File "Sudiephoabinhlanthu43cuaducthanhcha.htm"

Full path: E:/sites/Single15/tinmung2007/webroot/GIAOHOI/THONG DIEP/Sua lai/ThongdiepmoicuDTC/Sudiephoabinhlanthu43cuaducthanhcha.htm
File size: 38.52 KiB (39442 bytes)
MIME-type:
Charset: utf-8

Download   Open   Back

<html>

<head>
<style>
<!--
/* Style Definitions */
 div.MsoNormal
	{mso-style-parent:"";
	margin-bottom:.0001pt;
	font-size:12.0pt;
	font-family:"Times New Roman";
	margin-left:0mm; margin-right:0mm; margin-top:0mm}
 li.MsoNormal
	{mso-style-parent:"";
	margin-bottom:.0001pt;
	font-size:12.0pt;
	font-family:"Times New Roman";
	margin-left:0mm; margin-right:0mm; margin-top:0mm}
 p.MsoNormal
	{mso-style-parent:"";
	margin-bottom:.0001pt;
	font-size:12.0pt;
	font-family:"Times New Roman";
	margin-left:0mm; margin-right:0mm; margin-top:0mm}
p
	{margin-right:0mm;
	margin-left:0mm;
	font-size:12.0pt;
	font-family:"Times New Roman";
	}
@page Section1
	{size:210.0mm 842.0pt;
	margin:20.0mm 20.0mm 20.0mm 20.0mm;
	mso-header-margin:36.0pt;
	mso-footer-margin:36.0pt;
	mso-paper-source:0;}
div.Section1
	{}
-->
</style>
<meta http-equiv="Content-Language" content="en-us">
<meta http-equiv="Content-Type" content="text/html; charset=utf-8">
<title>Thông Điệp Đức Thánh Cha</title>
<base target="main">
</head>

<body>

<table border="0" width="500" cellspacing="20" style="border-color: #FFFFFF; font-family:Times New Roman; font-size:12pt" bgcolor="#FFFFE6">
	<!-- MSTableType="nolayout" -->
	<tr>
				<td bgcolor="#bdf3fd" height="29">
				<p style="text-align: center"><font color="#ff0000" size="4"><b>
				TIN TỨC GIÁO HỘI</b></font></td>
			</tr>
	<tr>
		<td>
		<p align="center"><font color="#0000FF" size="5">Sứ điệp của ĐTC 
		Benedictô XVI nhân Ngày Hòa Bình Thế giới lần thứ 43 </font></td>
	</tr>
	<tr>
		<td align="justify">
		<font color="#800000"><b><font size="4">Sứ điệp của ĐTC Benedictô XVI 
		nhân Ngày Hòa Bình Thế giới lần thứ 43: ngày 1-1-2010</font></b></font><font size="4"><br>
		<i><b>&quot;Nếu bạn muốn xây dựng hòa bình, hãy bảo tồn thiên nhiên”</b></i><br>
		<br>
		1. Nhân dịp đầu năm mới, tôi muốn gửi những lời cầu chúc an bình nồng 
		nhiệt nhất đến tất cả các cộng đoàn Kitô, các vị lãnh đạo quốc gia, 
		những người nam nữ thiện chí trên toàn thế giới. Tôi đã chọn đề tài cho 
		Ngày Hòa Bình Thế giới lần thứ 43 này là: ”Nếu bạn muốn xây dựng hòa 
		bình, hãy bảo tồn thiên nhiên”. Sự tôn trọng thiên nhiên rất quan trọng 
		vì ”sự sáng tạo là khởi đầu và là nền tảng của mọi hoạt động của Thiên 
		Chúa” (1) và việc bảo tồn công trình này ngày nay trở thành điều thiết 
		yếu đối với sự sống chung hòa bình của nhân loại. Thực vậy, nếu vì sự 
		tàn ác của con người đối với con người, có nhiều đe dọa đang đè nặng 
		trên hòa bình và sự phát triển nhân bản toàn diện chân thực - như chiến 
		tranh, các cuộc xung đột quốc tế và miền, những vụ khủng bố và vi phạm 
		các quyền con người -, thì những đe dọa do sự lơ là, - nếu không muốn 
		nói là sự lạm dụng - đối với trái đất và các tài nguyên thiên nhiên do 
		Thiên Chúa ban, cũng không kém phần đáng lo âu. Vì lý do đó, điều rất 
		quan trọng là nhân loại canh tân và củng cố ”giao ước giữa con người và 
		môi sinh, giao ước này phải phản ánh tình yêu sáng tạo của Thiên Chúa, 
		Đấng là nguồn gốc và là mục đích của chúng ta” (2).<br>
		<br>
		2. Trong Thông điệp ”Bác ái trong chân lý” tôi đã nhấn mạnh rằng sự phát 
		triển con người toàn diện có liên hệ chặt chẽ với các nghĩa vụ phát sinh 
		từ quan hệ của con người với môi trường thiên nhiên, vốn được coi như 
		một món quà của Thiên Chúa ban cho tất cả mọi người và việc sử dụng món 
		quà này bao gồm một trách nhiệm chung đối với toàn thể nhân loại, đặc 
