File "thuDTCgoicacLMnhamthietlapnamLM.htm"

Full path: E:/sites/Single15/tinmung2007/webroot/GIAOHOI/NamLinhMuc/thuDTCgoicacLMnhamthietlapnamLM.htm
File size: 42.75 KiB (43773 bytes)
MIME-type:
Charset: utf-8

Download   Open   Back

<html><head><meta http-equiv="Content-Language" content="en-us"><meta http-equiv="Content-Type" content="text/html; charset=utf-8"><title>
Năm Linh Mục</title>
<meta name="keywords" content="Năm Linh Mục">
<meta name="Microsoft Theme" content="none">
<style>
<!--
 p.MsoNormal
	{mso-style-parent:"";
	margin-bottom:.0001pt;
	font-size:12.0pt;
	font-family:"Times New Roman","serif";
	margin-left:0cm; margin-right:0cm; margin-top:0cm}
-->
</style>
</head><body background="Picture/BGLeft3.jpg">
<table border="0" width="500" id="table1" style="font-family: Tahoma; font-size: 10pt; text-decoration: none; border-left-width:0px; border-right-width:0px">
	<tr>
		<td style="border-bottom-style: none; border-bottom-width: medium">
		<p align="center"><span style="color: #800080"><font size="3">Thư của 
		ĐTC Benêđictô XVI gửi <br>
		các Linh mục nhằm thiết lập Năm Linh Mục </font></span></td>
	</tr>
	<tr>
		<td style="border-bottom-style: none; border-bottom-width: medium">
		<hr width="30%" size="1" color="#000000"></td>
	</tr>
	<tr>
		<td style="border-style: none; border-width: medium; padding-left: 4px; padding-right: 4px" bordercolor="#800080">
		<p align="center">
		<span style="font-size: 14.0pt; color: #0000FF; font-weight: 700">NHẰM 
		THIẾT LẬP NĂM LINH MỤC<br>
		NHÂN DỊP KỶ NIỆM LẦN THỨ 150<br>
		“NGÀY SINH” CỦA CHA SỞ HỌ ĐẠO ARS</span></td>
	</tr>
	<tr>
		<td style="border-top-style: none; border-top-width: medium">&nbsp;</td>
	</tr>
	<tr>
		<td style="padding-left: 4px; padding-right: 4px" bgcolor="#FFFFEC">
		<p class="MsoNormal" align="justify"><span style="font-size: 14.0pt">
		<br>
		Anh em linh mục quý mến,<br>
		<br>
		Vào ngày lễ kính trọng thể Thánh Tâm Chúa Giêsu sắp đến, thứ Sáu ngày 19 
		tháng Sáu năm 2009 – ngày mà truyền thống dành riêng cho việc cầu nguyện 
		thánh hóa các linh mục –, tôi đã nghĩ khai mở cách chính thức một &quot;Năm 
		linh mục&quot; nhân dịp kỷ niệm 150 năm <i>&quot;dies natalis&quot; (ngày sinh) </i>của 
		cha Gioan-Maria Vianê, thánh bổn mạng của tất cả các cha sở trên thế 
		giới. [1] Một năm như thế, mà muốn đóng góp vào việc xúc tiến sự dấn 
		thân canh tân nội tâm tất cả các linh mục để làm cho chứng tá Tin Mừng 
		của họ trên thế giới hôm nay sâu sắc và mãnh liệt hơn, sẽ kết thúc cùng 
		vào ngày lễ trọng thể của năm 2010. Cha Sở Thánh họ đạo Ars đã từng có 
		thói quen nói: <i>&quot;Thiên chức linh mục, đó là tình yêu của thánh tâm 
		Chúa Giêsu&quot;</i>. [2] Kiểu nói cảm động này trước tiên cho phép chúng ta 
		gợi lên với lòng trìu mến và biết ơn hồng ân bao la là các linh mục 
		không chỉ cho Giáo Hội, nhưng còn cho chính nhân loại. Tôi nghĩ đến tất 
		cả các linh mục đang giới thiệu cho các tín hữu kitô và cho toàn thế 
		giới lễ vật khiêm tốn và thường ngày những lời nói và cử chỉ của Chúa 
		Kitô, đang nỗ lực gắn bó với Ngài bằng tư tưởng, ý chí, tình cảm và 
		phong cách của tất cả cuộc sống của họ. Làm sao mà tôi không thể làm nổi 
		bật sự vất vả tông đồ của họ, sự phục vụ dẻo dai và âm thầm của họ, đức 
		ái phổ quát của họ được ? Làm sao mà tôi không thể ca ngợi sự trung tín 
		can đảm của biết bao linh mục mà, cho dầu phải đối diện với những khó 
		khăn và những sự thiếu thông hiểu, vẫn trung thành với ơn gọi của mình: 
		ơn gọi &quot;làm bạn của Chúa Kitô&quot;, đã lãnh nhận từ Ngài một ơn gọi đặc 
		biệt, đã được chọn gọi và sai đi ?<br>
		<br>
		Chính tôi vẫn còn sống động mang trong tâm hồn kỷ niệm về vị cha sở đầu 
		tiên mà tôi đã thực hiện thừa tác vụ linh mục trẻ của tôi bên cạnh ngài: 
		ngài đã để lại cho tôi mẫu gương về sự tận tụy hoàn toàn với công việc 
		mục vụ của ngài, đến độ đã qua đời đang khi ngài đang mang của ăn đàng 
		cho một người bị bệnh nặng. Tôi cũng nhớ đến vô số anh em đồng nghiệp mà 
		tôi đã gặp gỡ và tiếp tục gặp gỡ, ngay cả trong suốt những chuyến tông 
		du mục vụ của tôi nơi nhiều nước khác nhau; tất cả đều quảng đại dấn 
		thân trong việc thực thi hằng ngày thừa tác vụ linh mục của họ. Nhưng 
		kiểu nói được Cha Sở Thánh sử dụng cũng gợi lên Trái Tim bị đâm thâu của 
		Chúa Kitô và vòng gai trên đầu Ngài. Và như thế, tư tưởng của chúng ta 
		hướng đến vô số những hoàn cảnh đau khổ trong đó biết bao linh mục đang 
		đắm mình, hoặc là bởi vì chính họ chia sẻ kinh nghiệm đau khổ đa dạng 
		của con người, hoặc là bởi vì họ không được thấu hiểu bởi những người 
		hưởng ích từ thừa tác vụ của họ: làm sao chúng ta không nhớ đến biết bao 
		linh mục bị nhạo báng trong phẩm giá của họ, bị ngăn cản thực hiện tác 
		vụ của mình, thậm chí đôi khi bị bách hại cho đến độ cuối cùng làm chứng 
		bằng máu mình ?<br>
		<br>
		Bất hạnh thay, cũng tồn tại những hoàn cảnh, không bao giờ lấy làm tiếc 
		đủ, mà chính Giáo Hội phải chịu vì sự bất trung của một số thừa tác viên 
		của mình. Và đối với thế giới, đó là một cái cớ gương mù và khước từ. 
