File "Duc-tin-trong-than-hoc.htm"
Full path: E:/sites/Single15/tinmung2007/webroot/GIAOHOI/NamDucTin/SuyTu/Duc-tin-trong-than-hoc.htm
File size: 44.41 KiB (45473 bytes)
MIME-type:
Charset: utf-8
<html xmlns:v="urn:schemas-microsoft-com:vml" xmlns:o="urn:schemas-microsoft-com:office:office" xmlns="http://www.w3.org/TR/REC-html40">
<head>
<link href="file:///C:/DOCUME~1/TTMV_M~1/LOCALS~1/Temp/msohtmlclip1/01/clip_themedata.thmx" rel="themeData">
<link href="file:///C:/DOCUME~1/TTMV_M~1/LOCALS~1/Temp/msohtmlclip1/01/clip_colorschememapping.xml" rel="colorSchemeMapping">
<style>
<!--
/* Font Definitions */
@font-face
{font-family:"Cambria Math";
panose-1:2 4 5 3 5 4 6 3 2 4;
mso-font-charset:1;
mso-generic-font-family:roman;
mso-font-format:other;
mso-font-pitch:variable;
mso-font-signature:0 0 0 0 0 0;}
/* Style Definitions */
div.MsoNormal
{mso-style-parent:"";
margin-bottom:.0001pt;
font-size:12.0pt;
font-family:"Times New Roman","serif";
margin-left:0cm; margin-right:0cm; margin-top:0cm}
li.MsoNormal
{mso-style-parent:"";
margin-bottom:.0001pt;
font-size:12.0pt;
font-family:"Times New Roman","serif";
margin-left:0cm; margin-right:0cm; margin-top:0cm}
p.MsoNormal
{mso-style-parent:"";
margin-bottom:.0001pt;
font-size:12.0pt;
font-family:"Times New Roman","serif";
margin-left:0cm; margin-right:0cm; margin-top:0cm}
span.longtext
{}
.MsoChpDefault
{font-size:10.0pt;
}
@page Section1
{size:612.0pt 792.0pt;
margin:72.0pt 90.0pt 72.0pt 90.0pt;
mso-header-margin:36.0pt;
mso-footer-margin:36.0pt;
mso-paper-source:0;}
div.Section1
{}
-->
</style>
<meta http-equiv="Content-Language" content="en-us" />
<meta http-equiv="Content-Type" content="text/html; charset=utf-8" />
<title>Đức Tin Trong Thần Học </title>
<base target="main">
<style type="text/css">
.style1 {
border-width: 0px;
}
</style>
<style fprolloverstyle>A:hover {color: #FF0000; font-family: Arial; font-size: 10pt}
</style>
<!--[if !mso]>
<style>span.contents
{}
span.small
{}
</style>
<![endif]-->
<!--[if !mso]>
<style>h2
{margin-right:0cm;
margin-left:0cm;
font-size:18.0pt;
font-family:"Times New Roman";
font-weight:bold}
h1
{margin-right:0cm;
margin-left:0cm;
font-size:24.0pt;
font-family:"Times New Roman","serif";
}
li.MsoNormal
{mso-style-parent:"";
margin-top:0cm;
margin-right:0cm;
margin-bottom:10.0pt;
margin-left:0cm;
line-height:115%;
font-size:12.0pt;
font-family:"Times New Roman","serif";
}
span.submitted
{}
h4
{margin-top:12.0pt;
margin-right:0cm;
margin-bottom:3.0pt;
margin-left:0cm;
line-height:115%;
page-break-after:avoid;
font-size:14.0pt;
font-family:"Calibri","sans-serif";
font-weight:bold}
h3
{margin-top:10.0pt;
margin-right:0cm;
margin-bottom:0cm;
margin-left:0cm;
margin-bottom:.0001pt;
line-height:115%;
page-break-after:avoid;
font-size:11.0pt;
font-family:"Times New Roman","serif";
color:#4F81BD;
font-weight:bold}
span.author
{}
span.longtext
{}
span.MsoFootnoteReference
{vertical-align:super}
span.apple-converted-space
{}
</style>
<![endif]-->
</head>
<body style="color: #000000; background-color: #EEEEEE; font-family:Arial; font-size:10pt; text-decoration:none" background="../../../TRANG%20CUA%20ME%20MARIA/Pictures/Background/bgr.gif">
<table border="0" width="500" id="table1" cellspacing="15" bgcolor="#FFFFF0">
<tr>
<td>
<p align="right" style="margin-top: 0; margin-bottom: 0"><b>
<font face="Verdana" size="4" color="#006666">NĂM ĐỨC TIN</font></b></p>
<hr color="#FF4D20" width="80%" align="right">
<p class="MsoNormal" align="right" style="margin-top: 0; margin-bottom: 0">
<b><font face="Arial" color="#0000FF">Đức Tin Trong Thần Học </font></b></td>
</tr>
<tr>
<td align="justify">
<p class="MsoNormal" style="margin-top: 0; margin-bottom: 0" align="right">
<font size="2"><i><span style="font-family: Arial,sans-serif">Phan Tấn
Thành<br>
Nguồn: Đa Minh Việt Nam</span></i></font></td>
</tr>
<tr>
<td align="justify">
<p style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0; background: white">
<span style="font-family: Times New Roman; color: navy; font-size: 13pt" lang="EN-GB">
I. Kinh thánh. </span></p>
<p style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0; background: white">
<span style="font-family: Times New Roman; color: #333333; font-size: 13pt" lang="EN-GB">
A. Cựu ước. 1/ Từ ngữ. 2/ Ý niệm. </span></p>
<p style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0; background: white">
<span style="font-family: Times New Roman; color: #333333; font-size: 13pt" lang="EN-GB">
B. Tân ước. 1/ Tin mừng nhất lãm. 2/ Thánh Gioan. 3/ Thánh
Phaolô</span></p>