		biệt là đối với những người nghèo và các thế hệ mai sau. Ngoài ra tôi đã 
		ghi nhận rằng một khi người ta coi thiên nhiên, và nhất là con người, 
		chỉ là kết quả của tình cờ và của định mệnh thuyết tiến hóa, thì sẽ có 
		nguy cơ làm suy giảm ý thức trách nhiệm (3). Trái lại, nhìn nhận thiên 
		nhiên như một món quà của Thiên Chúa ban cho nhân loại sẽ giúp chúng ta 
		hiểu ơn gọi và giá trị của con người. Cùng với tác giả Thánh Vịnh, chúng 
		ta có thể ngưỡng mộ tuyên xưng rằng: ”Khi ngắm nhìn trời, công trình của 
		tay Chúa, mặt trăng và các vì sao mà Chúa đã tạo dựng, con người có là 
		chi để Chúa nhớ đến, phàm nhân có là gì mà Chúa phải bận tâm?” (Tv 
		8,4-5). Ngắm nhìn vẻ đẹp thiên nhiên giúp chúng ta nhìn nhận tình yêu 
		của Đấng Tạo Hóa, Tình Yêu đã ”chuyển động mặt trời và các vì sao khác”, 
		như thi hào Dante Alighieri đã mô tả (4).<br>
		<br>
		3. Cách đây 20 năm, khi chọn đề tài cho Ngày Hòa Bình thế giới là ”Hòa 
		bình với Thiên Chúa, hòa bình với toàn thể công trình tạo dựng”, ĐGH 
		Gioan Phaolô 2 đã lưu ý về quan hệ giữa chúng ta, trong tư cách là thụ 
		tạo của Thiên Chúa, với vũ trụ bao quanh chúng ta. Người viết: ”Ngày 
		nay, càng ngày người ta càng ý thức rằng hòa bình thế giới cũng đang bị 
		đe dọa vì sự thiếu tôn trọng thiên nhiên”. Và Người viết thêm rằng không 
		được bóp nghẹt ”lương tâm môi sinh”, trái lại cần phải tạo điều kiện để 
		nó phát triển và trưởng thành, bằng cách tìm được kiểu diễn tả thích hợp 
		trong các chương trình và các sáng kiến cụ thể” (5). Các vị Tiền Nhiệm 
		khác của tôi cũng đã nói về quan hệ giữa con người và môi sinh. Ví dụ, 
		hồi năm 1971, nhân dịp kỷ niệm 80 năm Thông điệp Rerum novarum (Tân Sự), 
		của Đức Lêô 13, Đức Phaolô 6 đã nhấn mạnh rằng: ”Sự khai thác thiên 
		nhiên bừa bãi có nguy cơ phá hủy thiên nhiên và con người trở thành nạn 
		nhân của sự suy thoái thiên nhiên như thế”. Và Người thêm rằng như thế, 
		“không những môi sinh vật chất trở thành một đe dọa trường kỳ với sự ô 
		nhiễm và rác rưởi, các thứ bệnh mới, khả năng hủy hoại hoàn toàn, nhưng 
		cả khung cảnh con người, mà con người không còn làm chủ được cũng bị 
		thương tổn, và như thế nó tạo ra cho tương lai một môi trường mà con 
		người không thể chấp nhận được: đây là vấn đề xã hội có chiều kích to 
		lớn liên hệ tới toàn thể gia đình nhân loại” (6).<br>
		<br>
		4. Tuy tránh không đi vào các giải pháp kỹ thuật chuyên biệt, Giáo Hội, 
		trong tư cách là ”chuyên gia về nhân đạo”, mạnh mẽ lưu ý về tương quan 
		giữa Đấng Tạo Hóa, con người và thiên nhiên. Năm 1990, Đức Gioan Phaolô 
		2 đã nói về ”cuộc khủng hoảng môi sinh” và nhấn mạnh rằng cuộc khủng 
		hoảng này chủ yếu có tính chất luân lý đạo đức, Người chỉ rõ ”sự cấp 
		thiết về luân lý cần phải có một tình liên đới mới” (7). Lời kêu gọi này 
		ngày nay càng khẩn cấp hơn, đứng trước những triệu chứng ngày càng gia 
		tăng về một cuộc khủng hoảng mà nếu không nghiêm túc cứu xét thì thật là 
		vô trách nhiệm. Làm sao chúng ta có thể tỏ ra dửng dưng trước những vấn 
		đề xuất phát từ các hiện tượng như sự thay đổi khí hậu, nạn sa mạc hóa, 
		sự suy thoái và mất khả năng sản xuất của những vùng nông nghiệp rộng 
		lớn, sự ô nhiễm sông ngòi và các mạch nước, sự nghèo nàn hóa đặc tính 
		sinh vật khác biệt (biodiversità), sự gia tăng thiên tai, nạn tàn lụi 
		rừng cây tại những vùng xích đới và nhiệt đới? Làm sao không để ý tới 
		một hiện tượng đang lan rộng, đó là ”những người tị nạn về môi sinh”: 
		tức là những người vì môi trường sinh sống bị xuống cấp, nên họ buộc 
		lòng rời bỏ môi trường ấy, kể cả của cải, để ra đi, đương đầu với những 
		nguy hiểm và bao nhiêu điều bất trắc của tình trạng bị bó buộc tản cư? 
