File "lINHMUCTHUATACNGAILAAI.htm"
Full path: E:/sites/Single15/tinmung2007/webroot/GIAOHOI/NamLinhMuc/tin moi ve nam linh muc/lINHMUCTHUATACNGAILAAI.htm
File size: 68.6 KiB (70243 bytes)
MIME-type:
Charset: utf-8
<html>
<head>
<style>
<!--
/* Style Definitions */
div.MsoNormal
{mso-style-parent:"";
margin-bottom:.0001pt;
font-size:12.0pt;
font-family:"Times New Roman";
margin-left:0mm; margin-right:0mm; margin-top:0mm}
li.MsoNormal
{mso-style-parent:"";
margin-bottom:.0001pt;
font-size:12.0pt;
font-family:"Times New Roman";
margin-left:0mm; margin-right:0mm; margin-top:0mm}
p.MsoNormal
{mso-style-parent:"";
margin-bottom:.0001pt;
font-size:12.0pt;
font-family:"Times New Roman";
margin-left:0mm; margin-right:0mm; margin-top:0mm}
p
{margin-right:0mm;
margin-left:0mm;
font-size:12.0pt;
font-family:"Times New Roman";
}
@page Section1
{size:210.0mm 842.0pt;
margin:20.0mm 20.0mm 20.0mm 20.0mm;
mso-header-margin:36.0pt;
mso-footer-margin:36.0pt;
mso-paper-source:0;}
div.Section1
{}
-->
</style>
<meta http-equiv="Content-Language" content="en-us">
<meta http-equiv="Content-Type" content="text/html; charset=utf-8">
<title>Model</title>
<base target="main">
</head>
<body>
<table border="0" width="500" cellspacing="20" style="border-color: #FFFFFF; font-family:Times New Roman; font-size:12pt" bgcolor="#FFFFE6">
<!-- MSTableType="nolayout" -->
<tr>
<td bgcolor="#bdf3fd" height="29">
<p style="text-align: center"><font size="4" color="#FF0000"><b>
NĂM LINH MỤC</b></font></td>
</tr>
<tr>
<td align="justify">
<p align="center"><b><font color="#0000FF" size="4">LINH MỤC THỪA TÁC,
NGÀI LÀ AI?</font></b></td>
</tr>
<tr>
<td align="justify">
<p align="justify"><b><i><font size="4">Dẫn nhập</font></i></b></p>
<p align="justify"><font size="4">Đã có nhiều cách, nhiều con đường để
tiếp cận với vấn đề nầy: Linh mục thừa tác, ngài là ai? Ở đây, nhân Năm
Thánh Linh mục, chúng tôi mạo muội đề xuất một cách hiểu về căn tính của
vị Linh mục thừa tác (sacerdoce ministériel) qua lăng kính mầu nhiệm
ngôi hiệp (union hypostatique)…</font></p>
<p align="justify"><font size="4">Qua lăng kính mầu nhiệm ngôi hiệp,
chúng tôi sẽ lần lượt đào sâu những vấn đề sau đây:</font></p>
<p align="justify"><font size="4">1- Tương quan giữa Đức Kitô và vị Linh
mục thừa tác;</font></p>
<p align="justify"><font size="4">2- Tương quan giữa vị Linh mục thừa
tác và Bí tích Thánh Thể;</font></p>
<p align="justify"><font size="4">3- Tương quan giữa vị Linh mục thừa
tác và Bí tích Hòa giải;</font></p>
<p align="justify"><font size="4">4- Linh mục thừa tác, ngài là ai?</font></p>
<p align="justify"><b><font size="4">Bài 1:</font></b></p>
<p align="justify"><b><font size="4">TƯƠNG QUAN GIỮA ĐỨC KITÔ </font>
</b></p>
<p align="justify"><b><font size="4">VÀ VỊ LINH MỤC THỪA TÁC </font></b>
</p>
<p align="justify"><b><font size="4">QUA LĂNG KÍNH MẦU NHIỆM NGÔI HIỆP</font></b></p>
<p align="justify"><b><i><font size="4">Vào đề</font></i></b></p>
<p align="justify"><font size="4">Trong ngôn ngữ “nhà đạo” thông thường
người ta hay gọi vị Linh mục thừa tác (sacerdoce ministériel) là “Alter
Christus”, là “in persona Christi”… “Alter Christus” thường được chuyển
ngữ là “Đức Kitô khác” hay “Đức Kitô thứ hai”. “In persona Christi”
thường được chuyển ngữ là “nhân danh Đức Kitô”, “đại diện Đức Kitô”,
“đồng hình đồng dạng với Đức Kitô”, v.v… Cả hai cách chuyển ngữ nầy đều
vừa thừa vừa thiếu. Thừa vì có vẻ như có hai “ngôi vị”. Thiếu vì thiếu
tình trạng hiệp nhất giữa Đức Kitô và con người Linh mục…</font></p>
<p align="justify"><i><font size="4">1- Mầu nhiệm ngôi hiệp (union
hypostatique)</font></i></p>
<p align="justify"><font size="4">Trong ngôn ngữ kitô-học, mầu nhiệm
thần tính và nhân tính của Đức Kitô hiệp nhất với nhau trên cơ sở chỉ có
một Ngôi Vị duy nhất là Đức Kitô thường được gọi tắt là Mầu nhiệm ngôi
hiệp. Nghĩa là thần tính nhận nhân tính cùng với những thụ cảm làm của
mình hay “là” mình (<i>appropriation</i>) và thông ban (<i>communication</i>)
cho nhân tính đó một số yếu tố đặc thù mà thần tính vốn có “vì loài
người chúng ta” và “để cứu độ chúng ta”… Tuy mỗi bản tính vẫn là mình,
không hòa lẫn (như nước biển với nước ngọt), nhưng cũng không hoàn toàn
tách biệt (như dầu hôi với nước lã)… Một số giáo phụ so sánh sự hiệp
nhất giữa thần tính và nhân tính với sự hiệp nhất giữa hồn và xác trên
cơ sở ngôi vị của một cá thể… Chúng tôi thích hơn hình ảnh hai người yêu
nhau, dù vẫn còn một số yếu tố bất toàn: khi yêu nhau, người ta trở nên
một (cái “chúng ta”), dù mỗi người vẫn là mình… </font></p>
<p align="justify"><i><font size="4">2- Tương quan giữa Đức Kitô và vị
Linh mục thừa tác qua lăng kính mầu nhiệm ngôi hiệp</font></i></p>
<p align="justify"><font size="4">Để có thể hiểu được vị Linh mục thừa
tác là ai và là gì, ở đây, chúng tôi mạo muội đề nghị một lối hiểu qua
lăng kính mầu nhiệm ngôi hiệp. Nghĩa là: Qua Bí tích truyền chức, dưới
quyền năng và tác động của Chúa Thánh Thần, Đức Kitô nhận con người Linh
mục mà Ngài đã gọi và chọn đó, cùng với những sở trường và sở đoản, “là”
Mình hay “là” Ngài (<i>appropriation</i>), đồng thời thông ban cho vị
Linh mục đó một số yếu tố đặc thù thần linh mà vốn là sở hữu của Ngài (<i>communication</i>)
và cả hai hiệp nhất nên một trên cơ sở Ngôi Vị Đức Kitô (in persona
Christi)…</font></p>
<p align="justify"><i><font size="4">3- Cơ sở Thánh Kinh của những hành
vi “nhận làm của mình” hay “nhận là mình” (appropriations)</font></i></p>
<p align="justify"><font size="4">= <i>Mt</i> 25,31-46: “[…]. ‘Quả thật,
Ta bảo các ngươi: những gì các ngươi đã làm cho một người trong các anh
em hèn mọn nhất nầy của Ta, là các ngươi đã làm cho chính mình Ta’.[…].