<p style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0; background: white">
<span style="font-family: Times New Roman; color: navy; font-size: 13pt" lang="EN-GB">
II. Lịch sử Giáo hội</span></p>
<p style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0; background: white">
<span style="font-family: Times New Roman; color: #333333; font-size: 13pt" lang="EN-GB">
A. Thời các giáo phụ. B. Thời Trung cổ. C. Cuộc Cải cách Tin
lành. D. Thời Cận đại </span></p>
<p style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0; background: white">
<span style="font-family: Times New Roman; color: navy; font-size: 13pt" lang="EN-GB">
III. Đức tin trong các chuyên ngành thần học</span></p>
<p style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0; background: white">
<span style="font-family: Times New Roman; color: #333333; font-size: 13pt" lang="EN-GB">
A. Thần học cơ bản. Các tiền đề dẫn đến đức tin. </span></p>
<p style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0; background: white">
<span style="font-family: Times New Roman; color: #333333; font-size: 13pt" lang="EN-GB">
B. Thần học tín lý. 1/ Tin như hành động. 2/ Tin như tập quán:
nhân đức tin. 3/ Tin xét về chủ thể và đối thể. 4/ Tín điều và gia sản
đức tin.</span></p>
<p style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0; background: white">
<span style="font-family: Times New Roman; color: #333333; font-size: 13pt" lang="EN-GB">
C. Thần học luân lý. 1/ Tin và cứu độ. 2/ Tin linh hoạt. 3/ Tin
và tuyên xưng. 4/ Những tội trái nghịch đức tin.</span></p>
<p style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0; background: white">
<span style="font-family: Times New Roman; color: #333333; font-size: 13pt" lang="EN-GB">
D. Thần học tâm linh. 1/ Sống đức tin. 2/ Trưởng thành đức tin.</span></p>
<p style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0; background: white">
<span style="font-family: Times New Roman; color: #333333; font-size: 13pt" lang="EN-GB">
</span></p>
<p style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0; background: white">
<span style="font-family: Times New Roman; color: #333333; font-size: 13pt" lang="EN-GB">
Chữ viết tắt. GLCG: Sách Giáo lý Hội thánh Công giáo</span></p>
<p style="text-align: center; margin-top: 12px; margin-bottom: 0; background: white">
<span style="line-height: 150%; font-family: Times New Roman; color: #333333; font-size: 13pt" lang="EN-GB"> --------</span></p>
<p style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0; background: white">
<span style="line-height: 150%; font-family: Times New Roman; color: #333333; font-size: 13pt" lang="EN-GB">
“Đức tin trong thần học” có thể được hiểu theo nhiều nghĩa. Thần học vốn
được quan niệm như là “sự suy tư về đức tin” (<i>cogitatio fidei</i>).
Đức tin theo sát tiến trình làm việc của thần học (<i>auditus fidei,
intellectus fidei, praxis fidei</i>). Điều này hàm ngụ rằng đức tin là
linh hồn của thần học: nếu không có đức tin thì thần học mất ý nghĩa.
Mặt khác, nếu đối tượng nghiên cứu của thần học là các chân lý đức tin
thì đức tin bao trùm hết mọi lãnh vực của thần học. Tuy nhiên, chúng ta
cũng có thể đặt câu hỏi dưới một góc cạnh khác: <i>thần học nói gì về
đức tin? Đức tin đã đặt ra những vấn đề gì cho thần học?</i> Đây là đối
tượng khảo sát của bài này. Đức tin được thần học nghiên cứu trong nhiều
lãnh vực chuyên ngành, và mỗi ngành thường chỉ quan tâm đến vài vấn đề
đặc thù; vì thế nên có một cái nhìn tổng hợp.</span></p>
<p style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0; background: white">
<span style="line-height: 150%; font-family: Times New Roman; color: #333333; font-size: 13pt" lang="EN-GB">
Trước hết, chúng ta hãy lần lượt duyệt qua những vấn đề liên quan đến
đức tin trong <i>Kinh thánh</i> và <i>lịch sử Giáo hội</i>; kế đó, chúng
ta điểm qua những khía cạnh của đức tin được bàn trong thần học <i>nền
tảng</i>, thần học <i>tín lý</i>, thần học <i>luân lý</i>, thần học <i>
tâm linh.</i></span></p>
<p style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0; background: white">
<span style="line-height: 150%; font-family: Times New Roman; color: #333333; font-size: 13pt" lang="EN-GB">
Trước khi vào đề, thiết tưởng nên lưu ý đến việc dịch thuật: <i>fides</i>
(<i>fides</i> tiếng Latinh, <i>foi</i> tiếng Pháp; <i>faith</i> tiếng
Anh) không nhất thiết có nghĩa là “đức tin”. Đôi khi chỉ là “niềm tin,
lòng tin, tín ngưỡng”, hoặc đơn thuần là: “tin tưởng, tín thác”, nghĩa
là những thái độ được áp dụng trong cuộc sống hằng ngày<span style="color: #0000ff"><sub><sup><a href="#[1]">[1]</a></sup></sub></span>.
