File "Duc-tin-va-nhung-thu-thach-thoi-so-khai.htm"

Full path: E:/sites/Single15/tinmung2007/webroot/GIAOHOI/NamDucTin/SuyTu/Duc-tin-va-nhung-thu-thach-thoi-so-khai.htm
File size: 29.07 KiB (29768 bytes)
MIME-type:
Charset: utf-8

Download   Open   Back

<html xmlns:v="urn:schemas-microsoft-com:vml" xmlns:o="urn:schemas-microsoft-com:office:office" xmlns="http://www.w3.org/TR/REC-html40">

<head>
<link href="file:///C:/DOCUME~1/TTMV_M~1/LOCALS~1/Temp/msohtmlclip1/01/clip_themedata.thmx" rel="themeData">
<link href="file:///C:/DOCUME~1/TTMV_M~1/LOCALS~1/Temp/msohtmlclip1/01/clip_colorschememapping.xml" rel="colorSchemeMapping">
<style>
<!--
/* Font Definitions */
 @font-face
	{font-family:"Cambria Math";
	panose-1:2 4 5 3 5 4 6 3 2 4;
	mso-font-charset:1;
	mso-generic-font-family:roman;
	mso-font-format:other;
	mso-font-pitch:variable;
	mso-font-signature:0 0 0 0 0 0;}
 /* Style Definitions */
 div.MsoNormal
	{mso-style-parent:"";
	margin-bottom:.0001pt;
	font-size:12.0pt;
	font-family:"Times New Roman","serif";
	margin-left:0cm; margin-right:0cm; margin-top:0cm}
 li.MsoNormal
	{mso-style-parent:"";
	margin-bottom:.0001pt;
	font-size:12.0pt;
	font-family:"Times New Roman","serif";
	margin-left:0cm; margin-right:0cm; margin-top:0cm}
 p.MsoNormal
	{mso-style-parent:"";
	margin-bottom:.0001pt;
	font-size:12.0pt;
	font-family:"Times New Roman","serif";
	margin-left:0cm; margin-right:0cm; margin-top:0cm}
span.longtext
	{}
.MsoChpDefault
	{font-size:10.0pt;
	}
@page Section1
	{size:612.0pt 792.0pt;
	margin:72.0pt 90.0pt 72.0pt 90.0pt;
	mso-header-margin:36.0pt;
	mso-footer-margin:36.0pt;
	mso-paper-source:0;}
div.Section1
	{}
-->
</style>
<meta http-equiv="Content-Language" content="en-us" />
<meta http-equiv="Content-Type" content="text/html; charset=utf-8" />
<title>Đức Tin và Những Thử Thách Thời Sơ Khai</title>
<base target="main">
<style type="text/css">
.style1 {
	border-width: 0px;
}
</style>
<style fprolloverstyle>A:hover {color: #FF0000; font-family: Arial; font-size: 10pt}
</style>



<!--[if !mso]>
<style>span.contents
	{}
span.small
	{}
</style>
<![endif]-->
<!--[if !mso]>
<style>h2
	{margin-right:0cm;
	margin-left:0cm;
	font-size:18.0pt;
	font-family:"Times New Roman";
	font-weight:bold}
h1
	{margin-right:0cm;
	margin-left:0cm;
	font-size:24.0pt;
	font-family:"Times New Roman","serif";
	}
 li.MsoNormal
	{mso-style-parent:"";
	margin-top:0cm;
	margin-right:0cm;
	margin-bottom:10.0pt;
	margin-left:0cm;
	line-height:115%;
	font-size:12.0pt;
	font-family:"Times New Roman","serif";
	}
span.submitted
	{}
h4
	{margin-top:12.0pt;
	margin-right:0cm;
	margin-bottom:3.0pt;
	margin-left:0cm;
	line-height:115%;
	page-break-after:avoid;
	font-size:14.0pt;
	font-family:"Calibri","sans-serif";
	font-weight:bold}
h3
	{margin-top:10.0pt;
	margin-right:0cm;
	margin-bottom:0cm;
	margin-left:0cm;
	margin-bottom:.0001pt;
	line-height:115%;
	page-break-after:avoid;
	font-size:11.0pt;
	font-family:"Times New Roman","serif";
	color:#4F81BD;
	font-weight:bold}
span.author
	{}
span.longtext
	{}
span.MsoFootnoteReference
	{vertical-align:super}
span.apple-converted-space
	{}
</style>
<![endif]-->
</head>

<body style="color: #000000; background-color: #EEEEEE; font-family:Arial; font-size:10pt; text-decoration:none" background="../../../TRANG%20CUA%20ME%20MARIA/Pictures/Background/bgr.gif">

<table border="0" width="500" id="table1" cellspacing="15" bgcolor="#FFFFF0">
	<tr>
		<td>
		<p align="right" style="margin-top: 0; margin-bottom: 0"><b>
		<font face="Verdana" size="4" color="#006666">NĂM ĐỨC TIN</font></b></p>
		<hr color="#FF4D20" width="80%" align="right">
		<p class="MsoNormal" align="right" style="margin-top: 0; margin-bottom: 0">
		<b><font face="Arial" color="#0000FF">Đức Tin và Những Thử Thách Thời Sơ 
		Khai</font></b></td>
	</tr>
	<tr>
		<td align="justify">
		<p class="MsoNormal" style="margin-top: 0; margin-bottom: 0" align="right">
		<font size="2"><i><span style="font-family: Arial,sans-serif">Lm Mt. 
