩy họ luôn 
		phải trở nên „nhiều hơn, người hơn“. Con người không phải là một nguyên 
		tử lạc lỏng trong một vũ trụ tình cờ[70], nhưng là một tạo vật của Thiên 
		Chúa, được nhận từ Người một linh hồn bất tử và được Người yêu thương từ 
		đời đời. Nếu con người chỉ là kết quả của ngẫu nhiên hoặc tất yếu hay 
		nếu họ phải đóng khung hướng vọng của mình vào chân trời hạn hẹp của 
		hoàn cảnh sống mà thôi, nếu tất cả chỉ là lịch sử và văn hoá và con 
		người có một bản tính không cho phép họ vươn lên một cuộc sống siêu 
		nhiên, thì lúc đó ta có thể nói được rằng có tăng trưởng hoặc tiến hoá, 
		nhưng chẳng có phát triển. Khi nhà nước hỗ trợ cho những hình thức vô 
		thần thực hành, tuyên truyền hoặc ép buộc người dân theo vô thần, lúc đó 
		họ lấy đi khỏi người dân nguồn lực đạo đức và tinh thần cần thiết cho sự 
		phát triển con người toàn diện, và như vậy họ ngăn cản người dân trong 
		việc hăng hái dấn thân bác ái để đáp trả lại tình yêu thiên chúa[71]. 
		Cũng có trường hợp các nước đã và đang phát triển kinh tế, qua khuôn khổ 
		các trao đổi chính trị, văn hoá và thương mại, đã xuất cảng sang các 
		nước chưa phát triển cái quan niệm bất xứng kia về con người và số phần 
		của họ. Đó là cái hại do tình trạng „quá phát triển“[72] gây ra cho sự 
		phát triển đích thực, khi phát triển này phải đeo theo nó gánh nặng 
		„chậm tiến đạo đức“[73]</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">30. Trong chiều hướng đó, đề tài phát 
		triển con người toàn diện còn có thêm một chiều kích bao quát hơn: Liên 
		hệ giao thoa giữa các yếu tố đa dạng của nó đòi hỏi chúng ta phải cố 
		gắng kết hợp các bình diện khác nhau của kiến thức con người hầu có thể 
		tạo nên được một phát triển đích thực cho các dân tộc. Người ta thường 
		cho rằng, phát triển cũng như những biện pháp kinh tế xã hội tương ứng 
		chỉ là kết quả của một hành động chung. Tuy nhiên, hành động chung này 
		phải được điều hướng, là vì „<i>mọi hành động xã hội đều bắt nguồn từ 
		một học thuyết</i>“[74]. Như vậy, vì sự phức tạp của vấn đề, cần phải có 
		sự phối hợp chung của nhiều khoa học khác nhau thông qua một nỗ lực mang 
		tính liên ngành có tổ chức. Tình yêu không loại trừ kiến thức; ngược 
		lại, nó còn đòi hỏi, hỗ trợ và tạo sống động cho kiến thức từ bên trong. 
		Kiến thức không bao giờ là sản phẩm của một mình trí tuệ. Kiến thức có 
		thể bị giản lược thành như một tính toán hay một thí nghiệm. Nhưng, nếu 
		muốn trở nên minh triết để có thể định hướng con người theo ánh sáng của 
		các nguyên tắc nền tảng và của các cùng đích con người, kiến thức phải 
		được ướp với „muối“ tình yêu. Hành động sẽ thành mù quáng nếu không có 
		kiến thức, và kiến thức sẽ vô sinh (steril) nếu không có tình yêu. Là vì 
		„<i>kẻ yêu thương thực sự (thì) sáng suốt trong việc khám phá các nguyên 
		nhân của bần cùng, trong việc tìm ra các phương tiện để vượt thắng và 
		tiêu diệt chúng</i>“[75]. Đứng trước những hiện tượng phải giải quyết, 
		tình yêu trong sự thật đặc biệt đòi hỏi phải có một nhận thức và thấu 
		hiểu trong í thức và trong sự tôn trọng thẩm quyền đặc thù của mỗi bình 
		diện kiến thức. Tình yêu không phải là thứ phụ thêm, hay là cái đuôi gắn 
		vào thành quả đạt được của các ngành khác nhau, nhưng nó là yếu tố có 
		mặt ngay từ đầu trong tương quan đối thoại với các thành quả đó. Các yêu 
		sách của tình yêu không mâu thuẫn với yêu sách của lí trí. Kiến thức mà 
		thôi thì không đủ, và các kết luận của khoa học không thôi cũng không 
		thể chỉ ra con đường đưa đến phát triển con người toàn diện. Muốn có 
		được phát triển toàn diện, tình yêu trong sự thật luôn đòi buộc con 
		người phải có cái nhìn vượt lên cao hơn[76]. Nhưng ‚vượt lên cao hơn’ 
		không bao giờ có nghĩa là nhắm mắt trước những kết luận của lí trí hay 
		chống lại các thành quả của nó. Trí khôn và tình yêu không đơn giản đứng 
		song hành bên nhau: Có thứ tình yêu giàu trí tuệ, mà cũng có thứ trí tuệ 
		tràn đầy tình yêu.</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">31. Điều đó có nghĩa là những đánh giá 
		đạo đức phải được tiến hành song song với sự nghiên cứu khoa học, cả hai 
		trộn lẫn với nhau trong một tổng thể liên ngành hài hoà vừa thống nhất 
		vừa khác biệt và cả hai phải được đổ đầy sức sống bởi tình yêu. Giáo 
		huấn xã hội của Giáo hội mang „<i>một chiều kích liên ngành quan trọng</i>“[77], 
		do đó nó có thể đóng vai trò vô cùng hữu hiệu trong công tác trên. Nó 
		cho phép đức tin, thần học, siêu hình học và các khoa học tìm được chỗ 
		đứng của chúng trong công tác chung phục vụ con người. Ở đây, giáo huấn 
		xã hội công giáo đặc biệt thể hiện được chiều kích mang tính minh triết 
		của nó. Giáo chủ Phaolô VI đã nhận ra rằng, kém phát triển và nhiều tình 
		trạng tương tự khác cũng phát sinh từ nguyên do thiếu khôn ngoan, thiếu 
		suy tư và thiếu đầu óc có khả năng nghĩ ra được một tổng hợp hướng 
		đạo[78]. Muốn đạt được tổng hợp này, cần phải có „<i>một nhận thức rõ 
		ràng về lãnh vực kinh tế, xã hội, văn hoá và tinh thần</i>“[79], Việc 
		cường điệu phân chia tri thức ra thành nhiều lãnh vực chuyên môn[80], 
		việc các khoa học nhân văn tẩy chay siêu hình họ[81], những khó khăn đối 
		thoại giữa các khoa học và thần học, tất cả những thứ đó không những cản 
		ngăn sự phát triển của tri thức, mà còn làm hại bước tiến của các dân 
		tộc, bởi vì như thế cái nhìn về hạnh phúc toàn diện của con người, một 
		hạnh phúc vốn mang nhiều chiều kích khác nhau, trở nên méo mó. Chúng ta 
		phải „<i>mở rộng khái niệm lí trí và mở rộng việc sử dụng lí trí</i>“[82], 
		để có thể cân nhắc được hết các cấu tố của vấn đề phát triển cũng như 
		của lời giải cho các vấn nạn kinh tế xã hội.</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">32. Vấn đề phát triển các dân tộc ngày 
		nay mang nhiều sắc thái mới, đòi hỏi chúng ta trong nhiều trường hợp 
		phải tìm ra những giải pháp mới. Chúng phải được tìm kiếm trong nỗ lực 
		tôn trọng định luật riêng của từng thực tế và dưới ánh sáng cái nhìn 
		toàn diện của con người – một cái nhìn phản chiếu các khía cạnh khác 
		nhau của con người, như chúng được thấy qua lăng kính tình yêu. Có vậy, 
		ta mới khám phá ra những tương đồng đặc thù và những khả thể giải quyết 
		cụ thể, mà không bỏ sót bất cứ một thành tố nền tảng nào của cuộc sống 
		con người.</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">Phẩm giá con người và các yêu sách 
		công lí đòi buộc – đặc biệt là ngày hôm nay – các quyết định kinh tế 
		không được làm tăng sự chênh lệch giàu nghèo một cách quá lạm và vô lí 
		về mặt đạo đức[83] và phải đưa lên hàng ưu tiên việc tạo công ăn việc 
		làm cho mọi người và giúp họ giữ được việc làm đó. Mà đó cũng là điều 
		„lí trí kinh tế“ đòi hỏi. Việc gia tăng có hệ thống sự bất bình đẳng 
		giữa các nhóm xã hội trong một quốc gia và giữa các dân tộc trong nhiều 
		quốc gia cũng như sự tăng trưởng ào ạt nạn bần cùng tương đối trong xã 
		hội không những có cơ nguy phá vỡ đoàn kết xã hội, mà còn đe doạ nền dân 
		chủ. Chúng cũng mang lại kết quả tiêu cực cả cho bình diện kinh tế: dần 
		dần xói mòn đi „tư bản xã hội“ cũng như phá vỡ mất toàn bộ tương giao vô 
		cùng cần thiết cho sự chung sống của người dân, những tương giao được 
		đặt nền trên niềm tin, lòng cậy và trên sự tôn trọng luật lệ.</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">Ngoài ra, khoa kinh tế còn cho chúng 
		ta hay, một tình trạng bất an mang tính cơ cấu sẽ đưa tới những lối hành 
		xử gây đình trệ cho sản xuất và tạo lãng phí tài nguyên nhân sự, khi 
		người làm công thay vì phát huy sáng kiến trong công việc thì lại thả 
		mặc theo vận hành của máy móc. Cả ở điểm này nữa cũng có sự tương ứng 
		giữa khoa kinh tế và sự đánh giá đạo đức. Thiệt hại kinh tế cũng là 
		thiệt hại nhân sự, và những rối loạn kinh tế cũng luôn luôn kéo theo cái 
		giá phải trả về nhân sự.</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">Hơn nữa, phải nhớ rằng, việc giản lược 
		các văn hoá xuống hàng kĩ thuật, cho dù đó chỉ có tính cách giai đoạn để 
		tăng lợi nhuận, về lâu về dài sẽ ngăn cản tiến trình phong phú hoá hỗ 
		tương giữa các văn hoá và làm mất đi động cơ hợp tác. Điều quan trọng là 
		cần phải phân biệt đâu là những toan tính kinh tế hay xã hội ngắn hạn và 
		đâu là những mục tiêu dài hạn. Giảm thiểu mức độ bảo hộ lao động về mặt 
		luật pháp hay từ chối chia phần lợi nhuận cho công nhân với lí do để nhà 
		nước có thể cạnh tranh tốt hơn với quốc tế sẽ cản trở công cuộc phát 
		triển đường dài của đất nước. Vì thế, phải tính cho thật kĩ hậu quả của 
		những chính sách kinh tế có chiều hướng ngắn hạn, có khi vô cùng ngắn 
		hạn hiện nay. Về điểm này, đòi hỏi chúng ta phải „<i>có một tư duy mới 
		và rốt ráo về í nghĩa và mục tiêu của kinh tế</i>“[84] cũng như phải rà 
		soát lại thật kĩ và với viễn kiến mô hình phát triển hiện nay, hầu điều 
		chỉnh những sai sót và dị dạng của nó. Đây cũng là một yêu sách phải 
		giải quyết vì sức khoẻ môi sinh của địa cầu; và nhất là đó cũng là một 
		bài toán cấp thiết phải giải đáp xuất phát từ cuộc khủng hoảng văn hoá 
		và đạo đức của con người mà từ lâu nay ta đã thấy được triệu chứng của 
		nó xuất hiện trên mọi miền thế giới.</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">33. Thông điệp <i>Populorum progressio</i> 
		đã qua hơn bốn mươi năm rồi. Nhưng chủ đề nền tảng của nó – vấn đề phát 
		triển – trước sau vẫn là một bài toán chưa có lời giải. Cuộc khủng hoảng 
		kinh tế tài chánh hiện nay đang làm cho bài toán thêm gia trọng và càng 
		lúc càng đòi buộc ta phải gấp rút giải quyết. Trong lúc một số vùng thế 
		giới đã thoát ra được sự bần cùng, đã đạt được những tăng trưởng kinh tế 
		to lớn và có thể nhập vào dòng sản xuất của thế giới, thì những vùng 
		khác lại đang phải chịu đựng một tình trạng bần cùng ngang hàng hoặc còn 
		tệ hơn thời của giáo chủ Phaolô VI. Một số nguyên nhân của tình trạng đó 
		rõ ràng đã được nói tới trong <i>Populorum progressio</i>, chẳng hạn như 
		việc các nước giàu đặt ra mức thuế quan quá cao khiến cho sản phẩm của 
		các nước nghèo không chen chân vào được thị trường của nước giàu. Trái 
		lại, các nguyên do khác, những thứ chỉ được Thông điệp đề cập sơ qua, 
		giờ đây lại nổi cộm lên. Cụ thể là việc đánh giá tiến trình giải thực, 
		một tiến trình đang diễn ra mạnh mẽ dưới thời giáo chủ Phaolô VI. Giáo 
		chủ Phaolô VI ước mong có được một tiến trình độc lập diễn ra trong hoà 
		bình và tự do. Sau hơn bốn mươi năm, chúng ta phải thú nhận rằng, tiến 
		trình đó quả là một bước đi đầy khó khăn, phần vì sự xuất hiện các hình 
		thái thực dân và lệ thuộc mới vào các nước bá quyền cũ và mới, phần vì 
		hành vi vô trách nhiệm gia trọng của tầng lớp lãnh đạo trong chính các 
		nước mới dành độc lập.</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">Cái mới chủ yếu nhất ngày nay là sự 
		bùng vỡ mối liên thuộc giữa các quốc gia, biểu hiện dưới cái tên „toàn 
		cầu hoá“. Giáo chủ Phaolô VI thời đó đã phần nào nhìn ra, nhưng đã không 
		mường tượng được mức độ phát triển vũ bão của nó. Xuất phát từ các quốc 
		gia phát triển kinh tế, tiến trình này, đúng theo bản chất của nó, đã 
		kéo theo mọi nền kinh tế vào cuộc. Toàn cầu hoá quả là một cơ may lớn và 
		là lực đẩy chính kéo một số vùng thoát ra khỏi nghèo đói. Nhưng nếu 
		không được dẫn dắt bởi tình yêu trong chân lí, lực đẩy đó có thể sẽ tạo 
		ra thiệt hại vô lường với nguy cơ làm phân rẽ gia đình nhân loại. Vì 
		thế, tình yêu và sự thật đặt chúng ta trước một cuộc dấn thân hoàn toàn 
		mới với đầy sáng tạo, cuộc dấn thân chắc chắn sẽ bao quát nhưng phức 
		tạp. Điều này đòi hỏi chúng ta phải mở rộng lí trí, để có thể nhận ra và 
		điều hướng những động năng mới và lạ lùng kia, bằng cách đổ hồn „văn hoá 
		tình yêu“ cho chúng, nền văn hoà mà Thiên Chúa đã đặt sẵn những hạt 
		giống nơi mỗi dân tộc và văn hoá của họ.</font></p>
		<p align="justify">&nbsp;</p>
		<p align="justify"><b><font size="4">CHƯƠNG BA</font></b></p>
		<p align="justify"><b><font size="4">TÌNH HUYNH ĐỆ, PHÁT TRIỂN KINH TẾ 
		VÀ XÃ HỘI DÂN SỰ</font></b></p>
		<p align="justify"><font size="4">34. Tình yêu trong sự thật đặt con 
		người trước kinh nghiệm ngỡ ngàng của quà tặng. Trong đời người, tính 
		cách trao tặng nhưng không diễn ra dưới nhiều hình thức. Tuy nhiên điểm 
		này thường không được nhận ra, là bởi thói quen của ta hay nhìn sự việc 
		bằng con mắt thuần tuý hiệu năng và thực dụng. Con người được tạo ra để 
		trao tặng. Việc trao tặng nói lên chiều kích siêu việt và thể hiện chiều 
		kích đó của họ. Đôi khi con người tân tiến ngày nay xác tín một cách lầm 
		lẫn rằng, chính họ là mới là tác giả của họ, của cuộc sống họ và của xã 
		hội. Sự cao ngạo này là hậu quả của cái nhìn ích kỉ tự đóng kín nơi mình 
		và nó có liên quan – nói theo ngôn ngữ đức tin – tới <i>tội nguyên tổ</i>. 
		Giáo hội khôn ngoan luôn đề nghị rằng, cũng cần phải để í đến các tội 
		nguyên tổ khi cắt nghĩa các thực tại xã hội và khi xây dựng xã hội: „<i>Vì 
		không nhận ra con người là một thực thể bị thương tích và dễ chiều theo 
		sự dữ, nên xẩy ra nhiều lỗi lầm gia trọng trong các lãnh vực giáo dục, 
		chính trị, hành động xã hội và đạo đức</i>“[85]. Kinh tế cũng là một 
		lĩnh vực xưa nay phản ảnh nhiều hậu quả tai hại của tội lỗi. Điều này 
		chúng ta cũng nhận thấy rõ ngay trong thời đại đang sống. Cái xác tín 
		cho rằng, chỉ mình là đủ chẳng cần nhờ ai khác, và tự mình có thể giải 
		quyết được sự dữ có mặt trong lịch sử, đã cám dỗ con người chạy tìm hạnh 
		phúc và cứu độ trong các hình thái nội tại của dư đầy vật chất và của 
		việc dấn thân xã hội. Thêm nữa, việc nhất nhất cho rằng, kinh tế phải 
		được độc lập và đứng ngoài mọi „<i>ảnh hưởng</i>“ đạo đức đã đẩy con 
		người đi tới việc lạm dụng dụng cụ kinh tế và đưa nó đến chỗ phá hoại. 
		Về lâu về dài, những xác tín đó sẽ dẫn tới những hệ thống kinh tế, xã 
		hội và chính trị bóp chết tự do của cá nhân và của các nhóm xã hội, và 
		chính vì vậy mà các hệ thống này không thể có khả năng mang lại công lí 
		như đã hứa. Bằng cách đó, người ta lột mất hi vọng kitô giáo ra khỏi 
		lịch sử[86], điều này tôi đã viết trong tông thư <i>Spe salvi </i>trước 
		đây. Hi vọng kitô giáo là một tiềm năng sức mạnh giúp cho sự phát triển 
		toàn diện của con người và nó chỉ có được trong tự do và công lí. Hi 
		vọng động viên lí trí và giúp cho lí trí sức mạnh để hướng dẫn í 
		chí[87]. Hi vọng đã có sẵn trong đức tin và nó được chính đức tin đánh 
		thức dậy. Tình yêu trong sự thật được nuôi dưỡng từ hi vọng và đồng thời 
		nhờ hi vọng mà ta nhận ra được nó. Vì chưng hi vọng là một quà tặng hoàn 
		toàn nhưng không của Thiên Chúa, nên nó đi vào cuộc đời ta như một cái 
		gì nhưng không, nó vượt lên trên mọi quy luật công lí. Tự bản chất, quà 
		tặng vượt trên mọi công trạng, và qui luật của nó là sự dư đầy. Nó xuất 
		hiện trong tâm ta như dấu chỉ hiện hữu của Thiên Chúa trong ta và như sự 
		chờ đợi của Người nơi ta. Thánh An-tịnh (Augustinus) dạy: Sự thật, cũng 
		là một quà tặng như tình yêu, lớn hơn ta[88]. Cả sự thật về chính chúng 
		ta và về sự nhận thức của chúng ta cũng là một món quà ta „nhận được“ từ 
		trời cao. Lí do là vì trong mỗi diễn tiến nhận thức, sự thật không được 
		chúng ta tạo ra, nhưng nó luôn được chúng ta khám phá ra, hay nói khác 
		đi, được chúng ta đón nhận vào. Sự thật, cũng như tình yêu, không tới từ 
		„<i>tư duy và í muốn, nhưng nó gần như toả chụp xuống trên con người</i>“[89].</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">Vì tình yêu trong sự thật là một món 
		quà ai cũng nhận được, nên nó là một sức mạnh xây dựng cộng đoàn, nó kết 
		hợp con người lại với nhau vượt trên mọi biên cương và rào cản. Chính 
		chúng ta có thể tạo ra được một cộng đoàn con người. Nhưng chỉ với sức 
		mình mà thôi, chúng ta chẳng bao giờ có thể tạo nên một cộng đoàn hoàn 
		toàn đượm tình huynh đệ và thắng vượt mọi ngăn cách, nghĩa là tạo nên 
		một cộng đoàn hoàn vũ thật sự. Một kết hợp nhân loại thật sự huynh đệ và 
		vượt qua mọi ngăn cách chỉ hình thành qua Lời mời gọi của Thiên Chúa 
		Tình Yêu. Khi bàn về câu hỏi quyết định này, một mặt chúng ta phải xác 
		định rõ rằng, lô-gíc của quà tặng không loại trừ công lí hay lô-gíc đó 
		là cái gì từ ngoài được thêm vào sau cho công lí, và mặt khác, để có 
		được một bộ mặt thật sự người, cuộc phát triển kinh tế, xã hội và chính 
		trị phải có chỗ cho tình huynh đệ, nghĩa là phải tuân theo <i>nguyên tắc 
		bất vụ lợi</i>.</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">35. Khi con người còn tin tưởng nhau 
		thì <i>thị trường</i> là định chế kinh tế tạo sự gặp gỡ giữa những con 
		người làm kinh tế, họ tương giao với nhau bằng một khế ước và trao đổi 
		hàng hoá và dịch vụ với nhau hầu thoả mãn nhu cầu và mong ước của họ. 