‘Quả thật, Ta bảo các ngươi, những gì các ngươi đã không làm cho một
người nào trong các kẻ hèn mọn nhất nầy, là các ngươi đã không làm cho
chính mình Ta’.”</font></p>
<p align="justify"><font size="4">= <i>Mt</i> 10,40: “Kẻ tiếp đón các
ngươi là tiếp đón Ta; và kẻ tiếp đón Ta, là tiếp đón Đấng đã sai Ta”.</font></p>
<p align="justify"><font size="4">= <i>Mt</i> 18,5: “Và kẻ nào tiếp đón
một trẻ nhỏ nầy vì danh Ta, tức là tiếp đón Ta”.</font></p>
<p align="justify"><font size="4">= <i>Mc</i> 9,37: “Kẻ nào tiếp đón một
trẻ nhỏ thế nầy vì danh Ta, tức là tiếp đón Ta; kẻ nào tiếp đón Ta, thì
không phải người ấy tiếp đón Ta, mà là Đấng đã sai Ta”.</font></p>
<p align="justify"><font size="4">= <i>Lc</i> 9,48: “Kẻ nào đón tiếp trẻ
nhỏ nầy vì danh Ta, tức là tiếp đón Ta; và kẻ tiếp đón Ta là tiếp đón
Đấng đã sai Ta…”</font></p>
<p align="justify"><font size="4">= <i>Lc</i> 10,16: “Ai nghe các ngươi
là nghe Ta, và ai thảy bỏ các ngươi là thảy bỏ Ta, mà ai thảy bỏ Ta là
thảy bỏ Đấng đã sai Ta”.</font></p>
<p align="justify"><font size="4">= <i>Ga</i> 23,20: “Quả thật, qủa
thật, Ta bảo các ngươi: ai chịu lấy kẻ Ta sai đến, là chịu lấy Ta, mà ai
chịu lấy Ta, tức là chịu lấy Đấng đã sai Ta”.</font></p>
<p align="justify"><font size="4">= <i>Cv</i> 9,1-5: “[…], ‘Saul, Saul,
tại sao ngươi bắt bớ Ta?’ […]. ‘Ta là Giêsu, người đang bắt bớ’.”</font></p>
<p align="justify"><i><font size="4">4- Cơ sở Thánh Kinh của những hành
vi thông ban những yếu tố đặc thù cho nhau (communications): Một số
quyền năng Đức Kitô thông ban cho con người Linh mục:</font></i></p>
<p align="justify"><i><font size="4">4a</font></i><font size="4">- Quyền
tha tội trong Ngôi Vị Đức Kitô: <i>Mt</i> 9,1-7; <i>Mc</i> 2,1-12; <i>Lc</i>
5,17-26; <i>Mt</i> 16,19; <i>Cv</i> 10,43; <i>Mt</i> 28,18-20; v.v…</font></p>
<p align="justify"><i><font size="4">4b</font></i><font size="4">-
“Quyền năng trên các thần ô uế khiến họ có thể xua đuổi chúng và chữa
mọi tật nguyền, bệnh hoạn” trong Ngôi Vị Đức Kitô: <i>Mt</i> 10,1; <i>Mc</i>
3,14; 6, 7; <i>Lc</i> 9,1; v.v…</font></p>
<p align="justify"><i><font size="4">4c</font></i><font size="4">- Quyền
năng thực hiện hành vi “nhận làm của mình” và “là mình” (appropriation)
và hành vi thông ban một số đặc ân mình có (communication) trong Ngôi Vị
Đức Kitô, đặc biệt nơi Bí tích Thánh Thể: <i>Lc</i> 22, 19-20; 1 <i>Cr</i>
11, 23-27; v.v…; và quyền tha tội trong Bí tích Hòa giải (Ga 20,23)…
</font></p>
<p align="justify"><i><font size="4">5- Một vài suy tư thần học:</font></i></p>
<p align="justify"><font size="4">Trên cơ sở những điều trên đây, có thể
nói được rằng mầu nhiệm Nhập Thể của Ngôi Lời và mầu nhiệm Ngôi hiệp nơi
Đức Kitô có mối quan hệ hết sức mật thiết với nhau, có tính phổ quát và
với nhiều cấp độ khác nhau:</font></p>
<p align="justify"><font size="4">5a- Tương quan giữa Đức Kitô và Thụ
Tạo nói chung: </font></p>
<p align="justify"><font size="4">Có thể nói rằng nhân tính nơi Đức Kitô
chính là tượng trưng cho toàn thể thụ tạo và toàn thể nhân loại nói
chung: </font></p>
<p align="justify"><font size="4">“<i>Lúc khởi nguyên đã có Lời…và Lời
là Thiên Chúa…<b>Mọi sự nhờ Ngài mà thành sự và không Ngài thì không gì
đã thành sự</b>. Điều đã thành sự nơi Ngài là sự Sống và sự Sống là sự
Sáng cho nhân loại</i>.” (<i>Ga</i> 1,1-3). </font></p>
<p align="justify"><font size="4">“<i>Ngài (Đức Kitô) là hình ảnh của
Thiên Chúa vô hình, là trưởng tử giữa mọi thụ sinh, <b>vì trong Ngài vạn
vật đã được tạo thành</b>, chốn trời cao và nơi dương thế, vật hữu hình,
vật vô hình, dù là thiên tòa hay thiên chủ, dù là thiên phủ hay là uy
linh: <b>mọi sự đã được tạo thành nhờ Ngài và cho Ngài</b> ! Và Ngài có
ưu thắng trên mọi sự, <b>và mọi sự đều tồn tại trong Ngài</b></i>.” (<i>Cl</i>
1,15-17).</font></p>
<p align="justify"><font size="4">5b- Tương quan giữa Đức Kitô và nhân
loại nói chung: </font></p>
<p align="justify"><font size="4">Bởi vì con người đã được tạo dựng nên
theo hình ảnh Thiên Chúa (<i>St</i> 1,26-27), mà hình ảnh Thiên Chúa
chính là Đức Kitô (1<i>Cr</i> 11,7; 2<i>Cr</i> 4,4; <i>Cl</i> 1,15), cho
nên có thể nói rằng nhân tính của Đức Kitô cũng chính là toàn thể nhân
loại, hiểu theo nghĩa cá thể cũng như tập thể. Chính vì thế, khi Đức
Kitô cứu độ, thánh hóa nhân tính của Ngài và nhận nhân tính đó là của
mình và là mình, điều đó có nghĩa là Ngài, trong chỉ một hành vi, một
lần là đủ, đã cứu độ và thánh hóa toàn thể nhân loại, mọi nơi và mọi
thời… Như thế, chúng ta hiểu vì sao Giáo hội trước sau như một luôn
khẳng định Đức Kitô là Đấng Trung gian và là Đấng Cứu độ duy nhất và phổ
quát, ngoài Ngài ra chẳng có ai khác cả (<i>Ep</i> 2,13-18; <i>Rm</i>
11,25-29).</font></p>
<p align="justify"><font size="4">“<i>Nhưng nay, <b>trong Đức Kitô Giêsu</b>,
anh em, những kẻ xưa kia ở xa, thì đã nên gần nhờ bửu huyết của Đức
Kitô. Vì chính Ngài là sự bình an của ta, Đấng đã làm cho đôi bên nên
một, triệt hạ tường ngăn thành chắn, (tiêu biểu cho) mối hằn thù – <b>
nhờ thân xác Ngài</b>, – thủ tiêu Lề luật nguyên những điều răn lệnh
chỉ, <b>ngõ hầu trong Ngài, Ngài tạo dựng hai loại người ấy nên một
người mới</b>; đem lại bình an, và giảng hòa hai dân – <b>trong một Thân
mình</b> – với Thiên Chúa, nhờ Thập giá, giết chết hằn thù – nơi mình
Ngài. Và Ngài đã đến loan báo Tin Mừng bình an cho anh em những kẻ ở xa,
và bình an cho những kẻ ở gần. <b>Vì chính nhờ Ngài, chúng ta đôi bên,
trong một Thần khí, được đến chùng Cha</b></i>.” (<i>Ep</i> 2,13-18).</font></p>
<p align="justify"><font size="4">“<i>Hỡi anh em, tôi không muốn để anh
em không hay biết mầu nhiệm nầy, để anh em đừng tự phụ mình khôn: Israel
đã ra chai đá phần nào, cho đến khi toàn thể dân ngoại đã gia nhập, và
như thế tất cả Israel cũng sẽ được cứu. […]. Vì chưng cũng như anh em,
xưa kia bất tuân đối với Thiên Chúa, mà nay đã được thương xót, nhân vì
họ bất tuân, thì họ cũng thế, nay bất tuân, bởi anh em được thương xót.