		Làm sao không phản ứng trước những xung đột hiện nay và những cuộc xung 
		đột có thể bùng nổ vì sự tìm kiếm các nguồn tài nguyên thiên nhiên? Tất 
		cả những vấn đề ấy có ảnh hưởng sâu đậm tới việc thực thi các quyền con 
		người, tới lương thực, sức khỏe và sự phát triển”.<br>
		<br>
		5. Tuy nhiên, cần phải xét rằng cuộc khủng hoảng môi sinh không thể được 
		thẩm định tách biệt khỏi những vấn đề gắn liền với nó, vì nó liên hệ sâu 
		đậm với chính ý niệm về sự phát triển và nhân sinh quan, cũng như những 
		quan hệ của con người với đồng loại và thiên nhiên. Vì thế, điều khôn 
		ngoan là duyệt lại một cách sâu rộng và sáng suốt kiểu mẫu phát triển, 
		cũng như suy tư về ý nghĩa nền kinh tế và các mục tiêu của nó, để sửa 
		sai những gì trục trặc và thiếu quân bình. Tình trạng sức khỏe môi sinh 
		của trái đất đang đòi hỏi điều đó; và nhất là cuộc khủng hoảng về văn 
		hóa và luân lý của con người cũng đòi phải xét lại như vậy, vì từ lâu đã 
		có những triệu chứng hiển nhiên ở các nơi trên thế giới về cuộc khủng 
		hoảng ấy (8). Nhân loại đang cần được canh tân sâu đậm về văn hóa, cần 
		tái khám phá những giá trị họp thành nền tảng vững chắc cho một tương 
		lai tốt đẹp hơn cho tất cả mọi người. Những tình trạng khủng hoảng mà 
		nhân loại đang trải qua, dù thuộc lãnh vực kinh tế, lương thực, môi sinh 
		hay xã hội, xét cho cùng, đều là một cuộc khủng hoảng luân lý có liên hệ 
		với nhau. Những tình trạng ấy bó buộc phải suy nghĩ lại con đường chung 
		của con người. Đặc biệt chúng bó buộc phải chấp nhận một lối sống điều 
		độ và liên đới, với những qui luật và hình thức dấn thân mới mẻ, tin 
		tưởng và can đảm dựa trên những kinh nghiệm tích cực đã thực hiện và 
		quyết liệt loại bỏ những kinh nghiệm tiêu cực. Chỉ như thế cuộc khủng 
		hoảng hiện nay mới trở thành cơ hội để phân định và đưa ra những kế 
		hoạch mới.<br>
		<br>
		6. Nơi nguồn gốc của điều mà chúng ta gọi là ”thiên nhiên”, theo nghĩa 
		vũ trụ, chẳng có một ”chủ ý yêu thương và sự thật” hay sao? Thế giới này 
		”không phải là sản phẩm của một sự tất định, một định mệnh mù quáng hay 
		tình cờ nào đó... Thế giới có nguồn gốc từ ý chí tự do của Thiên Chúa, 
		Đấng muốn cho các loài thụ tạo được tham phần vào sự hiện hữu, sự khôn 
		ngoan và tốt lành của Ngài” (9). Sách Sáng thế, trong những trang đầu 
		tiên, dẫn chúng ta tới dự phóng khôn ngoan về vũ trụ, là kết quả tư 
		tưởng của Thiên Chúa, và nơi tột đỉnh của công trình sáng tạo ấy có 
		người nam và người nữ, họ được dựng nên giống hình ảnh Thiên Chúa, để 
		”làm đầy trái đất” và ”cai quản nó” như ”người quản lý” của chính Thiên 
		Chúa (Cf St 1,28). Sự hòa hợp giữa Đấng Tạo Hóa, nhân loại và thiên 
		nhiên, mà Kinh Thánh mô tả, đã bị phá hủy vì tội của Adam và Eva, của 
		người nam và người nữ, họ ham muốn chiếm đoạt địa vị của Thiên Chúa, từ 
		chối không coi mình là thụ tạo của Ngài. Hậu quả là cả nghĩa vụ ”cai 
		quản”, vun trồng và gìn giữ trái đất” của con người cũng bị biến thái và 
		nảy sinh cuộc xung đột giữa con người và phần còn lại của thiên nhiên 
		(Cf St 3,17-19). Con người để cho mình bị lòng ích kỷ thống trị, mất ý 
		thức về mệnh lệnh của Thiên Chúa, và trong tương quan với thiên nhiên, 
		con người xử sự như kẻ khai thác bóc lột, muốn thi hành một sự thống trị 
		tuyệt đối trên thiên nhiên. Nhưng ý nghĩa đích thực của mệnh lệnh đầu 
		tiên của Thiên Chúa, được sách Sáng thế nêu bật, không phải chỉ là một 
		sự trao ban quyền bính, nhưng đúng hơn là một lời kêu gọi lãnh nhận 
		trách nhiệm. Vả lại, triết lý khôn ngoan của những người xưa nhìn nhận 
		rằng thiên nhiên mà chúng ta được sử dụng không phải ”như một đống đồ 
		phế thải tung tóe đây đó” (10), còn Mạc Khải Kinh Thánh cho chúng ta 
		hiểu rằng thiên nhiên là món quà của Đấng Tạo Hóa, Ngài đã thiết lập 