		Thị trường chịu sự chi phối của cái gọi là <i>công lí cân bằng</i>, đó 
		là các nguyên tắc quy định những trao đổi giữa các chủ thể đồng cân 
		nhau. Nhưng học thuyết xã hội của Giáo hội thì lại không ngừng nhấn mạnh 
		đến tầm quan trọng của <i>công lí phân phối</i> và<i> công lí xã hội</i> 
		cho chính nền kinh tế thị trường, không phải chỉ vì nền kinh tế này bị 
		ràng buộc trong màng lưới của một môi trường xã hội và chính trị lớn 
		hơn, mà cũng còn là vì mạng lưới tương giao, trong đó diễn ra những hoạt 
		động của kinh tế thị trường. Thật vậy, nếu thị trường được thả mặc cho 
		nguyên tắc <i>ngang giá</i> của các hàng hoá trao đổi, thì nó sẽ không 
		đủ khả năng tạo liên kết xã hội, một sự liên kết rất cần thiết cho việc 
		vận hành của kinh tế thị trường. Nếu thiếu những lối hành xử dựa trên 
		niềm tin tưởng và đoàn kết lẫn nhau, thị trường hẳn sẽ không thể hoàn 
		thành vai trò kinh tế của nó. Hiện nay chúng ta đã mất niềm tin tưởng 
		lẫn nhau này, và đây là một mất mát trầm trọng.</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">Giáo chủ Phaolô VI trong thông điệp <i>
		Populorum progressio</i> đã nhấn mạnh cách đúng đắn rằng, lối hành xử 
		công bằng phổ cập hiện nay có lợi cho chính nền kinh tế, bởi vì các nước 
		giàu là những kẻ đầu tiên hưởng lợi từ sự phát triển kinh tế của các 
		nước nghèo mang lại[90]. Qua đó, với những trợ giúp của các nước, những 
		chệch hướng được kịp thời điều chỉnh. Người nghèo không được coi là một 
		„<i>gánh nặng</i>“[91], nhưng họ là một tài nguyên, dù ta nhìn họ với 
		con mắt thuần tuý kinh tế. Ở đây, phải bác bỏ ngay quan điểm sai trái 
		cho rằng, từ cơ cấu của nó, nền kinh tế thị trường cần có một tỉ lệ 
		nghèo đói và chậm tiến nào đó thì nó mới phát huy được hết tác dụng. Vì 
		lợi ích của mình, thị trường hỗ trợ cho việc giải phóng con người. Nhưng 
		thị trường tự nó không thể đạt được mục tiêu này, vì đây là mục tiêu 
		vượt ra ngoài khả năng của nó. Vì thế, thị trường phải cần tới lực đạo 
		đức của những chủ thể khác có khả năng tạo ra được sự giải phóng đó.</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">36. Đời sống kinh tế không thể giải 
		quyết được mọi vấn đề xã hội bằng cách quảng bá thật rộng rãi lối <i>tư 
		duy thương mại</i>. Tư duy này cần phải hướng <i>về mục tiêu công ích</i>. 
		Đây cũng là mục tiêu mà cộng đoàn chính trị nhất thiết phải hướng đến. 
		Vì thế, cần hiểu rằng, xã hội sẽ bị xáo trộn trầm trọng, nếu có sự tách 
		rời giữa kinh tế và chính trị. Hai lĩnh vực này liên quan với nhau, chứ 
		không như người ta tưởng, là kinh tế có nhiệm vụ làm ra của cải, còn 
		chính trị có nhiệm vụ kiến tạo công bằng qua các biện pháp phân phối của 
		cải.</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">Từ xưa nay, Giáo hội không bao giờ cho 
		rằng, làm kinh tế là phản lại xã hội. Tự thân thị trường không phải là 
		chỗ để người giàu hiếp đáp kẻ nghèo, và nó cũng không được phép hướng 
		vào mục tiêu đó. Xã hội chẳng cần phải lo tự bảo vệ mình trước thị 
		trường, như thể sự phát triển của thị trường đương nhiên sẽ phá hoại các 
		tương giao đích thực giữa người và người. Đúng là thị trường có thể 
		hướng về đàng xấu, lí do không phải tự bản chất nó là xấu, nhưng vì nó 
		có thể bị lèo lái bởi một í thức hệ nào đó. Không được quên rằng, chẳng 
		có thứ thị trường nào nguyên chất cả. Khung cảnh văn hoá địa phương ảnh 
		hưởng trên dạng hình và hướng đi của mỗi thị trường. Vì là phương tiện, 
		nên kinh tế và tài chánh có thể bị lạm dụng, nếu như người trách nhiệm 
		chỉ hành động theo lợi ích riêng. Như vậy, những phương tiện tự thân 
		chúng là tốt có thể trở thành những phương tiện mang lại điều hại. Tuy 
		nhiên, đấy là do hệ quả của lí trí vẫn đục con người, chứ không phải do 
		tự thân các phương tiện. Vì vậy, chúng ta phải kêu gọi tới lương tâm đạo 
		đức cũng như trách nhiệm cá nhân và xã hội của con người, chứ chẳng phải 
		kêu gào phương tiện.</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">Học thuyết xã hội của Giáo hội cho 
		rằng, con người có thể tương giao trong tình huynh đệ và tương trợ đoàn 
		kết với nhau cả trong lòng kinh tế thị trường, chứ không chỉ ngoài hay 
		„sau“ lĩnh vực đó. Kinh tế tự nó chẳng vô đạo, bất nhân hay phản xã hội 
		gì cả. Kinh tế là hành vi con người, và vì nó mang tính người, nên nó 
		phải được cơ cấu hoá và định chế hoá theo những khía cạnh đạo đức.</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">Trước mắt chúng ta là cả một thử thách 
		lớn. Thử thách tạo ra do các vấn nạn của phát triển trong thời toàn cầu 
		hoá, và thử thách này đã trở nên gia trọng do cuộc khủng hoảng kinh tế 
		tài chánh hiện nay: Trong các quan hệ làm ăn kinh tế, chúng ta không 
		được để cho suy nghĩ và hành động mình lơ là trước các nguyên tắc đạo 
		đức truyền thống như trong sáng, thành thật và trách nhiệm, mà còn hơn 
		nữa phải đổ tình huynh đệ vào đó bằng cách biết cho đi một cách nhưng 
		không với tinh thần quà tặng. Đó là một yêu sách cho con người hôm nay, 
		mà cũng là yêu sách cho chính tư duy kinh tế. Và đó đồng thời cũng là 
		một yêu sách của tình yêu và sự thật.</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">37. Học thuyết xã hội của Giáo hội 
		luôn luôn khẳng định, công lí phải hiện diện trong mọi công đoạn của 
		sinh hoạt kinh tế, là vì sinh hoạt này luôn gắn liền với con người và 
		với nhu cầu của họ. Từ khâu tìm tài nguyên, xuất vốn, sản xuất, tiêu thụ 
		cho đến mọi giai đoạn khác, tất cả nhất nhất đều dẫn tới hệ quả đạo đức. 
		Do vậy, mọi quyết định kinh tế đều hàm chứa một hậu quả đạo đức. Điểm 
		này các khoa học xã hội và nền kinh tế ngày nay cũng đều xác nhận. Có lẽ 
		trước đây người ta nghĩ rằng, kinh tế chỉ có nhiệm vụ tạo ra của cải, 
		còn việc phân phối là nhiệm vụ của chính trị. Ngày nay, khó mà nghĩ được 
		như thế, bởi vì sinh hoạt kinh tế đã vượt ra ngoài các biên cương quốc 
		gia, trong khi quyền uy của các chính phủ thì vẫn chỉ hạn chế trong một 
		vùng địa phương. Vì vậy, các quy luật đạo đức phải được tuân giữ ngay từ 
		đầu khi tiến trình kinh tế đang khởi sự, chứ không phải đợi cho đến khi 
		đã bắt đầu hay đã xong. Hơn nữa, cần phải tạo không gian cho những sinh 
		hoạt kinh tế, trong đó người làm kinh tế tuy hành động của họ không nhắm 
		vào lợi nhuận thuần tuý nhưng vẫn muốn tiếp tục tạo ra được những giá 
		trị kinh tế. Nhiều hình thái kinh tế, hoặc do tôn giáo hay không do tôn 
		giáo chủ xướng, cho thấy điểm trên đây là điều chắc chắn có thể thực 
		hiện được.</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">Trong thời đại toàn cầu hóa, nhiều mô 
		thức cạnh tranh làm cho nền kinh tế bị tổn thương, và những mô thức này 
		bị chi phối bởi các nền văn hoá rất khác nhau. Từ đó sinh ra nhiều cung 
		cách kinh doanh làm ăn, nhưng điểm chung của chúng là hướng về công lí 
		cân bằng. Đời sống kinh tế hẳn cần có những giao kèo khế ước để quy định 
		việc trao đổi giữa các giá trị tương ứng. Cũng cần có những luật lệ và 
		guồng máy chính trị để phân phối, và ngoài ra cần có những công trình 
		mang tinh thần trao tặng. Trong nền kinh tế toàn cầu hoá, lô-gíc của 
		việc trao đổi hàng hoá theo khế ước đồng thuận giữa hai đối tác xem ra 
		nắm ưu thế. Nhưng thực tế cho thấy, trực tiếp hay gián tiếp, nền kinh tế 
		cũng cần tới hai loại hình kia, đó là lô-gíc chính trị và lô-gíc trao 
		tặng bất vụ lợi.</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">38. Vị tiền nhiệm của tôi Gio-an 
		Phao-lô II cũng đã nhắc tới vấn nạn đó trong thông điệp <i>Centesimus 
		annus</i>, khi ngài nói tới sự cần thiết của một hệ thống với ba chủ 
		thể: thị trường, nhà nước và xã hội dân sự[92]. Ngài nhìn thấy xã hội 
		dân sự là nơi thích hợp nhất cho một nền kinh tế trao tặng và huynh đệ, 
		nhưng điều đó không có nghĩa là ngài loại trừ huynh đệ và trao tặng ra 
		khỏi hai chủ thể kia. Ngày nay chúng ta có thể nói, đời sống kinh tế 
		phải được hiểu là một thực tại đa chiều: Trong mọi chiều đó, nhiều hay 
		ít và dưới những dạng thái cá biệt, không thiếu khía cạnh huynh đệ. 
		Trong thời toàn cầu hoá, sinh hoạt kinh tế không thể chối từ việc trao 
		tặng nhưng không. Việc trao tặng này quảng bá và nuôi sống tinh thần 
		đoàn kết lẫn í thức trách nhiệm hướng tới công bằng và công ích nơi các 
		đối tác và chủ thể khác nhau của kinh tế. Đây rốt cuộc là một hình thái 
		Dân chủ kinh tế cụ thể và sâu xa. Đoàn kết trước hết có nghĩa là mọi 
		người đều cảm thấy có trách nhiệm đối với nhau[93], và vì thế không thể 
		phó mặc chuyện đoàn kết cho nhà nước được. Trước đây, có thể người ta 
		nghĩ, mình phải lo cho có công lí trước đã, rồi sau đó mới chế thêm chút 
		vô vụ lợi vào. Nhưng ngày nay phải công nhận rằng, nếu không có tinh 
		thần bất vụ lợi thì cũng không thể có được công lí. Vì thế, cần phải có 
		một thị trường, trong đó các công ti có thể tự do hướng theo những mục 
		tiêu kinh doanh khác nhau và trong cùng những điều kiện như nhau. Bên 
		cạnh những xí nghiệp tư nhân và các loại công ti quốc doanh khác nhau 
		hoạt động theo mục tiêu lợi nhuận, cũng nên có chỗ hoạt động cho những 
		tổ chức sản xuất với những mục tiêu hỗ tương và xã hội. Sự gặp gỡ giữa 
		các loại hình kinh doanh này trên thị trường hi vọng sẽ làm nẩy sinh 
		những cách thức kinh doanh hỗn hợp, từ đó dần tạo cho nền kinh tế có bộ 
		mặt văn minh. Trong trường hợp này, tình yêu trong chân lí có nghĩa là 
		cung cấp thêm cho thị trường những hình thái kinh doanh, dù vẫn tiếp tục 
		với lợi nhuận, nhưng với những tiêu đích vượt ra khỏi vòng tư lợi.</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">39. Trong thông điệp <i>Populorum 
		progressio</i> giáo chủ Phao-lô VI cổ xuý cho việc hình thành một nền 
		kinh tế thị trường, trong đó có khuynh hướng dần mở ra không gian hoạt 
		động cho mọi dân tộc, chứ không riêng gì các nước giàu sẵn phương tiện 
		và khả năng. Ngài đòi hỏi phải làm sao tạo cho được một thế giới có bộ 
		mặt nhân bản hơn cho tất cả mọi người, một thế giới „<i>trong đó tất cả 
		mọi người có thể cho và nhận, và tiến bộ của người này không là vật cản 
		cho sự phát triển của người khác</i>“[94]. Như vậy là ngài đã kéo những 
		yêu sách và mục tiêu của tông thư <i>Rerum novarum</i> lên bình diện 
		hoàn vũ. <i>Rerum novarum</i> xuất hiện trong thời cách mạng kĩ nghệ và 
		là câu trả lời cho cuộc cách mạng đó. Tông thư này nói tới nhu cầu can 
		thiệp của nhà nước (mang vai trò) phân phối để tiếp tục giữ cho xã hội 
		có được trật tự. Quả thật đấy là một tư tưởng khá tiến bộ trong thời đó. 
		Nhưng ngày nay, trước tiến trình mở cửa của thị trường và của các nhóm 
		xã hội, cái nhìn đó không những bị đặt lại vấn đề mà còn tỏ ra bất cập 
		và không thể đáp ứng cho một nền kinh tế hoàn toàn nhân bản. Những gì 
		học thuyết xã hội của Giáo hội, xuất phát từ cái nhìn về con người và xã 
		hội, trước đây luôn chủ trương thì vẫn cần thiết cho ngày hôm nay với 
		những biến chuyển mạnh do tiến trình toàn cầu hoá tạo nên.</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">Nếu lô-gíc thị trường và lô-gíc nhà 
		nước cùng nắm tay nhau để giữ độc quyền trên phạm vi ảnh hưởng của mình, 
		thì về lâu về dài sự đoàn kết giữa những người dân, sự chia sẻ và tham 
		gia của họ cũng như việc hành động bất vụ lợi sẽ biến mất. Đoàn kết, 
		tham gia, chia sẻ, trao tặng là những gì khác với lô-gíc của nguyên tắc 
		trao đổi thông thường vốn đặt trên căn bản „Cho để được lại“. Chúng cũng 
		khác với lối hành xử công do luật pháp quốc gia đặt ra: „Cho vì nghĩa 
		vụ“. Để vượt thắng chậm tiến, cần phải hành động để không những cải tiến 
		việc trao đổi hàng hoá và hệ thống trợ cấp xã hội, mà nhất là để dần dà 
		mở ra không gian cho những sinh hoạt kinh tế toàn cầu mang tính cộng 
		đồng và bất vụ lợi. Tinh thần xã hội sẽ rã tan, nếu thị trường và nhà 
		nước cùng nhau tay trong tay khư khư nắm giữ độc quyền. Những hình thái 
		kinh tế đoàn kết mọc lên từ đất màu xã hội dân sự và không chỉ đóng 
		khung trong đám đất này mà thôi, trái lại, sẽ tạo ra đoàn kết. Không có 
		loại thị trường nào cho việc trao tặng bất vụ lợi, và luật pháp cũng 
		không tạo ra được tinh thần bất vụ lợi. Tuy nhiên, cả thị trường lẫn nhà 
		nước đều cần những con người sẵn sàng hi sinh cho kẻ khác.</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">40. Những động năng kinh tế quốc tế 
		hiện nay, với những biến dạng và bất cập của chúng, đòi hỏi phải thay 
		đổi tận căn quan niệm của chúng ta về công ti. Các loại hình kinh doanh 
		cũ đang đi vào chấm dứt. Và ta sẽ thấy những loại hình kinh doanh mới 
		đầy triển vọng rồi sẽ mọc lên. Một trong những nguy cơ lớn nhất là các 
		công ti hầu như chỉ trách nhiệm với những nhà đầu tư mà thôi, và vì thế, 
		rốt cuộc chúng dần mất í nghĩa đối với xã hội. Trước đà mở rộng của các 
		công ti và sự gia tăng nhu cầu vốn, càng ngày càng có ít công ti lệ 
		thuộc vào một doanh nhân nhất định, doanh nhân này lại cảm thấy mình có 
		trách nhiệm cho hoạt động và thành quả lâu dài – chứ không chỉ trong 
		giai đoạn – của công ti mình, và càng ngày càng hiếm công ti chịu ở lại 
		lâu dài trong một vùng nào đó. Ngoài ra, việc di dời địa bàn sản xuất có 
		thể làm cho nhà kinh doanh vì quyền lợi của các cổ đông – những người 
		này giờ đây không bị trói buộc vào một nơi nhất định và vì thế rất dễ 
		dàng chuyển dịch – mà đâm ra giảm đi í thức trách nhiệm của mình đối với 
		công nhân, các hãng xưởng cung cấp, những người tiêu thụ, với môi trường 
		và với quần thể xã hội lớn hơn. Ngày nay thị trường tư bản quốc tế quả 
		thật đang cung cấp cho ta một không gian hoạt động rộng lớn. Nhưng đối 
		lại, các công ti đồng thời cũng ngày càng í thức hơn rằng, mình phải có 
		một „trách nhiệm xã hội“. Cho dù không phải tất cả những í niệm đạo đức 
		hiện đang được bàn cãi liên quan đến trách nhiệm xã hội của công ti đều 
		hợp với quan điểm học thuyết xã hội của Giáo hội, nhưng nhìn chung, ta 
		thấy một í thức mới đang mở ra nơi giới lãnh đạo kinh doanh, là họ không 
		thể chỉ quan tâm tới quyền lợi của người góp vốn mà thôi, mà còn phải 
		lưu í đến những thành phần khác có liên hệ tới đời sống công ti, đó là 
		các công nhân, khách hàng, hãng xưởng cung cấp phụ phẩm và dân chúng 
		trong vùng. Trong những năm qua, chúng ta nhận thấy sự xuất hiện của một 
		thành phần quản trị gia có tinh thần đại đồng, họ thường chỉ biết vâng 
		lời chỉ thị của các chủ vốn là những kẻ quyết định đồng lương của họ, mà 
		chủ vốn ở đây thường là những quỹ vô danh. Nhưng ngày nay cũng có nhiều 
		quản trị gia có tầm nhìn xa nên càng ngày càng hiểu ra sự liên hệ sâu xa 
		giữa công ti của họ và vùng hay những vùng nơi họ đặt bản doanh. Giáo 
		chủ Phao-lô VI mời gọi chúng ta thật tình thử nghĩ xem, nếu vì lợi nhuận 
		cá nhân mà người ta mang tư bản ra khỏi quốc gia mình, thì quốc gia đó 
		sẽ bị thiệt hại như thế nào[95]. Giáo chủ Gio-an Phao-lô II nhận thấy, 
		bên cạnh í nghĩa kinh tế, một cuộc đầu tư bao giờ cũng mang í nghĩa đạo 
		đức[96]. Đấy là điều đúng cho cả ngày hôm nay. Điều này cần phải được 
		nhấn mạnh, cho dù thị trường hiện nay đã được cởi trói và lối tư duy tân 
		tiến nặng kĩ thuật có thể khiến cho con người hôm nay coi đầu tư là một 
		diễn tiến thuần kĩ thuật, chứ không hẳn là một hành vi nhân sinh và đạo 
		đức. Dĩ nhiên không thể chối cãi rằng, nhiều khi một nguồn vốn đầu tư ra 
		ngoại quốc lại mang về nhiều điều tốt hơn là đầu tư tại quê hương. Tuy 
		nhiên, phải quan tâm tới những đòi hỏi công bằng, chẳng hạn phải xem coi 
		nguồn vốn đó xuất phát do đâu và đâu là những thiệt hại cho dân chúng 
		địa phương, nếu vốn đó không được đầu tư vào chính nơi xuất phát của 
		vốn[97]. Phải tránh việc dùng các nguồn vốn vào chuyện đầu cơ, cũng như 
		tránh để sa vào cám dỗ nhắm chuyện ăn sổi, mà bỏ ra ngoài cái lợi về lâu 
		về dài của công ti, cái lợi của đầu tư cho kinh tế thực tiễn và những 
		cái lợi có thể có được cho các xứ kém phát triển nếu như ta biết dùng 
		đầu tư của mình vào các nước đó. Cũng không thể chối cãi rằng, việc 
		chuyển đầu tư ra ngoại quốc, nếu nó đi kèm với một phương án huấn luyện 
		nhân sự tại chỗ, có thể mang lại lợi ích cho người dân bản xứ. Khắp nơi 
		đâu cũng cần công ăn việc làm và kiến thức kĩ thuật. Nhưng không được 
		phép di chuyển đầu tư chỉ vì nhắm tới những đút lót nào đó của chính 
		quyền sở tại hay để bóc lột nhân công bản xứ, mà không màng tới việc tạo 
		ra nơi đó những hệ thống sản xuất và phúc lợi cần thiết làm nền cho một 
		phát triển lâu dài.</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">41. Trong khung cảnh này, cần phải 
		nhắc nhở rằng, công việc kinh doanh mang nhiều í nghĩa và càng ngày 
		chúng ta cần phải quan tâm hơn về điều đó. Cuộc thống trị lâu dài của 
		cặp Thị trường – Nhà nước đã khiến chúng ta chỉ quen nghĩ tới hình ảnh 
		một bên là doanh nhân theo kiểu tư bản và một bên là những người lãnh 
		đạo các công ti quốc doanh nhà nước. Thật ra cần phải có một cái nhìn 
		phân biệt về công việc kinh doanh. Điểm này xuất phát từ hệ luận của một 
		lô nguyên do phi kinh tế. Trước khi là một nghiệp vụ, công việc kinh 
		doanh mang một í nghĩa con người[98]. Nó là thành phần của bất cứ một 
		công việc nào, nếu nó được nhìn như một „<i>thao tác người</i>“ (actus 
		personae)[99]; vì thế cần giúp cho mỗi người lao động có được cơ hội và 
		khả năng thực hiện phần đóng góp riêng tư của họ, để chính họ „<i>nghĩ 
		được rằng họ đang làm việc trong lãnh vực riêng của mình</i>“[100]. 
