File "lINHMUCTHUATACNGAILAAI.htm"

Full path: E:/sites/Single15/tinmung2007/webroot/GIAOHOI/NamLinhMuc/tin moi ve nam linh muc/lINHMUCTHUATACNGAILAAI.htm
File size: 68.6 KiB (70243 bytes)
MIME-type:
Charset: utf-8

Download   Open   Back

<html>

<head>
<style>
<!--
/* Style Definitions */
 div.MsoNormal
	{mso-style-parent:"";
	margin-bottom:.0001pt;
	font-size:12.0pt;
	font-family:"Times New Roman";
	margin-left:0mm; margin-right:0mm; margin-top:0mm}
 li.MsoNormal
	{mso-style-parent:"";
	margin-bottom:.0001pt;
	font-size:12.0pt;
	font-family:"Times New Roman";
	margin-left:0mm; margin-right:0mm; margin-top:0mm}
 p.MsoNormal
	{mso-style-parent:"";
	margin-bottom:.0001pt;
	font-size:12.0pt;
	font-family:"Times New Roman";
	margin-left:0mm; margin-right:0mm; margin-top:0mm}
p
	{margin-right:0mm;
	margin-left:0mm;
	font-size:12.0pt;
	font-family:"Times New Roman";
	}
@page Section1
	{size:210.0mm 842.0pt;
	margin:20.0mm 20.0mm 20.0mm 20.0mm;
	mso-header-margin:36.0pt;
	mso-footer-margin:36.0pt;
	mso-paper-source:0;}
div.Section1
	{}
-->
</style>
<meta http-equiv="Content-Language" content="en-us">
<meta http-equiv="Content-Type" content="text/html; charset=utf-8">
<title>Model</title>
<base target="main">
</head>

<body>

<table border="0" width="500" cellspacing="20" style="border-color: #FFFFFF; font-family:Times New Roman; font-size:12pt" bgcolor="#FFFFE6">
	<!-- MSTableType="nolayout" -->
	<tr>
				<td bgcolor="#bdf3fd" height="29">
				<p style="text-align: center"><font size="4" color="#FF0000"><b>
				NĂM LINH MỤC</b></font></td>
			</tr>
	<tr>
		<td align="justify">
		<p align="center"><b><font color="#0000FF" size="4">LINH MỤC THỪA TÁC, 
		NGÀI LÀ AI?</font></b></td>
	</tr>
	<tr>
		<td align="justify">
		<p align="justify"><b><i><font size="4">Dẫn nhập</font></i></b></p>
		<p align="justify"><font size="4">Đã có nhiều cách, nhiều con đường để 
		tiếp cận với vấn đề nầy: Linh mục thừa tác, ngài là ai? Ở đây, nhân Năm 
		Thánh Linh mục, chúng tôi mạo muội đề xuất một cách hiểu về căn tính của 
		vị Linh mục thừa tác (sacerdoce ministériel) qua lăng kính mầu nhiệm 
		ngôi hiệp (union hypostatique)…</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">Qua lăng kính mầu nhiệm ngôi hiệp, 
		chúng tôi sẽ lần lượt đào sâu những vấn đề sau đây:</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">1- Tương quan giữa Đức Kitô và vị Linh 
		mục thừa tác;</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">2- Tương quan giữa vị Linh mục thừa 
		tác và Bí tích Thánh Thể;</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">3- Tương quan giữa vị Linh mục thừa 
		tác và Bí tích Hòa giải;</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">4- Linh mục thừa tác, ngài là ai?</font></p>
		<p align="justify"><b><font size="4">Bài 1:</font></b></p>
		<p align="justify"><b><font size="4">TƯƠNG QUAN GIỮA ĐỨC KITÔ </font>
		</b></p>
		<p align="justify"><b><font size="4">VÀ VỊ LINH MỤC THỪA TÁC </font></b>
		</p>
		<p align="justify"><b><font size="4">QUA LĂNG KÍNH MẦU NHIỆM NGÔI HIỆP</font></b></p>
		<p align="justify"><b><i><font size="4">Vào đề</font></i></b></p>
		<p align="justify"><font size="4">Trong ngôn ngữ “nhà đạo” thông thường 
		người ta hay gọi vị Linh mục thừa tác (sacerdoce ministériel) là “Alter 
		Christus”, là “in persona Christi”… “Alter Christus” thường được chuyển 
		ngữ là “Đức Kitô khác” hay “Đức Kitô thứ hai”. “In persona Christi” 
		thường được chuyển ngữ là “nhân danh Đức Kitô”, “đại diện Đức Kitô”, 
		“đồng hình đồng dạng với Đức Kitô”, v.v… Cả hai cách chuyển ngữ nầy đều 
		vừa thừa vừa thiếu. Thừa vì có vẻ như có hai “ngôi vị”. Thiếu vì thiếu 
		tình trạng hiệp nhất giữa Đức Kitô và con người Linh mục…</font></p>
		<p align="justify"><i><font size="4">1- Mầu nhiệm ngôi hiệp (union 
		hypostatique)</font></i></p>
		<p align="justify"><font size="4">Trong ngôn ngữ kitô-học, mầu nhiệm 
		thần tính và nhân tính của Đức Kitô hiệp nhất với nhau trên cơ sở chỉ có 
		một Ngôi Vị duy nhất là Đức Kitô thường được gọi tắt là Mầu nhiệm ngôi 
		hiệp. Nghĩa là thần tính nhận nhân tính cùng với những thụ cảm làm của 
		mình hay “là” mình (<i>appropriation</i>) và thông ban (<i>communication</i>) 
		cho nhân tính đó một số yếu tố đặc thù mà thần tính vốn có “vì loài 
		người chúng ta” và “để cứu độ chúng ta”… Tuy mỗi bản tính vẫn là mình, 
		không hòa lẫn (như nước biển với nước ngọt), nhưng cũng không hoàn toàn 
		tách biệt (như dầu hôi với nước lã)… Một số giáo phụ so sánh sự hiệp 
		nhất giữa thần tính và nhân tính với sự hiệp nhất giữa hồn và xác trên 
		cơ sở ngôi vị của một cá thể… Chúng tôi thích hơn hình ảnh hai người yêu 
		nhau, dù vẫn còn một số yếu tố bất toàn: khi yêu nhau, người ta trở nên 
		một (cái “chúng ta”), dù mỗi người vẫn là mình… </font></p>
		<p align="justify"><i><font size="4">2- Tương quan giữa Đức Kitô và vị 
		Linh mục thừa tác qua lăng kính mầu nhiệm ngôi hiệp</font></i></p>
		<p align="justify"><font size="4">Để có thể hiểu được vị Linh mục thừa 
		tác là ai và là gì, ở đây, chúng tôi mạo muội đề nghị một lối hiểu qua 
		lăng kính mầu nhiệm ngôi hiệp. Nghĩa là: Qua Bí tích truyền chức, dưới 
		quyền năng và tác động của Chúa Thánh Thần, Đức Kitô nhận con người Linh 
		mục mà Ngài đã gọi và chọn đó, cùng với những sở trường và sở đoản, “là” 
		Mình hay “là” Ngài (<i>appropriation</i>), đồng thời thông ban cho vị 
		Linh mục đó một số yếu tố đặc thù thần linh mà vốn là sở hữu của Ngài (<i>communication</i>) 
		và cả hai hiệp nhất nên một trên cơ sở Ngôi Vị Đức Kitô (in persona 
		Christi)…</font></p>
		<p align="justify"><i><font size="4">3- Cơ sở Thánh Kinh của những hành 
		vi “nhận làm của mình” hay “nhận là mình” (appropriations)</font></i></p>
		<p align="justify"><font size="4">= <i>Mt</i> 25,31-46: “[…]. ‘Quả thật, 
		Ta bảo các ngươi: những gì các ngươi đã làm cho một người trong các anh 
		em hèn mọn nhất nầy của Ta, là các ngươi đã làm cho chính mình Ta’.[…]. 