		những trật tự nội tại cho nó, để con người có thể rút ra từ đó những 
		đường hướng cần thiết hầu ”bảo tồn và vun trồng thiên nhiên” (Cf St 
		2,15) (11). Tất cả những gì hiện hữu đều thuộc về Thiên Chúa, Ngài ủy 
		thác chúng cho con người, nhưng không phải để con người sử dụng chúng 
		một cách độc đoán. Và khi con người, thay vì chu toàn vai trò cộng tác 
		viên của Thiên Chúa, lại thay thế Thiên Chúa, thì rốt cục con người sẽ 
		tạo nên sự nổi loạn của thiên nhiên, ”thiên nhiên bị con người thống trị 
		độc đoán thay vì được cai quản” (12). Vì vậy, con người có nghĩa vụ cai 
		quản thiên nhiên trong tinh thần trách nhiệm, bảo tồn và vun trồng nó 
		(13).<br>
		<br>
		7. Rất tiếc là chúng ta phải nhìn nhận rằng một số đông người tại các 
		quốc gia và miền khác nhau trên trái đất ngày càng cảm thấy khó khăn lớn 
		vì sự cẩu thả hoặc từ khước của nhiều người không chăm sóc môi sinh 
		trong tinh thần trách nhiệm. Công đồng chung Vatican 2 đã nhắc nhở rằng 
		”Thiên Chúa đã dành trái đất và tất cả những gì chứa đựng trong đó cho 
		tất cả mọi người và mọi dân tộc được sử dụng” (14). Vì thế, gia sản 
		thiên nhiên thuộc về toàn thể nhân loại. Nhưng nhịp độ khai thác hiện 
		nay đang làm một số nguồn tài nguyên bị lâm nguy không những cho thế hệ 
		hiện tại, nhưng nhất là cho các thế hệ tương lai (15). Vì thế, ta dễ 
		nhận thấy sự suy thoái môi sinh thường là do sự thiếu những chính sách 
		sáng suốt hoặc do sự theo đuổi những lợi lộc kinh tế một cách thiển cận, 
		và đáng tiếc thay, những chính sách này thường trở thành một đe dọa 
		nghiêm trọng đối với thiên nhiên. Để chống lại hiện tượng ấy, dựa trên 
		sự kiện ”mỗi quyết định kinh tế đều có một hậu quả luân lý” (16), cần 
		làm sao để hoạt động kinh tế tôn trọng môi sinh nhiều hơn. Khi ta sử 
		dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên, cần quan tâm bảo tồn chúng, và dự 
		trù cả những tổn phí - về mặt môi sinh và xã hội - những tổn phí này cần 
		được coi như một mục quan trọng trong các tổn phí của hoạt động kinh tế. 
		Cộng đồng quốc tế và các chính quyền quốc gia có nhiệm vụ đưa ra những 
		chỉ dẫn đúng đắn để chống lại một cách hữu hiệu những cách thức khai 
		thác môi sinh có hại cho nó. Để bảo vệ môi sinh, để bảo tồn các nguồn 
		tài nguyên và khí hậu, một đàng cần phải hành động trong sự tôn trọng 
		các qui luật được xác định rõ ràng về mặt pháp lý và kinh tế, và đàng 
		khác cần để ý đến tình liên đới phải có đối với những người cư ngụ tại 
		các vùng nghèo hơn trên trái đất và các thế hệ tương lai.<br>
		<br>
		8. Thực vậy, dường như cần cấp thiết đạt tới một tình liên đới chân 
		thành giữa các thế hệ. Không thể dồn cho các thế hệ tương lai những tổn 
		phí do việc sử dụng các tài nguyên môi sinh chung: ”Trong tư cách là 
		những người thừa kế của các thế hệ trước đây và được hưởng công trình 
		của những người đồng thời, chúng ta có nghĩa vụ đối với tất cả mọi người 
		và không thể không quan tâm tới những người sẽ đến sau chúng ta để nới 
		rộng gia đình nhân loại. Tình liên đới đại đồng, vốn là một sự kiện và 
		là một điều ích lợi cho chúng ta, cũng là một nghĩa vụ. Đây là một trách 
		nhiệm của các thế hệ hiện tại đối với các thế hệ tương lai, và cũng là 
		trách nhiệm của mỗi quốc gia và cộng đồng quốc tế” (17). Việc sử dụng 
		các nguồn tài nguyên thiên nhiên phải làm sao để những lợi ích hiện thời 
		không kéo theo những hậu quả tiêu cực cho các sinh vật, con người và 
		những vật khác, hiện tại và tương lai; việc bảo tồn tài sản riêng không 
		ngăn cản tiêu đích chung của các tài nguyên cho tất cả mọi người (18); 
		sự can thiệp của con người không được làm thương tổn sự phong phú của 
		trái đất, để mưu ích ngày nay và trong tương lai. Ngoài sự liên đơn chân 