		Không phải là chuyện tình cờ khi giáo chủ Phao-lô VI dạy: „<i>Mỗi người, 
		khi làm việc, là họ đang sáng tạo</i>“[101]. Chính vì để thoả mãn các 
		đòi hỏi và phẩm giá người lao động cũng như các nhu cầu của xã hội nên 
		mới nẩy sinh ra nhiều loại doanh nghiệp, chứ không phải chỉ có độc nhất 
		hai loại „tư doanh“ và „quốc doanh“ mà thôi. Mỗi loại đòi hỏi và thực 
		hiện một khả năng kinh doanh đặc biệt. Để tiến tới một nền kinh tế trong 
		tương lai gần có thể phục vụ công ích quốc gia và hoàn vũ, cần phải quan 
		tâm tới í nghĩa bao quát đó của hoạt động kinh doanh. Cái nhìn bao quát 
		đó hỗ trợ cho việc trao đổi cũng như việc ảnh hưởng lên nhau giữa các 
		loại hoạt động kinh doanh bằng cách hoán chuyển cho nhau khả năng vươn 
		từ mục tiêu lợi nhuận sang hướng công ích và ngược lại, chuyển từ lãnh 
		vực công sang lãnh vực xã hội dân sự, chuyển từ những vùng kinh tế phát 
		triển sang những nước chậm phát triển.</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">Cả „<i>quyền uy chính trị</i>“ cũng có 
		nhiều nghĩa. Ta không được quên điều này trên bước đường kiến tạo một 
		nền kinh tế – sản xuất nhằm phục vụ con người và có tinh thần trách 
		nhiệm xã hội. Trên khắp thế giới người ta cố gắng phân biệt và cưu mang 
		các loại hoạt động kinh tế như thế nào, thì các loại uy quyền chính trị 
		tác động trên nhiều cấp độ khác nhau cũng phải được xem xét phân biệt và 
		cưu mang như thế. Việc toàn cầu hoá kinh tế hiện nay không loại trừ vai 
		trò của các quốc gia. Trái lại nó thúc đẩy các chính quyền phải cộng tác 
		với nhau chặt chẽ hơn. Minh triết và khôn ngoan dạy ta đừng vội hô hào 
		việc xoá bỏ nhà nước. Trước nhu cầu giải quyết cơn khủng hoảng hiện nay, 
		ta thấy vai trò của nhà nước lớn lên thay vì nhỏ lại, vì nó đang dành 
		lại nhiều quyền hạn trước đây đã mất. Cũng có những quốc gia, trong đó 
		cuộc phát triển trước sau vẫn tuỳ thuộc vào việc xây dựng thành công 
		hoặc tái xây dựng lại chính quyền. Như vậy, khi giúp giải quyết những 
		vấn đề kinh tế hiện nay, các trợ giúp quốc tế nên được thực hiện trong 
		khung cảnh một kế hoạch đoàn kết, hầu giúp cho các quốc gia kém may mắn 
		này có được những hệ thống hiến pháp, luật pháp và hành chánh vững mạnh. 
		Bên cạnh trợ giúp kinh tế, cần có sự hỗ trợ để giúp cho nhà nước pháp 
		quyền có được những bảo đảm tự thân, có được một hệ thống công quyền hữu 
		hiệu, áp dụng một chế độ nhà tù biết tôn trọng nhân quyền và có được 
		những định chế thật sự dân chủ. Nhà nước không bắt buộc phải đặt trọng 
		tâm đồng một lúc trên mọi lĩnh vực: Giúp đỡ để kiện toàn hệ thống hiến 
		pháp non yếu có thể là phương cách tuyệt hảo thúc đẩy các lĩnh vực khác 
		như văn hoá, xã hội, vùng địa dư hay tôn giáo phát triển song song. Việc 
		nối kết uy quyền chính trị ở cấp địa phương, nối kết uy quyền chính trị 
		của xã hội dân sự cấp quốc gia và quốc tế, nối kết uy quyền chính trị 
		của cộng đồng siêu quốc gia và hoàn vũ cũng là một trong những con đường 
		chính để có thể xoay chiều tiến trình toàn cầu hoá kinh tế. Nối kết đó 
		cũng là cách cản ngăn không để cho tiến trình này phá vỡ mất những nền 
		tảng của dân chủ.</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">42. Thỉnh thoảng đây đó người ta nhìn 
		toàn cầu hoá như một cái gì mang tính định mệnh. Họ xem như thể biến cố 
		này được tạo ra bởi những sức mạnh vô danh và bởi những cơ cấu vượt 
		ngoài sự kiểm soát của í chí con người[102]. Ở đây cần nhớ rằng, toàn 
		cầu hoá đúng là một tiến trình kinh tế xã hội, nhưng đó không phải là 
		chiều kích duy nhất. Đàng sau tiến trình rất dễ nhận ra đó là một nhân 
		loại đang càng ngày càng liên thuộc vào nhau. Nhân loại này bao gồm các 
		cá nhân và dân tộc, họ tất cả có thể hưởng lợi và có thể lợi dụng tiến 
		trình đó để phát triển[103], bởi vì cá nhân lẫn tập thể đều phải mang 
		lấy trách nhiệm riêng của mình. Việc xoá bỏ các biên giới không chỉ là 
		chuyện vật chất, nhưng cũng là một vấn đề văn hoá, nếu xét theo những lí 
		do và hệ quả của nó. Nếu hiểu toàn cầu hoá là định mệnh, ta sẽ không có 
		được các yếu tố để đánh giá và sẽ không xác định được hướng đi của nó. 
		Toàn cầu hoá là một thực tại con người với đàng sau nó là bao nhiêu 
		khuynh hướng văn hoá khác nhau, nên cần phải nghiên cứu xem xét cẩn 
		thận. Sự thật của tiến trình toàn cầu hoá và yếu tố đạo đức nền tảng của 
		nó nằm sẵn trong sự hợp nhất của gia đình nhân loại và trong tính hướng 
		thiện của nó. Vì thế, phải không ngừng nỗ lực để sao cho tiến trình hội 
		nhập toàn cầu hướng tiến về phía nhân vị và cộng đồng cũng như hướng tới 
		một nền văn hoá mở ra với siêu việt.</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">Mặc dầu có một vài chiều hướng bất cập 
		xuất phát từ cơ cấu – những chiều hướng ta không thể chối cãi mà cũng 
		không nên tuyệt đối hoá chúng, „<i>toàn cầu hoá tự căn bản không tốt mà 
		cũng chẳng xấu. Xấu hay tốt là tuỳ theo cách con người vận dụng nó</i>»[104]. 
		Chúng ta không được trở thành nạn nhân, mà phải là chủ nhân, bằng cách 
		dùng lí trí để vận dụng nó và lấy yêu thương lẫn sự thật làm đuốc soi 
		cho hành động mình. Nhắm mắt chống lại là thái độ không phải. Phản ứng 
		theo tiên kiến này rốt cuộc làm cho chúng ta không nhận ra được mặt tích 
		cực của toàn cầu hoá, và như vậy có nguy cơ để mất đi cơ hội lớn với 
		những khả thể phát triển trong đó. Một tiến trình toàn cầu hoá được thực 
		thi với kế hoạch đúng đắn sẽ là một cơ hội tái phân phối của cải thế 
		giới lớn như chưa từng có. Nhưng nếu tiến trình này không được vận dụng 
		cách tốt đẹp, thì nó có thể lại làm gia tăng nghèo đói và bất công cũng 
		như sẽ đưa tới một khủng hoảng cho toàn thế giới. Cần phải hàn gắn những 
		thiếu sót của tiến trình, những thiếu sót đào sâu hố chia rẽ giữa các 
		dân tộc và ngay trong một dân tộc, và đừng để việc phân phối của cải trở 
		thành một phân phối đói nghèo hay làm gia tăng đói nghèo, như lối hành 
		xử bất cập hiện nay có nguy cơ dẫn đến. Có một thời gian dài người ta đã 
		nghĩ, các dân tộc nghèo phải ở lại một thời gian trong giai đoạn chậm 
		tiến và nên hài lòng với việc đưa tay ra nhận viện trợ tình thương của 
		các dân tộc đã phát triển. Trong thông điệp <i>Populorum progressio</i> 
		giáo chủ Phao-lô VI đã chống lại não trạng suy nghĩ đó. Ngày nay, tiềm 
		năng các khả thể vật chất nhằm giúp cho các dân tộc này thoát khỏi nạn 
		nghèo đói quả lớn hơn xưa, nhưng những tiềm năng đó hầu hết lại rơi vào 
		tay các dân tộc đã phát triển, thông qua tiến trình tự do hoá việc chu 
		chuyển tài chánh và lao động do họ chủ trương. Như vậy, đừng dùng những 
		dự án ích kỉ và bảo hộ mậu dịch hay dùng lợi ích cá nhân để ngăn chặn sự 
		gia tăng phúc lợi thế giới. Muốn giải quyết khủng hoảng hiệu quả, cần 
		phải để cho các nước đang phát triển và mới phát triển cùng ngồi vào 
		chung bàn. Những thay đổi của toàn cầu hoá sẽ tạo ra nhiều khó khăn và 
		nguy cơ lớn. Để thắng vượt chúng, cần phải có một tấm lòng nhân bản và 
		đạo đức; tấm lòng này sẽ đưa chính toàn cầu hoá ra khỏi vực thẳm để tiến 
		lên hướng nhân bản liên đới. Tiếc rằng nó thường bị khoả lấp hoặc chèn 
		ép bởi những lối nhìn văn hoá-đạo đức thấm đượm tinh thần cá nhân chủ 
		nghĩa và thực dụng. Toàn cầu hoá là một hiện tượng đa tầng và mang nhiều 
		chức năng, cần phải tìm hiểu nó trong những khác biệt và nơi tổng hợp 
		mọi chiều kích – kể cả chiều kích thần học. Điều này sẽ cho phép chúng 
		ta định hướng cuộc toàn cầu hóa nhân loại và sống nó trong tinh thần 
		tương giao, cộng đoàn và chia sẻ.</font></p>
		<p align="justify"><b><font size="4">CHƯƠNG BỐN</font></b></p>
		<p align="justify"><b><font size="4">PHÁT TRIỂN CÁC DÂN TỘC, QUYỀN VÀ 
		BỔN PHẬN, MÔI TRƯỜNG</font></b></p>
		<p align="justify"><font size="4">43. „<i>Tình liên đới nhân loại không 
		những đem lại lợi ích cho chúng ta, mà nó còn là một bổn phận</i>“[105]. 
		Nhiều người ngày nay tự cho rằng, họ chẳng mắc nợ ai ngoài chính họ. Họ 
		bảo, chỉ cần quyền hành, do đó trong họ thường thiếu mất í thức trách 
		nhiệm về sự phát triển toàn diện của chính mình và của những người khác. 
		Vì vậy, điều quan trọng là cần làm sao để họ hiểu được rằng, quyền giả 
		thiết bổn phận, nếu thiếu bổn phận, quyền sẽ trở thành chuyên 
		quyền[106]. Ngày nay, chúng ta đang chứng kiến một nghịch lí khó chịu. 
		Trong khi người ta một mặt đòi cho mình những quyền giả định mang tính 
		độc đoán và hưởng thụ, với cớ rằng, những quyền này đã được cơ cấu nhà 
		nước công nhận và hỗ trợ, thì mặt khác, người ta lại chối bỏ và vi phạm 
		những quyền căn bản nơi một số lớn nhân loại[107]. Có một liên hệ dễ 
		nhận ra giữa một bên là đòi quyền được sống trong dư đầy, hay nói thẳng 
		ra, được tự do phạm pháp và ăn chơi phung phí nơi các xã hội giàu với 
		một bên là sự thiếu thốn của ăn, nước uống, học vấn hoặc chăm sóc i tế 
		cơ bản nơi những vùng kém phát triển trên thế giới cũng như những vùng 
		ngoại ô của các đô thị lớn. Gốc rễ của liên hệ đó là, khi các quyền cá 
		nhân không còn được đóng khung trong các bổn phận tạo í nghĩa nữa, thì 
		chúng sẽ trở nên thác loạn và không ngừng đưa ra những đòi hỏi vô giới 
		hạn và vượt mọi tiêu chuẩn. Quá lạm quyền đưa tới việc buông thả bổn 
		phận. Bổn phận giới hạn quyền, bởi vì nó đưa quyền vào khung nhân học và 
		đạo đức mà quyền vốn dĩ là một thành phần trong đó, và nhờ khung này, 
		quyền không trở thành chuyên quyền. Như vậy, bổn phận củng cố, bảo vệ và 
		thăng tiến các quyền trong công tác phục vụ điều thiện của chúng. Ngược 
		lại, nếu nền tảng các quyền của con người chỉ là kết quả của các nghị 
		quyết buổi họp, thì chúng có thể bị sửa đổi bất cứ lúc nào, và như vậy, 
		í thức coi trọng và tuân giữ quyền nơi người dân sẽ giảm. Các chính phủ 
		và tổ chức quốc tế, vì vậy, có thể phớt lờ tính khách quan và „bất khả 
		xâm phạm“ của quyền. Một khi điều này xẩy ra, công cuộc phát triển thật 
		sự của các dân tộc sẽ lâm nguy[108]. Kiểu suy nghĩ và hành động đó sẽ 
		làm giảm uy tín của các cơ quan quốc tế, đặc biệt dưới con mắt các dân 
		tộc đang cần phát triển nhất. Các dân tộc này đòi hỏi cộng đồng quốc tế 
		phải có trách nhiệm giúp họ, phải là những „kĩ sư xây dựng“[109] cho số 
		phận của họ, nghĩa là chính họ, họ cũng nhận lấy phần trách nhiệm của 
		mình. Việc chia sẻ những bổn phận qua lại có sức huy động mạnh hơn là 
		chỉ đòi hỏi quyền suông.</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">44. Quan niệm về quyền và bổn phận 
		trong phát triển cũng phải quan tâm đến các vấn đề liên quan tới việc 
		phát triển dân số. Đây là một khía cạnh rất quan trọng của sự phát triển 
		đích thực, vì nó liên hệ tới các giá trị bất khả nhượng của sự sống và 
		của gia đình[110]. Thật sai lầm khi coi sự gia tăng dân số là nguyên do 
		chính của kém phát triển – dù nhìn dưới khía cạnh kinh tế . Cứ nhìn vào 
		việc giảm số tử vong sơ sinh và tăng tuổi thọ trung bình trong các xã 
		hội mới phát triển kinh tế và vào những dấu hiệu khủng hoảng nơi một số 
		xã hội đang sút giảm trầm trọng về sinh số thì đủ rõ. Giáo hội, vốn ưu 
		tư tha thiết với sự phát triển đích thực của con người, khuyên họ hãy 
		tôn trọng tối đa các giá trị con người và những giá trị trong quan hệ 
		tình dục: Chúng ta không thể hạ tình dục xuống thành một thứ hành vi lạc 
		thú hay giải trí thuần tuý, cũng như không thể biến việc giáo dục sinh 
		lí thành ra một thứ hướng dẫn kĩ thuật, với quan tâm duy nhất là để 
		tránh lây nhiễm bệnh hay để tránh „nguy cơ“ truyền sinh. Làm như thế là 
		khinh thường và làm nghèo đi í nghĩa sâu xa của tình dục, một khía cạnh 
		cuộc sống mà lẽ ra mỗi người và cả xã hội phải công nhận và đón nhận 
		trong trách nhiệm. Trách nhiệm cũng không cho phép ta coi tình dục chỉ 
		là nguồn khoái cảm, như đã phản ảnh trong các biện pháp chính trị áp đặt 
		trên kế hoạch hoá gia đình. Trong cả hai trường hợp, con người đều đứng 
		trước những quan điểm vật chất và các phương cách thực hiện chính trị 
		của chúng, và rốt cuộc họ phải đau khổ chịu đựng bạo lực dưới nhiều hình 
		thức khác nhau. Như vậy, để chống lại trong lĩnh vực này, chúng ta phải 
		đặt trách nhiệm của gia đình ưu tiên [111] lên trên nhà nước và các biện 
		pháp thuần tuý chính trị của nó, cũng như phải giúp cho các bậc cha mẹ 
		có được một giáo dục thích hợp.</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">Hết lòng ủng hộ sự sống một cách có 
		trách nhiệm về mặt đạo đức cũng là làm giàu cho xã hội và kinh tế. Cũng 
		nhờ lượng dân đông và năng lực của họ mà những quốc gia lớn đã thoát ra 
		được cảnh nghèo túng. Ngược lại, một số quốc gia trước đây giàu có nay 
		đang rơi vào bất an – cũng có những trường hợp đã suy tàn – chỉ vì số 
		sinh giảm, đây chính là một vấn nạn hệ trọng sinh tử của các xã hội giàu 
		có hiện nay. Khi số sinh giảm, đôi khi làm cho dân số quốc gia xuống 
		dưới mức độ tỉ lệ cho phép, hệ thống trợ cấp xã hội sẽ gặp khủng hoảng. 
		Giảm sinh khiến chi phí tăng, hạn chế sự lưu hồi tiết kiệm và hậu quả là 
		khan hiếm vốn đầu tư; nó làm giảm lượng lao động chuyên môn, làm cạn 
		kiệt đi nguồn dự trữ „đầu óc“ cần thiết cho nhu cầu phát triển quốc gia. 