Đây mới chỉ là một nhận xét sơ khởi, bởi vì sau này, thần học sẽ còn
phân biệt nhiều hình thức và cấp độ của tin: tự nhiên / siêu nhiên; hành
vi / nhân đức; chủ thể / khách thể, vv.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0; background: white">
<span style="line-height: 150%; font-family: Times New Roman; color: #333333; font-size: 13pt" lang="EN-GB">
I. <b>Kinh thánh</b> <br>
Ta cũng có thể khẳng định rằng thế giới Kinh thánh cũng có một nét giống
với thế giới Việt <st1:country-region w:st="on"><st1:place w:st="on">Nam</st1:place></st1:country-region>
về phương diện từ ngữ. Thật vậy những từ ngữ nói đến “tin” được áp dụng
trong đời sống thường nhật trước khi nói đến những thực tại cao siêu.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0; background: white">
<span style="line-height: 150%; font-family: Times New Roman; color: navy; font-size: 13pt" lang="EN-GB">
A. <b>Cựu ước</b></span><span style="line-height: 150%; font-family: Times New Roman; color: #333333; font-size: 13pt" lang="EN-GB">
<br>
1/ <u>Từ ngữ</u>. Hai từ ngữ Do thái thường dùng hơn cả là <i>aman</i>
và <i>batak</i>.<br>
a) Động từ <i>Aman</i>, xét theo nguyên ngữ, có nghĩa là: đeo, mang <i>
(thí dụ mang đứa con trên tay: Ds 11,12; R 4,16; 2Sm 4,4)</i>; theo
nghĩa bóng, <i>aman</i> là dựa vào ai, nương tựa, tin tưởng. Do động từ
<i>aman</i> mà có thán từ (hay trạng từ) <i>amen</i>, có nghĩa là: đúng
thế, chắc rồi, chính xác!<br>
<br>
b) <i>Batak</i> nói lên ý tưởng: trông cậy, tín thác. Như vậy, tin có
nghĩa là: trông mong, hy vọng, tin tưởng.</span></p>
<p style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0; background: white">
<span style="line-height: 150%; font-family: Times New Roman; color: #333333; font-size: 13pt" lang="EN-GB">
Những từ ngữ này được dùng trong đời sống hằng ngày, cách riêng trong
bối cảnh của mối tương quan xã hội, nhưng ở đây chúng ta giới hạn vào
tương quan giữa con người với Thiên Chúa.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0; background: white">
<span style="line-height: 150%; font-family: Times New Roman; color: #333333; font-size: 13pt" lang="EN-GB">
2/ <u>Ý niệm</u> <br>
Những ý tưởng vừa gợi lên <i>(nương tựa, tín thác)</i> của việc tin được
kiện toàn dần dần trải qua tiến trình mạc khải của Thiên Chúa cho <st1:place w:st="on"><st1:country-region w:st="on">
Israel</st1:country-region></st1:place>: thời tổ phụ Abraham, thời xuất
hành của Môsê, thời các ngôn sứ, thời các nhà hiền triết<span style="color: #0000ff"><sub><sup><a href="#[2]">[2]</a></sup></sub></span>.</span></p>
<p style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0; background: white">
<span style="line-height: 150%; font-family: Times New Roman; color: #333333; font-size: 13pt" lang="EN-GB">
a) Lịch sử bắt đầu với ông <i>Abraham</i>. Hồi ấy ông tin thờ các thần
khác. Thế rồi, Thiên Chúa hiện ra với ông, hứa ban cho ông một vùng đất
màu mỡ và con cháu đông đúc <i>(St 12,1).</i> Lời hứa ấy xem ra xa vời,
nhưng ông vẫn tin vào Thiên Chúa <i>(St 15,6),</i> tin vào lời hứa của
Ngài. Ông tin rằng Thiên Chúa trung tín với lời hứa và có khả năng thực
hiện. Ông tín thác vào Ngài, và thậm chí sẵn sàng hy sinh đứa con của
mình khi Ngài đòi hỏi. Ông trở thành khuôn mẫu của một kẻ có lòng tin <i>
(Hc 44,20)</i> và tổ phụ của những kẻ có lòng tin <i>(Rm 4,9-11).</i></span></p>
<p style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0; background: white">
<span style="line-height: 150%; font-family: Times New Roman; color: #333333; font-size: 13pt" lang="EN-GB">