		Trong những trường hợp như thế, những gì có thể là ích lợi cho Giáo Hội, 
		đó không chỉ là nhận ra đầy đủ những yếu đuối của các thừa tác viên của 
		mình, nhưng còn là một ý thức mới mẻ và phấn khởi về sự cao cả của ân 
		huệ của Thiên Chúa, được cụ thể hóa nơi những hình ảnh sáng ngời của 
		những mục tử quảng đại, những tu sĩ rực cháy tình yêu đối với Thiên Chúa 
		và các linh hồn, những vị linh hướng sáng suốt và kiên nhẫn. Về phương 
		diện này, những giáo huấn và những mẫu gương của thánh Gioan-Maria Vianê 
		có thể mang lại cho mọi người một điểm quy chiếu có ý nghĩa: Cha Sở họ 
		đạo Ars rất khiêm tốn, nhưng với tư cách là linh mục, ngài ý thức là một 
		ân huệ bao la cho dân của ngài: <i>&quot;Một mục tử nhân lành, một mục tử 
		theo lòng Chúa mong ước, đó là kho tàng lớn lao nhất mà Thiên Chúa nhân 
		từ có thể ban cho một giáo xứ, và là một trong những ân huệ cao quý nhất 
		của lòng thương xót của Thiên Chúa&quot;.</i> [3] Ngài đã nói về thiên chức 
		linh mục như thể không thể dò thấu sự cao cả của ân huệ và nhiệm vụ được 
		giao phó cho một thụ tạo: <i>&quot;Ô ! Linh mục là điều gì đó cao cả biết bao 
		! Nếu ngài hiểu mình, thì ngài sẽ chết…Thiên Chúa vâng lệnh ngài: ngài 
		nói một vài lời thì nghe tiếng ngài, Thiên Chúa từ trời ngự xuống và tự 
		giam mình trong bánh thánh nhỏ bé…&quot;.</i>[4] Và để giải thích cho các 
		giáo dân của ngài tầm quan trọng của các bí tích, ngài nói: <i>&quot;Nếu 
		chúng ta không có bí tích Truyền chức thánh, thì chúng ta sẽ không có 
		Chúa. Ai đã đặt ngài ở đó, trong nhà tạm ? Linh mục. Ai đã đón nhận linh 
		hồn chúng ta lúc khởi đầu cuộc sống của nó ? Linh mục. Ai nuôi dưỡng 
		linh hồn và tăng sức mạnh cho nó trên cuộc hành trình ? Linh mục. Ai sẽ 
		chuẩn bị cho nó xuất hiện trước nhan Thiên Chúa, bằng cách rửa linh hồn 
		này lần sau hết trong máu của Chúa Giêsu Kitô ? Linh mục, luôn là linh 
		mục. Và xảy ra là nếu linh hồn chết [vì tội lỗi], ai sẽ làm cho nó sống 
		lại, ai sẽ làm cho nó thanh thản và bình an ? Vẫn là linh mục… Sau Thiên 
		Chúa, linh mục là mọi sự…Linh mục chỉ hiểu mình đúng ở trên trời&quot;.</i> 
		[5] Những lời khẳng định này, vọt lên từ tâm hồn linh mục của vị cha sở 
		thánh thiện, có thể dường như thái quá đối với chúng ta. Tuy nhiên, 
		chúng biểu lộ sự cao trọng mà ngài dành cho bí tích của thiên chức linh 
		mục. Dường như ngài đã bị ngập tràn bởi ý thức về một trách nhiệm vô 
		hạn: <i>&quot;Nếu người ta hiểu rõ linh mục ở trần gian, thì người ta sẽ chết 
		không phải vì sợ hãi, nhưng vì tình yêu… Không có linh mục, cái chết và 
		cuộc thương khó của Chúa chúng ta sẽ chẳng có ích gì… Chính linh mục 
		tiếp tục công trình Cứu chuộc trên trần gian… Dùng để làm gì một ngôi 
		nhà đầy vàng, nếu anh chị em không có ai để mở cửa ? Linh mục có chìa 
		khóa của những kho tàng trên trời: chính ngài mở cửa; ngài là vị quản 
		gia của Thiên Chúa nhân lành, là người phân phát các của cải của Người… 
		Hãy để một giáo xứ vắng bóng linh mục trong hai mươi năm: ở đó người ta 
		sẽ thờ lạy các thú vật… Linh mục không phải là linh mục cho mình…ngài là 
		cho anh chị em&quot;. </i>[6] <br>
		<br>
		Ngài đã đến họ đạo Ars, một ngôi làng nhỏ với 230 dân cư, mà vị Giám mục 
		báo trước là ngài sẽ gặp phải một hoàn cảnh tôn giáo bấp bênh: <i>&quot;Không 
		có nhiều tình yêu Thiên Chúa trong giáo xứ này, cha sẽ mang nó vào đó&quot;.</i> 
		Bởi thế, ngài hoàn toàn ý thức rằng ngài phải đến đó để nhập thể sự hiện 
		diện của Chúa Kitô, làm chứng cho sự yêu thương cứu độ của Người: &quot;[Lạy 
		Thiên Chúa của con], xin ban cho con sự hoán cải của giáo xứ này; con 
		bằng lòng chịu đau khổ những gì mà Chúa muốn trong suốt đời con !&quot; , 
		chính bằng lời cầu nguyện này mà ngài đã bắt đầu sứ mệnh của mình. [7] 
		Cha Sở Thánh đã hiến mình cho sự hoán cải của giáo xứ của ngài bằng tất 
		cả sức lực, dành chỗ nhất trong những ưu tư của mình cho việc đào tạo 
		kitô giáo dân được giao phó cho ngài. Anh em linh mục quý mến, chúng ta 
		cũng hãy cầu xin Chúa Giêsu ân sủng có thể học phương pháp mục vụ của 
		thánh Gioan-Maria Vianê ! Những gì chúng ta phải học hỏi trước tiên đó 
		là sự đồng nhất hóa hoàn toàn bản thân ngài với thừa tác vụ của ngài. 