<b>Vì chưng Thiên Chúa đã dồn mọi người hết thảy vào đàng bất tuân, ngõ
hầu Ngài dũ lòng thương hết mọi người</b></i>.” (<i>Rm</i>
11,25-26.30-32).</font></p>
<p align="justify"><font size="4">5c- Tương quan giữa Đức Kitô và Giáo
hội hay là các kitô-hữu nói chung:</font></p>
<p align="justify"><font size="4">Giáo hội, trước tiên, là “Thân Mình”
của Đức Kitô (<i>Cl</i> 1,15-24; 1<i>Cr</i> 12,27; 1<i>Ga</i> 3,2; <i>Rm</i>
12,5; v.v…), thứ đến, là cộng đoàn những kẻ tin vào Đức Kitô và được tập
hợp lại để lắng nghe Lời của Thiên Chúa (<i>Xh</i> 19, 3-8.25; <i>Gs</i>
8,32-35; 24,1-28; v.v…) và cử hành các Bí tích của Đức Kitô (Cv 2,42) …</font></p>
<p align="justify"><font size="4">“<i>Nay tôi vui sướng trong các nỗi
thống khổ chịu vì anh em; và trong thân xác tôi, tôi bù đắp những gì còn
thiếu nơi các nỗi quẫn bách Đức Kitô phải chịu <b>vì Thân Mình Ngài, tức
là Hội Thánh</b></i>…” (<i>Cl</i> 1,24).</font></p>
<p align="justify"><font size="4">“<i>Mà <b>anh em là Thân Mình của Đức
Kitô</b>, và ai theo phận nấy mà làm chi thể</i>” (1 <i>Cr</i> 12,27).</font></p>
<p align="justify"><font size="4">“<i>Anh em thân mến, hiện giờ ta là
con cái Thiên Chúa; ta sẽ là gi, thì chưa được tỏ hiện, ta biết rằng <b>
một khi điều ấy</b></i> (hay là Đức Kitô “quang lâm” hay là Thân Mình
mầu nhiệm của Đức Kitô là Giáo hội [ctctg]) <b><i>tỏ hiện, thì ta sẽ
được giống như Ngài</i></b> (Đức Kitô “quang lâm” [ctctg]), <i>vì Ngài
thế nào, ta sẽ được thấy như vậy.</i>” (1<i>Ga</i> 3,2). </font></p>
<p align="justify"><font size="4">“<i>Họ chuyên cần với giáo huấn của
các tông đồ và sự hiệp thông, việc bẻ bánh và kinh nguyện</i>.” (<i>Cv</i>
2,42).</font></p>
<p align="justify"><font size="4">5d- Tương quan giữa Đức Kitô và vị
Linh mục thừa tác:</font></p>
<p align="justify"><font size="4">Vị Linh mục thừa tác hiệp nhất với Đức
Kitô trên cơ sở Ngôi Vị của Ngài, như nhân tính hiệp nhất với thần tính
của Đức Kitô trên cơ sở Ngôi Vị của Đức Kitô. Cũng như Đức Kitô, trong
tư cách vừa là Thiên Chúa thật vừa là con người thật, khi thì Ngài nói
và cư xử như là con người, có khi Ngài nói và cư xử như là Thiên Chúa,
con người Linh mục trong Ngôi Vị Đức Kitô (in persona Christi) cũng nói
và hành xử như vậy.</font></p>
<p align="justify"><font size="4">“<i>Lạy Cha ! nếu Cha muốn, xin cất
chén nầy đi khỏi con !</i> (Đức Giêsu nói trong tư cách là con người
bình thường như chúng ta: chú thích của tác giả [ctctg]). <i>Song đừng
cho ý của con, mà là ý của Cha được thành sự ! </i>(Ở đây, Đức Giêsu nói
trong tư cách là Thiên Chúa [ctctg])” (<i>Lc</i> 22,42; tham chiếu <i>Ga</i>
12,27-29; <i>Lc</i> 2,49; <i>Ga</i> 8,58; 10,30; v.v…).</font></p>
<p align="justify"><font size="4">“<i>Tất cả các con hãy nhận lấy mà ăn:
vì nầy là Mình Thầy, sẽ bị nộp vì các con. […]. Tất cả các con hãy nhận
lấy mà uống: vì nầy là chén máu Thầy, máu giao ước mới và vĩnh cửu, sẽ
đổ ra cho các con và nhiều người được tha tội. Các con hãy làm việc nầy
mà nhớ đến Thầy</i>”. (Những lời nầy chỉ thành sự và hữu hiệu khi được
vị Linh mục thừa tác nói trong ngôi vị Đức Kitô, chứ không phải trong tư
cách con người bình thường như mọi người).</font></p>
<p align="justify"><font size="4">“[…]. <i>Vậy, Cha tha tội cho con nhân
danh Cha và Con và Thánh Thần</i>.” (Những lời nầy chỉ thành sự và hữu
hiệu khi được vị Linh mục nói trong ngôi vị Đức Kitô mà thôi, vì chỉ có
Thiên Chúa và Con Người mới có quyền tha tội [<i>Mc</i> 2,3-12]…).</font></p>
<p align="justify"><font size="4">Vì thế, có thể nói rằng không có Bí
tích Thánh Thể và Bí tích Hòa Giải thì cũng không có chức Linh mục thừa
tác và ngược lại. Đó chính là cơ sở chính yếu để phân biệt giữa chức
Linh mục chung của mọi kitô-hữu (sacerdoce commun) và chức Linh mục thừa
tác của một số người được gọi chọn bởi Thiên Chúa qua trung gian Giáo
hội (sacerdoce ministériel). Và đó cũng chính là một trong những cơ sở
nói lên sự khác biệt căn bản giữa Giáo hội công giáo và các giáo hội thệ
phản và Anh giáo liên quan các Bí tích, chức Linh mục thừa tác, và các
vấn đề giáo hội học, v.v…</font></p>
<p align="justify"><b><font size="4">Bài 2:</font></b></p>
<p align="justify"><b><font size="4">TƯƠNG QUAN GIỮA VỊ LINH MỤC THỪA
TÁC VÀ BÍ TÍCH THÁNH THỂ </font></b></p>
<p align="justify"><b><font size="4">QUA LĂNG KÍNH MẦU NHIỆM NGÔI HIỆP</font></b></p>
<p align="justify"><font size="4">Giáo hội, hằng năm, vào Ngày Thứ Năm
Tuần Thánh, cử hành tưởng nhớ vừa việc Chúa Giêsu lập Bí tích Thánh Thể
vừa việc Chúa Giêsu thiết lập Chức Linh mục thừa tác. Điều đó có nghĩa
là trong truyền thống xưa nay của Giáo hội, chức Linh mục thừa tác và Bí
tích Thánh Thể luôn có tương quan mật thiết đối với nhau, đến độ người
ta có thể nói rằng sẽ không có chức Linh mục thừa tác nếu không có Bí
tích Thánh Thể và ngược lại…</font></p>
<p align="justify"><font size="4">Việc phân tích những công thức “truyền
phép” sẽ cho ta thấy được những điều đó.</font></p>
<p align="justify"><i><font size="4">1- </font></i><font size="4">“… <b>
<i>Vì nầy là Mình Thầy</i></b>…” và “… <b><i>vì nầy là Chén Máu Thầy…</i></b>”:</font></p>
<p align="justify"><font size="4">Trong Thánh Lễ, khi được đọc lên hay
nói lên bởi vị Linh mục thừa tác, công thức nầy vốn mang hai tầng ý
nghĩa:</font></p>
<p align="justify"><font size="4">1a- Khi được nói lên hay đọc lên cách
nguyên thủy bởi Đức Kitô, công thức nầy có ý nghĩa: qua hành vi “nhận
làm của mình” hay “nhận là mình’ (appropriation), tấm bánh đó hay chén
rượu đó được Đức Kitô nhận “là của mình” và “là Mình” và thực sự đó
chính là Đức Kitô; đồng thời, trong Ngôi Vị Mình, Đức Kitô thông ban cho
Tấm bánh đó và Chén rượu đó một số thuộc tính thần linh của Ngài, như
kiểu thần tính ban cho nhân tính một số thuộc tính thần linh mà chỉ thần
tính mới có… Ở đây, nói theo ngôn ngữ mầu nhiệm ngôi hiệp, Đức Kitô và
Tấm bánh và Chén rượu đó hiệp nhất với nhau trở thành một trên cơ sở
Ngôi Vị Đức Kitô (in persona Christi). Những khái niệm “nhận là Mình”
(appropriation) và “thông ban cho nhau” (communication), như vậy, có vẻ
như thích hợp hơn và năng động hơn là khái niệm “biến bản thể”
(transsubstantiation) của thần học kinh viện… Thích hợp hơn, bởi vì gần
gũi với ngôn ngữ Thánh Kinh hơn (xem Ga 6,32-58; <i>Mt</i> 3,9). Năng
động hơn, bởi vì những khái niệm “nhận là Mình” và “thông ban cho nhau”
bao hàm một qúa trình tiến hóa và tương quan qua lại giữa nhau, tạo cho
tự do của con người và của Thiên Chúa có khoảng không gian và thời gian
để chọn lựa, vì đó chính là điều làm nên căn tính của con người và Thiên
Chúa…</font></p>
<p align="justify"><font size="4">1b- Khi được nói lên hay đọc lên bởi
vị Linh mục thừa tác hiệp nhất với Đức Kitô trong Ngôi Vị của Ngài, công
thức nầy còn có ý nghĩa: qua hành vi “nhận làm của mình” và “là Mình”,
vị Linh mục trong ngôi vị Đức Kitô nhận Tấm bánh đó và Chén rượu đó “là
của mình” và “là mình”. Vì thế, có thể nói rằng, không giây phút nào mà
giữa vị Linh mục thừa tác và Đức Kitô có được sự hiệp nhất sâu xa và lớn
lao cho bằng chính nơi giây phút mà vị Linh mục đó đọc “lời truyền
phép”! Bánh đó và Rượu đó đồng thời cũng là Mình và Máu của vị Linh mục
đang đọc lời truyền phép đó trong ngôi vị Đức Kitô…</font></p>
<p align="justify"><i><font size="4">2- </font></i><font size="4">“… <b>
<i>sẽ bị nộp vì các con</i></b>…” và “… <b><i>sẽ đổ ra cho các con và
nhiều người được tha tội</i></b>…”:</font></p>
<p align="justify"><font size="4">Những lời nầy diễn tả <i>chiều kích
tình yêu dâng hiến và cứu độ</i> của Bí tích Thánh Thể và Hiện sinh của