		thành giữa các thế hệ, cũng cần tái khẳng định nghĩa vụ luân lý cấp 
		thiết phải canh tân tình liên đới trong cùng thế hệ với nhau, đặc biệt 
		là trong các quan hệ giữa những quốc gia đang trên đường phát triển và 
		những nước công nghệ cao: ”Cộng đồng quốc tế có nghĩa vụ không thể tránh 
		né cần tìm ra những con đường chính thức để qui định sự khai thác các 
		tài nguyên không thể hồi hại, với sự tham gia của các nước nghèo, để 
		cùng nhau lập kế hoạch cho tương lai” (19). Cuộc khủng hoảng môi sinh 
		chứng tỏ cần cấp thiết có một tình liên đới được thể hiện trong không 
		gian và thời gian. Thực vậy, điều quan trọng là nhìn nhận trách nhiệm 
		lịch sử của các nước công nghệ trong số các nguyên nhân gây ra cuộc 
		khủng hoảng môi sinh hiện nay. Các nước kém phát triển hơn, và đặc biệt 
		là các nước đang trổi lên, cũng không được miễn chuẩn trách nhiệm đối 
		với thiên nhiên, vì tất cả đều có nghĩa vụ dần dần chấp nhận các biện 
		pháp và chính sách môi sinh hữu hiệu. Điều này có thể thực hiện dễ dàng 
		hơn nếu người ta bớt những tính toán vụ lợi trong việc viện trợ và thông 
		truyền kiến thức cũng như sử dụng các kỹ thuật tôn trọng môi sinh hơn.<br>
		<br>
		9. Chắc chắn một trong những vấn đề chính mà cộng đồng quốc tế cần giải 
		quyết là vấn đề các nguồn năng lượng, bằng cách xác định những kế hoạch 
		chung và dài hạn để thỏa mãn các nhu cầu năng lượng của thế hệ hiện tại 
		và tương lai. Với mục đích ấy, các xã hội kỹ thuật tân tiến cần tỏ ra 
		sẵn sàng cổ võ lối sống điều độ, giảm bớt nhu cầu năng lượng và cải tiến 
		các điều kiện sử dụng chúng. Đồng thời, cần cổ võ việc nghiên cứu và ứng 
		dụng các năng lượng ít ảnh hưởng hơn tới môi sinh hơn, và cần ”tái phân 
		phối các nguồn năng lượng trên trái đất, làm sao để các nước không có 
		cũng có thể được hưởng” (20). Vì vậy, cuộc khủng hoảng môi sinh là cơ 
		hội lịch sử để đề ra một câu trả lời tập thể nhắm biến cải kiểu mẫu phát 
		triển hoàn vũ theo chiều hướng tôn trọng hơn đối với thiên nhiên và phát 
		triển con người toàn diện, theo giá trị của đức bác ái trong chân lý. Vì 
		thế, tôi cầu mong có sự chấp nhận một kiểu mẫu phát triển dựa trên đặc 
		tính trung tâm của con người, sự thăng tiến và chia sẻ công ích, trách 
		nhiệm, ý thức về sự cần thiết phải thay đổi lối sống và sự khôn ngoan 
		thận trọng, là nhân đức chỉ dẫn những hành vi cần thực hiện ngày nay, 
		tiên liệu những gì có thể xảy ra ngày mai (21).<br>
		<br>
		10. Để hướng dẫn nhân loại tiến về sự quản trị môi sinh và các tài 
		nguyên của trái đất một cách lâu bền, con người được mời gọi sử dụng trí 
		thông minh của mình trong lãnh vực nghiên cứu khoa học và kỹ thuật và 
		trong việc ứng dụng những khám phá từ đó mà ra. ”Tình liên đới mới” mà 
		Đức Gioan Phaolô 2 đã đề nghị trong Sứ điệp nhân ngày Hòa Bình Thế giới 
		năm 1990 (22), và ”tình liên đới hoàn vũ” mà chính tôi đã nhắc đến trong 
		Sứ điệp nhân Ngày Hòa Bình Thế giới năm 2009 (23), là những thái độ 
		thiết yếu để hướng dẫn những nỗ lực bảo vệ thiên nhiên, qua một hệ thống 
		quản lý các tài nguyên trái đất có phối hợp hơn trên bình diện quốc tế, 
		nhất là trong lúc người ta thấy ngày càng hiển nhiên sự liên hệ chặt chẽ 
		giữa cuộc chiến đấu chống suy thoái môi sinh và sự thăng tiến phát triển 
		con người toàn diện. Đây là một động thái (dinamica) không thể bỏ qua, 
		xét vì ”sự phát triển nhân bản toàn diện không thể xảy ra nếu không có 
		sự phát triển tình liên đới của nhân loại” (24). Ngày nay có bao nhiêu 
		khả năng khoa học và những phương thức có tiềm năng đổi mới, nhờ đó có 
		thể mang lại những giải pháp thỏa đáng và hài hòa cho quan hệ giữa con 
		người và môi sinh. Ví dụ, cần khuyến khích các nghiên cứu nhắm tìm ra 