		Trong Chúa Giêsu, Con người và Sứ mệnh hướng đến chỗ ăn khớp nhau: tất 
		cả hoạt động cứu độ của ngài đã và đang là sự diễn tả <i>&quot;Bản Ngã làm 
		con&quot; </i>(&quot;Moi filial&quot;) của Ngài mà, từ đời đời, hiện diện trước nhan 
		Cha trong một thái độ tuân phục tràn đầy tình yêu với ý muốn của Cha. 
		Bằng một sự loại suy khiêm tốn nhưng hiện thực, linh mục cũng phải hướng 
		đến sự đồng nhất hóa này. Vấn đề rõ ràng không phải là quên rằng tính 
		hiệu lực chính yếu của thừa tác vụ vẫn độc lập với sự thánh thiện của 
		thừa tác viên; nhưng người ta cũng không thể không biết sự phong nhiêu 
		đặc biệt được sản sinh do sự gặp gỡ giữa sự thánh thiện khách quan của 
		thừa tác vụ và sự thánh thiện, chủ quan, của thừa tác viên. Cha Sở Thánh 
		họ đạo Ars đã tiến hành ngay công việc đồng nhất hóa khiêm tốn và kiên 
		nhẫn này giữa đời sống thừa tác viên của mình và sự thánh thiện của thừa 
		tác vụ được giao phó cho ngài, đi đến chỗ quyết định &quot;ở&quot; về mặt vật chất 
		trong nhà thờ giáo xứ của ngài: Chúng ta có thể đọc thấy trong tiểu sử 
		đầu tiên của ngài: <i>&quot;Vừa đến nơi, ngài đã chọn nhà thờ làm nơi ở của 
		mình…Ngài vào nhà thờ trước bình minh và chỉ ra khỏi đó sau Kinh Truyền 
		Tin buổi chiều. Chính ở đó mà phải tìm kiếm ngài nếu người ta cần đến 
		ngài&quot;.</i>[8] <br>
		<br>
		Sự thổi phồng đạo đức của người tận tâm soạn hạnh cách thánh không được 
		khiến chúng ta quên đi sự kiện rằng Cha Sở Thánh cũng đã biết &quot;ở&quot; cách 
		chủ động trong toàn địa hạt giáo xứ của ngài: ngài đã viếng thăm cách có 
		hệ thống tất cả các bệnh nhân và các gia đình; ngài đã tổ chức những 
		tuần đại phúc cho dân chúng và những ngày lễ bổn mạng; ngài đã nhận được 
		và ban phát những tặng vật bằng bạc cho các công trình từ thiện và 
		truyền giáo; ngài trang hoàng nhà thờ bằng cách trang bị cho nó những đồ 
		thánh; ngài đã chăm lo cho các bé gái mồ côi của nhà <i>&quot;Providence&quot;</i> 
		(Chúa Quan Phòng - một Viện mà ngài đã thành lập) và những phụ nữ dạy dỗ 
		các em; ngài quan tâm đến viêc giáo dục trẻ em; ngài lập nên những hội 
		và mời gọi giáo dân cộng tác với ngài.<br>
		<br>
		Mẫu gương của ngài thúc đẩy tôi gợi lên những không gian hợp tác mà 
		người ta phải luôn mở ra hơn cho các giáo dân, mà cùng với họ các linh 
		mục hình thành dân tư tế [9] duy nhất và các ngài ở giữa họ, vì chức 
		linh mục thừa tác, <i>&quot;để dẫn dắt họ hết thảy đến sự hiệp nhất trong 
		tình yêu &#39;thương mến nhau với tình yêu huynh đệ, coi người khác trọng 
		hơn mình&#39; </i>(Rm 12,10)&quot;.[10] Trong bối cảnh này, nên nhớ làm thế nào 
		Công đồng Vatican II đã nồng nhiệt khích lệ các linh mục <i>&quot;thành thật 
		nhìn nhận và thăng tiến phẩm giá và vai trò riêng của giáo dân trong sứ 
		mệnh Giáo Hội… Các ngài phải sẵn lòng lắng nghe giáo dân, cứu xét các 
		nguyện vọng của họ trong tinh thần huynh đệ, nhìn nhận kinh nghiệm và 
		khả năng chuyên môn của họ trong các lãnh vực khác nhau của hoạt động 
		nhân sinh, để cùng với họ có thể nhận biết những dấu chỉ của thời đại&quot;.</i>[11]
		<br>
		<br>
		Cha Sở Thánh đặc biệt đã dạy cho các giáo dân trong giáo xứ bằng chứng 
		tá của đời sống của mình. Theo mẫu gương của ngài, các giáo dân đã học 
		cầu nguyện, tự nguyện dừng lại trước nhà tạm để viếng Chúa Giêsu Thánh 
		Thể.[12] <i>&quot;Cha Sở đã giải thích cho họ: chúng ta không cần phải nói 
		nhiều để cầu nguyện tốt. Chúng ta biết rằng Thiên Chúa nhân lành hiện 
		diện ở đó, trong Nhà Tạm thánh; chúng ta mở rộng tâm hồn cho Ngài; chúng 
		ta vui thích trước sự hiện diện của Ngài. Việc cầu nguyện đó là việc cầu 
		nguyện tốt nhất&quot;.</i>[13] Và ngài đã khuyến khích họ: <i>&quot;Hãy đến rước 
		lễ, hãy đến với Chúa Giêsu, đến sống nhờ Ngài, để sống cho Ngài&quot; </i>