		‘Quả thật, Ta bảo các ngươi, những gì các ngươi đã không làm cho một 
		người nào trong các kẻ hèn mọn nhất nầy, là các ngươi đã không làm cho 
		chính mình Ta’.”</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">= <i>Mt</i> 10,40: “Kẻ tiếp đón các 
		ngươi là tiếp đón Ta; và kẻ tiếp đón Ta, là tiếp đón Đấng đã sai Ta”.</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">= <i>Mt</i> 18,5: “Và kẻ nào tiếp đón 
		một trẻ nhỏ nầy vì danh Ta, tức là tiếp đón Ta”.</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">= <i>Mc</i> 9,37: “Kẻ nào tiếp đón một 
		trẻ nhỏ thế nầy vì danh Ta, tức là tiếp đón Ta; kẻ nào tiếp đón Ta, thì 
		không phải người ấy tiếp đón Ta, mà là Đấng đã sai Ta”.</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">= <i>Lc</i> 9,48: “Kẻ nào đón tiếp trẻ 
		nhỏ nầy vì danh Ta, tức là tiếp đón Ta; và kẻ tiếp đón Ta là tiếp đón 
		Đấng đã sai Ta…”</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">= <i>Lc</i> 10,16: “Ai nghe các ngươi 
		là nghe Ta, và ai thảy bỏ các ngươi là thảy bỏ Ta, mà ai thảy bỏ Ta là 
		thảy bỏ Đấng đã sai Ta”.</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">= <i>Ga</i> 23,20: “Quả thật, qủa 
		thật, Ta bảo các ngươi: ai chịu lấy kẻ Ta sai đến, là chịu lấy Ta, mà ai 
		chịu lấy Ta, tức là chịu lấy Đấng đã sai Ta”.</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">= <i>Cv</i> 9,1-5: “[…], ‘Saul, Saul, 
		tại sao ngươi bắt bớ Ta?’ […]. ‘Ta là Giêsu, người đang bắt bớ’.”</font></p>
		<p align="justify"><i><font size="4">4- Cơ sở Thánh Kinh của những hành 
		vi thông ban những yếu tố đặc thù cho nhau (communications): Một số 
		quyền năng Đức Kitô thông ban cho con người Linh mục:</font></i></p>
		<p align="justify"><i><font size="4">4a</font></i><font size="4">- Quyền 
		tha tội trong Ngôi Vị Đức Kitô: <i>Mt</i> 9,1-7; <i>Mc</i> 2,1-12; <i>Lc</i> 
		5,17-26; <i>Mt</i> 16,19; <i>Cv</i> 10,43; <i>Mt</i> 28,18-20; v.v…</font></p>
		<p align="justify"><i><font size="4">4b</font></i><font size="4">- 
		“Quyền năng trên các thần ô uế khiến họ có thể xua đuổi chúng và chữa 
		mọi tật nguyền, bệnh hoạn” trong Ngôi Vị Đức Kitô: <i>Mt</i> 10,1; <i>Mc</i> 
		3,14; 6, 7; <i>Lc</i> 9,1; v.v…</font></p>
		<p align="justify"><i><font size="4">4c</font></i><font size="4">- Quyền 
		năng thực hiện hành vi “nhận làm của mình” và “là mình” (appropriation) 
		và hành vi thông ban một số đặc ân mình có (communication) trong Ngôi Vị 
		Đức Kitô, đặc biệt nơi Bí tích Thánh Thể: <i>Lc</i> 22, 19-20; 1 <i>Cr</i> 
		11, 23-27; v.v…; và quyền tha tội trong Bí tích Hòa giải (Ga 20,23)…
		</font></p>
		<p align="justify"><i><font size="4">5- Một vài suy tư thần học:</font></i></p>
		<p align="justify"><font size="4">Trên cơ sở những điều trên đây, có thể 
		nói được rằng mầu nhiệm Nhập Thể của Ngôi Lời và mầu nhiệm Ngôi hiệp nơi 
		Đức Kitô có mối quan hệ hết sức mật thiết với nhau, có tính phổ quát và 
		với nhiều cấp độ khác nhau:</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">5a- Tương quan giữa Đức Kitô và Thụ 
		Tạo nói chung: </font></p>
		<p align="justify"><font size="4">Có thể nói rằng nhân tính nơi Đức Kitô 
		chính là tượng trưng cho toàn thể thụ tạo và toàn thể nhân loại nói 
		chung: </font></p>
		<p align="justify"><font size="4">“<i>Lúc khởi nguyên đã có Lời…và Lời 
		là Thiên Chúa…<b>Mọi sự nhờ Ngài mà thành sự và không Ngài thì không gì 
		đã thành sự</b>. Điều đã thành sự nơi Ngài là sự Sống và sự Sống là sự 
		Sáng cho nhân loại</i>.” (<i>Ga</i> 1,1-3). </font></p>
		<p align="justify"><font size="4">“<i>Ngài (Đức Kitô) là hình ảnh của 
		Thiên Chúa vô hình, là trưởng tử giữa mọi thụ sinh, <b>vì trong Ngài vạn 
		vật đã được tạo thành</b>, chốn trời cao và nơi dương thế, vật hữu hình, 
		vật vô hình, dù là thiên tòa hay thiên chủ, dù là thiên phủ hay là uy 
		linh: <b>mọi sự đã được tạo thành nhờ Ngài và cho Ngài</b> ! Và Ngài có 
		ưu thắng trên mọi sự, <b>và mọi sự đều tồn tại trong Ngài</b></i>.” (<i>Cl</i> 
		1,15-17).</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">5b- Tương quan giữa Đức Kitô và nhân 
		loại nói chung: </font></p>
		<p align="justify"><font size="4">Bởi vì con người đã được tạo dựng nên 
		theo hình ảnh Thiên Chúa (<i>St</i> 1,26-27), mà hình ảnh Thiên Chúa 
		chính là Đức Kitô (1<i>Cr</i> 11,7; 2<i>Cr</i> 4,4; <i>Cl</i> 1,15), cho 
		nên có thể nói rằng nhân tính của Đức Kitô cũng chính là toàn thể nhân 
		loại, hiểu theo nghĩa cá thể cũng như tập thể. Chính vì thế, khi Đức 
		Kitô cứu độ, thánh hóa nhân tính của Ngài và nhận nhân tính đó là của 
		mình và là mình, điều đó có nghĩa là Ngài, trong chỉ một hành vi, một 
		lần là đủ, đã cứu độ và thánh hóa toàn thể nhân loại, mọi nơi và mọi 
		thời… Như thế, chúng ta hiểu vì sao Giáo hội trước sau như một luôn 
		khẳng định Đức Kitô là Đấng Trung gian và là Đấng Cứu độ duy nhất và phổ 
		quát, ngoài Ngài ra chẳng có ai khác cả (<i>Ep</i> 2,13-18; <i>Rm</i> 
		11,25-29).</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">“<i>Nhưng nay, <b>trong Đức Kitô Giêsu</b>, 
		anh em, những kẻ xưa kia ở xa, thì đã nên gần nhờ bửu huyết của Đức 
		Kitô. Vì chính Ngài là sự bình an của ta, Đấng đã làm cho đôi bên nên 
		một, triệt hạ tường ngăn thành chắn, (tiêu biểu cho) mối hằn thù – <b>
		nhờ thân xác Ngài</b>, – thủ tiêu Lề luật nguyên những điều răn lệnh 
		chỉ, <b>ngõ hầu trong Ngài, Ngài tạo dựng hai loại người ấy nên một 
		người mới</b>; đem lại bình an, và giảng hòa hai dân – <b>trong một Thân 
		mình</b> – với Thiên Chúa, nhờ Thập giá, giết chết hằn thù – nơi mình 
		Ngài. Và Ngài đã đến loan báo Tin Mừng bình an cho anh em những kẻ ở xa, 
		và bình an cho những kẻ ở gần. <b>Vì chính nhờ Ngài, chúng ta đôi bên, 
		trong một Thần khí, được đến chùng Cha</b></i>.” (<i>Ep</i> 2,13-18).</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">“<i>Hỡi anh em, tôi không muốn để anh 
		em không hay biết mầu nhiệm nầy, để anh em đừng tự phụ mình khôn: Israel 
		đã ra chai đá phần nào, cho đến khi toàn thể dân ngoại đã gia nhập, và 
		như thế tất cả Israel cũng sẽ được cứu. […]. Vì chưng cũng như anh em, 
		xưa kia bất tuân đối với Thiên Chúa, mà nay đã được thương xót, nhân vì 
		họ bất tuân, thì họ cũng thế, nay bất tuân, bởi anh em được thương xót.