con người Linh mục.</font></p>
<p align="justify"><font size="4">2a- <i>Chiều kích tình yêu dâng hiến</i>:
Các nhà thần học ngày nay dùng hạn từ “<i>hiện hữu cho và vì…</i>”
(“pro-existence”) để diễn tả một hiện sinh không hiện hữu chỉ cho mình
mà còn cho tha nhân. Hiện sinh của Đức Kitô là mẫu mực của thứ “hiện hữu
cho và vì tha thể…” nầy (“propter nos homines et propter nostram
salutem”):</font></p>
<p align="justify"><font size="4">“<i>Không có tình yêu nào lớn hơn là
tình yêu dám thí cả mạng sống mình vì người mình thương mến”</i> (<i>Ga</i>
15,14).</font></p>
<p align="justify"><font size="4">“<i>Ai yêu sự sống mình thì sẽ mất, ai
ghét sự sống mình nơi thế gian nầy, thì sẽ giữ nó cho sự sống vĩnh hằng</i>
!” (<i>Ga</i> 12,25; <i>Mt</i> 16,25; <i>Mc</i> 8,35; <i>Lc</i> 9,23tt).</font></p>
<p align="justify"><font size="4">“<i>Quả thật, quả thật, Ta bảo các
ngươi: giả như hạt lúa gieo xuống đất không chết đi, thì nó trơ trọi một
mình; nhưng nếu nó chết đi, nó mới sai hoa lắm quả</i> !” (<i>Ga</i>
12,24).</font></p>
<p align="justify"><font size="4">Cũng như Mầu nhiệm Nhập thể (bao gồm
mầu nhiệm Sáng tạo, Mặc khải và Siêu độ) tự nó đã là sáng kiến và hành
vi dâng hiến tự do và nhưng không của Thiên Chúa Ba Ngôi vì tình yêu đối
với loài người chúng ta, Bí tích Thánh Thể và hiện sinh Linh mục thừa
tác cũng vậy là sáng kiến tình yêu “để ở với chúng ta mọi ngày cho đến
tận thế” (<i>Mt</i> 28,20), vì Thiên Chúa là Emmanuel (Thiên Chúa ở cùng
chúng ta, <i>Mt</i> 1,23)…</font></p>
<p align="justify"><font size="4">2b- <i>Chiều kích tình yêu siêu độ</i>:
Hành vi siêu độ của Đức Kitô diễn ra trên đỉnh Thập giá chính nơi giây
phút mà Tình yêu dâng hiến đạt đến đỉnh điểm của nó, khi mà Đức Giêsu
Kitô dâng hiến cho Cha cái còn lại cuối cùng là Thần Khí của Cha (<i>Ga</i>
19,30), và chính lúc Đức Giêsu Kitô đã dâng hiến tất cả, Ngài đã được
Cha ban cho lại tất cả: “Đã hoàn tất !”. Vì thế, tác giả Sách Tin Mừng
thứ 4 gọi “Giờ Thập giá” cũng chính là “Giờ vinh quang” (<i>Ga</i>
12,23: “Giờ đã đến ! cho Con Người được tôn vinh!”). Hành vi siêu độ
trên đỉnh Thập giá, như vậy, diễn ra khi mà Tình Yêu dâng hiến của Thiên
Chúa chiến thắng tất cả, cả những toan tính nhỏ nhen, cả những nỗi sợ
hãi, cả nỗi sợ hãi cái chết và chính cả Sự Chết…</font></p>
<p align="justify"><i><font size="4">3- </font></i><font size="4">“<b><i>Tất
cả các con hãy nhận lấy mà ăn</i></b>…” và “<b><i>Tất cả các con hãy
nhận lấy mà uống</i></b>…”:</font></p>
<p align="justify"><font size="4">Những lời nầy diễn tả chiều kích Bữa
tiệc bày tỏ tình yêu hiệp thông và hiệp nhất (<i>Cv</i> 2,42-47). Bí
tích Thánh Thể và Hiện sinh Linh mục thừa tác, như vậy, chính là nguyên
lý của sự Hiệp nhất của cộng đoàn, trên cơ sở việc cử hành Lời Chúa, cử
hành các Bí tích và tình yêu dâng hiến…</font></p>
<p align="justify"><font size="4">“<i>Họ chuyên cần với giáo huấn của
các tông đồ và sự hiệp thông, việc bẻ bánh và kinh nguyện. […]. Các kẻ
tin hết thảy đều coi mọi sự là của chung: đất đai của cải, thì họ bán đi
mà phân phát cho mọi người, ai nấy tùy theo nhu cầu của mình</i>.” (<i>Cv</i>
2,42.44).</font></p>
<p align="justify"><i><font size="4">4- </font></i><font size="4">“…<b><i>Các
con hãy làm việc nầy mà nhớ đến Thầy</i></b>”:</font></p>
<p align="justify"><font size="4">Những lời nầy mang một nội dung ý
nghĩa kép: một đàng, vừa có nghĩa hành vi “nhận làm của mình hay là
mình” (appropriation) và hành vi “thông ban cho nhau” (communication)
nguyên thủy được thực hiện bởi Đức Giêsu-Kitô trong Ngày Thứ Năm và Thứ
Sáu Tuần Thánh chỉ diễn ra một lần trong không gian và thời gian nhưng
mang hiệu quả và hiệu năng có tính quyết định và phổ quát cho mọi người
và mọi thời (<i>Dt</i> 9,11-28); đàng khác, vừa có nghĩa, khi cử hành Bí
tích Thánh Thể, vị Linh mục thừa tác không phải “làm lại” hay “tái diễn
lại” hành vi “nhận Bánh và Rượu là Thân Mình và Máu của Đức Kitô” trên
chiều kích dâng hiến lẫn chiều kích siêu độ, để tạo ra những hiệu năng
và hiệu quả như vậy một lần nữa trong thời gian và không gian, mà đúng
hơn là “<b><i>làm cho hiệu quả vốn đã có và đang hiện hữu hiện diện đối
với</i></b>…” (le rendre présent pour…), hay nói cách khác, vị Linh mục
thừa tác trong ngôi vị Đức Kitô, khi cử hành Bí tích Thánh Thể trong
không gian và thời gian là làm cho chính “Đức Kitô ‘là’ Bánh và Rượu” <b>
<i>hiện diện</i></b> trong không gian và thời gian nơi Bánh và Rượu đang
được “truyền phép” trên Bàn thờ và cả nơi chính con người của vị Linh
mục trong ngôi vị Đức Kitô đang cử hành đó, đối với những ai tin và muốn
tin…(khái niệm “le mémorial”: xem <i>Xh</i> 3,15; 12,14; 13,9; <i>Tl</i>
16,3). Điều đó cho thấy tương quan giữa vị Linh mục thừa tác trong ngôi
vị Đức Kitô và Bí tích Thánh Thể cũng như đối với những kẻ tin vào Bí
tích nầy không đơn giản chỉ có tính tĩnh tại (statique), máy móc, phi
ngôi vị, hoàn toàn có tính khách quan, mà là <i>quan hệ tình yêu</i>,
năng động và có tính tương quan ngôi vị… Bởi vì chỉ trong quan hệ tình
yêu người ta mới có thể, dù không hiện hữu bên nhau, không nhìn thấy
nhau, nhưng người ta vẫn luôn có thể ở trong nhau, có nhau và hiện diện
đối với nhau (xem <i>Pl</i> 3,10-11)…</font></p>
<p align="justify"><font size="4">Như vậy, khi cử hành Bí tích Thánh
Thể, vị Linh mục thừa tác trong ngôi vị Đức Kitô, nhờ quyền năng Chúa
Thánh Thần, <b><i>làm cho Đức Kitô hiện diện cách hữu hình</i></b>, qua
việc ngài, trong ngôi vị Đức Kitô, nhận Tấm bánh và Chén rượu đang hiện
diện trên Bàn thờ đó “là của mình” và “là mình” và thực sự là thế, Và
như vậy, là để Đức Kitô luôn luôn “hiện diện” đối với chúng ta mọi ngày
cho đến tận thế…</font></p>
<p align="justify"><b><i><font size="4">5- Cơ sở Thánh Kinh của việc Đức
Kitô nhận Mình là lương thực (Bánh và Thức uống [rượu và nước]) cho con
người</font></i><font size="4">:</font></b></p>
<p align="justify"><font size="4">Hầu như cả bốn Sách Tin Mừng đều chứng
tỏ cho thấy Đức Giêsu bao giờ cũng chỉ nói và khuyên người khác làm điều
mà chính Ngài đã, đang và sẽ làm và thực hiện (xem thí dụ <i>Mt</i>
5,1-12a; <i>Lc</i> 14,25-33; <i>Ga</i> 15,13; 6,51-58; v.v…). Trong ngôn
ngữ Thánh Kinh Cựu Ước, trung tín, trung thành với Giao ước, với lời thề
hứa là một trong những đặc trưng của Thiên Chúa (<i>Xh</i> 34,6; <i>Tv</i>
25,10; <i>Ga</i> 18,37; <i>Kh</i> 3,14; v.v…)… </font></p>
<p align="justify"><font size="4">5a- “… <i>Bánh hằng sống bởi trời
xuống, chính là Ta ! Ai ăn bánh nầy, thì sẽ được sống đời đời. Và <b>
bánh Ta sẽ ban, ấy là thịt mình Ta</b> vì sự sống thế gian</i>.” (<i>Ga</i>
6,51) và “…<i>Bánh sự sống, chính là Ta ! […]. Vì thịt Ta <b>thật là</b>
của ăn và máu Ta <b>là thật</b> của uống</i>. <i>Kẻ</i> <i>ăn thịt Ta và
uống máu Ta thì lưu lại trong Ta, và Ta ở trong kẻ ấy</i>.” (<i>Ga</i>
6,48.55-56): Phản ứng của một số kẻ nghe lúc đó (<i>Ga</i> 6,60) cho
thấy ngôn ngữ của Đức Giêsu có lẽ khá rõ ràng và cụ thể, chứ không theo
nghĩa tượng trưng hay ẩn dụ gì cả: “<b><i>ăn</i></b>” (manducare,
manger) thịt và “<b><i>uống</i></b>” (bibere, boire) máu ! Có thể bởi vì
họ chưa biết việc Đức Giêsu, trong Bí tích Thánh Thể, nhận tấm bánh ăn
và chén rượu uống trong bữa tiệc hiệp thông là Thịt Mình và Máu Mình
(appropriation) và khi ăn “tấm bánh” đó và uống “chén rượu” đó chính là
“ăn” và “uống” Thịt và Máu của Đức Giêsu-Kitô ! </font></p>
<p align="justify"><font size="4">5b- “…<i>thì sẽ được sống đời đời</i>.”
(<i>Ga</i> 6,51) và “…<i>thì lưu lại trong Ta và Ta ở trong kẻ ấy</i>.”