		Nguyễn Khắc Hy, S.S.</span></i></font><p class="MsoNormal" style="margin-top: 0; margin-bottom: 0" align="right">
		<font size="2"><i><span style="font-family: Arial,sans-serif">Nguồn: 
		Vietcatholic</span></i></font></td>
	</tr>
	<tr>
		<td align="justify">
		<p class="MsoNormal"><span style="font-size: 13pt">Nếu mục đích của Năm 
		Đức Tin là giúp Kitô hữu hiểu, yêu mến, và học hỏi thêm đức tin đã lãnh 
		nhận, thì cách tốt nhất là nhìn lại chính lịch sử hình thành đức tin 
		trong đời sống cha ông chúng ta. Bốn trăm năm đầu tiên của Giáo hội, các 
		Kitô hữu phải chống trả với rất nhiều “thù trong, giặc ngoài”, những âm 
		mưu nhằm phá hoại đức tin non nớt của họ. Ba trăm năm đầu với “giặc 
		ngoài”, là những áp lực của chính quyền, các triết lý đương thời, các 
		tôn giáo khác v.v… khi những áp lực này vu cáo Kitô giáo phản quốc 
		(không phục tùng hoàng đế), tà đạo (vì dám thờ Ba Chúa thay vì Một Thiên 
		Chúa như Do Thái giáo), và man rợ (vì ăn thịt và uống máu trong các dịp 
		Lễ) v.v… Từ thế kỷ thứ tư, Giáo hội đối đầu với “nội thù” là những lạc 
		thuyết và lạc giáo xuất phát từ những thần học gia hay tu sĩ Kitô giáo 
		diễn dịch sai lạc về Kinh Thánh và truyền thống Giáo hội, gây hoang mang 
		và chia rẽ trong Giáo hội.<br>
		<br>
		Hiện nay một số cho là lịch sử đang phần nào tái diễn, và đây là nguyên 
		nhân dẫn đển khủng hoảng đức tin. Chúng ta cùng nhau tìm hiểu và học hỏi 
		cách thức cha ông bảo vệ và tăng cường đức tin ngày xưa để làm bài học 
		cho ta ngày nay.<br>
		<br>
		<b>Hộ Giáo Học và Ngoại Thù</b><br>
		<br>
		Khi Kitô hữu thời sơ khai đối đầu với những vu cáo, bôi nhọ, xuyên tạc, 
		chế nhạo và ngay cả cấm đoán họ sống đức tin, họ thấm hiểu lời thánh 
		Phêrô dạy: “Hãy luôn luôn sẵn sàng trả lời cho bất cứ ai chất vấn về 
		niềm hy vọng của anh em.” (1 Pet 3:15). Môn Hộ Giáo Học (được dịch từ 
		tìếng Hi Lạp apologia, nguyên nghĩa là bài nói chuyện để bào chữa hay để 
		trả lời những tố cáo của người khác)[1] ra đời trong những thế kỷ đầu 
		tiên nhằm giải thích những thắc mắc hay minh oan những vu cáo của chính 
		quyền hay các triết gia về tính phi lý của đức tin Kitô giáo.[2]<br>
		<br>
		Hộ Giáo Học thường có ba chức năng chính: Chứng Minh, Tự Vệ và Phản 
		Công. Chứng Minh là đưa ra những bằng chứng vững chắc, hợp lý tại sao ta 
		tin. Tự Vệ là là trả lời những thắc mắc mà người khác cho rằng Kitô hữu 
		tin không hợp lý. Và Phản Công là “tấn công sự ngu xuẩn” (TV 14:1; 1 Cor 