		những phương thức hữu hiệu nhất để khai thác tiềm năng lớn lao của năng 
		lượng mặt trời. Cũng cần chú ý như thế đối với vấn đề nước trên thế giới 
		và hệ thống thủy địa (idrogeologico) trên hoàn cầu, chu kỳ của hệ thống 
		này có tầm quan trọng hàng đầu đối với sự sống trên trái đất và sự ổn 
		định của nó đang có nguy cơ bị đe dọa trầm trọng vì những thay đổi khí 
		hậu. Cũng cần tìm kiếm những kế hoạch thích hợp để phát triển nông thôn, 
		qui trọng tâm vào các tiểu nông dân và gia đình họ, cũng như cần đề ra 
		những chính sách thích hợp để quản lý rừng cây, loại bỏ các đồ phế thải, 
		đề cao giá trị của sự hợp lực hiện hữu giữa việc chống lại thay đổi khí 
		hậu và chiến đấu chống nghèo đói. Cần có những chính sách quốc gia có 
		tầm mức rộng lớn, được bổ túc bằng sự dấn thân của quốc tế, nhắm mang 
		lại những lợi ích quan trọng, nhất là về trung hạn và dài hạn. Tóm lại, 
		cần ra khỏi tiêu chuẩn thuần túy thị trường để cổ võ những hình thức sản 
		xuất nông nghiệp và công nghệ tôn trọng trật tự thiên nhiên và đáp ứng 
		các nhu cầu cơ bản của mọi người. Cần đương đầu với vấn đề môi sinh 
		không phải chỉ nghĩ đến viễn tượng kinh hoàng mà sự suy thoái môi sinh 
		có thể gây ra; động lực thúc đẩy giải quyết vấn đề này phải dựa trên sự 
		tìm kiếm một tình liên đới đích thực theo chiều kích hoàn cầu, dựa theo 
		các giá trị bác ái, công lý và công ích. Đàng khác, như tôi đã có dịp 
		nhắc nhở, ”kỹ thuật không bao giờ chỉ là kỹ thuật thuần túy. Nó biểu lộ 
		con người và khát vọng phát triển của con người; nó diễn tả lòng mong 
		ước của tâm trí con người muốn dần dần vượt thắng một số sự lệ thuộc vật 
		chất. Vì thế, kỹ thuật cũng thuộc về mệnh lệnh ”hãy vun trồng và bảo tồn 
		trái đất” (Cf St 2,15) mà Thiên Chúa ủy thác cho con người, và nó phải 
		nhắm củng cố giao ước giữa con người và môi sinh được kêu gọi phản ánh 
		tình thương sáng tạo của Thiên Chúa” (25).<br>
		<br>
		11. Một điều ngày càng rõ ràng là đề tài suy thoái môi sinh đặt vấn đề 
		về thái độ của mỗi người chúng ta, lối sống và những kiểu mẫu tiêu thụ 
		và sản xuất đang thịnh hành, thường không thể chấp nhận được về phương 
		diện xã hội, môi sinh và cả về kinh tế nữa. Ngày nay người ta thấy cần 
		phải có một sự thay đổi não trạng thực sự, thúc đẩy mọi người chấp nhận 
		một lối sống mới ”theo đó sự tìm kiếm chân, thiện, mỹ và sự hiệp thông 
		với tha nhân để cùng nhau tăng trường trở thành những yếu tố xác định sự 
		chọn lựa tiêu thụ, tiết kiệm và đầu tư” (26). Càng ngày cần phải giáo 
		dục về việc xây dựng hòa bình đi từ những chọn lựa có chiều kích rộng 
		lớn, trên bình diện bản thân, gia đình, cộng đoàn và chính trị. Tất cả 
		chúng ta đều có trách nhiệm bảo vệ và săn sóc thiên nhiên. Trách nhiệm 
		này không có biên giới. Theo nguyên tắc phụ đới, điều quan trọng là mỗi 
		người dấn thân theo bình diện tương ứng với mình, hoạt động để vượt 
		thắng sự ưu tiên dành cho tư lợi. Các chủ thể khác nhau trong xã hội dân 
		sự và các tổ chức phi chính phủ có vai trò gây ý thức và huấn luyện. Các 
		tổ chức này đang quyết liệt và quảng đại dấn thân phổ biến trách nhiệm 
		môi sinh, trách nhiệm này ngày càng phải đi kèm sự tôn trọng ”môi sinh 
		nhân sự” (ecologia umana). Ngoài ra, cần nhắc nhở trách nhiệm của các cơ 
		quan truyền thông trong lãnh vực này, bằng cách đề nghị những kiểu mẫu 
		tích cực cần noi theo. Quan tâm chăm sóc môi sinh đòi phải có một cái 
		nhìn xa và bao quát về thế giới; một nỗ lực chung và trách nhiệm để đi 
		từ thái độ chỉ chú tâm đến những lợi lộc ích kỷ của đất nước tiến tới 
		một cái nhìn ngày càng bao gồm những nhu cầu của mọi dân tộc. Ta không 
		thể dửng dưng đối với những gì xảy ra quanh chúng ta, vì sự suy thoái 
		của bất kỳ miền nào trên trái đất cũng ảnh hưởng tới tất cả mọi người. 