(<i>Ga</i> 6,56): những lời nầy diễn tả tương quan giữa chiều kích tình
yêu dâng hiến và chiều kích tình yêu siêu độ, tức là sự sống vĩnh hằng,
sự sống Tình Yêu Thiên Chúa-Ba Ngôi, luôn tương tại và tương ngụ trong
nhau, luôn sống cho nhau và vì nhau…</font></p>
<p align="justify"><i><font size="4">6- Một vài suy tư thần học</font></i></p>
<p align="justify"><font size="4">Trên cơ sở những phân tích trên đây,
có thể nói rằng:</font></p>
<p align="justify"><font size="4">6a- Cũng như trong Mầu nhiệm Nhập thể,
<b><i>chỉ có vấn đề Thiên Chúa tự hủy làm người</i></b> (“Et Verbum caro
factum est” nơi Ga 1,14) chứ không có vấn đề ngược lại là con người tự
mình làm Thiên Chúa, nơi Bí tích Thánh Thể, cũng vậy, <b><i>chỉ có vấn
đề Đức Kitô và vị Linh mục thừa tác trong ngôi vị của Ngài tự hủy nhận
Bánh đó và Rượu đó là Mình</i></b> (et Christus panis factus est, et
Christus vinum factus est), chứ không có vấn đề ngược lại là Bánh và
Rượu có thể tự mình làm thành mình và máu Đức Kitô. Đây là vấn liên quan
tình yêu nhưng không, tự do và ân sủng của Thiên Chúa… </font></p>
<p align="justify"><font size="4">6b- Tương quan giữa vị Linh mục thừa
tác trong ngôi vị Đức Kitô và Bí tích Thánh Thể là tương quan <b><i>có
tính hữu thể</i></b> (relation ontologique): điều nầy có nghĩa cũng như
nơi Bí tích truyền chức thánh, qua quyền năng và tác động của Chúa Thánh
Thần, Đức Kitô tự hủy nhận con người vị Linh mục thừa tác làm là mình và
cả hai hiệp nhất với nhau trên cơ sở ngôi vị Đức Kitô qua cấu trúc cấu
thể hữu thể như nơi mầu nhiệm ngôi hiệp, ở đây, cũng vậy, khi vị Linh
mục thừa tác trong ngôi vị Đức Kitô “truyền phép”, nhờ quyền năng và tác
động của Chúa Thánh Thần, vị Linh mục thừa tác đang tế lễ đó hiệp nhất
với bánh và rượu trên bàn thờ nên một trên cơ sở ngôi vị Đức Kitô…</font></p>
<p align="justify"><font size="4">6c- Tương quan giữa vị Linh mục thừa
tác trong ngôi vị Đức Kitô với Bí tích Thánh Thể và Giáo hội: bởi vì
Giáo hội vốn được gọi là “Thân Mình mầu nhiệm của Đức Kitô”, vì thế cho
nên, vị Linh mục thừa tác <b><i>chỉ</i></b> ở trong ngôi vị Đức Kitô <b>
<i>khi ngài hiện hữu trong, bởi, cho và vì Đức Kitô, Giáo hội</i></b> <b>
<i>và Bí tích Thánh Thể</i></b>… </font></p>
<p align="justify"><font size="4">Đó chính là cơ sở của Khoản Giáo luật
1378, § 2, 1°: “… Những người sau đây bị phạt vạ cấm chế tiền kết và bị
vạ huyền chức, nếu là giáo sĩ: người nào không phải là tư tế mà dám cử
hành phụng vụ Hiến Tế Thánh Thể…”</font></p>
<p align="justify"><b><font size="4">Bài 3: </font></b></p>
<p align="justify"><b><font size="4">TƯƠNG QUAN GIỮA VỊ LINH MỤC THỪA
TÁC </font></b></p>
<p align="justify"><b><font size="4">VÀ BÍ TÍCH HÒA GIẢI </font></b></p>
<p align="justify"><b><font size="4">QUA LĂNG KÍNH MẦU NHIỆM NGÔI HIỆP</font></b></p>
<p align="justify"><font size="4">Bí tích Hòa giải, trước tiên, có hiệu
năng khôi phục lại những tương quan vốn có giữa con người với Thiên
Chúa, với tha nhân, với chính bản thân mình và với thiên nhiên vũ trụ đã
bị phá vỡ do ích kỷ, kiêu căng, ghen ghét, hận thù, bất tuân và mù
quáng, v.v…, hay nói chung là do tội lỗi (xem <i>St</i> 3,1-24).</font></p>
<p align="justify"><b><font size="4">1- Việc phân tích Công thức tha tội
của Giáo hội sẽ giúp chúng ta hiễu rõ hơn hiệu năng của Bí tích nầy và
tương quan giữa vị Linh mục thừa tác với Bí tích Hòa giải:</font></b></p>
<p align="justify"><font size="4">1a – <i>“<b>Thiên Chúa là Cha hay
thương xót, đã nhờ sự chết và sống lại của Con Chúa mà giao hòa thế gian
với Chúa</b></i>…”:</font></p>
<p align="justify"><font size="4">Sự Hòa giải nguyên thủy, hoàn hảo, vẹn
toàn, tuyệt đối, một lần thay cho tất cả hay sự Hòa giải của tất cả mọi
hòa giải đã được thể hiện nơi Đức Giêsu-Kitô vốn vừa là Thiên Chúa thật
vừa là con người thật nơi mầu nhiệm Ngôi hiệp, tức là nơi việc thần tính
và nhân tính của Đức Kitô hiệp nhất trên cơ sở Ngôi Vị của Ngài “vì loài
người chúng ta và để cứu độ chúng ta” (propter nos homines et propter
nostram salutem).</font></p>
<p align="justify"><font size="4">Và, bởi vì nhân tính của Đức Kitô cũng
chính là nhân loại toàn thể (xem <i>Ga</i> 1,3; <i>Tv</i> 33,6; <i>Cl</i>
1,15-20; <i>Kh</i> 3,14; 1<i>Cr</i> 8,6), cho nên khi nhân tính của Đức
Kitô hoàn toàn hiệp nhất với thần tính của Ngài trên cơ sở Ngôi Vị của
Ngài trong hành vi tình yêu dâng hiến hoàn toàn trên đỉnh thập giá cũng
chính là lúc toàn thể nhân loại mọi nơi và mọi thời được thần linh hoá,
được thánh hiến, được siêu độ, được tha thứ và được tái hòa giải lại với
Thiên Chúa, với tha nhân, với thiên nhiên vũ trụ và với chính bản thân
mình… </font></p>
<p align="justify"><font size="4">1b- “… <b><i>và ban Thánh Thần để tha
tội</i></b>…”: </font></p>
<p align="justify"><font size="4">Theo ngôn ngữ Thánh Kinh, chỉ có Thiên
Chúa và Con Người hay là Đức Kitô mới có quyền tha tội (xem <i>Mc</i>
2,3-12). Vậy, khi nói “ban Thánh Thần để tha tội”, điều nầy hẳn có nghĩa
là Thánh Thần của Đức Kitô cũng là Thánh Thần của Thiên Chúa hay là
chính Đức Kitô, chính Ngôi Vị Đức Kitô tha tội… Đó chính là Thần Khí của
Đức Kitô Phục Sinh hằng ở với chúng ta mọi ngày cho đến tận thế (xem <i>
Ga</i> 14,16-31; 20,23; <i>Mt</i> 28,19-20).</font></p>
<p align="justify"><font size="4">1c- “…<b><i>Xin Chúa dùng thừa tác vụ
của Hội Thánh mà ban cho […] ơn tha thứ và bình an</i></b>…”: </font>
</p>
<p align="justify"><font size="4">Ơn tha thứ và bình an, như đã phân
tích ở trên, chỉ có thể có “<i>trong</i>”, “<i>bởi</i>” và “<i>với</i>”
Đức Kitô cách uyên nguyên và “Thân Mình mầu nhiệm” của Ngài là Giáo Hội
nhờ ân sủng được ban cho (hay “thừa tác”) – tức là do được Đức Kitô nhận
“là” Mình – mà thôi. Tác vụ hòa giải và tha tội đích thực và toàn vẹn,
như vậy, chỉ có thể được thực hiện bởi vị Linh mục thừa tác trong ngôi
vị Đức Kitô và trong Giáo Hội là Thân Mình mầu nhiệm của Ngài mà thôi…</font></p>
<p align="justify"><font size="4">1d- “…<b><i>Vậy, tôi tha tội cho […]
nhân Danh Cha và Con và Thánh Thần</i></b>.”:</font></p>
<p align="justify"><font size="4">Cũng như trong mầu nhiệm ngôi hiệp,
tuy là hai bản tính (thần tính và nhân tính), nhưng ở nơi Đức Kitô chỉ
là một Ngôi Vị hay chỉ có một cái “TÔI” mà thôi, cũng vậy, cái “tôi” ở
đây chỉ có thể là cái “tôi” trong ngôi vị Đức Kitô, cái “tôi” được nhận
là “cái tôi thiên chúa”: chỉ trong điều kiện cái tôi thiên chúa như vậy
(nghĩa là thuộc về cấu trúc hữu thể học) mới có thể có quyền tha tội
(xem <i>Mc</i> 2,3-12).</font></p>
<p align="justify"><font size="4">Và, trên cơ sở mầu nhiệm Thiên Chúa-Ba
Ngôi cùng tương ngụ trong nhau (inhabitation trinitaire), hành vi tha
tội và hòa giải trong ngôi vị Đức Kitô hẳn đồng thời cũng phải là hành
vi trong và bởi Mầu nhiệm Thiên Chúa-Ba Ngôi: được tha thứ bởi Thiên
Chúa-Ba Ngôi và được hòa giải với Thiên Chúa-Ba Ngôi…</font></p>
<p align="justify"><b><font size="4">2- Cơ sở Thánh Kinh của việc tha
tội bởi Thiên Chúa, bởi Con Người và của việc hòa giải với Thiên Chúa,
với tha nhân, với thiên nhiên vũ trụ và với chính bản thân mình:</font></b></p>
<p align="justify"><font size="4">2a- <b><i>Mc 2,3-12</i></b>: “…[…].