		<b>Vì chưng Thiên Chúa đã dồn mọi người hết thảy vào đàng bất tuân, ngõ 
		hầu Ngài dũ lòng thương hết mọi người</b></i>.” (<i>Rm</i> 
		11,25-26.30-32).</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">5c- Tương quan giữa Đức Kitô và Giáo 
		hội hay là các kitô-hữu nói chung:</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">Giáo hội, trước tiên, là “Thân Mình” 
		của Đức Kitô (<i>Cl</i> 1,15-24; 1<i>Cr</i> 12,27; 1<i>Ga</i> 3,2; <i>Rm</i> 
		12,5; v.v…), thứ đến, là cộng đoàn những kẻ tin vào Đức Kitô và được tập 
		hợp lại để lắng nghe Lời của Thiên Chúa (<i>Xh</i> 19, 3-8.25; <i>Gs</i> 
		8,32-35; 24,1-28; v.v…) và cử hành các Bí tích của Đức Kitô (Cv 2,42) …</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">“<i>Nay tôi vui sướng trong các nỗi 
		thống khổ chịu vì anh em; và trong thân xác tôi, tôi bù đắp những gì còn 
		thiếu nơi các nỗi quẫn bách Đức Kitô phải chịu <b>vì Thân Mình Ngài, tức 
		là Hội Thánh</b></i>…” (<i>Cl</i> 1,24).</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">“<i>Mà <b>anh em là Thân Mình của Đức 
		Kitô</b>, và ai theo phận nấy mà làm chi thể</i>” (1 <i>Cr</i> 12,27).</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">“<i>Anh em thân mến, hiện giờ ta là 
		con cái Thiên Chúa; ta sẽ là gi, thì chưa được tỏ hiện, ta biết rằng <b>
		một khi điều ấy</b></i> (hay là Đức Kitô “quang lâm” hay là Thân Mình 
		mầu nhiệm của Đức Kitô là Giáo hội [ctctg]) <b><i>tỏ hiện, thì ta sẽ 
		được giống như Ngài</i></b> (Đức Kitô “quang lâm” [ctctg]), <i>vì Ngài 
		thế nào, ta sẽ được thấy như vậy.</i>” (1<i>Ga</i> 3,2). </font></p>
		<p align="justify"><font size="4">“<i>Họ chuyên cần với giáo huấn của 
		các tông đồ và sự hiệp thông, việc bẻ bánh và kinh nguyện</i>.” (<i>Cv</i> 
		2,42).</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">5d- Tương quan giữa Đức Kitô và vị 
		Linh mục thừa tác:</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">Vị Linh mục thừa tác hiệp nhất với Đức 
		Kitô trên cơ sở Ngôi Vị của Ngài, như nhân tính hiệp nhất với thần tính 
		của Đức Kitô trên cơ sở Ngôi Vị của Đức Kitô. Cũng như Đức Kitô, trong 
		tư cách vừa là Thiên Chúa thật vừa là con người thật, khi thì Ngài nói 
		và cư xử như là con người, có khi Ngài nói và cư xử như là Thiên Chúa, 
		con người Linh mục trong Ngôi Vị Đức Kitô (in persona Christi) cũng nói 
		và hành xử như vậy.</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">“<i>Lạy Cha ! nếu Cha muốn, xin cất 
		chén nầy đi khỏi con !</i> (Đức Giêsu nói trong tư cách là con người 
		bình thường như chúng ta: chú thích của tác giả [ctctg]). <i>Song đừng 
		cho ý của con, mà là ý của Cha được thành sự ! </i>(Ở đây, Đức Giêsu nói 
		trong tư cách là Thiên Chúa [ctctg])” (<i>Lc</i> 22,42; tham chiếu <i>Ga</i> 
		12,27-29; <i>Lc</i> 2,49; <i>Ga</i> 8,58; 10,30; v.v…).</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">“<i>Tất cả các con hãy nhận lấy mà ăn: 
		vì nầy là Mình Thầy, sẽ bị nộp vì các con. […]. Tất cả các con hãy nhận 
		lấy mà uống: vì nầy là chén máu Thầy, máu giao ước mới và vĩnh cửu, sẽ 
		đổ ra cho các con và nhiều người được tha tội. Các con hãy làm việc nầy 
		mà nhớ đến Thầy</i>”. (Những lời nầy chỉ thành sự và hữu hiệu khi được 
		vị Linh mục thừa tác nói trong ngôi vị Đức Kitô, chứ không phải trong tư 
		cách con người bình thường như mọi người).</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">“[…]. <i>Vậy, Cha tha tội cho con nhân 
		danh Cha và Con và Thánh Thần</i>.” (Những lời nầy chỉ thành sự và hữu 
		hiệu khi được vị Linh mục nói trong ngôi vị Đức Kitô mà thôi, vì chỉ có 
		Thiên Chúa và Con Người mới có quyền tha tội [<i>Mc</i> 2,3-12]…).</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">Vì thế, có thể nói rằng không có Bí 
		tích Thánh Thể và Bí tích Hòa Giải thì cũng không có chức Linh mục thừa 
		tác và ngược lại. Đó chính là cơ sở chính yếu để phân biệt giữa chức 
		Linh mục chung của mọi kitô-hữu (sacerdoce commun) và chức Linh mục thừa 
		tác của một số người được gọi chọn bởi Thiên Chúa qua trung gian Giáo 
		hội (sacerdoce ministériel). Và đó cũng chính là một trong những cơ sở 
		nói lên sự khác biệt căn bản giữa Giáo hội công giáo và các giáo hội thệ 
		phản và Anh giáo liên quan các Bí tích, chức Linh mục thừa tác, và các 
		vấn đề giáo hội học, v.v…</font></p>
		<p align="justify"><b><font size="4">Bài 2:</font></b></p>
		<p align="justify"><b><font size="4">TƯƠNG QUAN GIỮA VỊ LINH MỤC THỪA 
		TÁC VÀ BÍ TÍCH THÁNH THỂ </font></b></p>
		<p align="justify"><b><font size="4">QUA LĂNG KÍNH MẦU NHIỆM NGÔI HIỆP</font></b></p>
		<p align="justify"><font size="4">Giáo hội, hằng năm, vào Ngày Thứ Năm 
		Tuần Thánh, cử hành tưởng nhớ vừa việc Chúa Giêsu lập Bí tích Thánh Thể 
		vừa việc Chúa Giêsu thiết lập Chức Linh mục thừa tác. Điều đó có nghĩa 
		là trong truyền thống xưa nay của Giáo hội, chức Linh mục thừa tác và Bí 
		tích Thánh Thể luôn có tương quan mật thiết đối với nhau, đến độ người 
		ta có thể nói rằng sẽ không có chức Linh mục thừa tác nếu không có Bí 
		tích Thánh Thể và ngược lại…</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">Việc phân tích những công thức “truyền 
		phép” sẽ cho ta thấy được những điều đó.</font></p>
		<p align="justify"><i><font size="4">1- </font></i><font size="4">“… <b>
		<i>Vì nầy là Mình Thầy</i></b>…” và “… <b><i>vì nầy là Chén Máu Thầy…</i></b>”:</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">Trong Thánh Lễ, khi được đọc lên hay 
		nói lên bởi vị Linh mục thừa tác, công thức nầy vốn mang hai tầng ý 
		nghĩa:</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">1a- Khi được nói lên hay đọc lên cách 
		nguyên thủy bởi Đức Kitô, công thức nầy có ý nghĩa: qua hành vi “nhận 
		làm của mình” hay “nhận là mình’ (appropriation), tấm bánh đó hay chén 
		rượu đó được Đức Kitô nhận “là của mình” và “là Mình” và thực sự đó 
		chính là Đức Kitô; đồng thời, trong Ngôi Vị Mình, Đức Kitô thông ban cho 
		Tấm bánh đó và Chén rượu đó một số thuộc tính thần linh của Ngài, như 
		kiểu thần tính ban cho nhân tính một số thuộc tính thần linh mà chỉ thần 
		tính mới có… Ở đây, nói theo ngôn ngữ mầu nhiệm ngôi hiệp, Đức Kitô và 
		Tấm bánh và Chén rượu đó hiệp nhất với nhau trở thành một trên cơ sở 
		Ngôi Vị Đức Kitô (in persona Christi). Những khái niệm “nhận là Mình” 
		(appropriation) và “thông ban cho nhau” (communication), như vậy, có vẻ 
		như thích hợp hơn và năng động hơn là khái niệm “biến bản thể” 
		(transsubstantiation) của thần học kinh viện… Thích hợp hơn, bởi vì gần 
		gũi với ngôn ngữ Thánh Kinh hơn (xem Ga 6,32-58; <i>Mt</i> 3,9). Năng 
		động hơn, bởi vì những khái niệm “nhận là Mình” và “thông ban cho nhau” 
		bao hàm một qúa trình tiến hóa và tương quan qua lại giữa nhau, tạo cho 
		tự do của con người và của Thiên Chúa có khoảng không gian và thời gian 
		để chọn lựa, vì đó chính là điều làm nên căn tính của con người và Thiên 
		Chúa…</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">1b- Khi được nói lên hay đọc lên bởi 
		vị Linh mục thừa tác hiệp nhất với Đức Kitô trong Ngôi Vị của Ngài, công 
		thức nầy còn có ý nghĩa: qua hành vi “nhận làm của mình” và “là Mình”, 
		vị Linh mục trong ngôi vị Đức Kitô nhận Tấm bánh đó và Chén rượu đó “là 
		của mình” và “là mình”. Vì thế, có thể nói rằng, không giây phút nào mà 
		giữa vị Linh mục thừa tác và Đức Kitô có được sự hiệp nhất sâu xa và lớn 
		lao cho bằng chính nơi giây phút mà vị Linh mục đó đọc “lời truyền 
		phép”! Bánh đó và Rượu đó đồng thời cũng là Mình và Máu của vị Linh mục 
		đang đọc lời truyền phép đó trong ngôi vị Đức Kitô…</font></p>
		<p align="justify"><i><font size="4">2- </font></i><font size="4">“… <b>
		<i>sẽ bị nộp vì các con</i></b>…” và “… <b><i>sẽ đổ ra cho các con và 
		nhiều người được tha tội</i></b>…”:</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">Những lời nầy diễn tả <i>chiều kích 