		.[14] &quot;Quả thật, anh chị em không xứng đáng với Ngài, nhưng <i>anh chị 
		em cần đến Ngài !&quot; </i>.[15] Việc giáo dục các giáo dân trước sự hiện 
		diện Thánh Thể và rước lễ mặc lấy một hiệu quả hoàn toàn đặc biệt, khi 
		các giáo dân thấy ngài cử hành hy tế Thánh lễ. Những người tham dự đã 
		nói <i>&quot;rằng về điểm này không thể thấy một khuôn mặt mà diễn tả sự thờ 
		lạy… Ngài chiêm ngắm Mình Thánh với lòng yêu mến biết bao&quot;.</i>[16] Ngài 
		nói: <i>&quot;Tất cả các công việc tốt lành hợp lại không tương đương được 
		với hy tế thánh lễ, bởi vì chúng là những công trình của con người, và 
		thánh lễ là công trình của Thiên Chúa&quot;.</i>[17] Ngài xác tín rằng tất cả 
		sự nhiệt tâm của đời sống của một linh mục tùy thuộc vào Thánh lễ: <i>
		&quot;Nguyên nhân sự buông thả nơi linh mục, đó là người ta không chú tâm đến 
		thánh lễ ! Than ôi ! Lạy Thiên Chúa của con ! Linh mục thật đáng thương 
		biết bao khi ngài thực thi điều đó như là một điều tầm thường !&quot; </i>
		[18]. Và khi cử hành thánh lễ, ngài đã có thói quen luôn dâng hy tế của 
		cuộc sống của ngài: <i>&quot;Ô ! vào mọi buổi sáng, ước gì linh mục hiến dâng 
		mình cho Thiên Chúa như là hy lễ&quot;.</i>[19] <br>
		<br>
		Sự đồng nhất bản thân với hy tế Thập Giá này đã đưa ngài – bằng một 
		chuyển động nội tâm duy nhất – từ bàn thờ đến tòa giải tội. Các linh mục 
		không bao giờ được cam lòng nhìn thấy các tòa giải tội bi bỏ đi, cũng 
		không được bằng lòng nhìn thấy sự mất lòng tin yêu của các tín hữu đối 
		với bí tích này. Vào thời của Cha Sở Thánh, ở Pháp, việc xưng tội không 
		dễ dàng hơn cũng không thường xuyên hơn vào thời chúng ta, vì sự kiện 
		cơn bão táp Cách Mạng đã bóp nghẹt việc thực hành đạo trong thời gian 
		lâu dài. Nhưng bằng mọi cách ngài đã nỗ lực: bằng việc rao giảng, tìm 
		cách thuyết phuc bằng những lời khuyên, giúp các giáo dân tái khám phá ý 
		nghĩa và vẻ đẹp của Bí tích Sám hối, bằng cách cho thấy làm thế nào nó 
		là một đòi hỏi mật thiết của sự Hiện diện Thánh Thể. Như thế ngài đã 
		biết tạo nên một giới đạo hạnh (cercle vertueux). Qua việc ngài ở thường 
		xuyên lâu giờ tại nhà thờ, trước nhà tạm, ngài đã truyền cảm hứng cho 
		các tín hữu bắt chước ngài, bằng cách đến đó để viếng Chúa Giêsu, và 
		đồng thời họ chắc chắn tìm gặp cha sở của họ ở đó, sẵn sàng lắng nghe và 
		tha thứ. Về sau, đoàn các hối nhân gia tăng đến từ khắp nước Pháp, giữ 
		ngài ở tòa giải tội cho đến 16 giờ mỗi ngài. Lúc đó người ta nói rằng họ 
		đạo Ars đã trở thành <i>&quot;đại bệnh viện của các tâm hồn&quot;.</i>[20] Người 
		viết tiểu sử đầu tiên đã nói: <i>&quot;Ân sủng mà ngài đã đạt được [cho sự 
		hoán cải của các tội nhân] mạnh mẽ đến nỗi nó đã đi tìm kiếm họ mà không 
		để cho họ một lát nghỉ ngơi&quot; </i>[21]. Đó chính là những gì Cha Sở Thánh 
		đã suy nghĩ khi ngài nói: <i>&quot;Không phải tội nhân trở về với Thiên Chúa 
		để xin ngài tha thứ, nhưng chính Thiên Chúa chạy theo tội nhân và làm 
		cho họ quay về với Ngài&quot;.</i>[22] <i>&quot;Đấng cứu độ nhân lành này ngập 
		tràn tình yêu đối với chúng ta đến nỗi Ngài tìm kiếm chúng ta khắp nơi 
		!&quot;. </i>[23] <br>
		<br>
		Chúng ta hết thảy, là những linh mục, chúng ta cần nhận thấy rằng những 
		lời mà ngài đặt trên môi miệng của Chúa Kitô đều liên quan đến chúng ta 
		cách cá nhân: <i>&quot;Ta sẽ ủy thác cho các thừa tác viên của Ta loan báo 
		cho họ rằng Ta luôn sẵn sàng đón nhận họ, rằng lòng thương xót của Ta là 
		vô tận&quot;.</i>[24] Là những linh mục, chúng ta có thể học hỏi từ Cha Sở 
		Thánh họ đạo Ars không chỉ sự tin tưởng vô tận vào bí tích Sám Hối đến 
		độ thúc giục chúng ta đặt lại nó ở trung tâm của những bận tâm mục vụ 
		của chúng ta, nhưng còn một phương pháp cho <i>&quot;sự đối thoại cứu độ&quot;</i> 