‘Ai nào có thể tha tội được, trừ phi là một mìmh Thiên Chúa?’.[…]. ‘Song
để các ông biết Con Người có quyền tha tội dưới đất’.”</font></p>
<p align="justify"><font size="4">2b- <b><i>Mt 16,19</i></b>: “…Ta sẽ
trao cho ngươi chìa khóa Nước Trời, và điều gì dưới đất ngươi cầm buộc,
thì cũng sẽ bị cầm buộc trên trời, và điều gì dưới đất ngươi tháo cởi
thì cũng sẽ được tháo cởi trên trời.” </font></p>
<p align="justify"><font size="4">Quyền năng tha tội không chỉ được ban
cho Phêrô thôi mà còn cho toàn thể tông đồ đoàn (collège apostolique):
“Quả thật, Ta bảo các ngươi: mọi điều dưới đất các ngươi cầm buộc, thì
cũng sẽ bị cầm buộc trên trời , và mọi điều dưới đất các ngươi tháo cởi,
thì cũng sẽ được tháo cởi trên trời.” ( xem <i>Mt</i> 18,18); và cho các
môn đệ được qui tụ lại với nhau như một tập thể, một cộng đoàn: “… Nói
thế rồi, Ngài thổi hơi trên họ và nói với họ: ‘Hãy chịu lấy Thánh thần.
Các ngươi tha tội cho ai, thì tội họ được tha; các ngươi cầm giữ tội ai,
thì tội họ bị cầm giữ!’.” (<i>Ga</i> 20,23). </font></p>
<p align="justify"><font size="4">2c- <b><i>Lc 15,11-32</i></b>: “[…].
Hồi tâm lại, nó nói: Biết bao nhiêu người làm công cho cha tôi có dư
thừa bánh ăn, còn tôi thì phải chết đói ở đây ! Thôi dậy ! tôi sẽ về
cùng cha tôi, tôi sẽ nói với người: ‘Thưa cha, con đã trót phạm tội
nghịch với Trời và với cha; con không còn đáng gọi là con cha nữa, xin
xử với con như một người làm công của cha thôi’ (đối chiếu với <i>St</i>
3,1-24). […]. ‘Ta phải ăn khao mới được ! vì nầy con ta đây: nó đã chết
mà lại hoàn sinh, đã mất đi mà lại tìm thấy được’.”</font></p>
<p align="justify"><font size="4">2d- <b><i>Cl 1,18-20</i></b>: “Ngài là
đầu của Thân mình, tức là Hội thánh. Ngài là khởi nguyên, là trưởng tử
giữa các vong nhân, ngõ hầu trong muôn sự Ngài là đệ nhất vô song! Vì
chưng, Thiên Chúa đã quyết ý cho tất cả Viên mãn đậu lại trong Ngài. <i>
Và đã giảng hòa cả vạn vật nhờ Ngài và cho Ngài, đã ban lại bình an nhờ
bửu huyết đổ ra nơi Thập giá của Ngài, cho mọi vật dù ở dưới đất hay ở
trên trời </i>!”</font></p>
<p align="justify"><b><font size="4">3- Một vài suy tư thần học </font>
</b></p>
<p align="justify"><i><font size="4">3a- Sự tha thứ “bởi” con người và
sự tha thứ “bởi” Thiên Chúa: </font></i></p>
<p align="justify"><font size="4">Sự phân biệt và so sánh nầy thực ra
chỉ có tính tương đối và vạn bất đắc dĩ mà thôi, cốt là để cho dễ hiểu
và dễ nắm bắt hơn, bởi vì, nói theo ngôn ngữ thần học, tất cả mọi hiện
hữu, mọi hành vi thánh thiện của con người đều chỉ có thể có được “<i>trong</i>”
Thiên Chúa mà thôi (xem <i>Rm</i> 11,36; 1<i>Cr</i> 8,6; <i>Cl</i>
1,16tt). Khi nói tha thứ “bởi” con người là có ý nhấn mạnh khía cạnh
hành vi tha thứ giữa con người với con người nói chung dù hành vi đó
trên thực tế diễn ra <i>trong </i>Thiên Chúa. Còn khi nói tha thứ “bởi
Thiên Chúa” là có ý nhấn mạnh sự tha thứ bởi vị Linh mục thừa tác trong
ngôi vị Đức Kitô vừa là Thiên Chúa thật vừa là con người thật.</font></p>
<p align="justify"><font size="4">Trong ngôn ngữ Thánh Kinh có vẻ như có
sự khác biệt giữa sự tha thứ nói chung giữa con người với nhau và với sự
“tha tội” chỉ bởi Thiên Chúa mà thôi: tha thứ thì tất cả mọi người đều
có bổn phận phải tha thứ (<i>Mt</i> 18,21; <i>Lc</i> 17,4; 11,4; v.v…),
nhưng “tha tội” (quyền “cởi trói” và “cầm buộc”) thì có vẻ như chỉ những
ai được ban cho “<i>thẩm quyền tha tội</i>” mới được tha tội (xem <i>Mt</i>
9, 6; <i>Mc</i> 2,10; <i>Lc</i> 5,24; <i>Mt</i> 12,31). Ngoài ra, việc
con người có được Thiên Chúa tha tội như thế nào có phần còn tuỳ thuộc
vào việc con người có tha thứ cho nhau hay không và như thế nào (xem <i>
Mt</i> 6,12-15; 18,35; <i>Mc</i> 11,25-26). </font></p>
<p align="justify"><i><font size="4">3b- Thẩm quyền tha tội (quyền “cởi
trói” và “cầm buộc”) của vị Linh mục thừa tác trong ngôi vị Đức Kitô</font></i><font size="4">:
</font></p>
<p align="justify"><font size="4">Như đã lưu ý ở trên, mục 2b, chỉ có
Thiên Chúa và Con Người, tức là chính Đức Kitô, vừa là Thiên Chúa thật
vừa là con người thật mới có quyền tha tội: đó là Thẩm quyền nguyên
thủy, do căn… Các thừa tác viên có chức thánh khác (trừ phó tế), kể từ
Giáo hoàng, Hồng y, Giám mục, và Linh mục thừa tác chỉ có quyền tha tội
trong ngôi vị Đức Kitô mà thôi, tức là do ân sủng được ban cho: “Chỉ có
tư tế là thừa tác viên của bí tích Sám Hối” (GL. Khoản 965)…</font></p>
<p align="justify"><font size="4">Tuy nhiên, bởi vì Phêrô, vị Giáo hoàng
tiên khởi và tông đồ đoàn (các hồng y và giám mục?) vốn được ban cho
thẩm quyền nầy có lẽ không phải cách đầy đủ hơn và trọn vẹn hơn mà đúng
hơn là vì phạm vi phục vụ của các ngài rộng lớn hơn và bao quát hơn (xem
<i>Mt</i> 18,18; <i>Ga</i> 20,23), nên thẩm quyền của các ngài mang tính
phổ quát hơn là các Linh mục thừa tác mà phạm vi phục vụ vốn là những
cộng đoàn nhỏ bé hơn: điều nầy được phản ánh trong Bộ Giáo luật 1983 bao
gồm các Khoản từ 965 đến hết 973… Đàng khác, có lẽ bởi vì một đàng để đề
cao tầm quan trọng của Bí tích nầy và đàng khác để tránh những lạm dụng
có thể xãy ra, Giáo luật Khoản 973 qui định: “<i>Năng quyền giải tội
thường xuyên phải được ban bằng văn bản</i>”.</font></p>
<p align="justify"><font size="4">Ở đây, cần lưu ý là thẩm quyền tha tội
mà vị Linh mục thừa tác có được là vì vị Linh mục thừa tác đó được hiệp
nhất với Đức Kitô trong ngôi vị của Ngài và vì thế “trong cương vị của
Đức Kitô” (“en raison d’être le Christ”) chứ không vì bất cứ lý do ngoại
tại nào khác cả, thì dụ như những kiểu nói không thích hợp như: “vì thay
mặt hay đại diện Đức Kitô” hoặc “vì được ủy quyền”, thậm chí cả những
kiểu nói “đồng hình đồng dạng” hay “alter Christus”, v.v… </font></p>
<p align="justify"><b><font size="4">Bài 4:</font></b></p>
<p align="justify"><b><font size="4">LINH MỤC THỪA TÁC, NGÀI LÀ AI?</font></b></p>
<p align="justify"><font size="4">Có thể nói rằng dung mạo của vị Linh
mục thừa tác đã lộ rõ ra khá rõ ràng khi chúng ta phân tích về những
tương quan giữa ngài với Đức Kitô, với Bí tích Thánh Thể và với Bí tích
Hòa Giải…</font></p>
<p align="justify"><font size="4">Như một đúc kết tạm thời và sơ lược,
bài nầy cố gắng rút ra một số hệ luận từ những phân tích trên đây:</font></p>
<p align="justify"><font size="4">1- Linh mục thừa tác, ngài là ai?</font></p>
<p align="justify"><font size="4">2- Vai trò và vị trí của ngài trong
tương quan với Giáo Hội và các Cộng đoàn…</font></p>
<p align="justify"><b><i><font size="4">I- Linh mục thừa tác, ngài là
ai?</font></i></b></p>
<p align="justify"><font size="4">Ngài là “<i>con người trong ngôi vị
Đức Kitô</i>” hay “<i>con người được Đức Kitô nhận là Mình</i>”: điều
nầy khác xa với những khái niệm “Alter Christus” (Đức Kitô khác hay Đức
Kitô thứ hai…), hay “Đại diện Đức Kitô” hay “Đồng hình đồng dạng với Đức
Kitô”… </font></p>
<p align="justify"><font size="4">I.1- Điều đó, nói theo ngôn ngữ mầu
nhiệm ngôi hiệp, trước tiên, có nghĩa vị Linh mục thừa tác vừa là Đức
Kitô thật vừa là con người thật với những yếu đuối, những bất toàn và
với cả tội lỗi, v.v…Bởi vì, con người “thánh” không đồng nghĩa với con
người “hoàn hảo” hay “hoàn thiện” (perfection) mà đơn giản có nghĩa là