		tình yêu dâng hiến và cứu độ</i> của Bí tích Thánh Thể và Hiện sinh của 
		con người Linh mục.</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">2a- <i>Chiều kích tình yêu dâng hiến</i>: 
		Các nhà thần học ngày nay dùng hạn từ “<i>hiện hữu cho và vì…</i>” 
		(“pro-existence”) để diễn tả một hiện sinh không hiện hữu chỉ cho mình 
		mà còn cho tha nhân. Hiện sinh của Đức Kitô là mẫu mực của thứ “hiện hữu 
		cho và vì tha thể…” nầy (“propter nos homines et propter nostram 
		salutem”):</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">“<i>Không có tình yêu nào lớn hơn là 
		tình yêu dám thí cả mạng sống mình vì người mình thương mến”</i> (<i>Ga</i> 
		15,14).</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">“<i>Ai yêu sự sống mình thì sẽ mất, ai 
		ghét sự sống mình nơi thế gian nầy, thì sẽ giữ nó cho sự sống vĩnh hằng</i> 
		!” (<i>Ga</i> 12,25; <i>Mt</i> 16,25; <i>Mc</i> 8,35; <i>Lc</i> 9,23tt).</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">“<i>Quả thật, quả thật, Ta bảo các 
		ngươi: giả như hạt lúa gieo xuống đất không chết đi, thì nó trơ trọi một 
		mình; nhưng nếu nó chết đi, nó mới sai hoa lắm quả</i> !” (<i>Ga</i> 
		12,24).</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">Cũng như Mầu nhiệm Nhập thể (bao gồm 
		mầu nhiệm Sáng tạo, Mặc khải và Siêu độ) tự nó đã là sáng kiến và hành 
		vi dâng hiến tự do và nhưng không của Thiên Chúa Ba Ngôi vì tình yêu đối 
		với loài người chúng ta, Bí tích Thánh Thể và hiện sinh Linh mục thừa 
		tác cũng vậy là sáng kiến tình yêu “để ở với chúng ta mọi ngày cho đến 
		tận thế” (<i>Mt</i> 28,20), vì Thiên Chúa là Emmanuel (Thiên Chúa ở cùng 
		chúng ta, <i>Mt</i> 1,23)…</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">2b- <i>Chiều kích tình yêu siêu độ</i>: 
		Hành vi siêu độ của Đức Kitô diễn ra trên đỉnh Thập giá chính nơi giây 
		phút mà Tình yêu dâng hiến đạt đến đỉnh điểm của nó, khi mà Đức Giêsu 
		Kitô dâng hiến cho Cha cái còn lại cuối cùng là Thần Khí của Cha (<i>Ga</i> 
		19,30), và chính lúc Đức Giêsu Kitô đã dâng hiến tất cả, Ngài đã được 
		Cha ban cho lại tất cả: “Đã hoàn tất !”. Vì thế, tác giả Sách Tin Mừng 
		thứ 4 gọi “Giờ Thập giá” cũng chính là “Giờ vinh quang” (<i>Ga</i> 
		12,23: “Giờ đã đến ! cho Con Người được tôn vinh!”). Hành vi siêu độ 
		trên đỉnh Thập giá, như vậy, diễn ra khi mà Tình Yêu dâng hiến của Thiên 
		Chúa chiến thắng tất cả, cả những toan tính nhỏ nhen, cả những nỗi sợ 
		hãi, cả nỗi sợ hãi cái chết và chính cả Sự Chết…</font></p>
		<p align="justify"><i><font size="4">3- </font></i><font size="4">“<b><i>Tất 
		cả các con hãy nhận lấy mà ăn</i></b>…” và “<b><i>Tất cả các con hãy 
		nhận lấy mà uống</i></b>…”:</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">Những lời nầy diễn tả chiều kích Bữa 
		tiệc bày tỏ tình yêu hiệp thông và hiệp nhất (<i>Cv</i> 2,42-47). Bí 
		tích Thánh Thể và Hiện sinh Linh mục thừa tác, như vậy, chính là nguyên 
		lý của sự Hiệp nhất của cộng đoàn, trên cơ sở việc cử hành Lời Chúa, cử 
		hành các Bí tích và tình yêu dâng hiến…</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">“<i>Họ chuyên cần với giáo huấn của 
		các tông đồ và sự hiệp thông, việc bẻ bánh và kinh nguyện. […]. Các kẻ 
		tin hết thảy đều coi mọi sự là của chung: đất đai của cải, thì họ bán đi 
		mà phân phát cho mọi người, ai nấy tùy theo nhu cầu của mình</i>.” (<i>Cv</i> 
		2,42.44).</font></p>
		<p align="justify"><i><font size="4">4- </font></i><font size="4">“…<b><i>Các 
		con hãy làm việc nầy mà nhớ đến Thầy</i></b>”:</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">Những lời nầy mang một nội dung ý 
		nghĩa kép: một đàng, vừa có nghĩa hành vi “nhận làm của mình hay là 
		mình” (appropriation) và hành vi “thông ban cho nhau” (communication) 
		nguyên thủy được thực hiện bởi Đức Giêsu-Kitô trong Ngày Thứ Năm và Thứ 
		Sáu Tuần Thánh chỉ diễn ra một lần trong không gian và thời gian nhưng 
		mang hiệu quả và hiệu năng có tính quyết định và phổ quát cho mọi người 
		và mọi thời (<i>Dt</i> 9,11-28); đàng khác, vừa có nghĩa, khi cử hành Bí 
		tích Thánh Thể, vị Linh mục thừa tác không phải “làm lại” hay “tái diễn 
		lại” hành vi “nhận Bánh và Rượu là Thân Mình và Máu của Đức Kitô” trên 
		chiều kích dâng hiến lẫn chiều kích siêu độ, để tạo ra những hiệu năng 
		và hiệu quả như vậy một lần nữa trong thời gian và không gian, mà đúng 
		hơn là “<b><i>làm cho hiệu quả vốn đã có và đang hiện hữu hiện diện đối 
		với</i></b>…” (le rendre présent pour…), hay nói cách khác, vị Linh mục 
		thừa tác trong ngôi vị Đức Kitô, khi cử hành Bí tích Thánh Thể trong 
		không gian và thời gian là làm cho chính “Đức Kitô ‘là’ Bánh và Rượu” <b>
		<i>hiện diện</i></b> trong không gian và thời gian nơi Bánh và Rượu đang 
		được “truyền phép” trên Bàn thờ và cả nơi chính con người của vị Linh 
		mục trong ngôi vị Đức Kitô đang cử hành đó, đối với những ai tin và muốn 
		tin…(khái niệm “le mémorial”: xem <i>Xh</i> 3,15; 12,14; 13,9; <i>Tl</i> 
		16,3). Điều đó cho thấy tương quan giữa vị Linh mục thừa tác trong ngôi 
		vị Đức Kitô và Bí tích Thánh Thể cũng như đối với những kẻ tin vào Bí 
		tích nầy không đơn giản chỉ có tính tĩnh tại (statique), máy móc, phi 
		ngôi vị, hoàn toàn có tính khách quan, mà là <i>quan hệ tình yêu</i>, 
		năng động và có tính tương quan ngôi vị… Bởi vì chỉ trong quan hệ tình 
		yêu người ta mới có thể, dù không hiện hữu bên nhau, không nhìn thấy 
		nhau, nhưng người ta vẫn luôn có thể ở trong nhau, có nhau và hiện diện 
		đối với nhau (xem <i>Pl</i> 3,10-11)…</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">Như vậy, khi cử hành Bí tích Thánh 
		Thể, vị Linh mục thừa tác trong ngôi vị Đức Kitô, nhờ quyền năng Chúa 
		Thánh Thần, <b><i>làm cho Đức Kitô hiện diện cách hữu hình</i></b>, qua 
		việc ngài, trong ngôi vị Đức Kitô, nhận Tấm bánh và Chén rượu đang hiện 
		diện trên Bàn thờ đó “là của mình” và “là mình” và thực sự là thế, Và 
		như vậy, là để Đức Kitô luôn luôn “hiện diện” đối với chúng ta mọi ngày 
		cho đến tận thế…</font></p>
		<p align="justify"><b><i><font size="4">5- Cơ sở Thánh Kinh của việc Đức 
		Kitô nhận Mình là lương thực (Bánh và Thức uống [rượu và nước]) cho con 
		người</font></i><font size="4">:</font></b></p>
		<p align="justify"><font size="4">Hầu như cả bốn Sách Tin Mừng đều chứng 
		tỏ cho thấy Đức Giêsu bao giờ cũng chỉ nói và khuyên người khác làm điều 
		mà chính Ngài đã, đang và sẽ làm và thực hiện (xem thí dụ <i>Mt</i> 
		5,1-12a; <i>Lc</i> 14,25-33; <i>Ga</i> 15,13; 6,51-58; v.v…). Trong ngôn 
		ngữ Thánh Kinh Cựu Ước, trung tín, trung thành với Giao ước, với lời thề 
		hứa là một trong những đặc trưng của Thiên Chúa (<i>Xh</i> 34,6; <i>Tv</i> 
		25,10; <i>Ga</i> 18,37; <i>Kh</i> 3,14; v.v…)… </font></p>
		<p align="justify"><font size="4">5a- “… <i>Bánh hằng sống bởi trời 
		xuống, chính là Ta ! Ai ăn bánh nầy, thì sẽ được sống đời đời. Và <b>
		bánh Ta sẽ ban, ấy là thịt mình Ta</b> vì sự sống thế gian</i>.” (<i>Ga</i> 
		6,51) và “…<i>Bánh sự sống, chính là Ta ! […]. Vì thịt Ta <b>thật là</b> 
		của ăn và máu Ta <b>là thật</b> của uống</i>. <i>Kẻ</i> <i>ăn thịt Ta và 
		uống máu Ta thì lưu lại trong Ta, và Ta ở trong kẻ ấy</i>.” (<i>Ga</i> 
		6,48.55-56): Phản ứng của một số kẻ nghe lúc đó (<i>Ga</i> 6,60) cho 
		thấy ngôn ngữ của Đức Giêsu có lẽ khá rõ ràng và cụ thể, chứ không theo 
		nghĩa tượng trưng hay ẩn dụ gì cả: “<b><i>ăn</i></b>” (manducare, 
		manger) thịt và “<b><i>uống</i></b>” (bibere, boire) máu ! Có thể bởi vì 
		họ chưa biết việc Đức Giêsu, trong Bí tích Thánh Thể, nhận tấm bánh ăn 
		và chén rượu uống trong bữa tiệc hiệp thông là Thịt Mình và Máu Mình 
		(appropriation) và khi ăn “tấm bánh” đó và uống “chén rượu” đó chính là 
		“ăn” và “uống” Thịt và Máu của Đức Giêsu-Kitô ! </font></p>
		<p align="justify"><font size="4">5b- “…<i>thì sẽ được sống đời đời</i>.” 
		(<i>Ga</i> 6,51) và “…<i>thì lưu lại trong Ta và Ta ở trong kẻ ấy</i>.” 