		mà nó đòi hỏi. Cha Sở họ đạo Ars cư xử với các hối nhân khác nhau theo 
		cách khác nhau. Người nào đến với tòa giải tội bởi mong mỏi sâu xa và 
		khiêm tốn ơn tha thứ của Thiên Chúa sẽ tìm thấy nơi ngài sự khích lệ đắm 
		mình vào &quot;<i>dòng thác của lòng thương xót của Thiên Chúa&quot;</i> mà cuốn 
		đi mọi sự trong đà mãnh liệt của nó. Và nếu có ai sầu khổ về sự yếu đuối 
		và tính hay thay đổi của mình, sợ có những sự tái sa ngã sắp đến, thì 
		Cha Sở cho người ấy thấy bí mật của Thiên Chúa bằng một lối diễn tả về 
		một vẻ đẹp làm cảm động: <i>&quot;Thiên Chúa nhân lành biết mọi sự. Ngài biết 
		trước rằng sau khi anh chị em đã xưng tội, anh chị em sẽ phạm tội lần 
		nữa, thế nhưng ngài tha thứ cho anh chị em. Thật lớn lao tình yêu của 
		Thiên Chúa của chúng ta, Ngài đi đến chỗ muốn quên đi tương lai để tha 
		thứ cho chúng ta !&quot; </i>[25]. Ngược lại, đối với người thú tội cách lạnh 
		nhạt và hầu như dửng dưng, bằng nước mắt, ngài chứng minh sự đau khổ và 
		tính nghiêm trọng mà một thái độ &quot;tồi tệ&quot; này đã gây ra, ngài nói: <i>
		&quot;Tôi khóc cho những gì mà anh không khóc&quot;.</i>[26] &quot;Còn nữa, giá mà 
		Thiên Chúa nhân từ đã không nhân từ như thế, <i>nhưng mà Ngài là nhân từ 
		như thế. </i>Con người cần phải thô lỗ đối với một Thiên Chúa nhân từ 
		như thế sao&quot;.[27] Ngài đánh thức sự hối cải nơi tâm hồn của những người 
		hờ hững, bằng cách giúp cho họ thấy, từ chính mắt của họ và hầu như « 
		được nhập thể » trên khuôn mặt của linh mục đang giải tội cho ho, nỗi 
		đau khổ của Thiên Chúa trước các tội lỗi. Trái lại, nếu có người đến với 
		ao ước về một đời sống thiêng liêng sâu xa hơn và người ấy có khả năng 
		về điều đó, thì ngài dẫn họ vào trong chiều sâu của tình yêu, cho thấy 
		vẻ đẹp khó tả của việc có thể sống kết hiệp với Thiên Chúa và trước nhan 
		Ngài: <i>&quot;Tất cả dưới ánh mắt của Thiên Chúa, tất cả với Thiên Chúa, tất 
		cả để làm đẹp lòng Thiên Chúa… Ô ! thật đẹp làm sao !&quot;. </i>[28] Với 
		những người đó, ngài dạy cầu nguyện: <i>&quot;Lạy Thiên Chúa của con, xin ban 
		cho con ân sủng yêu mến Chúa chứng nào con còn có thể yêu mến Chúa&quot; </i>
		[29]. <br>
		<br>
		Vào thời ngài, Cha Sở họ đạo Ars đã biết biến đổi tâm hồn và đời sống 
		của biết bao người, bởi vì ngài đã có thể làm cho họ nhận thấy lòng 
		thương xót yêu thương của Chúa. Thời đại của chúng ta cũng có một nhu 
		cầu cấp bách về một sự loan báo và làm chứng như thế về chân lý của Tình 
		Yêu: <i>Thiên Chúa là Tình yêu </i>(Deus caritas est (1Ga 4,8)). Nhờ Lời 
		và các Bí tích của Chúa Giêsu, cha Gioan-Maria Vianê đã biết xây dựng 
		đoàn chiên của mình, cho dầu, ngài thường run sợ trước sự bất tài của 
		bản thân, đến độ hơn một lần đã muốn thoát khỏi những trách nhiệm của 
		thừa tác vụ giáo xứ mà ngài cảm thấy bất xứng. Tuy nhiên, bằng gương 
		vâng phục, ngài đã luôn ở lại nhiệm sở của mình, bởi vì ngài được thiêu 
		đốt bởi đam mê tông đồ vì ơn cứu rỗi của các linh hồn. Ngài đã nỗ lực 
		gắn bó hoàn toàn với ơn gọi và sứ mạng của mình bằng cách thực hành một 
		sự khổ chế nghiêm nhặt: <i>&quot;Nỗi bất hạnh lớn, đối với chúng ta những cha 
		sở khác</i> – cha thánh lấy làm tiếc –, <i>đó là linh hồn trở nên uể 
		oải&quot; </i>[30]; và vì thế ngài ám chỉ đến mối nguy hiểm đe dọa người mục 
		tử là quen với tình trạng tội lỗi hay dửng dưng trong đó biết bao con 
		chiên của ngài rơi vào. Ngài đã làm chủ thân xác của mình bằng những 
		canh thức và ăn chay, để tránh việc nó nổi loạn chống lại tâm hồn linh 
		mục của ngài. Và ngài đã không do dự buộc mình khổ chế vì lợi ích của 
		các linh hồn được giao phó cho ngài và để đóng góp vào việc đền thay cho 
		biết bao tội lỗi mà ngài đã nghe lúc giải tội. Ngài đã giải thích cho 
		một người anh em linh mục: <i>&quot;Tôi xin nói với cha phương pháp của tôi. 