b) Lịch sử mạc khải Cựu ước bước sang một chặng quyết liệt khi Thiên
Chúa can thiệp vào cuộc giải thoát dân <st1:country-region w:st="on"><st1:place w:st="on">
Israel</st1:place></st1:country-region> ra khỏi cảnh nô lệ Ai cập. Thiên
Chúa của các tổ phụ đã thăm viếng đoàn dân đang bị áp bức. Thiên Chúa
gọi <i>ông Môsê</i>, và hứa sẽ ở với ông trong công cuộc dẫn dắt <st1:country-region w:st="on"><st1:place w:st="on">
Israel</st1:place></st1:country-region> vào đất hứa (Xh 3,11-15). Ông
Môsê đã đáp lại bằng niềm tin <i>(Dt 11,23-29)</i>. Ông được đặt làm kẻ
môi giới giữa Thiên Chúa với dân: ông thông đạt chương trình của Chúa
cho dân, và kêu gọi họ hãy tin vào Chúa, hết lòng tín thác vào Ngài <i>
(Ds 14,11; Xh 19,9)</i>. Tin có nghĩa là vâng nghe <i>(Đnl 9,23),</i>
đáp lại <i>amen</i> <i>(Đnl 27,9-6)</i> với lời Chúa, được biểu thị qua
giao ước. Như vậy, tin không chỉ là một lời thưa chấp thuận nhưng còn là
thái độ trung thành kéo dài qua năm tháng. Niềm tin thường được lặp lại
qua những cuộc tuyên xưng <i>(Đnl 6,4-9; 26,5-9; Tv 78; 105):</i> dựa
trên việc kỳ diệu của Thiên Chúa đã làm cũng như thâm tín quyền năng và
lòng trung tín của Ngài <i>(Tv 136),</i> dân Israel khẳng định quyết chí
dành tất cả tâm trí để yêu mến một mình Thiên Chúa mà thôi.</span></p>
<p style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0; background: white">
<span style="line-height: 150%; font-family: Times New Roman; color: #333333; font-size: 13pt" lang="EN-GB">
c) Tin có nghĩa là tín thác vào lời hứa; tin có nghĩa là chấp nhận giao
ước, và biểu lộ qua việc tuyên xưng. Các <i>ngôn sứ</i> còn vạch ra
những yêu sách khác của đức tin, khi đụng đến những hoàn cảnh khác nhau
của lịch sử.</span></p>
<p style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0; background: white">
<span style="line-height: 150%; font-family: Times New Roman; color: #333333; font-size: 13pt" lang="EN-GB">
- Hệ luận quan trọng của niềm tin vào Thiên Chúa là từ bỏ các ngẫu
tượng. <st1:country-region w:st="on"><st1:place w:st="on">Israel</st1:place></st1:country-region>
luôn bị cám dỗ chạy theo các vị thần của các tôn giáo của dân láng
giềng, nhất là khi niềm tin được gắn liền với những phúc lộc trước mắt:
tiền của, hoa màu ruộng đất, thắng lợi quân sự. Khi thấy các dân lân
bang được những thành quả ấy, Israel bị cám dỗ muốn chạy theo các thần
của họ <i>(chẳng hạn thần Baal)</i> vì nghĩ rằng các thần ấy “thiêng”
hơn là Giavê, Thiên Chúa của các tổ phụ. Các ngôn sứ không những tố cáo
tội thờ ngẫu tượng <i>(Hs 2,7-15; Gr 2,5-13)</i> bởi vì đó là đồ hư ảo
<i>(Gr 2,25)</i>, mà cả việc cứu viện các cường quốc bởi vì làm như vậy
là cậy dựa vào binh mã nhân loại thay vì tin tưởng vào sự che chở của
Thiên Chúa <i>(Hs 1,7; Is 31,1)</i>. Các ngôn sứ nhắc nhở dân <st1:country-region w:st="on"><st1:place w:st="on">
Israel</st1:place></st1:country-region> hãy bình tĩnh tín thác vào Thiên
Chúa. Thiên Chúa là đá tảng của dân <i>(Is 44,8; 50,10)</i>, Đấng trung
tín với lời hứa, mạnh mẽ hơn các thần của <st1:place w:st="on">Babylonia</st1:place>
<i>(Is 44,6; 43,8-12; Tv 115,7-11).</i></span></p>
<p style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0; background: white">
<span style="line-height: 150%; font-family: Times New Roman; color: #333333; font-size: 13pt" lang="EN-GB">
- Đức tin của dân <st1:country-region w:st="on">Israel</st1:country-region>
đã trải qua một cuộc thử thách nặng nề khi họ chứng kiến cảnh tàn phá
đền thờ và cảnh lưu đày sang <st1:place w:st="on">Babylonia</st1:place>.