		1:18-2:16) của những tư tưởng không đáng tin (như cổ động cho tà thần, 
		đa thần, hay vô thần…). <br>
		<br>
		Trong Tân Ước, Phaolô được xem là người tiêu biểu nhất sống vai trò Hộ 
		Giáo Học khi rao giảng Tin Mừng. Viết thư cho tín hữu Galata, ông biện 
		hộ khi người ta tố cáo ông không phải là tông đồ thật vì quá khứ của ông 
		(Gal 1:1-10). Bực tức với lời tố cáo này, ông khẳng định việc ông được 
		kêu gọi làm tông đồ “không phải do loài người mà do Đức Giêsu Kitô” (Gal 
		1:1) (ý ông muốn giải thích việc ông không là Một trong nhóm Mười Hai 
		được Chúa Giêsu kêu gọi), và ông còn khẳng định thêm rằng Tin Mừng ông 
		rao giảng là Thật, và vì thế, “nếu có ai, kể cả chúng tôi, hoặc một 
		thiên thần nào từ trời xuống, loan báo cho anh em Tin Mừng khác với Tin 
		Mừng chúng tôi đã loan báo cho anh em, thì xin Thiên Chúa loại trừ kẻ ấy 
		đi!” (Gal 1:8).[3]<br>
		<br>
		Trong Công Vụ Tông Đồ, hai bài thuyết giảng của Phaolô được ghi lại với 
		tính cách biện chứng nhằm khích lệ những người không tin có Thiên Chúa 
		suy nghĩ lại. Ở Lystra, Phaolô nói rằng vạn vật mang dấu tích của Đấng 
		Tạo Hoá (Cvtd 14:14-16), và ở Athens Phaolô lý luận rằng vì con người là 
		con cái Thiên Chúa, và có Thần Khí, nên Thiên Chúa thuộc về Thần Khí. 
		Nếu Đấng Tạo Hoá ban hơi thở (là sự sống) cho muôn loài muôn vật, vậy 
		chắc chắn Ngài (thượng đế) phải là một Đấng Đang Sống, và vì thế Ngài 
		không thể là những vật vô tri vô giác của tà thần, của vàng bạc, đất, 
		đá… (Cvtd 17:23-29; xem thêm 1 Cor 1:21; Gal 4:8; 1 Thes 4:5; 2 Thes 
		1:8; Titus 1:16).<br>
		<br>
		Khi giảng cho người Do thái, những người đã tin vâo Thiên Chúa Yahweh, 
		Phaolô muốn thuyết phục họ rằng Đức Giêsu Kitô chính là Đấng Mesiah mà 
		dân hằng mong đợi. Ông tìm cách chứng minh cho người Do Thái thấy những 
		trùng hợp của Cựu Ước khi nói về Đấng Mesiah và những gì xảy ra cho 
		Ngài. Khi có người cho rằng Thiên Chúa không thể xuống làm con người 
		được, Phaolô cảnh cáo những Kitô hữu gốc Do Thái và những triết gia tìm 
		cách giải thích Tin Mừng Chúa Kitô theo khôn ngoan của loài người, và 
		nhắc nhở họ về mầu nhiệm mặc khải của Thiên Chúa trong lịch sử “vì cái 
		điên rồ của Thiên Chúa còn hơn cái khôn ngoan của loài người” (1 Cor 
		1:18-25; 2:6-16). Chính Chúa Giêsu đã đặt một nền móng cho lý luận này 
		khi Ngài nói với các môn đệ trên đường Emmaus: “Rồi bắt đầu từ ông Mô-sê 
		và tất cả các ngôn sứ, Người giải thích cho hai ông những gì liên quan 
		đến Người trong tất cả Sách Thánh.” (Lk 24:27).[4]<br>