		Ngoài ra, gia đình ít người, lắm khi quá ít người, sẽ tạo ra tình trạng 
		khan hiếm quan hệ xã hội và không bảo đảm được những hình thái liên đới 
		hữu hiệu. Hệ quả của các tình trạng này là triệu chứng giảm niềm tin vào 
		tương lai và mỏi mệt về phương diện đạo đức. Vì thế, về mặt xã hội, và 
		ngay cả mặt kinh tế, cần làm sao cho các thế hệ trẻ thấy được nét đẹp 
		của gia đình và của hôn nhân cũng như thấy được rằng, hai định chế đó 
		phù hợp với những nhu cầu thâm sâu nhất của tâm hồn và phẩm giá con 
		người. Trong viễn tượng đó, các quốc gia được mời gọi đưa ra những biện 
		pháp chính trị nhằm bảo vệ và hỗ trợ vị trí trung tâm của định chế gia 
		đình dựa trên hôn nhân nam nữ, vốn là tế bào sự sống và căn bản của xã 
		hội[112], bằng cách vừa quan tâm tới những vấn đề kinh tế và tài chánh 
		vừa tôn trọng bản chất quan hệ của nó.</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">45. Việc đáp ứng những yêu sách đạo 
		đức thâm sâu nhất của con người cũng đưa tới những ảnh hưởng quan trọng 
		và tốt đẹp trên bình diện kinh tế. Để vận hành đúng đắn, kinh tế cần có 
		đạo đức; không phải loại đạo đức nào bất kì, mà là thứ đạo đức thân 
		thiện với con người. Ngày nay, người ta nói nhiều về đạo đức trong lãnh 
		vực kinh tế, tài chánh và xí nghiệp. Những trung tâm nghiên cứu và những 
		khoá huấn luyện đạo đức kinh doanh đã được mở ra. Trong thế giới các 
		quốc gia tiền tiến đã có hệ thống cấp chứng chỉ đạo đức doanh nghiệp, 
		tiếp theo sau sự có mặt của phong trào đòi các xí nghiệp phải có đạo đức 
		xã hội. Các ngân hàng đưa ra những cái gọi là tài khoản và quỹ đầu tư 
		„đạo đức“. Một „nền tài chánh đạo đức“ đã được thiết lập, đặc biệt nhờ 
		vào việc cho vay những món tiền nhỏ, và thông dụng hơn, nhờ vào chương 
		trình cấp vốn nhỏ. Các chiều hướng phát triển này quả đáng khen và cần 
		được nâng đỡ. Một số vùng chậm tiến hơn trên thế giới cũng đã nhìn ra 
		những ảnh hưởng tích cực của các chương trình trên. Tuy nhiên, cũng cần 
		phải đặt ra một tiêu chuẩn phân biệt rõ ràng, là vì xem ra đã có sự bào 
		mòn í nghĩa của tính từ „đạo đức“, ai ai cũng dùng nó, mà í nghĩa thì 
		lại mông lung. Người ta có thể đi tới chỗ dùng từ ngữ này để làm bình 
		phong cho những quyết định và nghị quyết đi ngược lại công lí và hạnh 
		phúc thật sự của con người.</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">Quả thật, có nhiều điều được đánh giá 
		tuỳ theo hệ thống đạo đức mà người ta quy chiếu. Ở điểm này, học thuyết 
		xã hội của Giáo hội có một đóng góp đặc biệt. Học thuyết này coi con 
		người được Thiên Chúa dựng nên theo „hình ảnh“ Người (St 1,27); từ căn 
		bản này, con người có được một phẩm giá bất khả xâm phạm và những chuẩn 
		mực đạo đức tự nhiên cũng có được giá trị siêu việt. Một nền đạo đức 
		kinh tế không dựa trên hai cột trụ đó chắc chắn sẽ có nguy cơ biến chất 
		đạo đức và sẽ bị biến thành phương tiện; nói đúng hơn, nó sẽ có cơ nguy 
		trở thành phương tiện phục vụ nền kinh tế tài chánh đang có, chứ không 
		phải là nhân tố giúp sửa chữa những thiếu sót của chúng. Và trong muôn 
		một, nó rốt cuộc sẽ tìm cách biện minh cho việc tài trợ những chương 
		trình và dự án phản đạo đức. Hơn nữa, cũng đừng lạm dụng từ „đạo đức“ 
		trong chiều hướng í thức hệ, nghĩa là xem hễ sáng kiến nào không có cái 
		đuôi „đạo đức“ thì bị đánh giá ngay là thiếu đạo đức. Không những phải 
		cố gắng làm sao – và đây là điểm tối quan trọng! – để hình thành nên 
		được những khu vực „đạo đức“ và những lãnh vực kinh tế hay tài chánh 
		„đạo đức“, mà phải sao cho toàn nền kinh tế và toàn hệ thống tài chánh 
		có được tính đạo đức, và không những đạo đức vì nhãn hiệu bên ngoài, mà 
		còn vì tôn trọng những đòi hỏi từ nền tảng bản chất của nó. Về điểm này, 
		giáo huấn xã hội mới nhất của Giáo hội đã nhắc nhở rất rõ là, toàn bộ 
		nền kinh tế với mọi nhánh cành của nó đều chỉ là một phần lãnh vực hoạt 
		động muôn vẻ của con người[113].</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">46. Khi nhìn vào các lãnh vực hàm chứa 
		mối liên hệ giữa kinh doanh và đạo đức cũng như nhìn vào sự phát triển 
		đang diễn ra của hệ thống sản xuất, chúng ta thấy hình như việc phân 
		biệt thông thường hiện nay giữa hai loại công ti vụ lợi và bất vụ lợi 
		hoàn toàn không còn hợp với tình trạng hiện nay nữa hoặc chúng không thể 
		là khuôn mẫu hữu hiệu cho những phát triển tương lai. Trong mấy chục năm 
		qua, đã nẩy sinh thêm một lãnh vực kinh doanh lớn bên cạnh hai loại hình 
		kinh doanh cố hữu. Đó là những công ti truyền thống, nhưng họ đã kí 
		những hợp đồng tài trợ cho các quốc gia kém phát triển. Đó là những nhóm 
		công ti sẵn sàng chia phần lợi nhuận cho các nhu cầu công ích xã hội. Đó 
		là những tổ chức đa dạng đại diện cho cái gọi là nền kinh tế công và 
		kinh tế cộng đồng. Đây không những là một „lãnh vực thứ ba“, nhưng là 
		một thực tại lớn, bao quát, bao gồm trong nó vừa yếu tố tư lẫn công; các 
		công ti này tuy vẫn theo đuổi lợi nhuận, nhưng biết sử dụng nó như 
		phương tiện phục vụ cho những mục tiêu nhân bản và xã hội. Dù các công 
		ti xí nghiệp này không chia tặng lợi nhuận của họ, cũng như họ vẫn là 
		những tổ chức mang hình thái kinh doanh cố hữu, nhưng điều đó không quan 
		trọng. Quan trọng là chỗ họ biết dùng lợi nhuận như một thứ phương tiện 
		để nhân bản hoá thị trường và xã hội. Mong rằng loại hình kinh doanh này 
		được mọi nước trên thế giới hưởng ứng và cho chúng được hưởng những quy 
		chế luật phát và thuế khoá thuận lợi. Loại hình kinh doanh mới này, một 
		mặt không tạo khó khăn hay bất lợi nào cho các công ti xí nghiệp đang 
		có, mặt khác cho thấy sự lớn dậy của í thức chia sẻ trách nhiệm nơi tầng 
		lớp lãnh đạo kinh tế. Nhưng không chỉ có vậy mà thôi. Chính hình thái đa 
		dạng của định chế kinh doanh sẽ tạo nên một thị trường nhân bản và cạnh 
		tranh năng động hơn.</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">47. Việc gia tăng các loại hình kinh 
		doanh khác nhau, đặc biệt các loại có khả năng í thức và dùng lợi nhuận 
		của mình như một phương tiện để nhân bản hoá thị trường và xã hội, cũng 
		cần phải được khuyến khích thành lập trong các quốc gia bị hạn chế hoặc 
		bị đẩy ra khỏi vòng chảy của kinh tế thế giới. Trong các nước này, rất 
		cần phải đẩy mạnh các kế hoạch dựa trên nguyên tắc bổ trợ, được hoạch 
		định và quản lí tốt, nhằm củng cố các quyền lợi, đồng thời cũng luôn 
		phải đảm nhận những nhiệm vụ tương ứng. Phải đưa nhân vị lên hàng ưu 
		tiên trong các chương trình phát triển, vì nhân vị là chủ thể đầu tiên 
		phải tự mang trách nhiệm phát triển. Mục tiêu chính của các chương trình 
		này là cải thiện hoàn cảnh sống của những con người cụ thể trong một 
		vùng, để giúp họ có thể hoàn thành được nhiệm vụ mà, trong điều kiện 
		sống khó khăn hiện tại, họ không thể chu toàn được. Nỗi âu lo chẳng bao 
		giờ là một cái gì trừu tượng. Để có thể thích ứng với những hoàn cảnh 
		riêng biệt, các chương trình phát triển phải uyển chuyển; và phải làm 
		sao để cho các đối tác nhận giúp đỡ cùng trách nhiệm trong việc hoạch 
		định và để họ khoác vai diễn viên chính trong tiến trình thực hiện. Cũng 
		cần phải áp dụng những tiêu chuẩn hỗ trợ và kiểm soát – kể cả kiểm soát 
		kết quả – từng chặng theo tiến độ thực hiện, bởi lẽ chẳng có một thứ 
		công thức nào hoàn hảo cho mọi thứ mọi nơi cả. Các chương trình phát 
		triển có hữu hiệu và thành công hay không, phần nhiều tuỳ thuộc vào cung 
		cách can thiệp cụ thể. “<i>Vì các dân tộc là chủ các chương trình thăng 
		tiến của chính mình, nên họ phải ưu tiên nhận lấy gánh nặng và trách 
		nhiệm của chương trình. Tuy nhiên họ sẽ không hoàn thành được nhiệm vụ, 
		nếu họ bị cô lập</i>”[114]. Lời cảnh cáo này của giáo chủ Phao-lô VI vẫn 
		còn giá trị cho ngày nay trước bước tiến của tiến trình củng cố hội nhập 
		thế giới. Động năng liên kết tự nó chẳng phải là một cái gì mang tính cơ 
		giới. Các giải pháp phải được xây dựng trên nền tảng đánh giá chính xác 
		cuộc sống của các dân tộc và của các con người cụ thể. Bên cạnh các 
		chương trình lớn, cần có những kế hoạch nhỏ và nhất là phải làm sao động 
		viên được toàn lực xã hội dân sự, vừa cả các pháp nhân lẫn những con 
		người cụ thể.</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">Việc hợp tác quốc tế cần những người 
		sẵn sàng liên đới bằng sự tương kính và có mặt của họ, sẵn sàng chia sẻ 
		kinh nghiệm của họ cho tiến trình phát triển kinh tế và con người. Dưới 
		nhãn quan này, các tổ chức quốc tế phải tự đặt vấn đề về mức độ hữu hiệu 
		thực sự của mình trước những bộ máy bàn giấy không hiếm khi rất cồng 
		kềnh và tốn kém của họ. Nhiều khi đối tượng giúp đỡ bị biến thành phương 
		tiện của người giúp đỡ và người nghèo được dùng làm cớ cho những cỗ máy 
		bàn giấy tốn kém tìm cách cắt xén phần lớn nguồn tài trợ của các dự án 
		phát triển. Vì thế, mong sao các tổ chức quốc tế và các tổ chức phi 
		chính phủ hoạt động một cách trong sáng, bằng cách bạch hoá danh sách 
		người đóng góp, nội dung dự án và phần chi thật sự cho dự án, cũng như 
		bạch hoá những chi tiêu của chính tổ chức mình.</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">48. Ngày nay, đề tài phát triển luôn 
		gắn liền với trách nhiệm; những trách nhiệm này hình thành từ mối liên 
		hệ giữa con người đối với môi sinh. Môi sinh được Thiên Chúa trao ban 
		cho mọi người. Việc sử dụng nó đặt ra cho chúng ta trách nhiệm đối với 
		người nghèo, với các thế hệ tương lai và với cả nhân loại. Nếu vạn vật, 
		mà trước hết là con người, được coi là hoa trái của tình cờ hay của một 
		tiến hoá định mệnh, thì í thức trách nhiệm nơi lương tâm con người sẽ 
		yếu đi. Kẻ tin vào Thiên Chúa, trái lại, nhận ra trong thiên nhiên công 
		trình tạo dựng huyền diệu của Người. Công trình này con người được phép 
		sử dụng để thoả mãn các nhu cầu vật chất và tinh thần của họ, nhưng phải 
		trong tinh thần trách nhiệm và biết giữ cho thiên nhiên cân đối hài hoà. 
		Nếu thiếu cái nhìn này, con người hoặc sẽ coi thiên nhiên là bất khả xâm 
		phạm hoặc trái lại sẽ khai thác cạn kiệt nó. Cả hai thái độ đều không 
		phản ảnh quan điểm kitô giáo coi thiên nhiên là hoa trái của Tạo Hoá.</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">Thiên nhiên nói lên một kế hoạch tình 
		yêu và sự thật. Thiên nhiên có trước chúng ta và nó được Thiên Chúa trao 
		ban cho chúng ta làm không gian sống. Nó nói cho chúng ta biết về đấng 
		Tạo Hoá (xem Rom 1,20) và về tình yêu của Người đối với con người. Thiên 
		nhiên được tạo tác với mục đích là sẽ “quy tụ” lại trong đức Kitô vào 
		ngày sau hết (xem Eph 1,9-10; Col 1,19-20). Cả thiên nhiên như vậy cũng 
		là một “<i>ơn gọi</i>”[115]. Nó không phải là «<i>một đống đồ phế thải 
		vương vãi tình cờ</i>”[116] để ta sử dụng, nhưng là món qùa của Tạo Hoá. 
		Tạo Hoá ban cho nó những trật tự nội tại, để con người rút ra từ đó 
		những định hướng cần thiết “<i>hầu canh tác và chăm sóc nó</i>” (St 
		2,15). Nhưng cũng phải nhấn mạnh điểm này: Nếu coi thiên nhiên trọng hơn 
		con người thì đấy là một quan điểm phản phát triển đích thực. Quan điểm 
		này sẽ dẫn đến những thái độ tân ngoại giáo hay một thứ thuyết phiếm 
		thần mới: Một thiên nhiên được hiểu với í nghĩa thuần tuý tự nhiên không 
		thể mang đến cứu rỗi cho con người được. Trái lại, cũng phải bác bỏ quan 
		điểm ngược lại: Cố gắng tìm cách kĩ thuật hoá toàn bộ thiên nhiên. Lí do 
		là vì môi trường thiên nhiên không phải chỉ là vật chất, để chúng ta có 
		thể uốn nặn tuỳ í, song đó là công trình huyền diệu của Tạo Hoá. Công 
		trình này mang sẵn trong nó một “hệ thống văn phạm” ấn định mục tiêu và 
		các tiêu chuẩn cho việc sử dụng một cách khôn ngoan, chứ không thể độc 
		đoán và bừa bãi. Nhiều thiệt hại cho công cuộc phát triển ngày nay xuất 
		phát từ những nhận định sai trái đó. Căn nguyên của bạo lực đối với môi 
		sinh phát khởi từ quan điểm muốn giản lược thiên nhiên xuống thành một 
		mớ sự kiện đơn giản; quan điểm này cũng là đầu mối cho những hành vi bất 
		kính đối với bản chất tự nhiên của con người. Con người không chỉ thuần 
		vật chất, mà còn cả tinh thần, do đó nó mang nhiều í nghĩa cũng như 
		nhiều mục tiêu siêu việt để hướng tới, và nó cũng mang một đặc tính mẫu 
		mực cho thiên nhiên. Con người diễn dịch và kiến tạo môi trường thiên 
		nhiên nhờ văn hoá mình; văn hoá, về phần mình, lại được xác định bởi sự 
		tự do có trách nhiệm và tôn trọng các quy luật luân lí. Các kế hoạch 
		phát triển con người toàn diện, do đó, không thể không đoái tới các thế 
		hệ tương lai; chúng phải được hoạch định dựa trên tình liên đới và công 
		bằng liên thế hệ, nghĩa là phải cùng lúc quan tâm tới nhiều lãnh vực 
		khác nhau như kinh tế, luật pháp, môi sinh, chính trị và văn hoá[117].</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">49. Ngày nay, vấn đề năng lượng cũng 
		phải được quan tâm xứng đáng như những câu hỏi liên quan tới việc chăm 
		sóc và bảo vệ môi sinh. Việc thu mua các nguồn năng lượng không tái chế 
		được do một số nước, một số tổ chức và công ti có ảnh hưởng lớn chủ 
		trương được xem là một ngăn trở trầm trọng cho việc phát triển các quốc 
		gia nghèo. Các quốc gia này không có phương tiện kinh tế để khai thác 
		được những nguồn năng lượng không tái chế mà họ đang có, cũng không có 
		khả năng tài chánh để tìm kiếm những nguồn mới thay thế. Việc thu mua 
		các nguồn năng lượng tự nhiên, mà đa phần diễn ra trong các nước nghèo, 
		dẫn tới việc bóc lột và những xung đột thường xuyên giữa các quốc gia và 
		trong chính các quốc gia. Những xung đột đó thường diễn ra trên đất các 
		quốc gia nghèo với bao nhiêu hậu quả thảm khốc: chết chóc, phá hoại và 
		rồi quốc gia khánh kiệt. Cộng đồng quốc tế phải làm sao cùng với các 
		quốc gia nạn nhân nghèo tìm cho ra những con đường định chế để ngăn chận 
		việc bóc lột những nguồn tài nguyên không tái chế này và để cùng nhau 
		hoạch định tương lai chung.</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">Cả trên trận tuyến này cũng cấp thiết 
		phải có một mối liên đới mới về mặt đạo đức, đặc biệt trong quan hệ giữa 
		các nước đang phát triển và những nước tân tiến[118]. Các nước tân tiến 
		về mặt kĩ thuật có thể và phải giảm bớt mức tiêu thụ năng nượng của họ, 
		một phần bởi vì nền sản xuất của họ sẽ không bị ảnh hưởng gì nhiều, và 
		mặt khác vì người dân trong các nước này có í thức nhạy cảm hơn về vấn 
		đề môi sinh. Ngoài ra, còn phải thêm là ngày nay người ta có thể gia 
		tăng hiệu xuất của năng lượng và đồng thời có nhiều khả năng tìm ra 
		những nguồn năng lượng thay thế mới. Tuy nhiên, cũng cần phải có kế 
		hoạch mới phân chia nguồn năng lượng trên thế giới, để cho các nước tay 
		không cũng có được phần. Không thể để cho số phận của họ bị định đoạt 
		bởi lí của kẻ mạnh hay của những kẻ nhanh chân đến trước xí phần. Đấy là 
		những vấn đề quan trọng. Để giải quyết chúng một cách hiệu quả, đòi hỏi 
		mọi người phải í thức về những hậu quả có thể đổ trên đầu các thế hệ mai 
		sau, đặc biệt trên đầu nhiều người trẻ trong các nước nghèo, là những 
		người “<i>đòi hỏi phải được đóng góp phần mình vào công cuộc xây dựng 
		một thế giới tốt đẹp hơn</i>”[119].</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">50. Trách nhiệm này mang tính toàn 
		cầu, bởi vì nó không những đụng đến năng lượng, nhưng đến cả toàn tạo 
		dựng, mà chúng ta không thể phá hoại luôn phần của các thế hệ ngày mai. 
		Tạo Hoá dựng nên con người có khả năng xử sự với thiên nhiên một cách 
		trách nhiệm, để bảo vệ, sử dụng và cả canh tác nó bằng những phương pháp 
		kĩ thuật tân tiến, hầu có thể đón nhận và nuôi sống nhân loại địa cầu 
		cách xứng đáng. Địa cầu có đủ chỗ cho mọi người: Nó cung cấp đủ tài 
		nguyên cho toàn gia đình nhân loại, hầu họ có thể sống xứng đáng nhờ vào 
		chính thiên nhiên là quà tặng của Thiên Chúa cho con cái Người, nhờ vào 
		lao động và óc sáng kiến của họ. Tuy nhiên, chúng ta cần nhắc nhở về cái 
		trách nhiệm rất quan yếu là, phải để lại cho các thế hệ tương lai một 
		trái đất với tình trạng tốt đẹp, để họ cũng có thể có được một cuộc sống 
		xứng đáng trên đó và tiếp tục canh tác nó cách dồi dào. Điều này bao hàm 
		việc “<i>phải có bổn phận cùng nhau lựa chọn với í thức trách nhiệm con 
		đường nào phải đi, để làm sao tăng cường được mối ràng buộc giữa người 
		và môi sinh; mối dây này sẽ là tấm gương phản ảnh tình yêu sáng tạo của 
		Thiên Chúa – Người là nguồn gốc xuất phát của chúng ta mà cũng là cùng 
		đích mà chúng ta đang trên đường tiến về</i>”[120]. Mong sao cộng đồng 
		quốc tế và các chính quyền đừng để cho môi sinh bị sử dụng bào mòn tai 
		hại. Các giới chức thẩm quyền cũng cần phải nỗ lực bạch hoá các chi phí 
		kinh tế và xã hội trong việc sử dụng các tài nguyên môi sinh chung và cố 
		gắng chia đều chi phí đó cho những người hưởng thụ, chứ đừng bắt các thế 
		hệ tương lai phải chịu gánh nặng đó. Việc bảo vệ môi sinh, bảo vệ các 
		nguồn tài nguyên và khí hậu đòi hỏi phải có một hành động chung của các 
		thẩm quyền trách nhiệm trên bình diện quốc tế; họ cần phải sẵn sàng 
		chung tay làm việc với các vùng nghèo nhất của địa cầu trong chân thành, 
		đoàn kết, trách nhiệm và vị luật[121]. Một trong những công tác quan 
		trọng nhất của kinh tế chính là việc sử dụng hữu hiệu tối đa các nguồn 
		tài nguyên thiên nhiên, chứ không phải phung phí chúng; mà cũng cần phải 
		nhớ là chữ “hữu hiệu” ở đây không phải là một từ mang giá trị trung 
		tính.</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">51. Cách thức con người xử sự với môi 
		sinh sẽ ảnh hưởng lên cách thức họ đối xử với chính họ, và ngược lại. 