Các ngôn sứ giải thích rằng đây là một hình phạt về tội bất trung với
giao ước, đã được cảnh cáo nhiều lần. Không phải là Thiên Chúa bỏ rơi
Israel, nhưng là Israel đã bỏ Chúa, khi họ tìm sự nương tựa nơi các thế
lực nhân loại và ngay cả khi việc thờ phượng của họ rỗng tuếch. Dù nói
gì đi nữa, nếu có ai nghi ngờ quyền năng Thiên Chúa trước thảm họa này
thì cũng là điều dễ hiểu. Thế nhưng trong hoàn cảnh hầu như tuyệt vọng
ấy, các ngôn sứ thời lưu đày đã đào sâu hơn khía cạnh bền bỉ của niềm
tin vào Thiên Chúa: tin không chỉ có nghĩa là giữ vững lòng tin tưởng kể
cả lúc gặp thử thách, nhưng tin còn có nghĩa là hy vọng bất chấp mọi
hoàn cảnh trái ngược. Thật vậy, giữa cảnh nước mất nhà tan, các ngôn sứ
loan báo rằng Thiên Chúa sẽ đưa dân trở về quê hương, sẽ tái thiết xứ
sở. Để củng cố niềm tin tưởng ấy, các ngôn sứ nại đến chân lý về sự tạo
dựng: Thiên Chúa có quyền năng tạo dựng vạn vật từ hư vô, thì Ngài cũng
có dư sức để tái lập dân <st1:country-region w:st="on"><st1:place w:st="on">
Israel</st1:place></st1:country-region> hiện đang tản mát nơi đất khách
quê người.</span></p>
<p style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0; background: white">
<span style="line-height: 150%; font-family: Times New Roman; color: #333333; font-size: 13pt" lang="EN-GB">
d) Các <i>sách Khôn ngoan</i> mở rộng đối tượng của niềm hy vọng: người
tín hữu tin tưởng rằng Thiên Chúa không chỉ hứa ban thưởng những phúc
lộc ở đời này (<i>tài sản phong phú, con cháu đầy đàn)</i>, nhưng nhất
là những điều thiện ở đời sau. Vào giai đoạn cuối của Cựu ước, chúng ta
thấy thêm một chiều kích mới của đức tin: tin vào Thiên Chúa kể cả vào
những lúc bị thử thách, tựa như ông Giób, và thậm chí ngay cả khi người
tín hữu bị bách hại <i>(2Mcb 7; Đn 12,2; Kn 2,3; 3,1-9).</i></span></p>
<p style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0; background: white">
<span style="line-height: 150%; font-family: Times New Roman; color: #333333; font-size: 13pt" lang="EN-GB">
Như vậy, quan niệm về niềm tin được tiến triển dần dần: từ chỗ tín thác
vào lời hứa, đến chỗ chấp nhận giao ước; từ việc chấp nhận giao ước đến
việc trung thành với giao ước; từ việc trung thành với giao ước đến chỗ
mở tầm nhìn đến những thực tại không thuộc thế giới này. Song song với
sự kiện toàn ý niệm là sự kiện toàn những tâm tình về phía con người: từ
chỗ tin tưởng vào một thần linh quyền năng, đến chỗ lắng nghe Lời Chúa,
tuyên xưng những kỳ công của Chúa, trung thành với Luật Chúa kể cả khi
phải hy sinh mạng sống.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0; background: white"><b>
<span style="line-height: 150%; font-family: Times New Roman; color: navy; font-size: 13pt" lang="EN-GB">
B. Trong Tân ước</span></b><span style="line-height: 150%; font-family: Times New Roman; color: #333333; font-size: 13pt" lang="EN-GB">
<br>
Xét về từ ngữ, Tân ước đỡ phức tạp hơn, bởi vì thường chú trọng vào danh
từ <i>pistis</i><span style="color: #0000ff"><sub><sup><a href="#[3]">[3]</a></sup></sub></span>.
Tuy nhiên, xét về nội dung thì phong phú hơn Cựu ước. Trong Cựu ước, tin
là tín thác vào Thiên Chúa hoạt động trong lịch sử của dân tộc. Trong
Tân ước, sự can thiệp của Thiên Chúa dồn vào thân thế và công trình của
đức Kitô. Tin bao gồm nhiều khía cạnh:</span></p>
<p style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0; background: white">
<span style="line-height: 150%; font-family: Times New Roman; color: #333333; font-size: 13pt" lang="EN-GB">
- Tin có nghĩa là chấp nhận sứ điệp mà đức Kitô mang lại, đó là ơn cứu
độ được Thiên Chúa ban cho nhân loại qua cái chết và phục sinh của đức
Giêsu. Tuy đó là một biến cố lịch sử nhưng nó được diễn tả thành sứ
điệp, vì thế nó bao hàm khía cạnh đạo lý. Tin là một hành vi có chiều
kích tri thức: chấp nhận sứ điệp được rao giảng qua ngôn ngữ và nếp
sống.</span></p>
<p style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0; background: white">
<span style="line-height: 150%; font-family: Times New Roman; color: #333333; font-size: 13pt" lang="EN-GB">
- Tuy nhiên, tin không chỉ giới hạn vào lãnh vực hiểu biết. Tin đòi hỏi
sự tuân phục, tín thác vào tình yêu của Thiên Chúa được biểu lộ nơi việc
trao ban Con của Ngài. Tin cũng kèm theo một cuộc thay đổi não trạng và
nếp sống.</span></p>
<p style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0; background: white">
<span style="line-height: 150%; font-family: Times New Roman; color: #333333; font-size: 13pt" lang="EN-GB">
Đó mới chỉ là những nét khái quát. Mỗi tác giả Tân ước khai triển một
vài khía cạnh đặc thù tùy theo nhu cầu của mỗi giáo đoàn cụ thể.</span></p>
<p style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0; background: white">
<span style="line-height: 150%; font-family: Times New Roman; color: #333333; font-size: 13pt" lang="EN-GB">
1/ Trong <u>Tin mừng nhất lãm</u>, tin có ba nghĩa: tin tưởng vào quyền
năng của đức Giêsu <i>(x. Mc 2,5; 5,34)</i>; chấp nhận Tin mừng mà đức
Giêsu rao giảng <i>(Mc 1,15; 16,16.17)</i>; chấp nhận chính đức Giêsu.</span></p>
<p style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0; background: white">
<span style="line-height: 150%; font-family: Times New Roman; color: #333333; font-size: 13pt" lang="EN-GB">
a) Tin có nghĩa là tín thác vào lòng tốt và quyền năng của đức Giêsu.