		<br>
		<b>Sau Thời Các Tông Đồ</b><br>
		<br>
		Từ đầu thế kỷ 2, Kitô giáo bị đe doạ từ nhiều phía. Do Thái giáo muốn 
		tống xuất những Kitô hữu gốc Do Thái ra khỏi Hội Đường vì họ cho là 
		những người này theo lạc giáo. Chính quyền bắt bớ và hành hạ Kitô hữu vì 
		thế lực Giáo hội dần dần trở thành một tổ chức (chính trị) với thực lực 
		lớn mạnh trong đế quốc Roma. <br>
		<br>
		Hầu hết những bách hại bắt nguồn từ những vu cáo hoặc hiểu lầm. Những vu 
		cáo thông thường gồm việc Kitô hữu bí mật họp nhau hằng tuần cử hành 
		nghi thức gọi là “bữa ăn tình thương” (agape meal) tại nhà riêng, họ gọi 
		nhau là “anh, chị em” vì họ coi đó như một gia đình mới; họ cũng ăn uống 
		say sưa, và nhiều khi sống thác loạn.<br>
		<br>
		Việc rước lễ cũng bị cắt nghĩa sai lầm. Kitô hữu bị tố cáo là những 
		người “ăn thịt và uống máu” trong những buổi lễ. Một số còn tố cáo là họ 
		sát tế trẻ con để ăn thịt. Còn những người tham dự buổi lễ thì bị cấm 
		không được tiết lộ với ai.<br>
		<br>
		Về mặt chính trị, Kitô hữu bị ghép tội không tuân phục hoàng đế khi họ 
		không bái lạy theo nghi thức dân sự. Việc này bị kết án là gây chia rẽ 
		và xáo trộn sự hài hoà của xã hội. <br>
		<br>
		Về mặt đức tin, Kitô hữu bị tố cáo tin dị đoan cách mù quáng. Celsus, 
		một triết gia lúc đó, lý luận rằng Chúa Giêsu Kitô không thể là Thiên 
		Chúa được, vì nếu là Thiên Chúa, tại sao khi bị đóng đinh Ngài không 
		trừng phạt quân lính? Hay vì Ngài không có khả năng? Và tại sao Thiên 
		Chúa lại cần xuống thế gian, có phải vì Ngài không biết hết mọi sự? Với 
		niềm tin vào xác loài người ngày sau sống lại, Celsus châm biếm rằng 
		những người chết cháy, bị thú vật ăn trên rừng, hay cá ăn ngoài biển… 
		rồi con thú đó hay con cá đó bị con khác ăn, vậy sau khi sống lại, người 
		đó thuộc về đâu?[5]<br>
		<br>
		Những chế giễu, vu cáo và hiểu lầm này cần phải được giải thích. Các 
		giáo phụ đã phát triển Hộ Giáo Học như một vũ khí mới đương đầu với 
		những thách thức này. <br>
		<br>
		<b>Phản Công để Bênh Vực Đức Tin</b><br>
		<br>
		Trách nhiệm phản công này được giao cho Hộ Giáo Học.[6] Từ đầu thế kỷ 
		thứ hai, Kitô giáo bắt đầu tham gia tranh luận với triết lý Hi Lạp và 
		hấp dẫn sự chú ý của xã hội Roma. Một số giáo phụ viết những bài biện hộ 
		cho đức tin Kitô giáo. Đáng kể là Justin Martyr (100-165 AD), một người 
		ngoại từ Samaria, sau khi tìm hiểu nhiều trường phái triết lý khác nhau 
		đã quyết định chọn Kitô giáo làm chân lý, và chịu chết tử đạo ở Roma. 