		(<i>Ga</i> 6,56): những lời nầy diễn tả tương quan giữa chiều kích tình 
		yêu dâng hiến và chiều kích tình yêu siêu độ, tức là sự sống vĩnh hằng, 
		sự sống Tình Yêu Thiên Chúa-Ba Ngôi, luôn tương tại và tương ngụ trong 
		nhau, luôn sống cho nhau và vì nhau…</font></p>
		<p align="justify"><i><font size="4">6- Một vài suy tư thần học</font></i></p>
		<p align="justify"><font size="4">Trên cơ sở những phân tích trên đây, 
		có thể nói rằng:</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">6a- Cũng như trong Mầu nhiệm Nhập thể,
		<b><i>chỉ có vấn đề Thiên Chúa tự hủy làm người</i></b> (“Et Verbum caro 
		factum est” nơi Ga 1,14) chứ không có vấn đề ngược lại là con người tự 
		mình làm Thiên Chúa, nơi Bí tích Thánh Thể, cũng vậy, <b><i>chỉ có vấn 
		đề Đức Kitô và vị Linh mục thừa tác trong ngôi vị của Ngài tự hủy nhận 
		Bánh đó và Rượu đó là Mình</i></b> (et Christus panis factus est, et 
		Christus vinum factus est), chứ không có vấn đề ngược lại là Bánh và 
		Rượu có thể tự mình làm thành mình và máu Đức Kitô. Đây là vấn liên quan 
		tình yêu nhưng không, tự do và ân sủng của Thiên Chúa… </font></p>
		<p align="justify"><font size="4">6b- Tương quan giữa vị Linh mục thừa 
		tác trong ngôi vị Đức Kitô và Bí tích Thánh Thể là tương quan <b><i>có 
		tính hữu thể</i></b> (relation ontologique): điều nầy có nghĩa cũng như 
		nơi Bí tích truyền chức thánh, qua quyền năng và tác động của Chúa Thánh 
		Thần, Đức Kitô tự hủy nhận con người vị Linh mục thừa tác làm là mình và 
		cả hai hiệp nhất với nhau trên cơ sở ngôi vị Đức Kitô qua cấu trúc cấu 
		thể hữu thể như nơi mầu nhiệm ngôi hiệp, ở đây, cũng vậy, khi vị Linh 
		mục thừa tác trong ngôi vị Đức Kitô “truyền phép”, nhờ quyền năng và tác 
		động của Chúa Thánh Thần, vị Linh mục thừa tác đang tế lễ đó hiệp nhất 
		với bánh và rượu trên bàn thờ nên một trên cơ sở ngôi vị Đức Kitô…</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">6c- Tương quan giữa vị Linh mục thừa 
		tác trong ngôi vị Đức Kitô với Bí tích Thánh Thể và Giáo hội: bởi vì 
		Giáo hội vốn được gọi là “Thân Mình mầu nhiệm của Đức Kitô”, vì thế cho 
		nên, vị Linh mục thừa tác <b><i>chỉ</i></b> ở trong ngôi vị Đức Kitô <b>
		<i>khi ngài hiện hữu trong, bởi, cho và vì Đức Kitô, Giáo hội</i></b> <b>
		<i>và Bí tích Thánh Thể</i></b>… </font></p>
		<p align="justify"><font size="4">Đó chính là cơ sở của Khoản Giáo luật 
		1378, § 2, 1°: “… Những người sau đây bị phạt vạ cấm chế tiền kết và bị 
		vạ huyền chức, nếu là giáo sĩ: người nào không phải là tư tế mà dám cử 
		hành phụng vụ Hiến Tế Thánh Thể…”</font></p>
		<p align="justify"><b><font size="4">Bài 3: </font></b></p>
		<p align="justify"><b><font size="4">TƯƠNG QUAN GIỮA VỊ LINH MỤC THỪA 
		TÁC </font></b></p>
		<p align="justify"><b><font size="4">VÀ BÍ TÍCH HÒA GIẢI </font></b></p>
		<p align="justify"><b><font size="4">QUA LĂNG KÍNH MẦU NHIỆM NGÔI HIỆP</font></b></p>
		<p align="justify"><font size="4">Bí tích Hòa giải, trước tiên, có hiệu 
		năng khôi phục lại những tương quan vốn có giữa con người với Thiên 
		Chúa, với tha nhân, với chính bản thân mình và với thiên nhiên vũ trụ đã 
		bị phá vỡ do ích kỷ, kiêu căng, ghen ghét, hận thù, bất tuân và mù 
		quáng, v.v…, hay nói chung là do tội lỗi (xem <i>St</i> 3,1-24).</font></p>
		<p align="justify"><b><font size="4">1- Việc phân tích Công thức tha tội 
		của Giáo hội sẽ giúp chúng ta hiễu rõ hơn hiệu năng của Bí tích nầy và 
		tương quan giữa vị Linh mục thừa tác với Bí tích Hòa giải:</font></b></p>
		<p align="justify"><font size="4">1a – <i>“<b>Thiên Chúa là Cha hay 
		thương xót, đã nhờ sự chết và sống lại của Con Chúa mà giao hòa thế gian 
		với Chúa</b></i>…”:</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">Sự Hòa giải nguyên thủy, hoàn hảo, vẹn 
		toàn, tuyệt đối, một lần thay cho tất cả hay sự Hòa giải của tất cả mọi 
		hòa giải đã được thể hiện nơi Đức Giêsu-Kitô vốn vừa là Thiên Chúa thật 
		vừa là con người thật nơi mầu nhiệm Ngôi hiệp, tức là nơi việc thần tính 
		và nhân tính của Đức Kitô hiệp nhất trên cơ sở Ngôi Vị của Ngài “vì loài 
		người chúng ta và để cứu độ chúng ta” (propter nos homines et propter 
		nostram salutem).</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">Và, bởi vì nhân tính của Đức Kitô cũng 
		chính là nhân loại toàn thể (xem <i>Ga</i> 1,3; <i>Tv</i> 33,6; <i>Cl</i> 
		1,15-20; <i>Kh</i> 3,14; 1<i>Cr</i> 8,6), cho nên khi nhân tính của Đức 
		Kitô hoàn toàn hiệp nhất với thần tính của Ngài trên cơ sở Ngôi Vị của 
		Ngài trong hành vi tình yêu dâng hiến hoàn toàn trên đỉnh thập giá cũng 
		chính là lúc toàn thể nhân loại mọi nơi và mọi thời được thần linh hoá, 
		được thánh hiến, được siêu độ, được tha thứ và được tái hòa giải lại với 
		Thiên Chúa, với tha nhân, với thiên nhiên vũ trụ và với chính bản thân 
		mình… </font></p>
		<p align="justify"><font size="4">1b- “… <b><i>và ban Thánh Thần để tha 
		tội</i></b>…”: </font></p>
		<p align="justify"><font size="4">Theo ngôn ngữ Thánh Kinh, chỉ có Thiên 
		Chúa và Con Người hay là Đức Kitô mới có quyền tha tội (xem <i>Mc</i> 
		2,3-12). Vậy, khi nói “ban Thánh Thần để tha tội”, điều nầy hẳn có nghĩa 
		là Thánh Thần của Đức Kitô cũng là Thánh Thần của Thiên Chúa hay là 
		chính Đức Kitô, chính Ngôi Vị Đức Kitô tha tội… Đó chính là Thần Khí của 
		Đức Kitô Phục Sinh hằng ở với chúng ta mọi ngày cho đến tận thế (xem <i>
		Ga</i> 14,16-31; 20,23; <i>Mt</i> 28,19-20).</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">1c- “…<b><i>Xin Chúa dùng thừa tác vụ 
		của Hội Thánh mà ban cho […] ơn tha thứ và bình an</i></b>…”: </font>
		</p>
		<p align="justify"><font size="4">Ơn tha thứ và bình an, như đã phân 
		tích ở trên, chỉ có thể có “<i>trong</i>”, “<i>bởi</i>” và “<i>với</i>” 
		Đức Kitô cách uyên nguyên và “Thân Mình mầu nhiệm” của Ngài là Giáo Hội 
		nhờ ân sủng được ban cho (hay “thừa tác”) – tức là do được Đức Kitô nhận 
		“là” Mình – mà thôi. Tác vụ hòa giải và tha tội đích thực và toàn vẹn, 
		như vậy, chỉ có thể được thực hiện bởi vị Linh mục thừa tác trong ngôi 
		vị Đức Kitô và trong Giáo Hội là Thân Mình mầu nhiệm của Ngài mà thôi…</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">1d- “…<b><i>Vậy, tôi tha tội cho […] 
		nhân Danh Cha và Con và Thánh Thần</i></b>.”:</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">Cũng như trong mầu nhiệm ngôi hiệp, 
		tuy là hai bản tính (thần tính và nhân tính), nhưng ở nơi Đức Kitô chỉ 
		là một Ngôi Vị hay chỉ có một cái “TÔI” mà thôi, cũng vậy, cái “tôi” ở 
		đây chỉ có thể là cái “tôi” trong ngôi vị Đức Kitô, cái “tôi” được nhận 
		là “cái tôi thiên chúa”: chỉ trong điều kiện cái tôi thiên chúa như vậy 
		(nghĩa là thuộc về cấu trúc hữu thể học) mới có thể có quyền tha tội 
		(xem <i>Mc</i> 2,3-12).</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">Và, trên cơ sở mầu nhiệm Thiên Chúa-Ba 
		Ngôi cùng tương ngụ trong nhau (inhabitation trinitaire), hành vi tha 
		tội và hòa giải trong ngôi vị Đức Kitô hẳn đồng thời cũng phải là hành 
		vi trong và bởi Mầu nhiệm Thiên Chúa-Ba Ngôi: được tha thứ bởi Thiên 
		Chúa-Ba Ngôi và được hòa giải với Thiên Chúa-Ba Ngôi…</font></p>
		<p align="justify"><b><font size="4">2- Cơ sở Thánh Kinh của việc tha 
		tội bởi Thiên Chúa, bởi Con Người và của việc hòa giải với Thiên Chúa, 
		với tha nhân, với thiên nhiên vũ trụ và với chính bản thân mình:</font></b></p>
		<p align="justify"><font size="4">2a- <b><i>Mc 2,3-12</i></b>: “…[…]. 