Điều này được nêu bật nơi thánh Marcô. Tin là điều kiện tiên quyết để
Chúa làm phép lạ: họ phải tin tưởng Người. Người không thể làm phép lạ
nào ở <st1:city w:st="on"><st1:place w:st="on">Nazareth</st1:place></st1:city>
bởi vì dân thiếu lòng tin <i>(Mc 6,5-6).</i> Ngược lại, Người nói với
ông Giairô đã mất người con gái: <i>“Đừng sợ; chỉ cần tin thôi” (Mc
5,36).</i></span></p>
<p style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0; background: white">
<span style="line-height: 150%; font-family: Times New Roman; color: #333333; font-size: 13pt" lang="EN-GB">
b) Tin có nghĩa là chấp nhận Tin mừng do đức Giêsu rao giảng. Điều này
được thấy ngay từ đầu Tin mừng Marcô: <i>“Thời gian đã viên mãn, và
triều đại Thiên Chúa đã gần kề; hãy thống hối và tin vào Tin mừng” (Mc
1,15);</i> cũng như vào lúc kết thúc cuốn sách: <i>“Hãy ra đi khắp thế
giới, rao giảng Tin mừng cho mọi thụ tạo. Ai tin và lãnh phép rửa thì sẽ
được cứu rỗi” (Mc 16,15-16)</i>. Tin vào Tin mừng có nghĩa là chấp nhận
rằng Thiên Chúa đã can thiệp vào thế giới nơi bản thân, lời nói và lời
giảng của đức Giêsu. Vì thế, ai muốn vào vương quốc Thiên Chúa thì phải
chấp nhận những điều kiện mà đức Giêsu đặt ra. Điều này đòi hỏi một cuộc
hoán cải, thay đổi não trạng.</span></p>
<p style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0; background: white">
<span style="line-height: 150%; font-family: Times New Roman; color: #333333; font-size: 13pt" lang="EN-GB">
c) Tin có nghĩa là chấp nhận bản thân đức Giêsu. Đây là bước thứ ba: từ
chỗ chấp nhận lời giảng về đức Giêsu đến chỗ chấp nhận bản thân Người:
Người là Chủ tể (<i>Kyrios</i>). Điều này xảy ra sau cuộc Phục sinh, và
được nhấn mạnh trong sách Tông đồ công vụ (<i>x.các</i> <i>kerygma</i>).
Dù sao, thánh Luca diễn tả thái độ này qua những hành động cụ thể: đi
theo đức Kitô, vác thập giá <i>(Lc 9,23)</i>, làm chứng và tuyên xưng <i>
(Lc 12,8-9).</i></span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0; background: white">
<span style="line-height: 150%; font-family: Times New Roman; color: #333333; font-size: 13pt" lang="EN-GB">
2/ <u>Thánh Gioan</u> <br>
Tin chiếm một địa vị nổi bật trong các tác phẩm của thánh Gioan. Động từ
<i>pisteuein (tin)</i> được dùng 98 lần trong Tin mừng thứ bốn và 9 lần
trong các thư ; còn danh từ <i>pistis</i> chỉ được dùng 1 lần trong <i>
1Ga 5,4</i> <i>(“Đây là điều làm cho chúng ta thắng được thế gian: lòng
tin của chúng ta”)</i>. Xem ra thánh Gioan quan tâm đến lối sống hơn là
đến đạo lý. Tuy vậy, ở cuối Tin mừng, tác giả viết như sau: <i>“Những
điều này đã được ghi chép ngõ hầu anh em tin rằng Đức Giêsu là Đấng
Kitô, Con Thiên Chúa, và để nhờ tin mà được sự sống đời đời” (20,31)</i>.
Chúng ta hãy tìm hiểu ba điểm liên quan đến: đối tượng, bản chất, hiệu
quả của việc tin.</span></p>
<p style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0; background: white">
<span style="line-height: 150%; font-family: Times New Roman; color: #333333; font-size: 13pt" lang="EN-GB">
a) Đối tượng: tin vào Thiên Chúa và tin vào đức Giêsu (<i>8,31.45.46;
10,37.38; 14.11).</i> Đức Giêsu là Đấng Kitô <i>(11,27; 20,31),</i> kẻ
được Chúa Cha sai đến <i>(11,42; 17,8.21),</i> là Con Thiên Chúa <i>
(20,31),</i> kẻ từ Chúa Cha mà đến <i>(16,27.30).</i> Chúa Cha với đức
Giêsu là một <i>(10,30; 17,21).</i></span></p>
<p style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0; background: white">
<span style="line-height: 150%; font-family: Times New Roman; color: #333333; font-size: 13pt" lang="EN-GB">
b) Bản chất: Thánh Gioan quan niệm “tin” như là một tiến trình gặp gỡ.