con người được Thiên Chúa yêu thương và tha thứ…Chúng ta hãy nhớ đến các
Tông đồ của Đức Giêsu: những Phêrô yếu đuối, những Giacôbê và Gioan đầy
tham vọng trần tục, những Giuđa Iscariôt tham tiền và phản bội, v.v… Là
chính Đức Kitô, nên ngài mới có thể “truyền phép Bánh và Rượu” và “nói”:
“Nầy là Mình Thầy…” và “Nầy là chén Máu Thầy…”, để chính Đức Kitô và
ngài “là” Bánh đó và Rượu đó (xem <i>GL</i> Kk. 899 § 2 và 900 § 1)…Là
chính Đức Kitô, nên ngài mới có thể tha tội, và “nói”: “Và Tôi, Tôi tha
tội cho Ông (Bà, Anh, Chị…) nhân Danh Cha và Con và Thánh Thần…”. Nhưng,
đồng thời, ngài cũng là con người với những bất toàn, những yếu đuối,
những sa ngã, những tội lỗi, v.v…, cần được thông cảm, được thứ tha và
được xây dựng…Như thế, nói theo ngôn ngữ của Thánh Phaolô, là vì: “Nhưng
chính những điều thế gian coi là điên rồ, thì Thiên Chúa đã chọn để bêu
nhuốc hạng khôn ngoan; và những điều thế gian coi là yếu đuối, thì Thiên
Chúa đã chọn để bêu nhuốc những gì là mạnh mẽ. Những điều thế gian cho
là ti tiện, là không đáng kể, thì Thiên Chúa đã chọn, những điều không
không, để hủy ra không những điều có, ngõ hầu đừng có xác phàm nào dám
vinh vang trước mặt Thiên Chúa.” (1<i>Cr</i> 1,27-29). </font></p>
<p align="justify"><font size="4">I.2- Thứ đến, cương vị “là Đức Kitô”
hay “trong ngôi vị của Đức Kitô” đó của vị Linh mục thừa tác, vốn <i>
vĩnh</i> <i>hằng</i> (<i>Ep</i> 1, 4) và, sau khi đã được một vị giám
mục hợp pháp của Giáo hội, dưới quyền năng Chúa Thánh thần, truyền ban,
là <i>vĩnh viễn</i>, không ai và không gì có thể tước đi được (xem <i>Dt</i>
5,1-10; 7,24-28; <i>Ga</i> 15,14-16; 17,6-26; v.v…): người ta chỉ có thể
cấm đoán hay tước đi quyền cử hành một số Bí tích và quyền thi hành mục
vụ của ngài trong một thời gian nào đó, đối với một số đối tượng nào đó,
v.v…, chứ không thể tước đi cương vị hay tư cách là “con người trong
ngôi vị của Đức Kitô” của ngài được. Lý do, bởi vì cương vị “là Đức
Kitô” đó vốn <i>nằm trong cấu trúc hữu thể học</i> của vị Linh mục thừa
tác (xem <i>Ga</i> 13,20), chứ không phải là yếu tố ngoại tại. Đó chính
là lý do giải thích tại sao Giáo luật của Giáo hội chủ trương rằng trong
một số tình huống khẩn cấp và đặc biệt (như chiến tranh, bom đạn), một
vị Linh mục thừa tác trước đó vốn bị cấm đoán có thể tự động được ban Bí
tích Hòa giải cho giáo dân, “propter nos homines” và “propter nostram
salutem” (xem <i>GL</i>, Kk. 976 và 986 § 2).</font></p>
<p align="justify"><font size="4">Ngày 15-12-2009 vùa qua, qua Tự Sắc
“OMNIUM IN MENTEM”, Đức Giáo Hoàng Bênêđictô XVI đã cho thêm vào Khoản
Giáo Luật 1009 một triệt 3 qui định: “<i>Những người được tấn phong chức
giám mục hoặc Linh mục nhận lãnh sứ mạng và năng quyền hành động trong
ngôi vị Đức Kitô Thủ lãnh, nhưng các phó tế thì được ban cho năng quyền
phục vụ dân Chúa trong vai trò phụ việc trong cử hành phụng vụ, Lời Chúa
và bác ái</i>” (1009 § 3: “Ceux qui sont constitués dans l’ordre de
l’épiscopat ou du presbytérat reçoivent la mission et la faculté d’agir
<i>en la personne du Christ tête</i>, mais les diacres sont habilités à
servir le peuple de Dieu dans la diaconie de la liturgie, de la parole
et de la charité”).</font></p>
<p align="justify"><font size="4">I.3- Khi nói “cương vị là Đức Kitô”
thuộc về cấu trúc hữu thể học của vị Linh mục thừa tác, điều nầy không
có nghĩa, giống như Đức Giêsu-Kitô vốn là Ngôi Lời Thiên Chúa và là
Thiên Chúa và Đức Maria vốn được những đặc ân như vô nhiễm nguyên tội,
thánh thiện không tì vết, mặc dụ vẫn phải đối diện với những cám dỗ,
những thử thách trong cuộc đời trấn thế, mà chỉ muốn nói rằng, cũng như
nơi các Tông đồ của Đức Kitô, “cương vị là Đức Kitô” mà vị Linh mục thừa
tác nhận được trong ngày lễ Phong chức vốn bắt đầu như một “<i>hiện hữu
ở đó</i>” (“être en lui”) và sẽ từ từ qua quá trình cuộc sống trở thành
“<i>hiện diện đối với ngài</i>” (“être présent pour lui…”), và trong quá
trình đó, hẳn ngài sẽ phải đối diện với những thử thách, cám dỗ và thậm
chí những sa ngã…(xem 1<i>Tm</i> 4,6-16; 2<i>Tm</i> 3,10-17; 1<i>Cr</i>
3,18-23; 4,1-5; 2<i>Cr</i> 4,1-11, v.v…).</font></p>
<p align="justify"><font size="4">Quá trình đi từ “hiện hữu nơi ngài”
(“être en lui”) đến “hiện diện đối với ngài” (“être présent pour lui”)
chỉ có thể là qúa trình tình yêu được sống, qúa trình tương quan ngày
càng mật thiết, sống động và cá vị giữa vị Linh mục thừa tác với Đức
Giêsu Kitô, với Thân Mình mầu nhiệm của Ngài là chính Giáo Hội và với
tha nhân, đặc biệt “những con người bé nhỏ”… Đó là một tương quan có
tính năng động, hỗ tương và biện chứng, tức là vị Linh mục thừa tác càng
yêu thương Thiên Chúa và con người bao nhiêu bằng một tinh yêu vị tha,
dâng hiến, Đức Kitô càng hiện diện đối với ngài và trong ngài bấy nhiêu,
và ngược lại, Đức Kitô càng hiện diện bao nhiêu đối với vị Linh mục thừa
tác, ngài sẽ càng yêu thương nhiều bấy nhiêu và ngài càng “là mình”
(identité) bấy nhiêu… Người ta sẽ hiểu được căn tính (identité) của vị
Linh mục thừa tác cách rõ ràng hơn khi nghiên cứu vai trò, vị trí của
ngài trong tương quan với Giáo hội-Thân Mình mầu nhiệm của Đức Kitô…
</font></p>
<p align="justify"><b><i><font size="4">II- Vai trò và vị trí của vị
Linh mục thừa tác trong tương quan với Giáo Hội và các Cộng đoàn…</font></i></b></p>
<p align="justify"><font size="4">Có thể nói rằng <i>Ep</i> 4,11-13, một
cách tổng quát, cho chúng ta thấy rõ vai trò, chức năng và vị trí của vị
Linh mục thừa tác trong Giáo hội và các cộng đoàn:</font></p>
<p align="justify"><font size="4">“<i>Đức Kitô đã ban ơn cho kẻ nầy làm
Tông Đồ, người nọ làm ngôn sứ, kẻ khác làm người loan báo Tin Mừng, kẻ
khác nữa làm người coi sóc và dạy dỗ. Nhờ đó, dân thánh được chuẩn bị để
làm công việc phục vụ, <b>là xây dựng thân thể Đức Kitô, cho đến khi tất
cả chúng ta đạt tới sự hiệp nhất trong đức tin và trong sự nhận biết Con
Thiên Chúa, tới tình trạng con người trưởng thành, tới tầm vóc viên mãn
của Đức Kitô</b></i>” (<i>Ep</i> 4,11-13).</font></p>
<p align="justify"><font size="4">Còn <i>Cv</i> 2,42 thì lại cho chúng
ta thấy Hiện sinh đời sống của Giáo hội thời sơ khai và mọi thời được
lập căn trên 4 yếu tố nền tảng: “<i>Họ chuyên cần với giáo huấn của các
tông đồ và sự hiệp thông, việc bẻ bánh và kinh nguyện</i>”. Việc phân
tích <i>Cv</i> 2,42 sẽ cho chúng ta thấy rõ được vai trò và chức năng và
sứ mạng cụ thể của vị Linh mục thừa tác…</font></p>
<p align="justify"><font size="4">II.1- “<b><i>Họ chuyên cần với giáo
huấn của các tông đồ</i></b>”: Giáo hội, trước tiên, <i>là một tập thể
những người qui tụ lại với nhau để lắng nghe Lời Chúa</i> (Assemblée du
Seigneur). Vị Linh mục thừa tác chính là người mang trách nhiệm qui tụ,
công bố, rao giảng và giải thích Lời Chúa nhân danh Giáo Hội, Thân Mình
mầu nhiệm của Đức Kitô, tiếp nối truyền thống giáo huấn của các tông đồ.</font></p>
<p align="justify"><font size="4">II.2- “…<b><i>và sự hiệp thông</i></b>”:
Thứ đến, Giáo Hội là một tập thể những con người có cùng chung xác tín
tất cả mọi người đều là anh chị em với nhau vì cùng có chung một Cha là
Thiên Chúa, Đấng Tạo Thành mọi sự; hay nói cách khác, là tập thể những
con người có cùng chung một Niềm Tin, một Niềm Hy Vọng và một Tình Yêu.