		Điều này buộc xã hội hôm nay phải nghiêm túc xét lại lối sống của họ, 
		một lối sống mà trên nhiều vùng trái đất hiện nay có khuynh hướng chạy 
		theo khoái lạc và tiêu thụ, trong khi chẳng màng gì tới những thiệt hại 
		nẩy sinh từ lối sống đó[122]. Cần phải có một chuyển hướng tinh thần 
		thực sự, để chúng ta có thể chấp nhận những lối sống mới, “<i>trong đó 
		việc tìm kiếm chân thiện mĩ và kiếm tìm mối liên hệ cộng đoàn đồng tiến 
		với những người khác sẽ là những yếu tố chỉ đạo cho việc tiêu thụ, tiết 
		kiệm và đầu tư</i>”[123]. Mỗi mất mát trong mối liên đới công dân và 
		tình huynh đệ sẽ tạo ra thương tích cho môi sinh, cũng như ngược lại, 
		mỗi thương tích đối với môi sinh lại tạo nên bất ổn cho các quan hệ xã 
		hội. Đặc biệt trong thời đại chúng ta thiên nhiên bị hoà nhập vào trong 
		động năng của các giòng chảy xã hội và văn hoá, đến nỗi nó gần như không 
		còn là một thông số độc lập nữa. Tình trạng sa mạc hoá và bần cùng hoá 
		nơi một số vùng nông nghiệp cũng là kết quả của sự nghèo nàn hoá dân cư 
		ở đó và của sự chậm tiến. Giúp cho dân cư nơi các vùng đó phát triển về 
		mặt văn hoá và kinh tế cũng là biện pháp bảo vệ thiên nhiên. Ngoài ra, 
		biết bao nhiêu tài nguyên thiên nhiên đã bị tàn phá bởi chiến tranh! Hoà 
		bình dân tộc và giữa các dân tộc cho phép ta bảo vệ thiên nhiên được 
		nhiều hơn. Việc thu mua các tài nguyên, đặc biệt tài nguyên nước, có thể 
		đưa tới những xung đột trầm trọng giữa dân chúng trong vùng. Thiên nhiên 
		và hạnh phúc của các xã hội liên quan sẽ được bảo vệ tốt hơn, nếu có một 
		thoả thuận hài hoà về việc sử dụng tài nguyên.</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">Giáo hội mang một trách nhiệm về tạo 
		dựng và cũng phải nói lên công khai trách nhiệm đó của mình. Và khi Giáo 
		hội làm điều đó thì không phải chỉ bảo vệ đất, nước và không khí là 
		những thứ quà tặng của Tạo Hoá cho mọi người. Trước hết Giáo hội phải 
		bảo vệ con người khỏi cuộc tự hủy của họ. Phải có một thứ gì đó như là 
		khoa “môi sinh học” về con người. Thật ra, sự phá hoại thiên nhiên có 
		liên hệ mật thiết với văn hoá là chất tạo khuôn sống chung cho con 
		người. Khi “môi sinh con người”[124] được xã hội coi trọng, lúc đó môi 
		sinh thiên nhiên cũng được hưởng lợi. Vì các đức hạnh của con người dính 
		kết với nhau, nên, nếu một đức hạnh bị suy yếu, thì nó sẽ kéo theo sự 
		suy yếu của toàn thể các đức hạnh khác. Hệ thống môi sinh cũng vậy, nó 
		phải được đặt nền trên việc tuân giữ một chương trình bao gồm việc chung 
		sống lành mạnh trong xã hội và cách xử sự tốt đẹp với thiên nhiên.</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">Để bảo vệ môi sinh, những biện pháp 
		khuyến khích hoặc hạn chế không thôi thì không đủ, cả việc hướng dẫn 
		thích hợp cũng chưa đủ. Đó chỉ là những trợ cụ. Vấn đề quyết định là lối 
		hành xử đạo đức của xã hội. Một khi quyền sống và việc chết tự nhiên 
		không được coi trọng, một khi việc thụ thai, mang thai và sinh nở được 
		thực hiện bằng lối nhân tạo, một khi phôi thai bị hi sinh cho việc 
		nghiên cứu, thì rốt cuộc khái niệm Môi sinh con người và khái niệm cùng 
		song hành với nó là Môi sinh thiên nhiên cũng sẽ biến mất khỏi í thức 
		chung của xã hội. Quả là chuyện mâu thuẫn, khi ta đòi hỏi các thế hệ trẻ 
		phải coi trọng môi sinh thiên nhiên, trong lúc giáo dục và luật pháp 
		chẳng giúp họ tự coi trọng chính họ. Cuốn sách thiên nhiên là một và 
		không thể tách chia, không thể tách chia cả về mặt môi trường lẫn sự 
		sống hay các lãnh vực tính dục, hôn nhân, gia đình, quan hệ xã hội, tắt 
		lại là sự phát triển toàn diện của con người. Bổn phận của chúng ta đối 
		với môi trường gắn liền với bổn phận đối với con người tự thân và trong 
		tương quan với những người khác. Không thể vừa đòi hỏi người này phải có 
		trách nhiệm trong lúc lại áp chế kẻ khác. Đó là một nghịch lí nghiêm 
		trọng trong tâm thức và thực hành của con người thời nay. Nó hạ thấp con 
		người, phá vỡ thiên nhiên và làm chấn thương xã hội.</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">52. Chúng ta không thể tạo ra sự thật 
		và thứ tình yêu chứa đựng sự thật, mà chỉ có thể đón nhận chúng. Tác giả 
		cuối cùng của chúng không phải là con người, mà là Thiên Chúa, chính 
		Người là sự Thật và Tình yêu. Nguyên tắc này rất cần cho xã hội và phát 
		triển, bởi vì cả hai không thể là sản phẩm của con người. Ơn gọi phát 
		triển của con người và các dân tộc, cũng vậy, không chỉ là một quyết 
		định do con người, nhưng là một kế hoạch đã định sẵn. Kế hoạch này có 
		trước chúng ta, và mọi người chúng ta phải tự nguyện chấp nhận nó như 
		một bổn phận phải theo. Tình yêu và sự thật là những gì đi trước chúng 
		ta và làm nên chúng ta, chúng sẽ chỉ cho ta thấy đâu là thiện hảo và đâu 
		là hạnh phúc. Như vậy, nó sẽ chỉ cho ta con đường đi tới phát triển đích 
		thực.</font></p>
		<p align="justify"><b><font size="4">CHƯƠNG NĂM</font></b></p>
		<p align="justify"><b><font size="4">SỰ HỢP TÁC CỦA GIA ĐÌNH NHÂN LOẠI</font></b></p>
		<p align="justify"><font size="4">53. Cô đơn là một trong những cái 
		nghèo thê thảm nhất mà con người có thể kinh nghiệm được. Quan sát kĩ 
		thì các cảnh nghèo khác, kể cả nghèo vật chất, cũng bắt nguồn từ cô lập, 
		không được yêu hoặc gặp khó khăn trong yêu thương. Các cảnh nghèo thường 
		bắt nguồn từ việc khước từ tình yêu thiên chúa, từ việc con người tự 
		đóng kín nơi mình cách thảm hại, vì cho rằng, chỉ có mình là đủ, hoặc 
		nghĩ rằng, mình chỉ là một “khách lạ” xuất hiện hoàn toàn tình cờ, vô 
		nghĩa và chóng qua trong vũ trụ này. Con người bị vong thân, khi nó sống 
		một mình hay bị tách khỏi thực tế, khi nó không chịu nghĩ về và chấp 
		nhận một nền tảng cho đời mình[125]. Cả nhân loại sẽ bị vong thân, khi 
		họ chỉ biết tuân theo các chương trình, í thức hệ và những mộng tưởng 
		sai lầm của họ[126]. Ngày nay xem ra nhân loại có quan hệ tương tác với 
		nhau nhiều hơn xưa: Sự gần gũi phải làm sao đưa con người đi tới một 
		cộng đồng thực sự. Công cuộc phát triển các dân tộc tuỳ thuộc trước hết 
		vào việc mọi người cùng nhận ra rằng, mình thuộc vào một đại gia đình 
		duy nhất, cùng hợp tác với nhau trong một cộng đoàn thật sự, và cộng 
		đoàn này được hình thành từ những chủ thể không phải chỉ sống bên cạnh 
		nhau mà thôi[127].</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">Giáo chủ Phao-lô VI cho hay, “<i>thế 
		giới bị bệnh, vì nó thiếu tư tưởng</i>”[128]. Câu nói này cho thấy một 
		nhận định, đặc biệt một ước mong: Cần phải có một đà tư duy mới, để mới 
		hiểu được rõ hơn thân phận lệ thuộc của mình vào một gia đình chung. 
		Những tương tác qua lại giữa các dân tộc trên địa cầu bắt chúng ta phải 
		có đà tư duy ấy, để sự hội nhập nhân loại được thực hiện trong liên 
		đới[129] chứ không phải bằng dồn nén. Một tư duy như thế buộc chúng ta 
		đồng thời phải có một cái nhìn đào sâu phê phán về phạm trù quan hệ. Đây 
		là một công tác không thể thực hiện được bởi riêng các nhà khoa học xã 
		hội; nó đòi hỏi cả kiến thức từ các lãnh vực như siêu hình học và thần 
		học, để mới thấu tỏ được phẩm giá siêu việt của con người.</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">Là một tạo vật của Thiên Trí, con 
		người hoàn thiện bản thân mình qua những quan hệ giữa người và người. 
		Càng sống thực với quan hệ đó, bản chất riêng tư của họ càng trở nên 
		chín chắn. Con người không thể hoàn thiện bằng cách tự tách ra một mình, 
		nhưng bằng cách lập quan hệ với nhau và với Thiên Chúa. Í nghĩa của các 
		quan hệ đó như vậy quả là nền tảng. Điểm này cũng đúng cho các dân tộc. 
		Ta có thể lấy hình ảnh quan hệ của con người trên đây áp dụng cho sự 
		phát triển của các dân tộc. Về điểm này, mạc khải kitô giáo sẽ giúp cho 
		lí trí sáng kiến và định hướng. Theo mạc khải kitô giáo, nhân vị không 
		bị biến tan đi trong cộng đoàn, khả năng tự quyết độc lập của nó không 
		bị tiêu huỷ, như vẫn xẩy ra trong nhiều loại thể chế độc tài. Trái lại, 
		theo lối nghĩ kitô giáo, cộng đoàn tiếp tục công nhận nhân vị, là vì 
		quan hệ giữa cá nhân và cộng đoàn là quan hệ giữa một toàn thể với một 
		toàn thể[130]. Gia đình không bao giờ nuốt trửng những thành viên tạo 
		nên gia đình đó. Chính Giáo hội cũng không xoá tan đi những “tạo vật 
		mới” (xem Ga 6,15; 2 Co 5,17) được tháp nhập vào mình qua bí tích rửa 
		tội, nhưng trái lại vẫn đề cao từng cá nhân. Thì cũng vậy, việc thống 
		hợp trong gia đình nhân loại sẽ không làm tan biến đi những con người, 
		dân tộc và các nên văn hoá, nhưng trái lại sẽ giúp họ thông suốt với 
		nhau hơn và nối kết họ chặt chẽ hơn trong sự đa dạng có quyền có của họ.</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">54. Đề tài phát triển các dân tộc cũng 
		trùng hợp với việc đưa toàn thể con người và dân tộc vào trong cộng đoàn 
		của một gia đình nhân loại, một gia đình được liên kết hình thành trên 
		nền các giá trị căn bản của hoà bình và công lí. Để hiểu quan điểm này, 
		cứ nhìn vào hình ảnh ba ngôi Thiên Chúa. Ba ngôi trong một Thiên Chúa 
		độc nhất, vì thế ba ngôi chỉ là quan hệ thuần tuý. Giữa ba ngôi vị có sự 
		trong sáng hỗ tương toàn diện và có mối liên kết trọn vẹn, vì ba ngôi là 
		một hợp nhất và duy nhất tuyệt đối. Thiên Chúa cũng muốn đón nhận chúng 
		ta vào thực tại cộng đoàn này: “<i>để họ nên một, như chúng ta nên một</i>” 
		(Gio 17,22). Giáo hội là chỉ dấu và dụng cụ của sự hợp nhất đó[131]. Cả 
		những tương quan giữa người và người trong dòng lịch sử cũng có thể nhận 
		được toàn là điều lợi từ mẫu hình thiên linh đó. Đặc biệt nhờ ánh sáng 
		mạc khải nơi mầu nhiệm Ba Ngôi chúng ta hiểu được rằng, một sự mở ra 
		đích thực không có nghĩa là bị tung vãi đi mất, nhưng lại là một thẩm 
		thấu vào chiều sâu. Điều này cũng thấy được qua kinh nghiệm chung của 
		con người về tình yêu và sự thật. Cũng như bí tích tình yêu nối hai 
		người thành “<i>một xương thịt</i>” (St 2,24; Mat 19,5; Eph 5,31) và làm 
		cho họ trở thành một kết hợp duy nhất trong quan hệ thế nào, thì sự thật 
		cũng bằng cách đó nối những gì thuộc lí trí lại với nhau và giúp chúng 
		tư duy trong hoà hợp, bằng cách thu hút chúng vào trong mình và kết hợp 
		chúng lại.</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">55. Mạc khải kitô giáo về sự hiệp nhất 
		nhân loại đòi hỏi một lối giải thích siêu hình về con người, con người 
		này mang một yếu tố nền tảng, đó là khả năng lập quan hệ. Các nền văn 
		hoá và tôn giáo khác cũng dạy về tình huynh đệ và hoà bình, và như vậy 
		cũng đặt vấn đề phát triển con người toàn diện lên vị trí quan trọng. 
		Tuy nhiên cũng có những thái độ tôn giáo và văn hoá không chấp nhận trọn 
		vẹn nguyên tắc tình yêu và sự thật, nên rốt cuộc chúng kìm hãm hoặc ngay 
		cả ngăn cản sự phát triển đích thực của con người. Thế giới ngày nay 
		đang sống trong cơn lốc của một vài nền văn hoá nhuốm màu tôn giáo chủ 
		trương không nối kết con người lại thành cộng đoàn, nhưng cô lập họ và 
		thúc đẩy họ mỗi người tìm lấy hạnh phúc riêng cho mình, bằng cách giới 
		hạn hạnh phúc này vào trong việc thoả mãn những khát vọng tâm lí. Có 
		những lối sống tôn giáo của một số nhóm hay của một số cá nhân và chủ 
		trương cào bằng tôn giáo cũng có thể là những yếu tố gây phân tán hay 
		tạo nhụt chí dấn thân. Một tác động tiêu cực có thể có của tiến trình 
		toàn cầu hoá là khuynh hướng tiếp tay cho chủ trương cào bằng tôn 
		giáo[132], qua đó nuôi sống những thứ “tôn giáo” thay vì giúp con người 
		gặp gỡ nhau thì lại khiến họ bị tha hoá và xa rời thực thế. Đồng thời 
		cũng còn có những gia sản văn hoá và tôn giáo khoá chặt con người trong 
		những giai cấp xã hội, giam hãm họ trong tin tưởng ma thuật, khinh miệt 
		nhân phẩm và bắt con người phục luỵ các mãnh lực huyền bí. Trong những 
		trường hợp này, chắc chắn sẽ có những nguy hại cho sự phát triển nhân 
		bản đích thật, vì ở đó tình yêu và sự thật khó mà chen chân và ảnh hưởng 
		được.</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">Nếu một đàng cần tôn giáo và văn hoá 
		của nhiều dân tộc khác nhau cho việc phát triển, thì đàng khác cũng cần 
		phải phân biệt đúng đắn những văn hoá và tôn giáo đó. Tự do tôn giáo 
		không có nghĩa là dửng dưng với tôn giáo và cũng không có nghĩa là mọi 
		tôn giáo đều như nhau[133]. Sự phân biệt về mặt đóng góp của các nền văn 
		hoá và tôn giáo trong việc xây dựng cộng đồng xã hội và trong việc phục 
		vụ lợi ích chung là điều cần thiết, đặc biệt cho những nhà nắm quyền 
		chính trị. Phân biệt đó phải dựa trên yếu tố tình yêu và sự thật. Vì đây 
		là điểm liên hệ quyết định cho sự phát triển con người và các dân tộc, 
		phân biệt đó cần phải để í đến hai yếu tố: khả năng giải phóng con người 
		và khả năng dẫn con người bước vào một cộng đoàn hoàn vũ thực sự. “<i>Con 
		người toàn diện và tất thảy mọi người</i>” cũng là tiêu chuẩn để đánh 
		giá các văn hoá và các tôn giáo. Kitô giáo, đạo của “<i>Thiên Chúa có 
		khuôn mặt người</i>”[134], chính là tôn giáo mang trong mình tiêu chuẩn 
		đó.</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">56. Kitô giáo và các tôn giáo khác chỉ 
		có thể đóng góp phần mình vào phát triển, khi Thiên Chúa cũng có chỗ 
		đứng trong lãnh vực công và Người có một vai trò đặc biệt trên bình diện 
		văn hoá, xã hội, kinh tế và nhất là chính trị. Học thuyết xã hội công 
		giáo hình thành là để đòi hỏi “<i>quy chế quyền công dân</i>”[135] của 
		đạo Kitô. Phủ nhận quyền công khai tuyên xưng tôn giáo của cá nhân hoặc 
		tập thể hay quyền được giảng dạy công khai về các chân lí đức tin sẽ dẫn 
		tới những hậu quả tiêu cực cho sự phát triển chân thực. Chủ trương loại 
		tôn giáo ra khỏi lãnh vực công cũng như chủ trương bảo căn tôn giáo sẽ 
		ngăn cản việc gặp gỡ giữa con người và việc cộng tác của họ cho tiến bộ 
		nhân loại. Chúng lấy đi nhiệt huyết trong cuộc sống công cộng và làm cho 
		bộ mặt chính trị ra hung hãn và khó được chấp nhận. Nhân quyền có nguy 
		cơ bị chà đạp, vì nền tảng siêu việt của chúng đã bị lấy mất hoặc vì tự 
		do cá nhân không còn được công nhận. Dưới chế độ bảo căn hay thế tục hoá 
		sẽ không thể có được cuộc đối thoại hữu hiệu và không có được sự hợp tác 
		lành mạnh giữa lí trí và niềm tin tôn giáo. Lí trí luôn cần được thanh 
		tẩy bởi đức tin; và điều này cũng đúng cho lí trí chính trị, lí trí này 
		không được phép coi mình là toàn năng. Về phần mình, tôn giáo cũng luôn 
		cần được lí trí thanh tẩy, để có thể tỏ hiện được khuôn mặt người đích 
		thực của nó. Gạt bỏ cuộc đối thoại giữa lí trí và đức tin, việc phát 
		triển nhân loại sẽ phải trả giá nặng nề.</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">57. Cuộc đối thoại tốt đẹp giữa đức 
		tin và lí trí chắc chắn sẽ làm cho tình bác ái thêm hữu hiệu và tạo 
		khung cảnh phù hợp cho sự hợp tác huynh đệ giữa kẻ tin và người vô tín 
		có cùng một mục đích dấn thân và hỗ trợ cho hoà bình và công lí nhân 
		loại. Hiến chế <i>Vui Mừng và Hi Vọng</i> viết: “<i>Người tin và kẻ 
		không tin dường như đồng quan điểm là mọi vật trên địa cầu phải được 
		hướng về con người như là trung tâm và tột đỉnh của chúng</i>”[136]. Đối 
		với kẻ tin, thế giới không phải là sản phẩm của tình cờ hay tất yếu, 
		nhưng nó là kết quả một kế hoạch của Thiên Chúa. Vì thế, kẻ tin có bổn 
		phận phải cố gắng kết hợp với những người thiện chí khác – tín đồ của 
		các tôn giáo khác hay những người không tin -, để cho kế hoạch của Thiên 
		Chúa được hiện thực trong thế giới này: trở nên một gia đình cùng chung 
		sống trong sự quan phòng của đấng Tạo Hoá. Dấu chỉ đặc trưng của tình 
		yêu và tiêu chuẩn định hướng cho hợp tác huynh đệ giữa người tin và kẻ 
		không tin chắc chắn phải là nguyên tắc bổ trợ (còn gọi là phụ đới)[137], 
		là nguyên tắc thể hiện sự tự do bất khả nhượng của con người. Nguyên tắc 
		phụ đới trước hết là một sự trợ giúp cho con người thông qua sự độc lập 
		của các nhóm và hội đoàn trung gian. Khi con người và những chủ thể xã 
		hội tự sức mình không thể hoàn thành được vai trò, thì họ sẽ nhận được 
		trợ giúp đó, và giúp đỡ này luôn hướng tới giải phóng con người, bởi vì 
		nó thúc đẩy sự tự do và sự tham gia qua việc đảm nhận trách nhiệm. 
		Nguyên tắc bổ trợ tôn trọng phẩm giá con người, coi con người là một chủ 
		thể luôn có khả năng trao tặng một cái gì cho kẻ khác. Vì nguyên tắc bổ 
		trợ công nhận tính hỗ tương là bản chất thẳm sâu nhất của con người, nên 
		nó là phương tiện hữu hiệu nhất chống lại mọi thứ hệ thống xã hội nặng 
		tính gia trưởng. Nó vừa có thể giải thích được cấu trúc đa dạng của các 
		hệ cấp xã hội và vì thế nói lên sự đa dạng của các chủ thể, lại vừa giải 
		thích được sự xếp đặt của chúng. Như vậy, đó là một nguyên tắc đặc biệt 
		thích hợp cho việc điều hướng toàn cầu hoá và hướng toàn cầu hoá phục vụ 
		cho sự phát triển con người đích thực. Để tránh rơi vào nguy cơ độc 
		quyền sức mạnh cấp hoàn vũ, việc điều hướng toàn cầu hoá phải mang tính 
		bổ trợ, nghĩa là phải đi từ nhiều cấp và từ nhiều lãnh vực khác nhau. 