		Những tác phẩm của ông, Biện Chứng Thứ Nhất, Đối thoại với Trypho, và 
		Biện Chứng Thứ Hai đã có ảnh hưởng rất lớn trong đời sống Giáo hội thời 
		đó (và cả sau này).<br>
		<br>
		Trong Biện Chứng Thứ Nhất, ông viết cho hoàng đế Antonious Pius và 
		thượng viện Roma để thanh minh những vu cáo sai lạc. Trước hết, Kitô hữu 
		không là vô thần khi họ tuyên xưng Chúa Giêsu Kitô là Thiên Chúa, nghĩa 
		là, họ không tin vào một con người, mà tin Con Một Thiên Chúa. Thứ hai, 
		khi “ăn thịt uống máu”, họ không hiểu theo nghĩa đen của những người tố 
		cáo là ăn thịt trẻ con, mà họ “ăn thịt uống máu” hy tế của con chiên Đức 
		Giêsu Kitô, Thiên Chúa của họ. Thứ ba, khi bị vu tội không thờ lạy hoàng 
		đế, Justin lên tiếng rằng Kitô hữu không thờ lạy bất cứ tạo vật nào, 
		nhưng chính Kitô hữu trung thành phục vụ hoàng đế khi họ cầu nguyện cho 
		hoàng đế với Thiên Chúa thật của họ, vì hoàng đế cần sự trung thành hơn 
		là nghi thức bên ngoài. <br>
		<br>
		Sau đó, ông kết luận rằng Kitô hữu không đáng bị trừng phạt, nhất là bị 
		giết chết, vì đức tin của họ.<br>
		<br>
		Trong Biện Chứng Thứ Hai, ông viết cho thượng viện Roma và đòi hỏi công 
		bằng cho Kitô hữu. Ồng cũng chứng minh rằng Đức Kitô là kết quả hoàn hảo 
		của mọi sự khôn ngoan và chân lý đã tìm thấy trước đây, như trong lời 
		dạy của các triết gia Socrates, Plato v.v…<br>
		<br>
		Và trong tác phẩm Đối Thoại với Trypho, Một Nguời Do Thái, ông chứng 
		minh rằng Đức Giêsu là Đấng Mêsia được báo trước trong Cựu ước, rằng 
		Kitô giáo là triết lý đúng đắn nhất trong những triết thuyết ông đã 
		nghiên cứu. Ông còn chứng minh tính ưu việt của triết lý Kitô giáo hơn 
		hẳn triết Plato, và ông kết luận rằng chân lý hay sự khôn ngoan trong 
		triết lý Plato chẳng qua chỉ là một hình thức sao chép (copy) lại những 
		gì đã được ghi trong sách của Moses.<br>
		<br>
		Cùng thời đó, thánh Ireaneus (chết 202) viết tác phẩm Chống Lạc giáo - 
		Adversus Haereses khoảng năm 180.[7] Tertullian (160-225), một luật sư 
		Roma trở lại Kitô giáo (khoảng năm 193) xuất bản Biện Luận 
		Chứng-Apologia năm 197, trong đó ông lý luận rằng hoàng đế Trajan đã 
		không đúng khi truy bắt Kitô hữu như những tội phạm. Điều sai trái là 
		hoàng đế đã không dùng luật tố tụng dân sự để áp dụng, nghĩa là không 
		cho Kitô hữu được tự do biện minh. Rồi sau khi phi bác những tố cáo về 
		vô thần, trạng thái sống hỗn loạn, bừa bãi của những cộng đoàn Kitô hữu, 
		và vu cáo sát tế trẻ con trong các buổi lễ, Tertullian chứng minh rằng 
		Kitô giáo là nguồn của mọi phúc lộc cho xã hội và cho con người.[8]<br>
		<br>
		Đến thế kỷ 3, Clement of Alexandria (chết 214) viết một số những Luận 
		Giải về Bênh Vực Kitô giáo. Tác phẩm Protrepticus bàn đến triết lý và 
		văn hoá Hi lạp với chủ tâm để chứng minh rằng Kitô giáo là kết tụ của 
		những gì được nói đến trong triết lý và văn hoá cũng như thần thoại Hi 
		Lạp.[9]<br>
		<br>
		Đầu thế kỷ thứ 4, Lactantius (240-320) xuất bản Những Tổ Chức của Chúa - 
		Divinae Institutiones, lên án tính kỳ quặc của đa thần, và khẳng định 
		chỉ có một Thiên Chúa thật. Ông tranh luận đến thiên tính của Chúa Kitô, 
		nói đến những phép lạ Ngài làm, lời ứng nghiệm trong Tân Ước, và chứng 
		minh nền tảng luân lý Kitô giáo là tuyệt hảo. Tác phẩm cúa ông lôi kéo 