		Tôi ra việc đền tội nhẹ cho họ và tôi đền tội thay cho họ phần còn lại&quot;
		</i>[31]. Bên kia những việc đền tội cụ thể mà Cha Sở họ đạo Ars tiến 
		hành, thì cốt lõi trọng tâm của giáo huấn của ngài vẫn luôn có giá trị 
		cho mọi người: Chúa Giêsu đổ máu mình cho các linh hồn và linh mục không 
		thể hiến dâng cho ơn cứu độ của họ nếu ngài từ chối tham dự cách cá nhân 
		vào cái &quot;giá cao&quot; của ơn cứu độ.<br>
		<br>
		Trong thế giới hôm nay, cũng như vào thời của Cha Sở họ đạo Ars, trong 
		cuộc sống và trong hành động của mình, các linh mục cần phải nổi bật bởi
		<i>sức mạnh chứng tá tông đồ </i>của mình. Đức Phaolô VI đã nhận xét 
		cách thích đáng: <i>&quot;Con người hiện đại muốn nghe những chứng nhân hơn 
		là những thầy dạy, hay nếu họ nghe các thầy dạy, đó là vì các thầy dạy 
		đã là những chứng nhân&quot; </i>[32]. Để tránh cho một sự trống rỗng hiện 
		sinh nổi lên trong chúng ta và tính hiệu năng của thừa tác vụ của chúng 
		ta không bị tổn hại, một lần nữa chúng ta cần phải tự vấn luôn: <i>
		&quot;Chúng ta có thật sự được thấm nhuần bởi lời Chúa chưa ? Lời Chúa có 
		thực sự là lương thực làm cho chúng ta sống, còn hơn cả bánh và những 
		thứ của trần gian này ? Chúng ta có thực sự biết Lời Chúa không ? Chúng 
		ta yêu mến Lời Chúa không ? Tự nội tâm, chúng ta có bận tâm về Lời này 
		đến độ nó tạc nên cuộc sống của chúng ta và hình thành tư tưởng của 
		chúng ta ?&quot; </i>[33]. Như Chúa Giêsu đã kêu gọi nhóm Mười Hai để họ ở 
		với Ngài (x. Mc 3,14) và chỉ sau đó, ngài mới sai họ đi rao giảng, thì 
		cũng thế, vào thời chúng ta, các linh mục được kêu gọi đồng hóa với <i>
		&quot;phong cách sống mới&quot; </i>này mà đã được Chúa Giêsu khơi mào và đã trở 
		nên chính nếp sống của các Tông Đồ.[34] <br>
		<br>
		Chính cùng sự gắn bó hoàn toàn với &quot;phong cách sống mới&quot; này mà đã là 
		dấu ấn của sự dấn thân của Cha Sở họ đạo Ars trong toàn bộ thừa tác vụ 
		của ngài. Đức Gioan XXIII, trong thông điệp Sacerdotii nostri primordia, 
		được công bố vào năm 1959 nhân dịp kỷ niệm 100 năm ngày mất của thánh 
		Gioan-Maria Vianê, đã giới thiệu khuôn mặt khổ hạnh dưới dấu chỉ của &quot;ba 
		lời khuyên Phúc âm&quot;, mà ngài xem cũng là cần thiết cho các linh mục: <i>
		&quot;Nếu để đạt đến sư thánh thiện này của cuộc sống, việc thực hành các lời 
		khuyên Phúc âm không bị áp đặt cho linh mục bằng vào bậc sống giáo sĩ 
		của họ, thì thế nhưng nó được đề nghị cho linh mục, cũng như cho tất cả 
		các môn đệ của Chúa, như là con đường triệt để của sự nên thánh kitô 
		giáo&quot;.</i>[35] Cha Sở họ đạo Ars đã biết sống &quot;các lời khuyên Phúc âm 
		theo những hình thái thích ứng với hoàn cảnh linh mục của ngài. Quả thế,
		<i>đức nghèo khó </i>nơi ngài không phải là đức nghèo khó của một tu sĩ 
		hay của một đan sĩ, nhưng là đức nghèo khó được đòi hỏi nơi một linh 
		mục: dù hoàn toàn quản lý những số tiền lớn (vì các khách hành hương 
		giàu nhất không quên quan tâm đến các công việc từ thiện của ngài), 
		nhưng ngài biết rằng tất cả được cho là vì nhà thờ của ngài, vì những 
		người nghèo, vì những trẻ mồ côi và vì những đứa trẻ của nhà &quot;Chúa Quan 
		Phòng&quot; của ngài,[36] và vì các gia đình túng thiếu nhất. Bởi thế, ngài 
		&quot;là người giàu có để trao ban cho người khác, và rất nghèo cho chính 
		ngài&quot;.[37] Ngài giải thích: <i>&quot;Bí quyết của tôi là rất đơn giản, đó là 
		cho đi tất cả và không giữ lại gì&quot;.</i>[38] Xảy ra là khi ngài không có 
		gì, thì ngài nói với những người nghèo gõ cửa nhà ngài: <i>&quot;Tôi cũng 
		nghèo như ông/bà vậy; hôm nay tôi là một người trong số ông bà&quot;.</i>[39] 
		Bởi thế, vào cuối đời, ngài đã có thể khẳng định bằng một sự thanh thản 
		hoàn toàn: <i>&quot;Tôi không có gì nữa, Thiên Chúa nhân từ có thể kêu gọi 
		tôi khi Ngài muốn&quot;.</i>[40] <i>Đức khiết tịnh </i>của ngài cũng là đức 
		khiết tịnh được đòi hỏi đối với một linh mục vì thừa tác vụ của họ. 
		Người ta có thể nói rằng nó hệ tại đức khiết tịnh cần thiết cho người mà 
		phải thường ngày chạm đến Thánh Thể và chiêm ngắm Thánh Thể với tất cả 
		sự sốt mến của tâm hồn và, bằng cũng chính lòng sốt sắng, trao ban nó 
		cho các tín hữu. Người ta đã nói về ngài rằng <i>&quot;đức khiết tinh chiếu 
		sáng nơi cái nhìn của ngài&quot;,</i> và các tín hữu nhận thấy điều đó khi 
		ngài hướng về nhà tạm với cái nhìn của một người đang yêu.[41] Cũng thế, 
		đức vâng lời của thánh Gioan-Maria Vianê hoàn toàn nhập thể trong sự gắn 
		bó của ngài với mọi đau khổ gắn liền với những đòi hỏi thường ngày của 
		thừa tác vụ. Người ta biết là ngài đã đau khổ như thế nào vì sự bất tài 