Cùng với động từ “tin”, tác giả còn dùng những động từ đồng nghĩa tựa
như: “đến với” <i>(5,40; 6,35.44ff.65; 7,37),</i> “tiếp đón” <i>(1,12;
5,43),</i> “yêu mến” <i>(8,42; 14,15.21.23f.28; 16,27)</i>. Tin là một
tiến trình năng động: nó tăng trưởng tiệm tiến, từ những bước khởi đầu
đến chỗ hoàn bị, từ chỗ đón nhận đức Giêsu vì phép lạ đến chỗ chấp nhận
Người mà không cần phép lạ. Vài thí dụ: 4,46-53<i> (sĩ quan cận vệ, động
từ tin được nói đến ở câu 50 và 53, với hai cấp độ); </i>4,39-42<i>
(người dân Samaria tin vì nghe lời thuật của người phụ nữ và tin vì nghe
lời của Chúa)</i>; chương 9 <i>(người mù: so sánh câu17 với câu 38). </i>
</span></p>
<p style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0; background: white">
<span style="line-height: 150%; font-family: Times New Roman; color: #333333; font-size: 13pt" lang="EN-GB">
c) Hiệu quả. Tin liên quan đến chuyện sinh tử: số phận vĩnh cửu của con
người tùy thuộc vào việc tin hay không tin: <i>“Ai tin thì sẽ không bị
xét xử, ai không tin thì đã bị xét xử rồi” (3,18)</i>. Ai tin vào Con
thì được sự sống hằng hữu <i>(3,36; 6,40.47; 20,31)</i>. Tin dẫn đến sự
sống vĩnh cửu; không tin dẫn tới hư vong. Tin mang tính quyết định đến
số phận vĩnh hằng. Tin mở đường đến hạnh phúc đời đời; nhờ tin mà chúng
ta biết Chúa, ở lại trong đức Kitô.</span></p>
<p style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0; background: white">
<span style="line-height: 150%; font-family: Times New Roman; color: #333333; font-size: 13pt" lang="EN-GB">
Ngoài ra, “tin” và “yêu” liên kết với nhau: tin dẫn đến yêu; nhưng tin
cũng là kết quả của yêu, bởi vì tin là kết quả của ơn thánh Chúa. Tin là
một hồng ân.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0; background: white">
<span style="line-height: 150%; font-family: Times New Roman; color: #333333; font-size: 13pt" lang="EN-GB">
3/ <u>Thánh Phaolô</u> <br>
Tin là vâng theo lời Chúa được biết nhờ việc rao giảng <i>(Rm 10,17;
16,26; 1,5; 2 Cr 9,13; 10,5; 2 Tx 1,8)</i>. Ông Abraham là tấm gương của
đức tin bởi vì ông vâng theo lời Chúa nói cho ông. Tin là một tâm tư nội
tâm nhưng cũng bao hàm việc tuyên xưng bên ngoài miệng nữa <i>(Rm 10,9).</i></span></p>
<p style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0; background: white">
<span style="line-height: 150%; font-family: Times New Roman; color: #333333; font-size: 13pt" lang="EN-GB">
Lời giảng và lời tuyên xưng đều có một nội dung: <i>“Đức Giêsu là Chúa;
Người đã chịu chết trên thập giá vì tội chúng ta, nhưng Thiên Chúa đã
cho Người chỗi dậy vào ngày thứ ba” (1Cr 15,3; xc.1Tx l,9t; Rm 10,4; Cl
2,12; Ep 1,20; Gl 1,1; Rm 4,25, vv.).</i> Tin mừng là đức Kitô. Phàm ai
tin vào Thiên Chúa thì cũng chấp nhận kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa
được thực hiện nơi đức Kitô. Vì thế Đức Kitô là đối tượng của đức tin.</span></p>
<p style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0; background: white">
<span style="line-height: 150%; font-family: Times New Roman; color: #333333; font-size: 13pt" lang="EN-GB">
Đức tin là khởi đầu của tiến trình cứu độ, được đặt tên là “ơn được nên
công chính” <i>(công chính hóa).</i> Tuy nhiên sự nhấn mạnh đến chỗ “duy
chỉ đức tin mới làm nên công chính chứ không vì giữ luật” <i>(Rm 3,28)</i>
đã đưa đến những giải thích cực đoan khiến cho thánh Giacôbê phải lên
tiếng <i>(Gc 2,14-16; xem thêm Mt 7,21)</i>. Thực ra trong các lá thư, ở
phần khuyến thiện, thánh Tông đồ đã nói nhiều đến việc uốn nắn cuộc đời
sao cho phù hợp với Tin mừng.</span></p>
<p style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0; background: white">
<span style="line-height: 150%; font-family: Times New Roman; color: #333333; font-size: 13pt" lang="EN-GB">
Người ta nhận thấy rằng trong những thư đầu tiên, thánh Phaolô nhấn mạnh
đến quyền năng và sức mạnh của Lời Chúa hay của Tin mừng, nhưng trong
những thư mục tử, Người bận tâm đến “đạo lý” và khuyên răn Timôthê hãy
“giữ gìn đạo lý” <i>(1Tm 6,20; 2 Tm 1,14),</i> “đạo lý lành mạnh” <i>
(1Tm 1,10; 2Tm 4,3; Tt 1,9; 2,1).</i> Đây là một “gia sản” (<i>depositum:
paratheke</i>) được ủy thác và cần phải giữ gìn cẩn thận.</span></p>
<p style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0; background: white">