		được nhiều nhà trí thức Roma theo đạo.<br>
		<br>
		Giám mục Eusebius của Caesarea (263-339) viết bộ biện luận gồm hai phần: 
		Chuẩn Bị cho Tin Mừng – Praeparatio evangelica, và Bằng Chứng của Tin 
		Mừng -Demonstratio evangelica. Tác phẩm nhằm trả lời cho Porphyry, một 
		học trò cúa triết gia Plotinus, lên án Kitô giáo trong cuốn Chống Lại 
		Kitô giáo – Contra Christianos. Trong phần đầu, Eusebius bài bác lý luận 
		triết học của Porphyry và trong phần hai, chống lại những phi bác về 
		phép lạ và sự sống lại Chúa Kitô.<br>
		<br>
		<b>Hộ Giáo Học và Nội Thù</b><br>
		<br>
		Sau năm 313, với Hiệp Ước Milan, hoàng đế Constantine hợp thức hoá Kitô 
		giáo, và từ đây không còn bắt bớ, truy lùng nữa. Khi Kitô giáo được tự 
		do rao giảng, mối nguy hiểm lớn nhất cho Giáo hội đến từ những thần học 
		gia, triết gia, và thầy dạy trong Giáo hội. (Trong những bài viết sau, 
		chúng ta sẽ có dịp học hỏi thêm về những lạc thuyết đã gây sóng gió cho 
		Giáo hội thời ban đầu, và đã góp phần quyết định trong việc hình thành 
		Kinh Tin Kính, nền tảng đức tin Kitô giáo ngày nay).<br>
		<br>
		Thánh giám mục Augustine (354-430) là người đóng góp rất nhiều trong 
		tranh luận với những người chống Giáo hội, nhất là tranh luận về lạc 
		giáo và dị giáo. Tác phẩm Thành Của Thiên Chúa- De Civitate Dei, được 
		viết trong nhiều năm và hoàn tất năm 426, chống lại lạc thuyết 
		Manicheism (mà trước đó Augustine là một tín đồ). Lạc thuyết này chủ 
		trương nhị nguyên luận (dualism) cho rằng Tốt-Xấu (Thần Lành - Thần Dữ) 
		là cùng đích của mọi sự, nghĩa là cả hai cùng song song tồn tại muôn 
		đời. Augustine dùng triết Plato để chứng minh đức tin Kitô giáo, và 
		khẳng định Thiên Chúa là Đấng Chiến Thắng mọi sự trong ngày sau hết. <br>
		<br>
		Lý luận sắc bén và vững chắc của thánh Augustine đã cảm hứng cho nhiều 
		Kitô hữu ở mọi thời can đảm đứng lên bảo vệ đức tin Kitô giáo. Augustine 
		nhắc nhở rằng Đức Tin và Lý Trí không thể thiếu nhau, vì cả hai cùng 
		giúp con người tìm đến Thiên Chuá và Chân Lý, và tìm được Đức Kitô là 
		Con Thiên Chúa.<br>
		<br>
		Augustine là người đầu tiên đề đạt: “Đức Tin tìm kiếm Hiểu Biết - Fides 
		quaerens Intellectum”, vì “Đức Tin là bước đầu Sự Hiểu Biết, và Hiểu 
		Biết là thành quả của Đức Tin”.[10] Thánh Augustine nhấn mạnh rằng Đức 
		Tin và Lý Trí đều là ân sủng của Thiên Chúa, vì “không ai có thể tự mình 
		có Đức Tin hay tự mình hoàn hoả hoá Đức Tin. Chính Thiên Chúa là Đấng 
		làm mọi sự trong những kẻ Tin.”[11] Mặc dù mọi người có thể nhận biết có 
		Thiên Chúa,[12] nhưng Thiên Chúa thật chỉ có thể tìm thấy trong Đức 
		Giêsu Kitô.[13] Vì thế, kiến thức và lý luận của các triết gia không 
		ngăn cản họ thờ tà thần hay đa thần.[14] <br>
		<br>
		<b>Kết Luận</b><br>
		<br>
		Trong 400 năm đầu tiên của Giáo Hội, cha ông chúng ta đã phải đối diện 
		với “thù trong, giặc ngoài” để bảo vệ đức tin Kitô giáo. Với những người 
		vu khống và đe doạ bắt bớ, Kitô hữu hiểu lời Chúa Giêsu dạy: “Hãy coi 
		chừng người đời. Họ sẽ nộp anh em cho các hội đồng, và sẽ đánh đập anh 
		em trong các hội đường của họ. Và anh em sẽ bị điệu ra trước mặt vua 
		chúa quan quyền vì Thầy để làm chứng cho họ và các dân ngoại được biết.” 