		của ngài đối với thừa tác vụ giáo xứ và bởi ước muốn chạy trốn của ngài
		<i>&quot;để khóc trong sự cô đơn về đời sống nghèo nàn của ngài&quot;.</i>[42] Chỉ 
		đức vâng lời, và lòng say mê các linh hồn của ngài, mới có thể chính 
		phục ngài ở lại nhiệm sở. Ngài đã cho các giáo dân của ngài, cũng như 
		cho chính ngài thấy rằng không <i>&quot;có hai cách thức tốt phụng sự Chúa 
		chúng ta, chỉ có một mà thôi, đó là phụng sự Ngài như Ngài muốn được 
		phụng sự&quot;</i>.[43] Đối với ngài, dường như quy luật vàng cho một cuộc 
		sống vâng phục là quy luật này: <i>&quot;Chỉ làm những gì mà người ta có thể 
		dâng cho Thiên Chúa nhân từ&quot;.</i>[44] <br>
		<br>
		Trong bối cảnh của một linh đạo được nuôi dưỡng bởi việc thực hành các 
		lời khuyên Phúc âm này, tôi xin gởi đến các linh mục, vào Năm được dành 
		riêng cho họ này, một lời mời gọi thân ái, lời mời gọi biết đón nhận mùa 
		xuân mới mà Thánh Thần đang khơi lên trong Giáo Hội vào thời chúng ta, 
		đặc biệt nhờ những Phong trào của Giáo Hội và những Cộng đoàn mới. <i>
		&quot;Thánh Thần trong những ân huệ của Ngài mang nhiều hình dạng khác nhau… 
		Ngài thổi đâu Ngài muốn. Ngài thực hiện cách bất ngờ, ở những nơi bất 
		ngờ và dưới những hình thức mà không thể hình dung trước… Ngài cũng 
		chứng mình cho chúng ta rằng Ngài đang hoạt động vì nhiệm thể duy nhất 
		và trong sự hiệp nhất với nhiệm thể duy nhất&quot;.</i>[45] Về phương diện 
		này, những gì mà Sắc lệnh Presbyterorum ordinis nói là có tính thời sự:
		<i>&quot;Nghiệm xem các tinh thần có phải từ Thiên Chúa đến hay không, các 
		ngài [các linh mục] phải lấy tinh thần đức tin mà khám phá, vui mừng mà 
		nhận biết, và chuyên cần phát triển những đặc sủng muôn hình của giáo 
		dân&quot;.</i>[46] Chính những ân huệ này, mà thúc đẩy biết bao nguời đến một 
		đời sống thiêng liêng cao hơn, là có ích lợi không chỉ cho các giáo dân 
		nhưng còn cho chính các thừa tác viên. Chính từ sự hiệp thông giữa các 
		thừa tác viên chức thánh và các đặc sủng mà có thể nảy sinh <i>&quot;một đà 
		sống quý giá đối với sự dấn thân mới mẻ của Giáo Hội nhằm phục vụ cho 
		việc loan báo và làm chứng cho Tin Mừng về đức cậy và đức mến khắp nơi 
		trên thế giới&quot;.</i>[47] Trong đường hướng của Tông huấn Pastores dabo 
		vobis của Đức Giáo hoàng Gioan-Phaolô II, tôi xin nói thêm rằng thừa tác 
		vụ chức thánh có một <i>&quot;hình thức cộng đoàn&quot;</i> triệt để và nó chỉ có 
		thể được thực hiện trong sự hiệp thông với các Giám mục của mình.[48] Sự 
		hiệp thông của các linh mục giữa họ và với Giám mục của họ này, được cắm 
		rễ sâu trong bí tích Truyền Chức Thánh và được biểu lộ qua việc cử hành 
		thánh lễ, cần được thể hiện trong những hình thức cụ thể khác nhau của 
		một tình huynh đệ hữu hiệu và trìu mến.[49] Chỉ như thế, các linh mục sẽ 
		có thể sống viên mãn ân huệ đời sống độc thân và sẽ có khả năng làm cho 
		các cộng đoàn kitô hữu triển nở, ở đó các kỳ công của việc loan báo Tin 
		Mừng đầu tiên được tái diễn.<br>
		<br>
		Năm Phaolô sắp kết thúc mời gọi chúng ta nhìn xem lần nữa hình ảnh của 
		vị Tông đồ dân ngoại trong đó chiếu sáng trước mắt chúng ta một khuôn 
		mẫu linh mục sáng ngời hoàn toàn &quot;được hiến trao&quot; cho thừa tác vụ của 
		mình. Ngài viết: <i>&quot;Tình yêu Đức Ki-tô thôi thúc chúng tôi, vì chúng 
		tôi nghĩ rằng: nếu một người đã chết thay cho mọi người, thì mọi người 
		đều chết&quot; </i>(2Cr 5,14) và ngài nói thêm: <i>&quot;Ngài đã chết thay cho mọi 
		người, để những ai đang sống không còn sống cho chính mình nữa, mà sống 
		cho Đấng đã chết và sống lại vì mình&quot;</i> (2Cr 5,15). Có thể có chương 
		trình tuyệt vời nào hơn được đề nghị cho một linh mục đang nỗ lực tiến 
		triển trên con đường hoàn thiện kitô giáo như thế không ?<br>
		<br>
		Các linh mục quý mến, việc cử hành 150 năm ngày mất của thánh 
		Gioan-Maria Vianê (1859) đến ngay sau những cử hành được hoàn tất cách 
		đây không lâu về kỷ niệm 150 năm Đức Mẹ hiện ra tại Lộ Đức (1858). Vào 
		năm 1959, chân phước Gioan XXIII đã nhận xét: <i>&quot;Chỉ trước khi Cha Sở 
		họ đạo Ars hoàn tất sự nghiệp lâu dài đầy công trạng một chút, [Đức 
		Trinh Nữ Vô Nhiễm] đã hiện ra ở một vùng khác của Pháp cho một em bé 
		khiêm tốn và trong sáng để truyền đạt cho em một sứ điệp cầu nguyện và 
		đền tội, mà người ta đã biết tiếng vang vọng thiêng liêng bao la từ một 
		thế kỷ nay. Quả thật, cuộc sống của vị linh mục thánh thiện là chúng ta 
		kính nhớ, là một minh họa trước những chân lý siêu nhiên lớn lao đã được 
		dạy cho cô bé thị kiến ở Massabielle ! Chính ngài cũng dành cho Đức 
		Trinh Nữ Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội một sự sùng kính rất mãnh liệt, chính 