		Toàn cầu hoá hẳn đòi hỏi phải có một thẩm quyền, bởi vì đây là một công 
		ích cần có sự hợp tác hoàn vũ; nhưng một thẩm quyền như thế phải được tổ 
		chức theo lối bổ trợ và đa cực<a href="http://xuanbichvietnam.wordpress.com/2010/08/30/thong-diep-tinh-yeu-trong-chan-ly/#_edn138" name="_ednref138">
		</a>[138], thì mới thực sự hữu hiệu và không làm thương tổn tự do.</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">58. Nguyên tắc bổ trợ phải đi được đi 
		liền với nguyên tắc liên đới và ngược lại. Là vì nếu thiếu liên đới, bổ 
		trợ sẽ rơi vào chủ nghĩa cục bộ xã hội; trái lại, nếu liên đới mà thiếu 
		bổ trợ thì nó sẽ rơi vào một hệ thống xã hội khống chế và áp bức kẻ cần 
		giúp đỡ. Quy luật thông thường này cũng phải được cân nhắc trong những 
		viện trợ phát triển trên bình diện quốc tế. Những viện trợ này có thể 
		khiến cho dân tộc nhận giúp đỡ trở thành lệ thuộc nước viện trợ, dù đó 
		không phải là hậu í ban đầu của nước viện trợ; chúng cũng có thể làm gia 
		tăng tình trạng độc tài và bóc lột ngay trong nước nhận viện trợ. Để cho 
		viện trợ trở nên đúng nghĩa, kẻ cho không được có hậu í xấu. Họ phải làm 
		sao có được sự cộng tác không những của chính quyền sở tại, mà cả của 
		các nhà làm kinh tế, văn hoá và giáo hội địa phương. Các chương trình 
		viện trợ phải ngày càng chú tâm nhiều hơn tới yếu tố bổ sung và tham gia 
		từ dưới. Rõ ràng trong các nước nhận viện trợ nhân sự là nguồn tài 
		nguyên lớn hơn cả: Đó là nguồn vốn đích thực phải tăng gia, để những 
		quốc gia nghèo nhất bảo đảm được tương lai độc lập thật sự cho họ. Cũng 
		phải nhớ là, trên lãnh vực kinh tế, sự trợ giúp chính yếu mà các quốc 
		gia kém phát triển cần là làm sao giúp cho hàng hoá sản phẩm của họ từng 
		bước đi vào được các thị trường thế giới, và như vậy họ có được cơ may 
		tham dự trọn vẹn vào đời sống kinh tế quốc tế. Trong quá khứ người ta 
		thường lợi dụng sự giúp đỡ để biến quốc gia nhận viện trợ thành thị 
		trường phụ tiêu thụ sản phẩm của mình. Nhưng dân chúng tại các nước này 
		thường ít có nhu cầu thực sự về những sản phẩm đó. Vì vậy, điều thiết 
		yếu là làm sao giúp cho các nước này hoàn thiện sản phẩm của họ để đáp 
		ứng nhu cầu của chính họ. Một số nước lo sợ hậu quả cạnh tranh khi nhập 
		hàng hoá – thường là sản phẩm nông nghiệp – của các nước nghèo vào. 
		Nhưng họ phải hiểu rằng, đối với các nước nghèo, bán được sản phẩm hàng 
		hoá của mình ra ngoài là cơ may sống còn của quốc gia họ. Một nền thương 
		mại công bằng và quân bình trên địa hạt nông phẩm có thể mang lợi cho 
		mọi phía, cả phía cung lẫn phía cầu. Vì lí do đó, không những cần làm 
		sao đưa sản phẩm vào thị trường, mà còn phải đặt ra những luật lệ bán 
		buôn quốc tế nhằm hỗ trợ cho những sản phẩm đó, và cần phải có những 
		chương trình tài trợ để giúp tăng năng xuất nông nghiệp nơi các nước 
		nghèo.</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">59. Hợp tác phát triển không chỉ có 
		chiều kích kinh tế mà thôi; nó phải là cơ hội tốt cho những gặp gỡ văn 
		hoá và con người. Nếu những tác nhân hợp tác trong các nước tiền tiến 
		kinh tế không quan tâm gì tới những giá trị văn hoá của mình và của 
		người cũng như những giá trị làm nên bản sắc con người, điều này vẫn xẩy 
		ra, thì họ không thể có được một cuộc đối thoại đi vào chiều sâu với 
		người dân trong các nước nghèo. Mặt khác, nếu người dân các nước nghèo 
		dửng dưng và không biết phân biệt trước những đề nghị văn hoá, thì họ sẽ 
		thiếu trách nhiệm cho tương lai phát triển của họ<a href="http://xuanbichvietnam.wordpress.com/2010/08/30/thong-diep-tinh-yeu-trong-chan-ly/#_edn139" name="_ednref139">
		</a>[139]. Các xã hội tiên tiến về mặt kĩ thuật đừng nghĩ rằng, mình 
		cũng tiến bộ hơn hẳn về mặt văn hoá, mà chính họ lâu lâu cũng phải biết 
		tái khám phá ra những đức tính đã một lần giúp họ thăng hoa trong quá 
		trình lịch sử. Những xã hội đang phát triển cần phải trung thành với 
		những truyền thống nhân bản thực sự của họ, đừng nhắm mắt nhận bừa những 
		gì do toàn cầu hoá mang đến trong cơn lốc văn minh kĩ thuật. Trong mọi 
		nền văn hoá đều có những tương đồng đạo đức cá biệt và đa dạng, chúng là 
		nét biểu hiện của cùng một bản tính con người do đấng Tạo Hoá muốn dựng 
		nên và chúng được minh triết đạo đức của nhân loại gọi là Luật tự 
		nhiên[140]. Luật luân lí phổ quát này là nền tảng vững chắc cho mọi cuộc 
		đối thoại văn hoá, tôn giáo và chính trị và nó làm cho tính đa nguyên 
		muôn dạng của các nền văn hoá khác biệt không tan biến đi trên bước hành 
		trình chung tìm về Chân, Thiện và Thiên Chúa. Sự đồng thuận nơi luật đã 
		được ghi khắc trong tim này, do đó, là điều kiện cho mọi hợp tác xã hội 
		đứng đắn. Trong mọi nền văn hoá đều có những điểm đen cần phải thoát ra 
		và những bóng tối phải tránh. Đức tin kitô giáo, một đức tin đã định 
		hình trong nhiều văn hoá và đã thăng hoa chúng, có thể giúp các nền văn 
		hoá lớn lên trong liên đới và cộng đoàn hoàn vũ, đồng thời mang lại lợi 
		ích cho chúng trên con đường phát triển chung.</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">60. Trên con đường tìm giải đáp cho 
		cuộc khủng hoảng kinh tế hiện nay, viện trợ phát triển cho các nước 
		nghèo phải được coi là một phương tiện đúng tạo ra của cải cho hết mọi 
		người. Có dự án trợ giúp nào khác có thể mang lại tăng trưởng – ngay cả 
		cho kinh tế thế giới – bằng việc hỗ trợ các dân tộc đang bắt đầu hay đã 
		tiến lên đôi chút trên bước đường phát triển kinh tế? Như vậy, các nước 
		tiên tiến kinh tế cần bằng mọi cách nâng cao chỉ số phần trăm tiền viện 
		trợ phát triển trích từ tổng thu nhập quốc gia của mình, ở đây họ dĩ 
		nhiên cũng phải tuân giữ những cam kết mà họ đã chấp nhận trước cộng 
		đồng quốc tế. Họ có thể thực hiện điều này bằng cách duyệt lại chính 
		sách an sinh và liên đới xã hội của nước mình, bằng cách áp dụng nguyên 
		tắc bổ trợ và tạo cơ hội cho các tư nhân và xã hội dân sự tham gia vào 
		những hệ thống an sinh đã đạt được mức hội nhập cao. Bằng cách đó, họ có 
		thể vừa cải thiện chế độ an sinh xã hội vừa tiết kiệm được tiền – kể cả 
		qua thanh toán nạn phung phí và lạm dụng lương bổng – dành cho công tác 
		liên đới quốc tế. Một hệ thống liên đới xã hội có sự tham gia rộng lớn 
		và tổ chức thông suốt hơn, ít nặng tính bàn giấy hơn, hi vọng sẽ tập 
		trung được những nguồn lực tiềm tàng hiện nay vào công cuộc xây dựng 
		đoàn kết các dân tộc.</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">Một nguồn tiền viện trợ phát triển 
		khác cũng có thể tập trung được bằng việc sử dụng hiệu quả cái gọi là 
		nguyên tắc bổ trợ về thuế khoá, nguyên tắc này cho phép người dân tự 
		quyết định mục đích chi tiêu trên một phần số thuế mà họ đóng cho nhà 
		nước. Nếu tránh được những phân tán cục bộ, thì cách đó có thể sẽ tạo 
		nên những hình thái liên đới xã hội xuất phát từ người dân, cách này dĩ 
		nhiên cũng đánh thức dậy nơi họ tinh thần liên đới cho công tác phát 
		triển.</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">61. Tình liên đới rộng rãi hơn trên 
		bình diện quốc tế được thể hiện đặc biệt qua việc tiếp tục trợ giúp – dù 
		trong hoàn cảnh khủng hoảng kinh tế – để mở rộng giáo dục ra cho thật 
		nhiều người. Giáo dục tự nó cũng là điều kiện cơ bản giúp cho hợp tác 
		quốc tế được hữu hiệu. Khái niệm „giáo dục“ không đóng khung trong học 
		vấn trường lớp và dạy nghề mà thôi, cả hai đều là nền tảng quan trọng 
		cho phát triển, nhưng bao gồm toàn bộ huấn luyện con người. Về điểm này, 
		cần phải nhấn mạnh tới một khía cạnh gai góc: Khi giáo dục, ta phải biết 
		con người là gì và đâu là bản tính của nó. Việc khắng định bản tính con 
		người chỉ là tương đối sẽ tạo ra nhiều vấn nạn gia trọng cho giáo dục, 
		đặc biệt giáo dục đạo đức, vì í nghĩa của quan niệm đó sẽ ảnh hưởng lên 
		tầm phổ quát. Một khi chủ trương tương đối đó thắng thế, mọi sự sẽ trở 
		nên nghèo đi. Và điều này sẽ đưa đến những hậu quả tiêu cực, kể cả làm 
		cho việc trợ giúp các dân tộc túng khổ mất đi hiệu năng. Các dân tộc này 
		không những cần các phương tiện kinh tế và kĩ thuật, mà cả những khả thể 
		và phương tiện sư phạm giúp cho họ hoàn thiện bản thân.</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">Một thí dụ cho thấy tầm quan trọng của 
		vấn đề là hiện tượng du lịch quốc tế[141], vốn có thể là một yếu tố quan 
		yếu cho việc phát triển kinh tế và văn hoá, nhưng cũng có thể là dịp bóc 
		lột và tạo sa đoạ luân lí. Tình trạng thế giới hiện nay cho ta nhiều cơ 
		hội tuyệt hảo, vì các khía cạnh kinh tế của phát triển, nghĩa là những 
		giao lưu tiền bạc và bước đầu của những kinh nghiệm kinh doanh quan 
		trọng tại chỗ, có thể nối liền với các khía cạnh văn hoá, mà trước hết 
		là giáo dục. Trong nhiều trường hợp, cơ hội trên đã diễn ra. Nhưng cũng 
		không thiếu trường hợp trong đó du lịch quốc tế đã là một biến cố phản 
		giáo dục cho người du lịch lẫn dân chúng địa phương. Dân chúng địa 
		phương thường phải đứng trứơc những lối hành xử vô luân hay đồi bại, như 
		trường hợp gọi là du lịch tình dục, mà nhiều người đã là nạn nhân, kể cả 
		các em thiếu niên. Thật đau lòng là điều này xẩy ra thường với sự đồng í 
		của chính quyền địa phương, với sự im tiếng của các chính quyền của du 
		khách và với sự toa rập của rất nhiều cơ quan du lịch. Cả khi những 
		trường hợp xấu kia không xẩy ra, du lịch quốc tế cũng không hiếm khi 
		nặng tính tiêu thụ và ăn chơi hoang phí, nó được các quốc gia du khách 
		tổ chức như những cuộc chạy trốn, hoàn toàn bất lợi cho những gặp gỡ 
		thật sự giữa các văn hoá và giữa người với người. Vì thế, cần phải nghĩ 
		tới một cách du lịch khác có khả năng tạo gặp gỡ quen biết, mà vẫn giữ 
		được mục tiêu nghỉ ngơi và giải trí. Lối du lịch này – có được cũng là 
		nhờ sự liên kết chặt chẽ kinh nghiệm của sự hợp tác quốc tế và thuận lợi 
		cho phát triển – cần phải được khuyến khích.</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">62. Một khía cạnh khác cũng cần được 
		quan tâm về phương diện phát triển con người toàn diện là hiện tượng di 
		dân. Hiện tượng này gây chấn động, vì số lượng người di dân đông đảo, vì 
		nó tạo ra những vấn nạn xã hội, kinh tế, chính trị, văn hoá và tôn giáo, 
		vì nó tạo ra những thách đố to lớn cho các quốc gia và cho các cộng đồng 
		quốc tế. Có thể nói, chúng ta đang đứng trước một hiện tượng xã hội mang 
		tính thời đại, đòi hỏi phải có một chính sách mạnh và viễn kiến của sự 
		hợp tác quốc tế, hầu có thể giải quyết nó một cách thích ứng. Chính sách 
		này phải được xuất phát từ sự hợp tác chặt chẽ giữa các quốc gia gốc và 
		các quốc gia nhận cư. Nó phải được căn cứ theo các yêu cầu quốc tế, để 
		tạo hài hoà cho các trật tự pháp lí khác nhau, hầu vừa bảo vệ người di 
		dân và gia đình họ vừa bảo vệ chính quốc gia tiếp cư. Không một quốc gia 
		đơn lẻ nào có thể giải quyết được các vấn nạn di dân ngày nay. Chúng ta 
		tất cả đều là nhân chứng của gánh nặng và khổ đau, của mất mát và hi 
		vọng xuất phát từ các giòng người di dân. Rõ ràng việc điều hướng hiện 
		tượng di dân quả không đơn giản. Nhưng dù có những khó khăn trong vấn đề 
		hội nhập, người di dân, với sức lao động của họ, là một đóng góp không 
		nhỏ cho sự phát triển kinh tế của nước nhận cư, và hơn nữa, qua số tiền 
		gởi về quê hương, họ góp phần vào việc phát triển quốc gia họ. Không thể 
		coi những người thợ mới này như hàng hoá hay đơn thuần là sức lao động. 
		Họ không thể bị đối xử như một yếu tố sản xuất nào đó. Mỗi người di dân 
		là một nhân vị. Là nhân vị, họ có những quyền bất khả nhượng, đòi hỏi 
		phải được tôn trọng bởi tất cả mọi người trong mọi hoàn cảnh [142].</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">63. Khi bàn về vấn đề phát triển, 
		người ta buộc phải nhấn mạnh tới mối liên hệ trực tiếp giữa nghèo và 
		thất nghiệp. Trong nhiều trường hợp, nghèo là vì thiếu tôn trọng “phẩm 
		giá” của lao động con người: Một đàng người nghèo bị mất đi một số cơ 
		may (thất nghiệp, trả lương thấp); đàng khác, “<i>các quyền xuất phát từ 
		lao động, nhất là quyền được trả lương tương xứng và quyền an ninh của 
		người lao động và gia đình họ, đã bị tước mất</i>” [143]. Vì thế, nhân 
		dịp ngày lễ lao động 01.05.2000, vị tiền nhiệm đáng nhớ của tôi là 
		Gio-an Phao-lô II đã đưa ra lời kêu gọi về một “<i>liên minh toàn thế 
		giới cổ vũ cho lao động xứng đáng</i>” [144]; làm thế là ngài đã hỗ trợ 
		cho chiến lược của Tổ chức Lao động Quốc tế. Bằng cách đó, ngài đã yểm 
		trợ mạnh mẽ về mặt đạo đức cho mục tiêu mà các gia đình trong mọi quốc 
		gia trên thế giới vẫn mong ước đạt tới. Chữ “phẩm giá” dùng cho lao động 
		ở đây có nghĩa gì? Nó có nghĩa là một công việc nói lên phẩm giá căn cơ 
		của mỗi một người nam người nữ trong mọi xã hội: một công việc do mình 
		tự do chọn lựa, nó cho phép những người lao động, nam lẫn nữ, dự phần 
		hữu hiệu vào việc phát triển xã hội của họ đang sống; một công việc mà 
		nhờ có nó người lao động được tôn trọng mà không bị kì thị; một công 
		việc giúp thoả mãn các nhu cầu gia đình và giúp cho con cái được đi học, 
		chứ không buộc phải đi làm như cha mẹ chúng; một công việc cho phép 
		những người lao động tự do kết thành nghiệp đoàn để nói lên tiếng nói 
		phải được quan tâm của họ; một công việc tạo không gian đủ lớn cho họ để 
		họ tìm lại được cội nguồn cá nhân, gia đình và tinh thần của họ; một 
		công việc bảo đảm cuộc sống cho người lao động lúc về hưu.</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">64. Khi suy nghĩ về đề tài lao động, 
		cũng cần nhắc tới một nhu cầu khẩn thiết là các tổ chức công đoàn của 
		người lao động, vốn được sự hỗ trợ và giúp đỡ của Giáo hội, phải mở ra 
		cho những viễn tượng mới xuất hiện trong lãnh vực lao động. Ngoài việc 
		giải quyết những vấn nạn vốn có của mình, các tổ chức công đoàn hãy quan 
		tâm tới những vấn đề mới của xã hội chúng ta. Tôi muốn nói tới, chẳng 
		hạn, toàn bộ những vấn đề mà các nhà khoa học xã hội đã nhìn ra qua mối 
		xung đột giữa người lao động và người tiêu thụ. Dù không nhất thiết phải 
		ủng hộ lập luận có một tiến trình chuyển đổi thành công từ vai trò căn 
		bản của người lao động sang vai trò chính yếu của người tiêu thụ, thì 
		xem ra đây cũng là một lãnh vực đáng để các tổ chức công đoàn phát huy 
		kinh nghiệm mới. Khung cảnh toàn cầu của lao động hiện nay cũng đòi hỏi 
		các tổ chức công đoàn quốc gia, ngoài việc bảo vệ quyền lợi cho thành 
		viên mình, phải nhìn rộng ra những người không phải là thành viên và đặc 
		biệt là các công nhân lao động trong các quốc gia đang phát triển, nơi 
		các quyền xã hội thường bị vi phạm. Bảo vệ những đối tượng này, kể cả 
		bằng cách đưa ra những sáng kiến phù hợp cho quốc gia nơi mình cư ngụ, 
		cho phép các tổ chức công đoàn nêu bật lên những lí do đạo đức và văn 
		hoá đích thực, mà họ đã có được – trong một khung cảnh xã hội và lao 
		động khác – để trở thành một yếu tố quyết định cho việc phát triển tại 
		quốc gia họ. Giáo huấn truyền thống của Giáo hội về nhu cầu phải phân 
		biệt vai trò và nhiệm vụ giữa tổ chức công đoàn và chính trị luôn vẫn có 
		giá trị. Việc phân biệt này cho phép các tổ chức công đoàn tìm ra được 
		lãnh vực sinh hoạt phù hợp nhất cho họ trong xã hội dân sự, để bảo vệ và 
		thăng tiến thế giới lao động, đặc biệt nói lên những âu lo ít được xã 
		hội để í của những người lao động ngoài tổ chức đang bị bóc lột.</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">65. Ngoài ra, cũng cần phải cải tiến 
		cơ cấu và quy chế hoạt động của định chế tài chánh. Ta thấy, thời gian 
		qua, định chế này đã gây thiệt hại cho nền kinh tế thế giới thế nào. Có 
		cải tiến, thì nó mới lại trở nên một dụng cụ tạo tài sản và thúc đẩy 
		phát triển hữu hiệu hơn. Toàn bộ nền kinh tế và nền tài chánh – chứ 
		không phải chỉ một vài lãnh vực của chúng – phải được sử dụng như các 
		công cụ song hành với những tiêu chuẩn đạo đức. Có như thế chúng mới tạo 
		ra được những tiền đề thích hợp cho việc phát triển con người và các dân 
		tộc. Cần và trong nhiều trường hợp phải nhất thiết đưa ra những sáng 
		kiến tài chánh mang nặng tính chất nhân bản. Tuy nhiên, ta cũng không 
		được quên rằng, hệ thống tài chánh nói chung phải có mục đích nâng đỡ 
		phát triển đích thực. Nhất là không được quan niệm rằng, í hướng làm 
		điều tốt cũng còn phải tuỳ thuộc vào khả năng sản xuất của cải thật sự. 