		(Mt 10:17-18). Với những chế giễu đức tin đến từ những lạc thuyết do 
		chính Kitô hữu diễn dịch sai lạc lời dạy của Chúa Kitô và Giáo Hội, cha 
		ông ta thấu hiểu lời thánh Phêrô: “Hãy luôn luôn sẵn sàng trả lời cho 
		bất cứ ai chất vấn về niềm hy vọng của anh em” (1Pet 3:15). Ước mong 
		trong Năm Đức Tin, chúng ta học hỏi để hiểu thêm, yêu mến thêm, và “sẵn 
		sàng trả lời cho bất cứ ai chất vấn” đức tin chúng ta.<br>
		<br>
		Mt. Nguyễn Khắc Hy, S.S.<br>
		<br>
		[1] Ở Athens (Hy Lạp) xưa, từ apologia được hiểu là lời bào chữa trong 
		toà án. Bị cáo tìm cách nói ra (apo – tránh ra; logia- bài nói)… nói 
		tránh đi những tố cáo. Trường hợp triết gia Socrates bào chữa mình chống 
		lại những người tố cáo ông giảng dạy một thần xa lạ và đầu độc giới trẻ, 
		và được học trò ông là Plato ghi lại trong tác phẩm gọi là Lời Biện Hộ 
		(tiếng Hi Lạp là apologia). Tiếng Việt dịch môn học này là Tín Chứng 
		Học, Hộ Giáo Học hay Biện Hộ Học.<br>
		<br>
		[2] Tiếng Anh gọi trường phái bênh vực hay Hộ Giáo học này là 
		apologetics, và người viết những bài biện hộ là apologist.<br>
		<br>
		[3] Xem thêm trong I Cor 9: 3; II Cor 12:19. Không kể những lần ông tự 
		biện hộ cho mình trước toà án, quan tâm lớn nhất của Paul là bênh vực 
		cho Tin Mừng Đức Giêsu Kitô. Paul cám ơn người dân Philiphê đã nâng đỡ 
		ông “Khi tôi bị xiềng xích, cũng như lúc tôi bênh vực và củng cố Tin 
		Mừng, anh em đều thông phần vào ân sủng tôi đã nhận được” (Phil 1:7). Và 
		ông càng khẳng định hơn vai trò bảo vệ tin mừng: “Những người này làm vì 
		bác ái, bởi họ biết rằng tôi được chỉ định để lo bênh vực Tin Mừng” 
		(Phil 1:16). <br>
		<br>
		[4] Sách Công Vụ Tông Đô kể một người Do Thái tên Alexandre tự biện hộ 
		trước đám đông ở Ephêsô khi những người làm ảnh tượng tố cáo ông rao 
		giảng Tin Mừng, khuyên không nên tin thờ hình tượng khiến việc buôn bán 
		của họ bị thiệt hại (Acts 19:33). Nhiều nơi khác, Luke kể Phaolô hay 
		những Kitô hữu tự biện hộ trước toà án, hay tuyên xưng đức tin chống lại 
		những vu cáo bất hợp pháp (Lk 12:11; 21:14; Acts 22;1; 24:10; 25:8, 16; 
		26:2, 24).<br>
		<br>
		[5] Xem trong Origen, Against Celsus, 4.3. <br>
		<br>
		[6] Tác phẩm biện chứng sớm nhất là Gởi Cho Diognetus, không biết ai là 
		tác giả, nhưng sống vào thế kỷ thứ hai. Khoảng trước 138, Aristides viết 
		một Biện hộ thư (giờ đã thất lạc). Thời đó có Celsus chối bỏ Đức Kitô 
		giáo và vu cáo cho họ nhiều điều. Những tác phẩm của Celsus đã thất lạc, 
		nhưng khi Origen viết cuốn Chống Lại Celsus – Contra Celsum (chừng năm 
		205) thì ta mới biết Celsus đã viết gì.<br>
		<br>
		[7] Tác phẩm gồm 5 phần: 2 phần đầu chống Ngộ Đạo Thuyết (gnosticim), và 
		3 phần sau bênh vực cho đức tin Kitô giáo. Bên cạnh Iraeneus, thánh 
		Athenagoras thành Athens viết Lời Cầu Cho Các Kitô Hữu (hay thuờng gọi 
		là Apologia), và một Luận Về Xác Sống Lại; Theophilus, giám mục Antioch, 
		viết Apologia ad Autolycum, nhắm đến giáo huấn về Thiên Chúa, diễn dịch 
		kinh thánh và đời sống Kitô hữu.<br>
		<br>
		[8] Tertullian được xem là một trong những trụ cột của môn Hộ Giáo Học. 