		Những quan hệ giữa các cá nhân, các nhóm xã hội và quốc gia, cũng như 
		những quan hệ giữa con người và môi sinh, được kêu gọi đón nhận đặc tính 
		tôn trọng và ”bác ái trong chân lý”. Trong bối cảnh rộng rãi ấy, điều 
		đáng mong ước hơn bao giờ hết là người ta cụ thể hóa và đạt được sự đồng 
		thuận trong những cố gắng của cộng đồng quốc tế nhắm dần dần giải trừ võ 
		trang hạt nhân và tiến tới một thế giới không còn loại võ khí này, 
		nguyên sự hiện diện của các võ khí hạt nhân cũng đe dọa sự sống của trái 
		đất và tiến trình phát triển toàn diện của nhân loại hiện tại và tương 
		lai.<br>
		<br>
		12. Giáo Hội có một trách nhiệm đối với thiên nhiên và cảm thấy phải thi 
		hành trách nhiệm ấy, cả trong lãnh vực công cộng, để bảo vệ đất đai, 
		nước và không khí là những món quà Thiên Chúa Tạo Hóa dành cho tất cả 
		mọi người, và nhất là để bảo vệ con người chống lại nguy cơ hủy diệt 
		chính mình. Thực vậy, sự suy thoái thiên nhiên có liên hệ chặt chẽ với 
		nền văn hóa hình thành sự sống chung của con người, vì thế, ”khi môi 
		sinh nhân sự” được tôn trọng trong xã hội, thì cả môi sinh thiên nhiên 
		cũng được lợi ích theo” (27). Ta không thể đòi người trẻ tôn trọng môi 
		sinh, nếu họ không được giúp đỡ, trong gia đình và xã hội, để tôn trọng 
		chính bản thân họ: cuốn sách thiên nhiên thực là duy nhất, về phương 
		diện môi sinh cũng như về phương diện luân lý đạo đức bản thân, gia đình 
		và xã hội (28). Các nghĩa vụ đối với môi sinh xuất phát từ những nghĩa 
		vụ đối với con người xét nơi chính bản thân và trong quan hệ với tha 
		nhân. Vì thế, tôi vui lòng khuyến khích việc giáo dục về trách nhiệm môi 
		sinh, - như tôi đã nói đến trong Thông điệp ”Bác ái trong chân lý”, - để 
		bảo tồn một ”môi sinh đích thực về nhân sự” và tiếp đến tái quyết liệt 
		củng cố tính chất bất khả xâm phạm của của sự sống con người trong mọi 
		giai đoạn và trong mọi hoàn cảnh, củng cố phẩm giá của con người và sứ 
		mạng không thể thay thế được của gia đình, trong đó người ta giáo dục về 
		tình yêu đối với tha nhân và tôn trọng thiên nhiên (29). Cần bảo tồn gia 
		sản nhân sự của xã hội. Gia sản các giá trị này có nguồn gốc và được ghi 
		trong luật luân lý tự nhiên, vốn là nền tảng sự tôn trọng con người và 
		thiên nhiên.<br>
		<br>
		13. Sau cùng không nên quên sự kiện rất quan trọng là bao nhiêu người 
		tìm được yên hàn và an bình, cảm thấy được đổi mới và nâng đỡ khi họ 
		tiếp xúc trực tiếp với vẻ đẹp và sự hài hòa của thiên nhiên. Vì thế, có 
		một thứ hỗ tương: khi ta chăm sóc thiên nhiên, thì chúng ta nhận thấy 
		rằng qua thiên nhiên, Thiên Chúa cũng chăm sóc chúng ta. Đàng khác, một 
		quan niệm đúng đắn về quan hệ của con người với môi sinh không đưa tới 
		sự tuyệt đối hóa thiên nhiên và cũng không coi nó quan trọng hơn chính 
		con người. Sở dĩ Huấn Quyền của Hội Thánh tỏ ra dè dặt đối với một quan 
		niệm về môi sinh theo xu hướng coi môi sinh và sinh vật là trung tâm, là 
		vì quan niệm ấy loại bỏ sự khác biệt về thực thể và cứu cánh giữa con 
		người và các sinh vật khác. Như thế, trong thực tế người ta loại bỏ căn 
		tính và vai trò cao trọng hơn của con người, và cổ võ một quan niệm ”cá 
		đối bằng đầu” về phẩm giá của mọi sinh vật. Và thế là người ta chiều 
		theo một thứ chủ thuyết phiếm thần mới, với những sắc thái tân ngoại 
		giáo, coi ơn cứu độ con người xuất phát từ thiên nhiên mà thôi, thứ 
		thiên nhiên được hiểu theo nghĩa hoàn toàn duy tự nhiên. Trái lại, Giáo 
		Hội mời gọi đặt vấn đề một cách quân bình, trong niềm tôn trọng qui luật 
		mà Đấng Tạo Hóa đã ghi khắc nơi công trình của ngài, khi ủy thác cho con 
		người vai trò gìn giữ và quản trị thiên nhiên trong tinh thần trách 
		nhiệm, vai trò mà con người không được lạm dụng, và cũng không thể từ 
		khước. Thực vậy, cả lập trường chống lại sự tuyệt đối hóa kỹ thuật và 
		quyền năng của con người, cũng có thể trở thành là một sự xâm phạm không 
		những chống lại thiên nhiên, nhưng còn làm thương tổn chính phẩm giá con 
		người.<br>
		<br>
		14. ”Nếu bạn muốn hòa bình, hãy bảo tồn thiên nhiên”. Sự tìm kiếm hòa 