		‘Ai nào có thể tha tội được, trừ phi là một mìmh Thiên Chúa?’.[…]. ‘Song 
		để các ông biết Con Người có quyền tha tội dưới đất’.”</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">2b- <b><i>Mt 16,19</i></b>: “…Ta sẽ 
		trao cho ngươi chìa khóa Nước Trời, và điều gì dưới đất ngươi cầm buộc, 
		thì cũng sẽ bị cầm buộc trên trời, và điều gì dưới đất ngươi tháo cởi 
		thì cũng sẽ được tháo cởi trên trời.” </font></p>
		<p align="justify"><font size="4">Quyền năng tha tội không chỉ được ban 
		cho Phêrô thôi mà còn cho toàn thể tông đồ đoàn (collège apostolique): 
		“Quả thật, Ta bảo các ngươi: mọi điều dưới đất các ngươi cầm buộc, thì 
		cũng sẽ bị cầm buộc trên trời , và mọi điều dưới đất các ngươi tháo cởi, 
		thì cũng sẽ được tháo cởi trên trời.” ( xem <i>Mt</i> 18,18); và cho các 
		môn đệ được qui tụ lại với nhau như một tập thể, một cộng đoàn: “… Nói 
		thế rồi, Ngài thổi hơi trên họ và nói với họ: ‘Hãy chịu lấy Thánh thần. 
		Các ngươi tha tội cho ai, thì tội họ được tha; các ngươi cầm giữ tội ai, 
		thì tội họ bị cầm giữ!’.” (<i>Ga</i> 20,23). </font></p>
		<p align="justify"><font size="4">2c- <b><i>Lc 15,11-32</i></b>: “[…]. 
		Hồi tâm lại, nó nói: Biết bao nhiêu người làm công cho cha tôi có dư 
		thừa bánh ăn, còn tôi thì phải chết đói ở đây ! Thôi dậy ! tôi sẽ về 
		cùng cha tôi, tôi sẽ nói với người: ‘Thưa cha, con đã trót phạm tội 
		nghịch với Trời và với cha; con không còn đáng gọi là con cha nữa, xin 
		xử với con như một người làm công của cha thôi’ (đối chiếu với <i>St</i> 
		3,1-24). […]. ‘Ta phải ăn khao mới được ! vì nầy con ta đây: nó đã chết 
		mà lại hoàn sinh, đã mất đi mà lại tìm thấy được’.”</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">2d- <b><i>Cl 1,18-20</i></b>: “Ngài là 
		đầu của Thân mình, tức là Hội thánh. Ngài là khởi nguyên, là trưởng tử 
		giữa các vong nhân, ngõ hầu trong muôn sự Ngài là đệ nhất vô song! Vì 
		chưng, Thiên Chúa đã quyết ý cho tất cả Viên mãn đậu lại trong Ngài. <i>
		Và đã giảng hòa cả vạn vật nhờ Ngài và cho Ngài, đã ban lại bình an nhờ 
		bửu huyết đổ ra nơi Thập giá của Ngài, cho mọi vật dù ở dưới đất hay ở 
		trên trời </i>!”</font></p>
		<p align="justify"><b><font size="4">3- Một vài suy tư thần học </font>
		</b></p>
		<p align="justify"><i><font size="4">3a- Sự tha thứ “bởi” con người và 
		sự tha thứ “bởi” Thiên Chúa: </font></i></p>
		<p align="justify"><font size="4">Sự phân biệt và so sánh nầy thực ra 
		chỉ có tính tương đối và vạn bất đắc dĩ mà thôi, cốt là để cho dễ hiểu 
		và dễ nắm bắt hơn, bởi vì, nói theo ngôn ngữ thần học, tất cả mọi hiện 
		hữu, mọi hành vi thánh thiện của con người đều chỉ có thể có được “<i>trong</i>” 
		Thiên Chúa mà thôi (xem <i>Rm</i> 11,36; 1<i>Cr</i> 8,6; <i>Cl</i> 
		1,16tt). Khi nói tha thứ “bởi” con người là có ý nhấn mạnh khía cạnh 
		hành vi tha thứ giữa con người với con người nói chung dù hành vi đó 
		trên thực tế diễn ra <i>trong </i>Thiên Chúa. Còn khi nói tha thứ “bởi 
		Thiên Chúa” là có ý nhấn mạnh sự tha thứ bởi vị Linh mục thừa tác trong 
		ngôi vị Đức Kitô vừa là Thiên Chúa thật vừa là con người thật.</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">Trong ngôn ngữ Thánh Kinh có vẻ như có 
		sự khác biệt giữa sự tha thứ nói chung giữa con người với nhau và với sự 
		“tha tội” chỉ bởi Thiên Chúa mà thôi: tha thứ thì tất cả mọi người đều 
		có bổn phận phải tha thứ (<i>Mt</i> 18,21; <i>Lc</i> 17,4; 11,4; v.v…), 
		nhưng “tha tội” (quyền “cởi trói” và “cầm buộc”) thì có vẻ như chỉ những 
		ai được ban cho “<i>thẩm quyền tha tội</i>” mới được tha tội (xem <i>Mt</i> 
		9, 6; <i>Mc</i> 2,10; <i>Lc</i> 5,24; <i>Mt</i> 12,31). Ngoài ra, việc 
		con người có được Thiên Chúa tha tội như thế nào có phần còn tuỳ thuộc 
		vào việc con người có tha thứ cho nhau hay không và như thế nào (xem <i>
		Mt</i> 6,12-15; 18,35; <i>Mc</i> 11,25-26). </font></p>
		<p align="justify"><i><font size="4">3b- Thẩm quyền tha tội (quyền “cởi 
		trói” và “cầm buộc”) của vị Linh mục thừa tác trong ngôi vị Đức Kitô</font></i><font size="4">:
		</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">Như đã lưu ý ở trên, mục 2b, chỉ có 
		Thiên Chúa và Con Người, tức là chính Đức Kitô, vừa là Thiên Chúa thật 
		vừa là con người thật mới có quyền tha tội: đó là Thẩm quyền nguyên 
		thủy, do căn… Các thừa tác viên có chức thánh khác (trừ phó tế), kể từ 
		Giáo hoàng, Hồng y, Giám mục, và Linh mục thừa tác chỉ có quyền tha tội 
		trong ngôi vị Đức Kitô mà thôi, tức là do ân sủng được ban cho: “Chỉ có 
		tư tế là thừa tác viên của bí tích Sám Hối” (GL. Khoản 965)…</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">Tuy nhiên, bởi vì Phêrô, vị Giáo hoàng 
		tiên khởi và tông đồ đoàn (các hồng y và giám mục?) vốn được ban cho 
		thẩm quyền nầy có lẽ không phải cách đầy đủ hơn và trọn vẹn hơn mà đúng 
		hơn là vì phạm vi phục vụ của các ngài rộng lớn hơn và bao quát hơn (xem
		<i>Mt</i> 18,18; <i>Ga</i> 20,23), nên thẩm quyền của các ngài mang tính 
		phổ quát hơn là các Linh mục thừa tác mà phạm vi phục vụ vốn là những 
		cộng đoàn nhỏ bé hơn: điều nầy được phản ánh trong Bộ Giáo luật 1983 bao 
		gồm các Khoản từ 965 đến hết 973… Đàng khác, có lẽ bởi vì một đàng để đề 
		cao tầm quan trọng của Bí tích nầy và đàng khác để tránh những lạm dụng 
		có thể xãy ra, Giáo luật Khoản 973 qui định: “<i>Năng quyền giải tội 
		thường xuyên phải được ban bằng văn bản</i>”.</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">Ở đây, cần lưu ý là thẩm quyền tha tội 
		mà vị Linh mục thừa tác có được là vì vị Linh mục thừa tác đó được hiệp 
		nhất với Đức Kitô trong ngôi vị của Ngài và vì thế “trong cương vị của 
		Đức Kitô” (“en raison d’être le Christ”) chứ không vì bất cứ lý do ngoại 
		tại nào khác cả, thì dụ như những kiểu nói không thích hợp như: “vì thay 
		mặt hay đại diện Đức Kitô” hoặc “vì được ủy quyền”, thậm chí cả những 
		kiểu nói “đồng hình đồng dạng” hay “alter Christus”, v.v… </font></p>
		<p align="justify"><b><font size="4">Bài 4:</font></b></p>
		<p align="justify"><b><font size="4">LINH MỤC THỪA TÁC, NGÀI LÀ AI?</font></b></p>
		<p align="justify"><font size="4">Có thể nói rằng dung mạo của vị Linh 
		mục thừa tác đã lộ rõ ra khá rõ ràng khi chúng ta phân tích về những 
		tương quan giữa ngài với Đức Kitô, với Bí tích Thánh Thể và với Bí tích 
		Hòa Giải…</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">Như một đúc kết tạm thời và sơ lược, 
		bài nầy cố gắng rút ra một số hệ luận từ những phân tích trên đây:</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">1- Linh mục thừa tác, ngài là ai?</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">2- Vai trò và vị trí của ngài trong 
		tương quan với Giáo Hội và các Cộng đoàn…</font></p>
		<p align="justify"><b><i><font size="4">I- Linh mục thừa tác, ngài là 
		ai?</font></i></b></p>
		<p align="justify"><font size="4">Ngài là “<i>con người trong ngôi vị 
		Đức Kitô</i>” hay “<i>con người được Đức Kitô nhận là Mình</i>”: điều 
		nầy khác xa với những khái niệm “Alter Christus” (Đức Kitô khác hay Đức 
		Kitô thứ hai…), hay “Đại diện Đức Kitô” hay “Đồng hình đồng dạng với Đức 
		Kitô”… </font></p>
		<p align="justify"><font size="4">I.1- Điều đó, nói theo ngôn ngữ mầu 
		nhiệm ngôi hiệp, trước tiên, có nghĩa vị Linh mục thừa tác vừa là Đức 
		Kitô thật vừa là con người thật với những yếu đuối, những bất toàn và 
		với cả tội lỗi, v.v…Bởi vì, con người “thánh” không đồng nghĩa với con 
		người “hoàn hảo” hay “hoàn thiện” (perfection) mà đơn giản có nghĩa là 