		Ông biết trên 30 tác phẩm để bênh vực đức tin. Ông không được Giáo Hội 
		phong thánh chỉ vì một vài những lời dạy của ông đi ngược lại với những 
		giảng dạy của Kinh thánh hay các tông đồ. Ví dụ, ông dạy là Kitô không 
		được trốn chạy khi bị bắt bớ, hay những goá phụ lập gia đình lần nữa thì 
		phạm tội ngoại tình. Những lòi này trái nghịch với giáo huấn của thánh 
		Phaolô. Dù vậy, công trạng to lớn của ông trong việc chống lại các tà 
		thuyết và giảng dạy tín lý Chúa Ba Ngôi là nền tảng vững chắc cho sự lớn 
		mạnh của Giáo Hội.<br>
		<br>
		[9] Một tác phẩm tương tự, nhưng không được biết nhiều là Octavius của 
		Minucius Felix, một luật sư Roma trở lại Kitô giáo. Trong sách, tác giả 
		đặt cuộc đối thoại giữa Caecilius, một tín đồ đa thần giáo với Octavius, 
		một Kitô hữu. Cuộc đối thoại xoay quanh các tiêu đề thuyết tiền định, 
		Thiên Chúa quan phòng, tính duy nhất của Thiên Chúa, mầu nhiệm nhập thể 
		và cứu chuộc.<br>
		<br>
		[10] Bài giảng 76: 1-2. Sau này thánh Anselm (1033-1109) dùng tiêu đề 
		này cho sách biện luận của Ngài, còn có tên Proslogion. <br>
		<br>
		[11] Trong Bàn Về Tiền Định của Các Thánh - De praedestinatione 
		sanctorum,2.5.<br>
		<br>
		[12] Trong thư gởi Roma, thánh Phaolô viết: “Quả vậy, những gì người ta 
		không thể nhìn thấy được nơi Thiên Chúa, tức là quyền năng vĩnh cửu và 
		thần tính của Người, thì từ khi Thiên Chúa tạo thành vũ trụ, trí khôn 
		con người có thể nhìn thấy được qua những công trình của Người. Do đó, 
		họ không thể tự bào chữa được, vì tuy biết Thiên Chúa, họ đã không tôn 
		vinh hay cảm tạ Người cho phải đạo. Trái lại, đầu óc họ suy luận viển 
		vông và tâm trí ngu si của họ hoá ra mê muội.” (1:20-22). <br>
		<br>
		[13] Trong Bàn Đến Đức Tin của Những Gì Không Thấy - De fide rerum 
		invisibilium, 5.<br>
		<br>
		[14] Xem trong Thành Của Thiên Chúa, 8.5-6, 12; Những Luận Thuyết của 
		Tin Mừng Gioan - In Iohannis evangelium tractatus, 2.4. </span>
		</td>
	</tr>
	<tr>
		<td>
		&nbsp;</td>
	</tr>
	<tr>
		<td>
		<table border="0" width="100%" cellspacing="0" cellpadding="0">
			<tr>
				<td width="50%">
				<table border="0" width="100%" cellspacing="0" cellpadding="0">
					<tr>
						<td width="67">
						<p style="margin-top: 0; margin-bottom: 0">
						<img border="0" src="../../../_Images/LOGOtinmung2.gif" width="67" height="40"></td>
						<td>
				<p style="margin-left:15px; margin-top:0; margin-bottom:0" align="left">
		<font size="2"><b>
		<a style="text-decoration: none" href="../../../DocGia/DocGia_INDEX.htm">
		<span style="text-decoration: none">Trang Độc Giả</span></a></b></font></td>
					</tr>
				</table>
				</td>
				<td width="50%">
				<table border="0" width="100%" cellspacing="0" cellpadding="0">
					<tr>
						<td>
				<p style="margin-right:15px; margin-top:0; margin-bottom:0" align="right">
		<font color="#FF5328" face="Arial" size="2"><b>
		<a style="text-decoration: none" target="_top" href="../../../index.htm">Trang Nhà</a></b></font></td>
						<td width="67">
<p style="margin-top: 0; margin-bottom: 0">
<font size="2">
<a target="_top" href="../../../index.htm">
<img border="0" src="../../../logo/LOGOtinmung.gif" width="67" height="40"></a></font></td>
					</tr>
				</table>
				</td>
			</tr>
		</table>
		</td>
	</tr>
</table>

</body>

</html>

PHP File Manager