		bình từ phía mọi người thiện chí chắc chắn sẽ dễ dàng hơn nhờ cùng nhìn 
		nhận quan hệ không thể tách rời giữa Thiên Chúa, con người và toàn thể 
		thiên nhiên. Được Mạc Khải của Chúa soi sáng và noi theo Truyền Thống 
		của Giáo Hội, các tín hữu Kitô đóng góp phần của mình. Họ nhìn vũ trụ 
		với các kỳ công dưới ánh sáng hoạt động sáng tạo của Chúa Cha và công 
		trình cứu chuộc của Chúa Kitô, Đấng đã dùng cái chết và sự sống lại của 
		Ngài mà hòa giải cùng Thiên Chúa, ”mọi sự trên trái đất cũng như trên 
		trời” (Cl 1,20). Chúa Kitô chịu đóng đanh và sống lại, đã ban cho nhân 
		loại Thần Trí Thánh Hóa của ngài, hướng dẫn con đường lịch sử, trong khi 
		chờ đợi ngày quang lâm của Chúa, khai mạc ”trời mới đất mới” (2 Pr 
		3,13), trong đó công lý và hòa bình sẽ hiển trị vĩnh cửu. Vì thế, bảo vệ 
		môi sinh thiên nhiên để kiến tạo một thế giới hòa bình, đó là một nghĩa 
		vụ của mỗi người. Đó là một thách đố cấp thiếp cần phải đương đầu với 
		một quyết tâm chung và được đổi mới; đó là một cơ hội Chúa quan phòng 
		ban để trao cho các thế hệ trẻ viễn tượng một tương lai tốt đẹp hơn cho 
		mọi người. Ước gì các vị lãnh đạo các quốc gia và những người ở mọi cấp 
		độ quan tâm đến số phận của nhân loại hãy ý thức điều này: việc bảo tồn 
		thiên nhiên và thực hiện hòa bình là những thực tại có liên hệ mật thiết 
		với nhau! Vì thế, tôi mời gọi tất cả các tín hữu hãy dâng lời khẩn 
		nguyện nồng nhiệt lên Thiên Chúa, Đấng Tạo Hóa toàn năng và là Cha từ 
		bi, xin Chúa làm cho tâm hồn mỗi người nam nữ đón nhận và sống lời kêu 
		gọi khẩn thiết: Nếu bạn muốn xây dựng hòa bình hãy bảo tồn thiên nhiên.<br>
		<br>
		</font><i><font size="4">Vatican ngày 8 tháng 12 năm 2009<br>
		Biển Đức 16, Giáo Hoàng<br>
		(LM Giuse Trần Đức Anh OP chuyển ý)</font></i><div class="contents">
&nbsp;<p><font size="4"><u>Chú Thích:</u><br>
			1. Sách Giáo Lý của Giáo Hội Công Giáo, n.198<br>
			2. Biển Đức 16, Sứ điệp Ngày Hòa Bình Thế Giới, 2008, n.7.<br>
			3. Cf. n.48<br>
			4. Divina Comedia, Paradiso, XXXIII, 145<br>
			5. Sứ điệp Ngày Hòa Bình Thế giới, 1-1-1990, n.1<br>
			6. Tông Thư Octogesima adveniens, n.21<br>
			7. Sứ Điệp Ngày Hòa Bình Thế Giới, n.10<br>
			8. Cf. Biển Đức 16, Thông Điệp ”Bác ái trong chân lý”, n.32<br>
			9. Sách Giáo Lý của Giáo Hội Công Giáo, n.295<br>
			10. Eraclito di Efeso (khoảng 535 a.C đến 475 trước a.C), Mảnh 
			22B124, trong H. Hiel-W, Kranz, Die Fragmente der Vorsokratiker, 
			Weidmann, Berlin 1952.6)<br>
			11. Cf Biển Đức 16, Thông Điệp ”Bác ái trong chân lý”, n.48<br>
			12. Gioan Phaolô 2, Thông Điệp ”Năm Thứ 100”, n.37 13. Biển Đức 16, 
			Thông điệp ”Bác ái trong chân lý”, n.50<br>
			14. Vui mừng và Hy vọng, n.69<br>
			15. Cf Gioan Phaolô 2, Thông điệp ”Mối quan tâm về các vấn đề xã 
			hội”, n. 34<br>
			16. Biển Đức 16, Thông Điệp ”Bác ái trong chân lý”, n.37<br>
			17. Hội đồng Tòa Thánh Công Lý và Hòa bình, Toát yếu đạo lý xã hội 
			của Giáo Hội, n.467, cf. Phaolô 6, Thông điệp ”Phát triển các dân 
			tộc”, n.17<br>
			18. Cf. Gioan Phaolô 2, Thông điệp ”Năm thứ 100”, nn. 30-31,43<br>
			19. Biển Đức 16, Thông Điệp ”Bác ái trong chân lý”, n.49<br>
			20. Ibid.<br>
			21. Cf. Thánh Tômaso Aquino, S. Th, II-II, p.49,5<br>
			22. Cf. n.9<br>
			23. Cf n.8<br>
			24. Phaolô 6, Thông điệp ”Phát triển các dân tộc”, n,43<br>
			25. Biển Đức 16, Thông Điệp ”Bác ái trong chân lý”, n.69<br>
			26. Gioan Phaolô 2, Thông điệp ”Năm thứ 100”, n.36<br>
			27. Biển Đức 16, Thông Điệp ”Bác ái trong chân lý”, n.51<br>
			28. Cf. Ibid., nn.15.51<br>
			29. Cf. Ibid. nn.28,51.61; Gioan Phaolô 2, Thông điệp ”Năm thứ 100”, 
			nn.38,39<br>
			30. Biển Đức 16, Thông Điệp ”Bác ái trong chân lý”, n.70 </font>
		</div>
		<div class="author">
			<font size="4">+ĐGH Benedictô XVI </font></div>
		<p>&nbsp;</td>
	</tr>
	<tr>
		<td>
				<p align="right"><i>Nguồn:vietcatholic.org</i></td>
	</tr>
	<tr>
		<td>
		<p align="center">
				<a target="_top" href="../../../../index.htm">
				<img src="http://tinmung.net/tinmungLOGO/homepage.gif" width="100" border="0" height="34"></a></td>
	</tr>
	</table>

</body>

</html>

PHP File Manager