		Các nhà tài chánh phải biết tái khám phá ra nền tảng đạo đức của công 
		việc họ làm, để đừng lạm dụng những dụng cụ tân tiến cho việc lừa gạt 
		những người tiết kiệm. Không bao giờ được tách í hướng ngay thẳng và sự 
		minh bạch ra khỏi việc tìm kiếm lợi nhuận. Nếu tình yêu có trí khôn, thì 
		nó cũng có thể tìm ra những phương tiện giúp cho việc kinh doanh có được 
		tầm nhìn xa và công bằng, như những kinh nghiệm trên địa hạt hợp tác xã 
		tín dụng đã cho thấy.</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">Cần phải đào sâu và hỗ trợ những kinh 
		nghiệm tích cực cũng như kêu gọi trách nhiệm riêng của những người kí 
		thác tiết kiệm cả trong việc điều hoà lãnh vực chống đầu cơ tai tiếng và 
		bảo vệ những chủ thể yếu kém lẫn trong việc tìm kiếm những hình thái tài 
		chính mới nhằm hỗ trợ cho các dự án phát triển. Cả kinh nghiệm của hệ 
		thống tài chính vi mô, một hệ thống có gốc rễ từ suy tư và hành động của 
		các nhà nhân bản tư sản – ở đây tôi nghĩ đặc biệt tới việc hình thành 
		những cơ sở cầm đồ -, cần phải được khuyếch trương mạnh hơn, đặc biệt 
		trong thời điểm này, là thời điểm trong đó khủng hoảng tài chánh có thể 
		trở nên thảm khốc. Đây là lúc mà nhiều thành phần bất hạnh trong dân 
		chúng cần phải được bảo vệ, để họ tránh rơi vào tay những kẻ cho vay 
		nặng lãi hoặc tránh khỏi rơi vào vô vọng. Phải chỉ cho những chủ thể bất 
		hạnh biết cách chống lại kẻ cho vay nặng lại. Cũng cần chỉ cho các dân 
		tộc nghèo biết cách sử dụng những khoản tiểu tín dụng. Có như thế mới 
		kìm hãm được các mánh lới bóc lột trong hai địa hạt này. Vì trong các 
		nước giàu cũng có những hình thái nghèo mới, nên phương thức tiểu tín 
		dụng có thể cũng là cách giúp tìm ra được những sáng kiến hay lãnh vực 
		mới, giúp cho các thành phần xã hội yếu kém tránh khỏi nghèo túng thêm.</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">66. Mạng lưới liên kết toàn cầu đã làm 
		nảy sinh ra một sức mạnh chính trị mới, đó là sức mạnh của giới tiêu thụ 
		và các hội đoàn của họ. Đây là một hiện tượng cần tìm hiểu, vì nó hàm 
		chứa những yếu tố tích cực cần phải được hỗ trợ, cũng như có những quá 
		lạm cần phải tránh. Điểm tích cực là con người hiểu ra rằng, mua bán 
		không chỉ là một hành vi kinh tế mà thôi, song cũng luôn là một hành vi 
		đạo đức. Vì thế, người tiêu thụ có trách nhiệm xã hội rõ ràng song song 
		với trách nhiệm xã hội của giới kinh doanh. Cần phải liên tục giáo dục 
		cho giới tiêu thụ về vai trò thường ngày vẫn làm của họ [145], để họ có 
		thể thực thi vai trò đó dựa theo các nguyên tắc đạo đức, mà vẫn không 
		coi thường hành vi mua bán kinh tế. Chính trong những thời điểm khó khăn 
		hôm nay, trong đó sức mua có thể giảm sút và sự tiêu dùng có thể phải 
		hạn chế, ta cần nghĩ tới những con đường khác trong lãnh vực mua sắm, 
		chẳng hạn tới các hợp tác xã mua sắm cũng như các hợp tác xã tiêu thụ, 
		đó là những mô thức hình thành từ thế kỉ 19 do sáng kiến của các kitô 
		hữu. Hơn nữa, cần phải nâng đỡ những hình thức tiếp thị mới cho các sản 
		phẩm từ các vùng đất thế giới bị áp bức, để bảo đảm cho người lao động 
		sản xuất các nơi đó có được đồng lương xứng đáng. Muốn thế, thì thị 
		trường phải thật sự minh bạch, những người sản xuất phải không những có 
		được đồng lương cao, mà còn nhận được một nền giáo dục, những kiến thức 
		nghề nghiệp và những phương tiện kĩ thuật tốt hơn, và rốt cuộc, với 
		những kinh nghiệm kinh tế đó, họ có thể tự đo đóng góp vào việc phát 
		triển mà không phải tuân theo một í thức hệ đảng phái nào. Nếu chính 
		người tiêu thụ không bị lợi dụng bởi các hội đoàn không thực sự đại diện 
		cho họ, thì vai trò hữu hiệu của họ sẽ là một yếu tố góp phần dân chủ 
		hoá nền kinh tế.</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">67. Trước sự tương thuộc thế giới ngày 
		càng tăng cũng như trước ảnh hưởng của cuộc suy thoái kinh tế thế giới, 
		cả Liên hiệp quốc lẫn các tổ chức kinh tế và tài chánh quốc tế cần phải 
		được cải tổ lại, để nhờ đó quan niệm về một đại gia đình các dân tộc hi 
		vọng có được hình dáng cụ thể và thực hữu. Cũng cần phải gấp rút tìm ra 
		những hình thức mới cho việc áp dụng nguyên tắc trách nhiệm bảo vệ [146] 
		và cho tiếng nói của các quốc gia nghèo có được trọng lượng trong các 
		quyết định quốc tế chung. Cần có một trật tự chính trị, luật pháp và xã 
		hội hỗ trợ việc hợp tác quốc tế và hướng nó vào công cuộc phát triển 
		liên đới giữa mọi dân tộc. Cần khẩn cấp hình thành nên một thẩm quyền 
		chính trị thế giới có thực chất, cơ chế mà vị tiền nhiệm của tôi là chân 
		phước Gio-an XXIII đã nói tới, để điều hướng kinh tế thế giới, để giúp 
		chỉnh đốn lại nền kinh tế các nước bị khủng hoảng kinh tế, để kịp thời 
		chận đứng hậu quả khủng hoảng và không để nó mở rộng thêm bất bình đẳng 
		giữa các dân tộc, để thực hiện được một kế hoạch giảm vũ trang toàn bộ 
		và thích ứng, để nuôi dưỡng an ninh và hoà bình thế giới, để gìn giữ môi 
		sinh và điều phối các làn sóng di dân. Thẩm quyền này phải tuân phục 
		luật pháp, phải tuân giữ triệt để các nguyên tắc phụ đới và liên đới và 
		phải nhắm tới thực hiện công ích [147] cũng như phải phục vụ thật sự cho 
		việc phát triển con người toàn diện, một phát triển được khơi nguồn từ 
		các giá trị của tình yêu và sự thật. Ngoài ra, thẩm quyền này phải được 
		mọi nước chấp nhận, phải có quyền hành thực sự, hầu bảo đảm an ninh, gìn 
		giữ công lí và bảo đảm sự tôn trọng luật pháp cho mọi thành viên [148]. 
		Dĩ nhiên thẩm quyền đó phải có khả năng buộc các thành viên tuân giữ các 
		quyết định cũng như các biện pháp do các nghị hội đưa ra. Nếu thiếu điều 
		này, thì dù có đạt được tiến triển trên nhiều lãnh vực khác nhau, luật 
		quốc tế sẽ có cơ nguy bị lèo lái bởi cán cân quyền lực của những kẻ 
		mạnh. Sự phát triển toàn diện các dân tộc và sự hợp tác quốc tế đòi hỏi 
		phải thiết lập cấp độ trật tự quốc tế cao hơn mang tính cách bổ trợ để 
		điều hướng toàn cầu hoá [149]; và cuối cùng, chúng đòi hỏi phải thực 
		hiện cho được một trật tự xã hội phù hợp với trật tự đạo đức cũng như 
		thực hiện cho được sự liên kết giữa bình diện đạo đức và xã hội, giữa 
		chính trị với các bình diện kinh tế và dân sự, tất cả những liên kết này 
		đã được nói tới trong các điều lệ của Liên hiệp quốc.</font></p>
		<p align="justify"><b><font size="4">CHƯƠNG SÁU</font></b></p>
		<p align="justify"><b><font size="4">PHÁT TRIỂN CÁC DÂN TỘC VÀ KỸ THUẬT</font></b></p>
		<p align="justify"><font size="4">68. Phát triển các dân tộc có liên hệ 
		mật thiết với phát triển từng con người toàn diện. Bản chất con người là 
		luôn tiến tới trên đường phát triển chính mình. Đây không phải là một 
		phát triển mang tính máy móc tự nhiên, bởi mỗi người chúng ta đều biết, 
		con người vốn có khả năng quyết định cho mình một cách tự do và trách 
		nhiệm. Đây cũng không phải là một phát triển tuỳ tiện, là vì tất cả mọi 
		người đều biết, chúng ta là một quà tặng chứ không phải là sản phẩm của 
		chính chúng ta. Từ nguồn cội, chính hữu thể của ta và giới hạn của nó 
		xác định mức độ tự do ở trong ta. Không ai tự hình thành cho mình một í 
		thức riêng, nhưng mọi người đều xây dựng cái “tôi” (Ich) của mình dựa 
		trên nền tảng của một “nhân tính” (Selbst) đã được Tạo Hoá ban sẵn. 
		Chúng ta chẳng có quyền gì trên người khác và cả trên chính mình. Sự 
		phát triển con người sẽ trở nên méo mó, nếu họ tự mãn, coi mình là tác 
		giả của chính mình. Cũng vậy, sự phát triển các dân tộc cũng sẽ lệch 
		đường, nếu nhân loại nghĩ rằng, họ có thể tự tạo ra họ bằng “phép lạ” kĩ 
		thuật. Sự phát triển kinh tế cũng không ra ngoài con đường đó; bởi hoàn 
		toàn tin rằng, các “phép lạ” của thế giới tài chánh có thể thúc đẩy tăng 
		trưởng một nền kinh tế giả tạo và nặng tính tiêu thụ, nên phát triển 
		kinh tế đã cho ta thấy thực chất ảo và nguy hại của nó. Trước nỗi kiêu 
		căng quá lạm đó, chúng ta phải tăng cường tình yêu của ta cho một thứ tự 
		do nhiều nhân tính hơn, tự do này biết chấp nhận nguồn gốc thiện hảo đã 
		có trước, chứ không độc đoán tự tung tự tác. Do đó con người phải tĩnh 
		trí lại, để nhận biết những quy tắc nền tảng của luật luân lí tự nhiên, 
		thứ luật mà Thiên Chúa đã ghi khắc nơi tâm họ.</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">69. Ngày nay, vấn đề phát triển đi 
		liền với tiến bộ kĩ thuật và với những áp dụng ngoạn mục của nó trong 
		lãnh vực sinh học. Cần nhấn mạnh rằng, kĩ thuật là một thực tại mang 
		tính nhân văn sâu xa, nó gắn liền với sự độc lập và tự do con người. Kĩ 
		thuật là dấu chỉ và minh chứng cho sự chiến thắng của tinh thần trên vật 
		chất. “<i>Được thoát khỏi thân phận nô lệ thế giới sự vật, tinh thần con 
		người có thể ngửng cao đầu để chiêm ngưỡng và thờ lạy Tạo Hoá</i>” 
		[150]. Kĩ thuật cho phép ta làm chủ vật chất, giảm thiểu rủi ro, tiết 
		kiệm công sức, cải thiện các điều kiện sống. Nó phù hợp với ơn gọi đúng 
		nghĩa của lao động con người: Kĩ thuật được coi là công trình của tinh 
		thần; qua kĩ thuật, con người nhận ra chính mình và kiện toàn thân phận 
		người của mình. Kĩ thuật là khía cạnh khách quan của lao động con người 
		[151]; nguồn gốc và quyền hiện hữu của nó nằm nơi yếu tố chủ quan: con 
		người lao động. Vì thế kĩ thuật không bao giờ chỉ là kĩ thuật. Nó cho ta 
		thấy con người và nỗ lực phát triển của họ; nó nói lên tình trạng căng 
		thẳng của tinh thần con người trên hành trình từng bước chế ngự một số 
		lệ thuộc vật chất nào đó. Vì vậy, kĩ thuật có nhiệm vụ “<i>canh tác và 
		bảo vệ địa cầu</i>” (xem Xh 2,15) – một nhiệm vụ được Thiên Chúa giao 
		cho con người – và phải hướng tới việc thắt chặt mối liên kết giữa con 
		người và môi sinh, nó phải là tấm gương phản chiếu tình yêu sáng tạo của 
		Thiên Chúa.</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">70. Một khi con người chỉ biết quan 
		tâm tới câu hỏi “thế nào”, mà chẳng màng chi tới câu hỏi “tại sao” – 
		chính cái “tại sao” này lại là động lực thúc đẩy con người hành động -, 
		thì phát triển kĩ thuật có thể đưa họ tới chỗ nghĩ rằng, họ chỉ cần kĩ 
		thuật là đủ, chẳng cần gì ngoài khác. Đó là lí do khiến khuôn mặt kĩ 
		thuật trở nên hàm hồ. Từ một sản phẩm của trí óc con người và được xem 
		như là dụng cụ của tự do nhân vị, kĩ thuật được tôn lên thành như yếu tố 
		của tự do tuyệt đối, tự do này chẳng còn muốn nhìn nhận những giới hạn 
		vốn có trong nó nữa. Tiến trình toàn cầu hoá xem ra có thể dùng kĩ thuật 
		để thay thế các í thức hệ [152]. Chính kĩ thuật như vậy đã trở thành một 
		quyền lực í hệ đẩy nhân loại vào tình trạng tự khép kín nơi mình, và họ 
		chẳng còn thoát ra được nữa, để mà gặp gỡ hữu thể và sự thật. Trong hoàn 
		cảnh này, xem ra chúng ta tự giới hạn hoàn cảnh sống mình vào trong một 
		chân trời văn hoá thuần kĩ thuật, để rồi chúng ta nhận diện, đánh giá và 
		xác định mọi chuyện dựa theo chân trời đó, mà không còn nhận ra được nữa 
		cái í nghĩa vốn không thể do chính chúng ta tạo ra được. Con người ngày 
		nay bị ảnh hưởng nặng bởi lối nghĩ duy kĩ thuật này, khiến họ đánh đồng 
		sự Thật cũng là Cái do chính họ có thể tạo ra. Tuy nhiên, nếu tính hiệu 
		năng và ích dụng là tiêu chuẩn duy nhất của chân lí, thì đương nhiên sẽ 
		không còn phát triển. Là vì sự phát triển đích thực trước hết không hệ 
		tại nơi việc “làm”. Chìa khoá của phát triển là một đầu óc có khả năng 
		suy nghĩ thấu đáo kĩ thuật và nắm bắt được được í nghĩa nhân văn sâu xa 
		của hành động con người trong khung cảnh í nghĩa toàn diện của hiện hữu 
		nhân sinh. Cả cho dù khi hành động con người được điều khiển bởi các vệ 
		tinh hay bởi các nút bấm điện tử từ xa, thì hành động của họ vẫn luôn 
		mang tính người, vẫn là một biểu lộ của tự do trong trách nhiệm. Con 
		người bị kĩ thuật cuốn hút, bởi vì kĩ thuật giúp họ phá vỡ được những 
		hạn chế thể lí và mở rộng chân trời cho họ. Nhưng tự do con người chỉ 
		thật sự đúng nghĩa, khi nó biết đáp trả lại sự cuốn hút kĩ thuật bằng 
		những quyết định vốn là hoa trái của trách nhiệm đạo đức. Vì thế, phải 
		cấp thiết dạy cho con người về trách nhiệm đạo đức trong việc sử dụng kĩ 
		thuật. Chúng ta phải thoát ra khỏi cơn mê kĩ thuật để tìm lại í nghĩa 
		đích thực của tự do, không phải thứ tự do hoàn toàn độc lập, nhưng là 
		thứ biết đáp trả lại lời mời gọi của hữu thể, khởi đầu với chính hữu thể 
		chúng ta.</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">71. Lối nghĩ lệch lạc thuần kĩ thuật 
		khởi đầu từ lãnh vực nhân văn, ngày nay ta thấy nó xuất hiện qua những 
		hiện tượng kĩ thuật hoá cả vấn đề phát triển lẫn hoà bình. Việc phát 
		triển các dân tộc ngày nay thường được coi là một vấn đề thuần kĩ thuật, 
		như chỉ cần làm sao tài trợ cho đúng, phải mở rộng thị trường, phải giảm 
		thuế quan, tăng đầu tư, phải cải tổ định chế… Tất cả những thứ đó đều vô 
		cùng quan trọng, nhưng thử hỏi, tại sao những quyết định thuần kĩ thuật 
		kia cho đến nay vẫn không mang lại kết quả khả quan. Phải tìm ra những 
		lí do sâu hơn. Phát triển không bao giờ được bảo đảm hoàn toàn bởi những 
		lực tự động và vô hồn – dù đó là lực của thị trường hay lực của chính 
		trị quốc tế. Nó không thể có được, nếu không có những con người ngay 
		chính, nếu không có những chính trị gia và chuyên viên kinh tế biết đáp 
		lại tiếng gọi của công ích với tất cả lương tâm mình. Cần phải có cả sự 
		chuẩn bị nghề nghiệp lẫn í thức đạo đức. Một khi kĩ thuật được tuyệt đối 
		hoá, người ta sẽ lẫn lộn giữa mục tiêu và phương tiện; tiêu chuẩn hành 
		động duy nhất của nhà kinh doanh lúc đó sẽ là tìm lợi nhuận tối đa; của 
		nhà chính trị sẽ là củng cố quyền lực; của nhà khoa học sẽ là kết quả 
		của những khám phá của họ. Nếu tình trạng đó xẩy ra, mạng lưới quan hệ 
		kinh tế, tài chánh và chính trị sẽ tiếp tục tạo ra những khó hiểu, khó 
		chịu và bất công; các làn sóng kiến thức kĩ thuật chuyên môn sẽ gia 
		tăng, nhưng chỉ có lợi cho những người sở hữu chúng, còn tình trạng thật 
		sự của đại đa số các dân tộc, vốn sống bên ngoài và dưới bóng những làn 
		sóng đó, vẫn không thay đổi và vẫn không có được cơ may thăng tiến.</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">72. Cả hoà bình cũng không có cơ thành 
		sự, khi nó được quan niệm như một sản phẩm kĩ thuật, nghĩa là như kết 
		quả của những hiệp ước giữa các chính quyền hay kết quả của các sáng 
		kiến viện trợ kinh tế hữu hiệu. Muốn xây dựng hoà bình, cần có những 
		liên lạc ngoại giao không ngưng nghỉ, cần những trao đổi kinh tế và kĩ 
		thuật, những gặp gỡ văn hoá, cần có những thoả thuận về í hướng chung 
		cũng như về việc tuân thủ những cam kết chung, hầu giảm thiểu những đe 
		doạ chiến tranh và tiêu diệt các mầm mống khủng bố. Đúng, tất cả những 
		điều trên cần phải có. Nhưng, nếu muốn cho những nỗ lực này có được hiệu 
		quả lâu dài, chúng phải được đặt nền trên các giá trị cắm rễ nơi chân lí 
		cuộc sống. Điều này có nghĩa là phải biết lắng nghe tiếng kêu của các 
		dân tộc trong cuộc để hiểu ra đúng đắn nguyện vọng của họ. Ở điểm này, 
		chúng ta phải luôn đứng chung chiến tuyến với nỗ lực âm thầm của biết 
		bao nhiêu người vẫn hằng dấn thân cho những gặp gỡ và cho sự phát triển 
		trên nền tảng yêu thương và thông cảm giữa các dân tộc. Trong số những 
		người đó có các kitô hữu. Họ cùng chung tay vào công tác lớn: đem đến 
		cho phát triển và hoà bình một í nghĩa hoàn toàn mang tính người.</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">73. Phát triển kĩ thuật gắn liền với 
		việc gia tăng các hệ thống truyền thông xã hội. Nói đến cuộc sống gia 
		đình nhân loại ngày nay mà không nói đến các phương tiện truyền thông 
		thì đó là chuyện xem ra không tưởng. Dù xấu hay tốt, các phương tiện này 
		đã toả trùm lên mọi ngóc ngách của đời sống thế giới. Quả là phi lí cho 
		những ai còn tin rằng, ảnh hưởng của các phương tiện truyền thông vốn 
		trung lập và vì vậy họ đòi cho chúng được độc lập không bị chi phối bởi 
		nền đạo đức liên quan tới con người. Những lối nhìn quá nhấn mạnh tính 
		chất thuần kĩ thuật của truyền thông này cho thấy chúng quả thực phục vụ 
		cho một tính toán kinh tế với mục tiêu chế ngự thị trường và với í hướng 
		làm sao phải có được những thông số văn hoá nhằm phục vụ cho những quyền 
		lực í hệ và chính trị. Vì tầm ảnh hưởng quan trọng quyết định của những 
		lối nhìn đó trong việc làm thay đổi nhận thức của con người về chính họ 
		và về thực tại, nên chúng ta phải suy tư cho thật kĩ về ảnh hưởng của 
		chúng, đặc biệt trên bình diện văn hoá – đạo đức của toàn cầu hoá và 
		trên bình diện liên đới phát triển giữa các dân tộc. Để có được một lối 
		ứng xử đúng đắn phù hợp với toàn cầu hoá và phát triển, chúng ta phải đi 
		tìm í nghĩa và mục đích của truyền thông trên căn bản nhân học. Điều 
		này, như vậy, có nghĩa là truyền thông có thể trở thành một cơ hội nhân 
		bản hoá, không phải chỉ vì ta có thêm nhiều phương tiện truyền thông hơn 
		nhờ vào phát triển kĩ thuật, mà nhất là vì truyền thông được tổ chức và 
		hướng dẫn bởi một nguồn sáng phản chiếu lên được í nghĩa phổ quát của 
		con người và công ích. Các phương tiện truyền thông xã hội có thể làm 
		gia tăng lượng trao đổi và nối kết các tư tưởng. Nhưng không phải vì thế 
		mà chúng tạo thuận lợi cho tự do hay chúng giúp cho hết thảy mọi người 
		có được phát triển và dân chủ. Muốn có được các mục tiêu này, truyền 
		thông phải hướng tới việc hỗ trợ và thăng tiến phẩm giá con người và của 
		các dân tộc, nó phải mặc lấy hồn tình yêu, khoác vào tình huynh đệ tự 
		nhiên lẫn siêu nhiên cũng như phải sẵn sàng phục vụ sự thật và cái đẹp. 