		con người được Thiên Chúa yêu thương và tha thứ…Chúng ta hãy nhớ đến các 
		Tông đồ của Đức Giêsu: những Phêrô yếu đuối, những Giacôbê và Gioan đầy 
		tham vọng trần tục, những Giuđa Iscariôt tham tiền và phản bội, v.v… Là 
		chính Đức Kitô, nên ngài mới có thể “truyền phép Bánh và Rượu” và “nói”: 
		“Nầy là Mình Thầy…” và “Nầy là chén Máu Thầy…”, để chính Đức Kitô và 
		ngài “là” Bánh đó và Rượu đó (xem <i>GL</i> Kk. 899 § 2 và 900 § 1)…Là 
		chính Đức Kitô, nên ngài mới có thể tha tội, và “nói”: “Và Tôi, Tôi tha 
		tội cho Ông (Bà, Anh, Chị…) nhân Danh Cha và Con và Thánh Thần…”. Nhưng, 
		đồng thời, ngài cũng là con người với những bất toàn, những yếu đuối, 
		những sa ngã, những tội lỗi, v.v…, cần được thông cảm, được thứ tha và 
		được xây dựng…Như thế, nói theo ngôn ngữ của Thánh Phaolô, là vì: “Nhưng 
		chính những điều thế gian coi là điên rồ, thì Thiên Chúa đã chọn để bêu 
		nhuốc hạng khôn ngoan; và những điều thế gian coi là yếu đuối, thì Thiên 
		Chúa đã chọn để bêu nhuốc những gì là mạnh mẽ. Những điều thế gian cho 
		là ti tiện, là không đáng kể, thì Thiên Chúa đã chọn, những điều không 
		không, để hủy ra không những điều có, ngõ hầu đừng có xác phàm nào dám 
		vinh vang trước mặt Thiên Chúa.” (1<i>Cr</i> 1,27-29). </font></p>
		<p align="justify"><font size="4">I.2- Thứ đến, cương vị “là Đức Kitô” 
		hay “trong ngôi vị của Đức Kitô” đó của vị Linh mục thừa tác, vốn <i>
		vĩnh</i> <i>hằng</i> (<i>Ep</i> 1, 4) và, sau khi đã được một vị giám 
		mục hợp pháp của Giáo hội, dưới quyền năng Chúa Thánh thần, truyền ban, 
		là <i>vĩnh viễn</i>, không ai và không gì có thể tước đi được (xem <i>Dt</i> 
		5,1-10; 7,24-28; <i>Ga</i> 15,14-16; 17,6-26; v.v…): người ta chỉ có thể 
		cấm đoán hay tước đi quyền cử hành một số Bí tích và quyền thi hành mục 
		vụ của ngài trong một thời gian nào đó, đối với một số đối tượng nào đó, 
		v.v…, chứ không thể tước đi cương vị hay tư cách là “con người trong 
		ngôi vị của Đức Kitô” của ngài được. Lý do, bởi vì cương vị “là Đức 
		Kitô” đó vốn <i>nằm trong cấu trúc hữu thể học</i> của vị Linh mục thừa 
		tác (xem <i>Ga</i> 13,20), chứ không phải là yếu tố ngoại tại. Đó chính 
		là lý do giải thích tại sao Giáo luật của Giáo hội chủ trương rằng trong 
		một số tình huống khẩn cấp và đặc biệt (như chiến tranh, bom đạn), một 
		vị Linh mục thừa tác trước đó vốn bị cấm đoán có thể tự động được ban Bí 
		tích Hòa giải cho giáo dân, “propter nos homines” và “propter nostram 
		salutem” (xem <i>GL</i>, Kk. 976 và 986 § 2).</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">Ngày 15-12-2009 vùa qua, qua Tự Sắc 
		“OMNIUM IN MENTEM”, Đức Giáo Hoàng Bênêđictô XVI đã cho thêm vào Khoản 
		Giáo Luật 1009 một triệt 3 qui định: “<i>Những người được tấn phong chức 
		giám mục hoặc Linh mục nhận lãnh sứ mạng và năng quyền hành động trong 
		ngôi vị Đức Kitô Thủ lãnh, nhưng các phó tế thì được ban cho năng quyền 
		phục vụ dân Chúa trong vai trò phụ việc trong cử hành phụng vụ, Lời Chúa 
		và bác ái</i>” (1009 § 3: “Ceux qui sont constitués dans l’ordre de 
		l’épiscopat ou du presbytérat reçoivent la mission et la faculté d’agir
		<i>en la personne du Christ tête</i>, mais les diacres sont habilités à 
		servir le peuple de Dieu dans la diaconie de la liturgie, de la parole 
		et de la charité”).</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">I.3- Khi nói “cương vị là Đức Kitô” 
		thuộc về cấu trúc hữu thể học của vị Linh mục thừa tác, điều nầy không 
		có nghĩa, giống như Đức Giêsu-Kitô vốn là Ngôi Lời Thiên Chúa và là 
		Thiên Chúa và Đức Maria vốn được những đặc ân như vô nhiễm nguyên tội, 
		thánh thiện không tì vết, mặc dụ vẫn phải đối diện với những cám dỗ, 
		những thử thách trong cuộc đời trấn thế, mà chỉ muốn nói rằng, cũng như 
		nơi các Tông đồ của Đức Kitô, “cương vị là Đức Kitô” mà vị Linh mục thừa 
		tác nhận được trong ngày lễ Phong chức vốn bắt đầu như một “<i>hiện hữu 
		ở đó</i>” (“être en lui”) và sẽ từ từ qua quá trình cuộc sống trở thành 
		“<i>hiện diện đối với ngài</i>” (“être présent pour lui…”), và trong quá 
		trình đó, hẳn ngài sẽ phải đối diện với những thử thách, cám dỗ và thậm 
		chí những sa ngã…(xem 1<i>Tm</i> 4,6-16; 2<i>Tm</i> 3,10-17; 1<i>Cr</i> 
		3,18-23; 4,1-5; 2<i>Cr</i> 4,1-11, v.v…).</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">Quá trình đi từ “hiện hữu nơi ngài” 
		(“être en lui”) đến “hiện diện đối với ngài” (“être présent pour lui”) 
		chỉ có thể là qúa trình tình yêu được sống, qúa trình tương quan ngày 
		càng mật thiết, sống động và cá vị giữa vị Linh mục thừa tác với Đức 
		Giêsu Kitô, với Thân Mình mầu nhiệm của Ngài là chính Giáo Hội và với 
		tha nhân, đặc biệt “những con người bé nhỏ”… Đó là một tương quan có 
		tính năng động, hỗ tương và biện chứng, tức là vị Linh mục thừa tác càng 
		yêu thương Thiên Chúa và con người bao nhiêu bằng một tinh yêu vị tha, 
		dâng hiến, Đức Kitô càng hiện diện đối với ngài và trong ngài bấy nhiêu, 
		và ngược lại, Đức Kitô càng hiện diện bao nhiêu đối với vị Linh mục thừa 
		tác, ngài sẽ càng yêu thương nhiều bấy nhiêu và ngài càng “là mình” 
		(identité) bấy nhiêu… Người ta sẽ hiểu được căn tính (identité) của vị 
		Linh mục thừa tác cách rõ ràng hơn khi nghiên cứu vai trò, vị trí của 
		ngài trong tương quan với Giáo hội-Thân Mình mầu nhiệm của Đức Kitô…
		</font></p>
		<p align="justify"><b><i><font size="4">II- Vai trò và vị trí của vị 
		Linh mục thừa tác trong tương quan với Giáo Hội và các Cộng đoàn…</font></i></b></p>
		<p align="justify"><font size="4">Có thể nói rằng <i>Ep</i> 4,11-13, một 
		cách tổng quát, cho chúng ta thấy rõ vai trò, chức năng và vị trí của vị 
		Linh mục thừa tác trong Giáo hội và các cộng đoàn:</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">“<i>Đức Kitô đã ban ơn cho kẻ nầy làm 
		Tông Đồ, người nọ làm ngôn sứ, kẻ khác làm người loan báo Tin Mừng, kẻ 
		khác nữa làm người coi sóc và dạy dỗ. Nhờ đó, dân thánh được chuẩn bị để 
		làm công việc phục vụ, <b>là xây dựng thân thể Đức Kitô, cho đến khi tất 
		cả chúng ta đạt tới sự hiệp nhất trong đức tin và trong sự nhận biết Con 
		Thiên Chúa, tới tình trạng con người trưởng thành, tới tầm vóc viên mãn 
		của Đức Kitô</b></i>” (<i>Ep</i> 4,11-13).</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">Còn <i>Cv</i> 2,42 thì lại cho chúng 
		ta thấy Hiện sinh đời sống của Giáo hội thời sơ khai và mọi thời được 
		lập căn trên 4 yếu tố nền tảng: “<i>Họ chuyên cần với giáo huấn của các 
		tông đồ và sự hiệp thông, việc bẻ bánh và kinh nguyện</i>”. Việc phân 
		tích <i>Cv</i> 2,42 sẽ cho chúng ta thấy rõ được vai trò và chức năng và 
		sứ mạng cụ thể của vị Linh mục thừa tác…</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">II.1- “<b><i>Họ chuyên cần với giáo 
		huấn của các tông đồ</i></b>”: Giáo hội, trước tiên, <i>là một tập thể 
		những người qui tụ lại với nhau để lắng nghe Lời Chúa</i> (Assemblée du 
		Seigneur). Vị Linh mục thừa tác chính là người mang trách nhiệm qui tụ, 
		công bố, rao giảng và giải thích Lời Chúa nhân danh Giáo Hội, Thân Mình 
		mầu nhiệm của Đức Kitô, tiếp nối truyền thống giáo huấn của các tông đồ.</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">II.2- “…<b><i>và sự hiệp thông</i></b>”: 
		Thứ đến, Giáo Hội là một tập thể những con người có cùng chung xác tín 
		tất cả mọi người đều là anh chị em với nhau vì cùng có chung một Cha là 
		Thiên Chúa, Đấng Tạo Thành mọi sự; hay nói cách khác, là tập thể những 
		con người có cùng chung một Niềm Tin, một Niềm Hy Vọng và một Tình Yêu. 