Chính ở đây, <i>vị Linh mục thừa tác là nguyên lý của sự hiệp nhất của
cộng đoàn</i>…</font></p>
<p align="justify"><font size="4">II.3- “…<b><i>việc Bẻ Bánh</i></b>”:
Sư hiệp thông luôn đòi hỏi tình yêu dâng hiến: cả hai điều nầy được thể
hiện cách cụ thể nơi Bí Tích Thánh Thể. Vì thế <i>việc tuyên xưng, cử
hành và sống Bí Tích Thánh Thể chính là một trong những yếu tố làm nên
nguyên lý, phương tiện và mục đích của hiện sinh của Giáo hội và làm nên
chính căn tính của Giáo hội và cả của vị Linh mục thừa tác</i>…</font></p>
<p align="justify"><font size="4">II.3a- Bí Tích Thánh Thể và Căn tính
của Giáo Hội: </font></p>
<p align="justify"><font size="4">Bí tích Thánh Thể, trước tiên, là <i>
nguyên lý</i> của Căn tính của Giáo hội như là Thân Thể nhiệm mầu của
Đức Kitô. Là nguyên lý, bởi vì, chính Bí tích Thánh Thể là nguyên lý
khai sinh ra căn tính của Giáo hội, hay nói cách khác, chính Bí tích
Thánh Thể làm cho Giáo hội là Thịt và là Máu của Đức Kitô, như là Bí
tích của Đức Kitô giữa lòng thế giới…</font></p>
<p align="justify"><font size="4">Thứ đến, Bí tích Thánh Thể là <i>
phương tiện</i> (moyen) xây dựng Căn tính của Giáo hội. Điều đó có nghĩa
là Bí tích Thánh Thể vừa khai sinh ra vừa nuôi dưỡng Giáo Hội như là
Thân Thể của Đức Kitô được trao ban cho nhân loại mọi nơi và mọi thời…</font></p>
<p align="justify"><font size="4">Sau cùng, Bí tích Thánh Thể chính là
điều mà Giáo Hội phải và đang trở thành: “Nầy là Mình Thầy !” (<i>Mc</i>
14,22.24 và ss) và “Anh em thân mến, hiện giờ ta là con cái Thiên Chúa;
ta sẽ là gì, thì chưa được tỏ hiện, ta biết rằng một khi điều ấy tỏ
hiện, thì ta sẽ được giống như Người, vì Người thế nào, ta sẽ được thấy
như vậy” (1<i>Ga</i> 3,2). Hay nói cách khác, Bí tích Thánh Thể cũng
chính là <i>cùng đích</i> của Giáo Hội… </font></p>
<p align="justify"><font size="4">II.3b- Bí tích Thánh Thể và Căn tính
của vị Linh mục thừa tác: Cũng như trong tương quan với Giáo hội-Thân
Mình mầu nhiệm của Đức Kitô, Bí tích Thánh Thể cũng là một trong những
yếu tố căn bản làm nên nguyên lý, phương tiện và cùng đích của Căn tính
của vị Linh mục thừa tác.</font></p>
<p align="justify"><font size="4">Trước tiên, là <i>nguyên lý của Căn
tính của chức Linh mục thừa tác</i>, bởi vì, giữa Chức thánh Linh mục
thừa tác và Bí tích Thánh Thể có mối tương quan mật thiết và hỗ tương
với nhau. Tương quan mật thiết, vì chính Đức Kitô đã thiết lập cùng lúc
hai Bí tích nầy (Truyền chức thánh và Thánh Thể) trong Bữa Tiện Ly Ngày
Thứ Năm Tuần Thánh. Và như đã lưu ý trước đây, có lẽ sẽ không có Chức
thánh Linh mục thừa tác nếu không có Bí tích Thánh Thể và ngược
lại…Tương quan hỗ tương, bởi vì hai Bí tích nầy tác động hỗ tương đối
với nhau: vị Linh mục thừa tác càng “sống” căn tính của mình càng “nầy
là Mình Thầy” hơn và vì thế càng trở nên “Bí tích Thánh Thể” hơn, và
ngược lại…</font></p>
<p align="justify"><font size="4">Thứ đến, là <i>phương tiện</i> không
thể thiếu giúp vị Linh mục sống và thể hiện Căn tính đặc thù của mình là
tình yêu hiệp thông và hiến tế: vị Linh mục thừa tác chỉ trở thành
“lương thực” và “thức uống” cho mọi người ăn và uống khi thực sự “sống”
Bí tích Thánh Thể hay nói cách khác, khi ngài cũng là chính Bí tích
Thánh Thể…</font></p>
<p align="justify"><font size="4">Sau cùng, là <i>cùng đích</i> của Căn
tính của chức Linh mục thừa tác, nghĩa là chức thánh Linh mục thừa tác
vốn là một “hữu thể đang trở thành” (être en devenir) của hành vi “Nầy
là Mình Thầy” và “Nầy là Chén Máu Thầy” và cùng đích của quá trình nầy
chính là Bí tích Thánh Thể (xem 1 <i>Ga</i> 3,2)…</font></p>
<p align="justify"><font size="4">II.4- “…<b><i>và kinh nguyện</i></b>”:
kinh nguyện cá nhân cũng như tập thể là cơ hội và là môi trường để con
người “<i>tiếp</i> <i>cận</i>” với Thiên Chúa, với tha nhân và với chính
cả bản thân mình… Và đó cũng chính là lúc và là nơi mà dung mạo của Giáo
hội được bày tỏ và thể hiện cách hết sức đặc thù. Ở đây, vai trò chính
của vị Linh mục thừa tác là “<i>qui tụ</i>” Dân Chúa lại với nhau, cùng
đồng hành với họ và là “<i>cầu nối</i>” (pontifex) giữa con người và
Thiên Chúa và ngược lại, trong ngôi vị Đức Kitô là Đầu…</font></p>
<p align="justify"><b><i><font size="4">III- Sự Hiện diện có tính bí
tích của vị Linh mục thừa tác giữa lòng Giáo hội …</font></i></b></p>
<p align="justify"><font size="4">Trên cơ sơ những phân tích và suy tư
trên đây, hé lộ cho chúng ta thấy một chiều kích huyền nhiệm nữa nơi Căn
tính đặc thù của vị Linh mục thừa tác đó là Hiện diện của ngài giữa lòng
thế giới và Giáo hội là một <i>Hiện diện có tính bí tích</i> (Présence
sacramentelle) (xem <i>Mt</i> 28,20; <i>Lc</i> 22,19). </font></p>
<p align="justify"><font size="4">Là sự hiện diện có tính bí tích, <i>
trước tiên</i>, bởi vì đó là sự hiện diện trong ngôi vị Đức Kitô: dù hèn
yếu, tội lỗi, bất xứng, v.v…, nhưng, vì tình yêu nhưng không và có thể
nói không ai hiểu được, Đức Kitô đã nhận vị Linh mục thừa tác đó là Mình
(appropriation) và qua ngài, Đức Kitô hiện diện với những người bạn của
Ngài giữa lòng lịch sử… </font></p>
<p align="justify"><i><font size="4">Thứ đến</font></i><font size="4">,
cùng với “Mình Thánh” và “Máu Thánh”, vị Linh mục thừa tác trong ngôi vị
Đức Kitô, cách bí tích, vẫn “nuôi sống” và “làm đã cơn khát” nhân loại
đang “đói” và “khát” cách thể xác cũng như tinh thần… </font></p>
<p align="justify"><i><font size="4">Sau cùng</font></i><font size="4">,
trong ngôi vị Đức Kitô là Đầu của Thân Thể mầu nhiệm là Giáo Hội, có thể
nói vị Linh mục thừa tác chính là “linh hồn” của các cộng đoàn… Không có
ngài, cộng đoàn sẽ trở nên trống vắng, như ngôi nhà không có chủ, như
thế giới vắng bóng Thiên Chúa…</font></p>
<p align="justify"><i><font size="4">Năm Thánh Linh mục 2009</font></i></p>
<p align="justify"><font color="#800000"><strong><i><font size="4">Linh
mục</font></i><font size="4"> Phêrô NGUYỄN THIÊN CUNG</font></strong></font></td>
</tr>
<tr>
<td>
<p align="right"><i>Nguồn:xuanbichvietnam.wordpress.com</i></td>
</tr>
<tr>
<td>
<p align="center">
<a target="_top" href="../../../index.htm">
<img src="http://tinmung.net/tinmungLOGO/homepage.gif" width="100" border="0" height="34"></a></td>
</tr>
</table>
</body>
</html>