		Trong nhân loại, thật ra tự do luôn liên kết cách nội tại với những giá 
		trị trên đây. Các phương tiện truyền thông có thể góp phần quan trọng 
		trong việc thắt chặt tình cộng đoàn của gia đình nhân loại và tăng gia 
		vốn đạo đức trong các xã hội, nếu như chúng trở thành dụng cụ thúc đẩy 
		mọi ngưởi tham gia vào việc kiếm tìm những gì là công chính.</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">74. Trong trận chiến văn hoá giành 
		chiếm địa vị thống trị giữa kĩ thuật và trách nhiệm đạo đức của con 
		người ngày nay, Đạo đức sinh học là trận địa quan trọng và quyết định 
		nhất. Chính nơi đây diễn ra cuộc thách đố dữ dội về khả năng phát triển 
		con người toàn diện. Đây là một lãnh vực vô cùng tế nhị và quyết định, 
		trong đó hiện lên câu hỏi hết sức bi thiết, là liệu con người là tác giả 
		của chính nó hay nó phải lệ thuộc Thiên Chúa. Các khám phá khoa học trên 
		địa hạt này và các khả năng can thiệp kĩ thuật đã tiến xa đến nỗi khiến 
		ta phải đứng trước sự chọn lựa giữa hai lập luận hợp lí: giữa một bên là 
		lí trí biết mở ra cho siêu việt và bên kia là lí trí tự khép kín trong 
		niềm hãnh tiến của nó. Tình trạng bắt ta phải chọn một trong hai. Tuy 
		nhiên, lập luận đứng về phía hành động kĩ thuật rõ ràng là phi lí, bởi 
		lẽ nó đưa tới việc phủ nhận hoàn toàn mọi í nghĩa và giá trị. Khi chối 
		từ Siêu Việt, thì ta lại gặp khó khăn trong tư duy, là làm sao hiện hữu 
		lại có thể nẩy sinh từ hư vô và làm sao trí tuệ lại hình thành được từ 
		ngẫu nhiên [153]. Trước những vấn nạn bi thiết đó, chỉ có sự hợp tác 
		giữa lí trí và đức tin mới có thể giúp chúng ta. Nếu lí trí bị trói chặt 
		bởi hành động thuần kĩ thuật và nó không nhận được hỗ trợ của đức tin, 
		lí trí đó sẽ rơi vào ảo tưởng sức mạnh toàn năng của nó. Ngược lại, đức 
		tin mà thiếu lí trí sẽ dẫn tới cơ nguy làm con người xa lạc thực tế cuộc 
		sống [154].</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">75. Giáo chủ Phao-lô VI cũng đã nhận 
		ra tầm ảnh hưởng hoàn vũ của vấn nạn xã hội đó và đã nhắc nhở ta [155]. 
		Nếu bước theo ngài trên con đường này, ta sẽ phải công nhận rằng, vấn 
		nạn xã hội đó ngày nay đã trở thành một vấn nạn nhân học cách triệt để. 
		Sự sống đã được các kĩ thuật sinh học ngày càng trao vào tay con người, 
		nhưng không với mục đích tìm hiểu nó, mà là để thao túng nó. Nền văn hoá 
		rất nặng tính khoa học ngày nay tin rằng, nó đã biết hết mọi bí ẩn, vì 
		đã nắm được trong tay nguồn cội sự sống. Từ đó người ta hỗ trợ và tiến 
		hành việc thụ thai ống nghiệm, nghiên cứu phôi, tìm cách nhân bản vô 
		tính và phối giống con người. Đây là điểm nói lên tham vọng thống trị 
		của kĩ thuật mạnh mẽ nhất. Trong nền văn hoá này, lương tâm chỉ còn là 
		nơi đón nhận thông tri về khả năng của kĩ thuật. Nhưng ta không thể coi 
		thường những viễn ảnh nguy hiểm cho tương lai con người và những dụng cụ 
		quyền năng mới phục vụ cho “văn hoá sự chết” này. Bên cạnh nạn phá thai 
		bi thảm và lớn rộng hiện nay, có thể trong tương lai – hiện đã được gieo 
		mầm trong âm thầm rồi – sẽ có thêm kế hoạch ưu sinh một cách có hệ 
		thống. Ngược lại, người ta cũng đã dọn sẵn lối đi cho việc an tử; điểm 
		này cũng không kém nói lên tham vọng thống trị sự sống, sự sống mà trong 
		một số điều kiện nào đó người ta cho là không còn đáng sống nữa, không 
		còn đáng để sống lâu hơn nữa. Đằng sau những viễn ảnh đó là quan điểm 
		phủ nhận phẩm giá con người. Những thực hành trên đây ngày càng tăng 
		cường cho quan điểm coi sự sống con người chỉ có tính cách vật chất và 
		máy móc. Ai có thể đo lường được những hậu quả tiêu cực của một não 
		trạng như thế? Ai còn có thể ngạc nhiên về sự dửng dưng trước cảnh thoái 
		hoá của con người, khi dửng dưng này cho thấy ngay cả thái độ của chúng 
		ta trước những gì là người và những gì không phải là người? Người ta 
		ngạc nhiên trước sự thanh lọc độc đoán về những gì ngày nay được cho là 
		đáng tôn trọng. Nhiều người sẵn sàng la toáng lên về những khuyện không 
		đâu, trong khi xem ra lại dung thứ cho những bất công ghê gớm. Trong khi 
		người nghèo tiếp tục gõ cửa nhà giàu, thì thế giới giàu lại có chiều 
		hướng như điếc trước những tiếng gõ ấy, vì lương tâm họ không còn khả 
		năng nhận ra những gì là người. Thiên Chúa bạch hoá con người ra cho con 
		người; việc hợp tác chung giữa lí trí và đức tin sẽ giúp con người nhận 
		ra điều thiện hảo, nếu như họ muốn thấy điều đó; luật tự nhiên, trong đó 
		bừng chiếu lên lí trí sáng tạo, sẽ cho ta thấy sự lớn lao của con người, 
		nhưng đồng thời cũng cho thấy nỗi khốn cùng của họ, nếu như họ không 
		chấp nhận tiếng gọi của chân lí đạo đức.</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">76. Một trong những khía cạnh của tinh 
		thần duy kĩ đương đại là khuynh hướng nhìn những vấn đề và cảm xúc của 
		đời sống nội tâm chỉ bằng qua lăng kính tâm lí và, thời thượng hơn, giản 
		lược chúng vào các phản ứng của não bộ. Như vậy, nội tâm con người chẳng 
		còn gì nữa cả, và í thức về tính bản thể của tâm hồn (Seele) con người 
		với những chiều kích sâu xa của nó, những chiều kích biết nhìn ra những 
		gì linh thánh, dần dần sẽ mất đi. Câu hỏi về phát triển cũng gắn liền 
		với quan niệm của chúng ta về tâm hồn, vì cái Tôi của chúng ta thường 
		được giản lược vào tâm thần (Psyche) và sức khoẻ tâm hồn lại bị lẫn lộn 
		với sự thoải mái tình cảm. Nguyên nhân của những giản lược đó là do ta 
		không thấu hiểu đời sống tâm linh. Sự mù mờ này khiến ta không muốn chấp 
		nhận sự kiện là, việc phát triển con người và các dân tộc cũng tuỳ thuộc 
		vào việc giải quyết những vấn đề thuộc tâm linh. Ngoài ra, phát triển 
		không chỉ có mặt vật chất mà thôi, mà còn cả mặt tinh thần và tâm linh 
		nữa, vì con người là một “<i>tổng hợp vừa hồn vừa xác</i>” [156], được 
		sinh ra từ tình yêu sáng tạo của Thiên Chúa và được hướng tới sự sống 
		vĩnh cửu. Con người phát triển, khi nó lớn lên trong tinh thần, khi tâm 
		hồn nó biết nhận ra chính mình và các chân lí mà Thiên Chúa đã cấy mầm 
		trong tâm hồn nó, khi nó biết trò chuyện với chính mình và với Thiên 
		Chúa. Xa rời Thiên Chúa, con người sẽ trở nên không yên và bệnh hoạn. 
		Tình trạng tha hoá xã hội và tâm lí cũng như bao nhiêu chứng tâm bệnh 
		trong các xã hội giàu cũng có nguyên nhân từ tâm linh. Một xã hội phát 
		triển về vật chất, nhưng lại bóp nghẹt tâm hồn, xã hội đó tự nó không có 
		được phát triển đúng nghĩa. Những hình thái nô lệ nghiện ngập mới cũng 
		như nỗi vô vọng mà nhiều người đang rơi vào, có thể giải thích chủ yếu 
		do nguyên nhân tâm linh, chứ không chỉ do căn nguyên xã hội và tâm lí. 
		Sự trống vắng do cơ thể và tâm thần để lại cho tâm hồn sau bao nhiêu 
		biện pháp chữa trị chán chê đã tạo nên nỗi đau nơi con người. Sẽ không 
		có được phát triển toàn hảo mà cũng chẳng có được công ích phổ quát, nếu 
		con người gồm cả hồn lẫn xác không có được sự thoải mái tâm linh và đạo 
		đức.</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">77. Sự thống trị của kĩ thuật có 
		khuynh hướng làm cho con người mất đi khả năng nhận ra những gì không 
		thể giải thích được bằng thuần vật chất. Trong khi đó tất cả mọi người 
		lại cảm nhận được bao nhiêu là khía cạnh vô vật chất và tinh thần nơi 
		cuộc sống họ. Nhận thức không phải chỉ là một hành vi vật chất, bởi lẽ 
		cái được nhận biết vẫn luôn ẩn dấu một thứ gì đó vượt trên bình diện 
		thực nghiệm. Mỗi nhận thức, dù đơn giản nhất, mãi là một phép lạ nhỏ, là 
		vì nó không bao giờ có thể giải thích trọn vẹn được bằng những dụng cụ 
		vật chất mà ta dùng. Mỗi sự thật luôn hàm chứa một nội dung lớn hơn điều 
		chúng ta vẫn mong đợi. Tình yêu mà ta nhận được luôn chứa đựng một yếu 
		tố nào đó làm ta ngạc nhiên. Chúng ta mãi mãi phải biết ngỡ ngàng trước 
		những phép lạ đó. Tâm hồn con người nhận ra một cái gì đó “nhiều hơn, dư 
		thêm” trong mỗi nhận thức và trong mỗi hành vi thương yêu; cái “nhiều 
		hơn” này giống i như một món quà ta nhận được, nó như một nỗi cao cả 
		nâng hồn ta lên cao. Sự phát triển con người và các dân tộc cũng ở một 
		độ cao như thế, nếu như ta biết quan tâm tới chiều kích tinh thần phải 
		có của nó, có như thế phát triển mới có nội dung đích thật. Phát triển 
		đòi hỏi phải có đôi mắt mới và một trái tim mới có khả năng thấy được 
		những gì vượt tầm nhìn vật chất của ta, và thấy được cái “nhiều hơn” 
		trong phát triển mà kĩ thuật không thể mang lại được. Trên con đường này 
		ta mới có thể tiếp tục cuộc hành trình phát triển toàn diện con người, 
		một cuộc hành trình được hướng dẫn bởi động lực tình yêu và chân lí.</font></p>
		<p align="justify"><b><font size="4">KẾT LUẬN</font></b></p>
		<p align="justify"><font size="4">78. Không có Thiên Chúa, con người sẽ 
		không biết họ đang đi về đâu và ngay cả họ là ai. Đứng trước những vấn 
		nạn to lớn của phát triển các dân tộc có thể khiến chúng ta đi tới chỗ 
		gần như ngã lòng và buông xuôi, lời đức Giê-su Kitô có sức mạnh nâng đỡ 
		ta, khi Người nhắc nhở: “<i>Không có Thầy các con không làm gì được</i>” 
		(Gi 15,5); Người khuyến khích ta: “<i>Thầy ở với các con mọi ngày cho 
		đến tận thế</i>” (Mt 28,20). Đối diện với bao nhiêu công việc phải chu 
		toàn, chúng ta tin rằng, Thiên Chúa luôn hiện diện bên cạnh những ai 
		hiệp nhất dưới danh Người và cùng hành động cho công lí. Trong <i>
		Populorum progressio</i>, giáo chủ Phao-lô VI nhắc nhở chúng ta, con 
		người không thể tự tiến hành được phát triển, bởi vì họ không thể tự tạo 
		ra một nền nhân bản đích thực. Chỉ khi chúng ta nghĩ rằng, chúng ta, 
		từng cá nhân và từng cộng đoàn, được mời gọi làm con cái Thiên Chúa để 
		cùng tham gia vào một đại gia đình thiên chúa, lúc đó chúng ta mới có 
		thể có được một tư duy mới và những năng lực mới để phục vụ cho một nền 
		nhân bản toàn diện đích thực. Năng lực mới phục vụ phát triển, như vậy, 
		phải là nền nhân bản kitô giáo [157], một nền nhân bản làm sống dậy tình 
		yêu và luôn đặt mình dưới sự hướng dẫn của chân lí, bằng cách đón nhận 
		vào mình tình yêu và chân lí như là những quà tặng luôn mãi của Thiên 
		Chúa. Có sẵn sàng chấp nhận Thiên Chúa, chúng ta mới chấp nhận anh chị 
		em và chấp nhận một cuộc sống được hiểu như một nhiệm vụ liên đới và 
		tươi vui. Ngược lại, ngăn trở lớn nhất của công cuộc phát triển ngày nay 
		là việc cấm cửa của í thức hệ đối với Thiên Chúa và sự dửng dưng đối với 
		Người của chủ trương vô thần, đã dửng dưng với Thiên Chúa thì rồi cũng 
		chẳng màng gì tới các giá trị con người. Chủ nghĩa nhân bản loại trừ 
		Thiên Chúa là một chủ nghĩa phi nhân. Chỉ có thứ nhân bản mở ra cho 
		Tuyệt Đối mới có thể giúp ta cổ võ và đạt được được những hình thức sống 
		xã hội và dân sự – trên bình diện cơ cấu, tổ chức, văn hoá, đạo đức -, 
		bằng cách nó giữ ta khỏi rơi vào tình trạng nô lệ cho những cái mốt, 
		những cái thời thượng. Í thức về tình yêu bất diệt của Thiên Chúa sẽ 
		nâng đỡ ta trên con đường dấn thân đầy khó khăn và cao cả cho công lí và 
		phát triển các dân tộc; tình yêu này sẽ đưa ta vượt qua những thành công 
		và thất bại trong nỗ lực kiên trì thực hiện những trật tự công chính cho 
		chuyện nhân sinh. Tình yêu thiêu chúa gọi mời ta hãy bước ra khỏi những 
		gì hữu hạn và chóng qua. Nó giúp ta can đảm tiếp tục tiến tới trên con 
		đường kiếm tìm hạnh phúc cho mọi người, cho dù cuộc kiếm tìm sẽ dài lâu 
		và dù kết quả đạt được – đối với chúng ta và các nhà chính trị, kinh tế 
		– quá ít ỏi, không được như mong muốn [158]. Thiên Chúa sẽ giúp ta nghị 
		lực để chiến đấu và để chấp nhận đau khổ vì tình yêu cho công ích, bởi 
		vì Người là Tất cả, là Hi vọng lớn nhất của chúng ta.</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">79. Phát triển cần tới các kitô hữu 
		biết dâng những người nghèo lên cho Thiên Chúa bằng lời cầu nguyện. Đó 
		là những kitô hữu hiểu rằng, tình yêu đong đầy sự thật, caritas in 
		veritate, thứ tình yêu vốn là nguồn xuất phát của sự phát triển chân 
		thực, là một quà tặng của Thiên Chúa ban cho, chứ không phải là sản phẩm 
		do chính chúng ta tạo ra. Vì thế, chúng ta không những phải biết phản 
		ứng cách í thức ngay cả trong những chuyện vô cùng khó khăn và phức tạp, 
		mà nhất là còn phải biết bám vào tình yêu của Người. Phát triển bao gồm 
		sự chú tâm tới đời sống thiêng liêng, nghiêm chỉnh quan tâm tới những 
		kinh nghiệm phó thác nơi Thiên Chúa, những kinh nghiệm sống tình huynh 
		đệ thiêng liêng với đức Kitô, tin tưởng vào sự quan phòng và lòng nhân 
		ái của Thiên Chúa, tới tình yêu và thứ tha, quên mình, chấp nhận tha 
		nhân, tới công lí và hoà bình. Bắt buộc phải có tất cả những thứ đó mới 
		mong biến “trái tim sỏi đá” thành “trái tim thịt“ (Ez 36,26), có như thế 
		cuộc sống trần thế mới mang tính “thần linh” và như vậy mới xứng với 
		phẩm giá con người hơn. Tất cả những thứ đó đều thuộc con người, vì con 
		người là chủ thể của cuộc sống họ; mọi thứ đó đồng thời cũng thuộc Thiên 
		Chúa, vì Người là nguyên lí và cùng đích của mọi sự có giá trị và dẫn 
		tới cứu rỗi: “<i>Thế giới, sự sống, sự chết, hiện tại và tương lai: tất 
		cả đều là của anh chị em; nhưng anh chị em lại thuộc đức Kitô, và đức 
		Kitô thuộc Thiên Chúa</i>” (1 Cor 3, 22-23). Khao khát sâu xa nhất của 
		người theo Chúa là toàn thể gia đình nhân loại có thể gọi Thiên Chúa là 
		“Cha chúng con!”. Cùng với Con của Cha, tất cả mọi người có thể học cầu 
		nguyện cùng Cha và biết dùng lời kinh đức Kitô dạy để cầu khẩn Cha và có 
		thể tôn vinh Cha, nếu như họ biết sống theo í Cha, và rồi xin Cha cho 
		chúng con lương thực hàng ngày, cũng như xin Cha cho chúng con thấu hiểu 
		và bao dung với những kẻ có lỗi với chúng con, xin đừng để chúng con bị 
		thử thách quá nặng và hãy cứu chúng con khỏi mọi sự dữ (xe, Mt 6,9-13).</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">Để kết thúc năm thánh Phao-lô, tôi 
		muốn dùng lời của ngài trong thư gởi tín hữu rô-ma để nói lên mong ước 
		này: “<i>Đức mến của anh em chớ nên giả hình. Hãy gớm ghét điều ác và 
		bám chặt lấy điều lành! Hãy sống với nhau trong tình huynh đệ và kính 
		trọng nhau trong đối xử</i>” (12,9-10). Xin trinh nữ Maria, Đấng được 
		giáo chủ Phao-lô VI tuyên bố là Mẹ của Giáo hội và được dân chúa tôn 
		vinh là Gương công lí và Nữ vương hoà bình, hãy chở che và, qua lời cầu 
		bầu hiển linh của Mẹ, giúp cho chúng con có được sức mạnh, hi vọng và 
		niềm vui cần có, để chúng con tiếp tục quảng đại dấn thân cho nhiệm vụ “<i>phát 
		triển con người toàn diện và phát triển hết mọi người</i>”[159].</font></p>
		<p align="justify"><i><font size="4">Ban hành tại Rô-ma, nhà thờ thánh 
		Phê-rô, ngày 29 tháng sáu, ngày lễ hai thánh Phê-rô và Phao-lô, năm 
		2009, là năm thứ năm nhiệm kỳ giáo chủ của tôi.</font></i></p>
		<p align="justify"><font size="4">Giáo chủ Biển-đức XVI</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">Phạm Hồng-Lam dịch từ bản tiếng Đức</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">Tháng 11.2009</font></td>
	</tr>
	<tr>
		<td height="33">
				<p align="right"><i>Nguồn:xuanbichvietnam.wordpress.com</i></td>
	</tr>
	<tr>
		<td>
		<p align="center">
				<a target="_top" href="../../../../index.htm">
				<img src="http://tinmung.net/tinmungLOGO/homepage.gif" width="100" border="0" height="34"></a></td>
	</tr>
	</table>

</body>

</html>

PHP File Manager