		Chính ở đây, <i>vị Linh mục thừa tác là nguyên lý của sự hiệp nhất của 
		cộng đoàn</i>…</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">II.3- “…<b><i>việc Bẻ Bánh</i></b>”: 
		Sư hiệp thông luôn đòi hỏi tình yêu dâng hiến: cả hai điều nầy được thể 
		hiện cách cụ thể nơi Bí Tích Thánh Thể. Vì thế <i>việc tuyên xưng, cử 
		hành và sống Bí Tích Thánh Thể chính là một trong những yếu tố làm nên 
		nguyên lý, phương tiện và mục đích của hiện sinh của Giáo hội và làm nên 
		chính căn tính của Giáo hội và cả của vị Linh mục thừa tác</i>…</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">II.3a- Bí Tích Thánh Thể và Căn tính 
		của Giáo Hội: </font></p>
		<p align="justify"><font size="4">Bí tích Thánh Thể, trước tiên, là <i>
		nguyên lý</i> của Căn tính của Giáo hội như là Thân Thể nhiệm mầu của 
		Đức Kitô. Là nguyên lý, bởi vì, chính Bí tích Thánh Thể là nguyên lý 
		khai sinh ra căn tính của Giáo hội, hay nói cách khác, chính Bí tích 
		Thánh Thể làm cho Giáo hội là Thịt và là Máu của Đức Kitô, như là Bí 
		tích của Đức Kitô giữa lòng thế giới…</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">Thứ đến, Bí tích Thánh Thể là <i>
		phương tiện</i> (moyen) xây dựng Căn tính của Giáo hội. Điều đó có nghĩa 
		là Bí tích Thánh Thể vừa khai sinh ra vừa nuôi dưỡng Giáo Hội như là 
		Thân Thể của Đức Kitô được trao ban cho nhân loại mọi nơi và mọi thời…</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">Sau cùng, Bí tích Thánh Thể chính là 
		điều mà Giáo Hội phải và đang trở thành: “Nầy là Mình Thầy !” (<i>Mc</i> 
		14,22.24 và ss) và “Anh em thân mến, hiện giờ ta là con cái Thiên Chúa; 
		ta sẽ là gì, thì chưa được tỏ hiện, ta biết rằng một khi điều ấy tỏ 
		hiện, thì ta sẽ được giống như Người, vì Người thế nào, ta sẽ được thấy 
		như vậy” (1<i>Ga</i> 3,2). Hay nói cách khác, Bí tích Thánh Thể cũng 
		chính là <i>cùng đích</i> của Giáo Hội… </font></p>
		<p align="justify"><font size="4">II.3b- Bí tích Thánh Thể và Căn tính 
		của vị Linh mục thừa tác: Cũng như trong tương quan với Giáo hội-Thân 
		Mình mầu nhiệm của Đức Kitô, Bí tích Thánh Thể cũng là một trong những 
		yếu tố căn bản làm nên nguyên lý, phương tiện và cùng đích của Căn tính 
		của vị Linh mục thừa tác.</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">Trước tiên, là <i>nguyên lý của Căn 
		tính của chức Linh mục thừa tác</i>, bởi vì, giữa Chức thánh Linh mục 
		thừa tác và Bí tích Thánh Thể có mối tương quan mật thiết và hỗ tương 
		với nhau. Tương quan mật thiết, vì chính Đức Kitô đã thiết lập cùng lúc 
		hai Bí tích nầy (Truyền chức thánh và Thánh Thể) trong Bữa Tiện Ly Ngày 
		Thứ Năm Tuần Thánh. Và như đã lưu ý trước đây, có lẽ sẽ không có Chức 
		thánh Linh mục thừa tác nếu không có Bí tích Thánh Thể và ngược 
		lại…Tương quan hỗ tương, bởi vì hai Bí tích nầy tác động hỗ tương đối 
		với nhau: vị Linh mục thừa tác càng “sống” căn tính của mình càng “nầy 
		là Mình Thầy” hơn và vì thế càng trở nên “Bí tích Thánh Thể” hơn, và 
		ngược lại…</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">Thứ đến, là <i>phương tiện</i> không 
		thể thiếu giúp vị Linh mục sống và thể hiện Căn tính đặc thù của mình là 
		tình yêu hiệp thông và hiến tế: vị Linh mục thừa tác chỉ trở thành 
		“lương thực” và “thức uống” cho mọi người ăn và uống khi thực sự “sống” 
		Bí tích Thánh Thể hay nói cách khác, khi ngài cũng là chính Bí tích 
		Thánh Thể…</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">Sau cùng, là <i>cùng đích</i> của Căn 
		tính của chức Linh mục thừa tác, nghĩa là chức thánh Linh mục thừa tác 
		vốn là một “hữu thể đang trở thành” (être en devenir) của hành vi “Nầy 
		là Mình Thầy” và “Nầy là Chén Máu Thầy” và cùng đích của quá trình nầy 
		chính là Bí tích Thánh Thể (xem 1 <i>Ga</i> 3,2)…</font></p>
		<p align="justify"><font size="4">II.4- “…<b><i>và kinh nguyện</i></b>”: 
		kinh nguyện cá nhân cũng như tập thể là cơ hội và là môi trường để con 
		người “<i>tiếp</i> <i>cận</i>” với Thiên Chúa, với tha nhân và với chính 
		cả bản thân mình… Và đó cũng chính là lúc và là nơi mà dung mạo của Giáo 
		hội được bày tỏ và thể hiện cách hết sức đặc thù. Ở đây, vai trò chính 
		của vị Linh mục thừa tác là “<i>qui tụ</i>” Dân Chúa lại với nhau, cùng 
		đồng hành với họ và là “<i>cầu nối</i>” (pontifex) giữa con người và 
		Thiên Chúa và ngược lại, trong ngôi vị Đức Kitô là Đầu…</font></p>
		<p align="justify"><b><i><font size="4">III- Sự Hiện diện có tính bí 
		tích của vị Linh mục thừa tác giữa lòng Giáo hội …</font></i></b></p>
		<p align="justify"><font size="4">Trên cơ sơ những phân tích và suy tư 
		trên đây, hé lộ cho chúng ta thấy một chiều kích huyền nhiệm nữa nơi Căn 
		tính đặc thù của vị Linh mục thừa tác đó là Hiện diện của ngài giữa lòng 
		thế giới và Giáo hội là một <i>Hiện diện có tính bí tích</i> (Présence 
		sacramentelle) (xem <i>Mt</i> 28,20; <i>Lc</i> 22,19). </font></p>
		<p align="justify"><font size="4">Là sự hiện diện có tính bí tích, <i>
		trước tiên</i>, bởi vì đó là sự hiện diện trong ngôi vị Đức Kitô: dù hèn 
		yếu, tội lỗi, bất xứng, v.v…, nhưng, vì tình yêu nhưng không và có thể 
		nói không ai hiểu được, Đức Kitô đã nhận vị Linh mục thừa tác đó là Mình 
		(appropriation) và qua ngài, Đức Kitô hiện diện với những người bạn của 
		Ngài giữa lòng lịch sử… </font></p>
		<p align="justify"><i><font size="4">Thứ đến</font></i><font size="4">, 
		cùng với “Mình Thánh” và “Máu Thánh”, vị Linh mục thừa tác trong ngôi vị 
		Đức Kitô, cách bí tích, vẫn “nuôi sống” và “làm đã cơn khát” nhân loại 
		đang “đói” và “khát” cách thể xác cũng như tinh thần… </font></p>
		<p align="justify"><i><font size="4">Sau cùng</font></i><font size="4">, 
		trong ngôi vị Đức Kitô là Đầu của Thân Thể mầu nhiệm là Giáo Hội, có thể 
		nói vị Linh mục thừa tác chính là “linh hồn” của các cộng đoàn… Không có 
		ngài, cộng đoàn sẽ trở nên trống vắng, như ngôi nhà không có chủ, như 
		thế giới vắng bóng Thiên Chúa…</font></p>
		<p align="justify"><i><font size="4">Năm Thánh Linh mục 2009</font></i></p>
		<p align="justify"><font color="#800000"><strong><i><font size="4">Linh 
		mục</font></i><font size="4"> Phêrô NGUYỄN THIÊN CUNG</font></strong></font></td>
	</tr>
	<tr>
		<td>
		<p align="right"><i>Nguồn:xuanbichvietnam.wordpress.com</i></td>
	</tr>
	<tr>
		<td>
		<p align="center">
				<a target="_top" href="../../../index.htm">
				<img src="http://tinmung.net/tinmungLOGO/homepage.gif" width="100" border="0" height="34"></a></td>
	</tr>
	</table>

</body>

</html>

PHP File Manager