		ngài, vào năm 1836, đã hiến dâng giáo xứ của ngài cho Đức Marie Vô Nhiễm 
		Nguyên Tội và đã vô cùng vui mừng đón nhận trong đức tin định tín của 
		năm 1854&quot;.</i>[50] Cha Sở Thánh luôn nhắc cho các tín hữu của ngài rằng
		<i>&quot;Chúa Giêsu-Kitô, sau khi đã trao ban tất cả những gì ngài có thể 
		trao ban cho chung ta, vẫn còn muốn làm cho chúng ta thành những người 
		thừa kế những gì còn quý báu hơn, đó là Thánh Mẫu của Ngài&quot;.</i>[51] <br>
		<br>
		Tôi phó thác Năm linh mục này cho Đức Thánh Trinh Nữ, cầu xin Mẹ khơi 
		lên trong tâm hồn của mỗi linh mục một sự canh tân quảng đại những lý 
		tửong hiến thân hoàn toàn cho Chúa Kitô và cho Giáo Hội này, mà đã từng 
		gợi hứng cho tư tưởng và hành động của Cha Sở Thánh họ đạo Ars. Đời sống 
		cầu nguyện sốt sắng và tình yêu say mê Chúa Giêsu chịu đóng đinh đã nuôi 
		dưỡng sự trao hiến hằng ngày và hoàn toàn của cha Gioan-Maria Vianê cho 
		Thiên Chúa và cho Giáo Hội. Ước gì mẫu gương của ngài khơi lên, nơi các 
		linh mục, chứng tá hiệp nhất với Giám mục, giữa họ và với giáo dân, mà 
		rất cần thiết hôm nay, cũng như mọi thời. Bất chấp sự dữ đang hiện diện 
		trong thế giới, lời của Chúa Kitô nói với các Tông đồ ở nhà Tiệc Ly vẫn 
		luôn vang vọng hiện thực: &quot;Trong thế gian, các con sẽ chịu đau khổ, 
		nhưng hãy can đảm lên ! Thầy đã thắng thế gian&quot; (Ga 16,33). Niềm tin vào 
		Thầy ban cho chúng ta sức mạnh nhìn tương lai cách tin tưởng. Các linh 
		mục quý mến, Chúa Kitô trông cậy vào anh em. Theo mẫu gương của Cha Sở 
		Thánh họ đạo Ars, anh em hãy dể cho Ngài chinh phục và anh em cũng thế, 
		trong thế giới hôm nay, anh em sẽ là những sứ giả hy vọng, hòa giải và 
		hòa bình !<br>
		<br>
		<i>Cùng với phép lành của tôi.<br>
		Từ Vatican, ngày 16 tháng Sáu năm 2009</i><br>
		<br>
		+ Benedictô XVI, Mục tử của các mục tử.<br>
		Lm. Võ Xuân Tiến chuyển ngữ. Nguồn XBVN 20/6/09<br>
		<br>
		<u>Chú thích:</u><br>
		[1] Chính như thế mà Đức Giáo hoàng Piô XI đã công bố vào năm 1929. <br>
		[2] &quot;Le Sacerdoce, c’est l’amour du cœur de Jésus&quot; (in Le Curé d’Ars, Sa 
		pensée, Son cœur. Présentés par l’Abbé Bernard Nodet, éd. Xavier Mappus, 
		Foi Vivante, 1966, p. 98). Về sau: Nodet. Kiểu nói cũng được trích dẫn 
		trong sách Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo, số 1589.<br>
		[3] Nodet, tr. 101. <br>
		[4] Ibid., tr. 97.<br>
		[5] Ibid., các trang. 98-99.<br>
		[6] Ibid., các trang. 98-100. <br>
		[7] Ibid., tr. 183.<br>
		[8] Alfred Monnin, Le Curé d’Ars. Vie de M. Jean-Baptiste Marie Vianney, 
		I, Charles Douniol, 1868.<br>
		[9] x. Lumen gentium, n. 10. <br>
		[10] Presbyterorum ordinis, n. 9.<br>
		[11] Ibid.<br>
		[12] Người nông dân họ đạo Ars, đang cầu nguyện trước Nhà tạm, đã nói 
		vào thời của Cha Sở Thánh: &quot;Việc chiêm ngắm là cái nhìn đức tin, được 
		chắm chú vào Chúa Giêsu. Tôi nhìn thấy Ngài và Ngài nhìn thấy tôi&quot; 
		(GLGHCG, số 2715).<br>
		[13] Nodet, tr. 85. <br>
		[14]Ibid., tr. 114.<br>
		[15]Ibid., tr. 119.<br>
		[16]Alfred Monnin, o.c.. II.<br>
		[17]Nodet, tr. 105.<br>
		[18]Ibid., tr. 105.<br>
		[19]Ibid., tr. 104.<br>
		[20] Alfred Monnin, o.c., II. <br>
		[21] Ibid.<br>
		[22] Nodet, tr. 128.<br>
		[23] Ibid., tr. 50.<br>
		[24] Ibid., tr. 131.<br>
		[25] Ibid., tr. 130. <br>
		[26] Ibid., tr. 27.<br>
		[27] Ibid., tr. 139.<br>
		[28] Ibid., tr. 28.<br>
		[29] Ibid., tr. 77.<br>
		[30] Ibid., tr. 102.<br>
		[31] Ibid., tr. 189. <br>
		[32] Evangelii nuntiandi, n. 41.<br>
		[33] BenoîtXVI, Bài giảng lễ Dầu, ngày 9 tháng Tư năm 2009.<br>
		[34] x. Benoît XVI, Diễn từ cho Hội nghị khoáng đại của Bộ giáo sĩ, ngày 
		16 tháng Ba năm 2009.<br>
		[35] Phần I. <br>
		[36] Đó chính là danh xưng mà nài đặt cho ngôi nhà mà ngài đã cho đón 
		tiếp và giáo dục hơn 60 em gái bị bỏ rơi. Ngài sẵn sàng tất cả để bảo 
		trì nó: Ngài mỉm cười nói: &quot;Tôi đã thực hiện mọi sự buôn bán có thể 
		tưởng tưởng được&quot; (Nodet, tr. 214).<br>
		[37] Nodet, tr. 216.<br>
		[38] Ibid., tr. 215.<br>
		[39] Ibid., tr. 216.<br>
		[40] Ibid., tr. 214.<br>
		[41] x. Ibid., tr. 112.<br>
		[42] Cf. Ibid., các trang. 82-84; 102-103. <br>
		[43] Ibid., tr. 75.<br>
		[44] Ibid., tr. 76.<br>
		[45] Benoît XVI, Bài giảng lễ Vọng Hiện Xuống, ngày 3 tháng Sáu năm 
		2006.<br>
		[46] N. 9.<br>
		[47] Benoît XVI, Diễn từ cho các Giám mục bạn của Phong trào Focolari và 
		Cộng đồng Sant’Egidio, ngày 8 tháng Hai năm 2007.<br>
		[48] x. số. 17. <br>
		[49] x. Gioan-Phaolô II, Tông Huấn Pastores dabo vobis, số. 74.<br>
		[50] Thông điệp. Sacerdotii nostri primordia, P III. <br>
		[51] Nodet, p. 244. </span></td>
	</tr>
</table>

</body></html>

PHP File Manager