<span style="line-height: 150%; font-family: Times New Roman; color: #333333; font-size: 13pt" lang="EN-GB">
Tuy ngày nay các học giả không coi thánh Phaolô là người viết <i>Thư gửi
người Hipri</i>, nhưng tư tưởng của nó gần gũi với thánh Tông đồ. Tác
giả dành trọn chương 11 để trưng bày mẫu gương của các chứng nhân đức
tin, với lời mở đầu như sau: <i>“Đức tin là bảo đảm cho những điều ta hy
vọng, là bằng chứng cho những điều ta không thấy”.</i> Thánh Tôma Aquinô
đã nhận thấy nơi đây một định nghĩa cho nhân đức tin <i>(Summa
Theologica, II-II, q.4.a.1)</i>, gồm bởi hai yếu tố:</span></p>
<p style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0; background: white">
<span style="line-height: 150%; font-family: Times New Roman; color: #333333; font-size: 13pt" lang="EN-GB">
- đối thể: những điều tương lai mà ta trông mong;</span></p>
<p style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0; background: white">
<span style="line-height: 150%; font-family: Times New Roman; color: #333333; font-size: 13pt" lang="EN-GB">
- chủ thể: xác tín, kiên trì<span style="color: #0000ff"><sub><sup><a href="#[4]">[4]</a></sup></sub></span>.</span></p>
<p style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0; background: white">
<span style="line-height: 150%; font-family: Times New Roman; color: #333333; font-size: 13pt" lang="EN-GB">
Tóm lại, <i>pistis</i> trong Tân ước là một thực thể phong phú bao hàm
nhiều khía cạnh.</span></p>
<p style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0; background: white">
<span style="line-height: 150%; font-family: Times New Roman; color: #333333; font-size: 13pt" lang="EN-GB">
- Khía cạnh tri thức: hiểu biết về bản thân và sứ điệp của đức Giêsu.</span></p>
<p style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0; background: white">
<span style="line-height: 150%; font-family: Times New Roman; color: #333333; font-size: 13pt" lang="EN-GB">
- Khía cạnh tin tưởng vào sự chân thành của Thiên Chúa mạc khải cho
chúng ta nơi đức Kitô. Sự tín thác kèm theo niềm hy vọng rằng những lời
Chúa hứa sẽ được thực hiện <i>(Dt 11,9-11; Rm 4,17-20; 1Pr 1,5-9).</i>
Hy vọng phát sinh sự kiên trì và chung thủy <i>(2Tm 4,7; Rm 1,5; Gl
5,6).</i></span></p>
<p style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0; background: white">
<span style="line-height: 150%; font-family: Times New Roman; color: #333333; font-size: 13pt" lang="EN-GB">
- Hiệu quả: đức tin mang lại đời sống mới (ơn trở nên công chính; thụ
tạo mới).</span></p>
<p style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0; background: white">
<span style="line-height: 150%; font-family: Times New Roman; color: #333333; font-size: 13pt" lang="EN-GB">
Khi đối chiếu giữa quan niệm “tin” trong Cựu ước và Tân ước, các tác giả
nhận thấy sự liên tục và sự mới mẻ. Sự liên tục ở điểm là tin bao hàm
thái độ tín thác, tin tưởng vào Thiên Chúa can thiệp trong lịch sử; sự
mới mẻ ở chỗ đối tượng của sự can thiệp của Thiên Chúa được biểu lộ cách
cụ thể nơi đức Giêsu Kitô: kể từ nay, ai tin vào Thiên Chúa thì cũng
phải tin vào đức Giêsu Kitô. Như vậy trong Tân ước, tin mang thêm một
chiều kích, đó là chấp nhận Đức Kitô. Điều trớ trêu là khi đọc Tin mừng,
ta thấy những người không tin đức Kitô là những người Do thái; họ không
phải là người vô thần, và phần lớn rất trung thành với Luật Mosê. Trong
bối cảnh ấy, ta dễ hiểu vì sao Tân ước nhấn mạnh đến tầm quan trọng của
đức tin, tin vào lời giảng của chính đức Giêsu và lời giảng của Hội
thánh. Đức tin cần thiết để được cứu rỗi. Đức Giêsu đã làm nhiều phép lạ
để chứng minh sứ mệnh của mình, nhưng phép lạ chưa đủ để tin. Cần thái
độ cởi mở, cũng như hợp tác với ân sủng. Ngoài ra, vài vấn nạn khác cũng
được nêu lên trong cộng đoàn tiên khởi: tương quan giữa tin và biết, tin
và thấy, tin và làm, mà thánh Phaolô, thánh Gioan và thánh Giacobê tìm
cách trả lời.</span></p>
<p style="margin-left: 0; margin-right: 0; margin-top: 12px; margin-bottom: 0; background: white" class="MsoNormal">
<strong><i>
<span style="line-height: 150%; font-family: Times New Roman; color: maroon; font-size: 13pt" lang="EN-GB">
(Còn Tiếp)</span></i></strong><span style="line-height: 150%; font-family: Times New Roman; color: #333333; font-size: 13pt" lang="EN-GB"><br clear="all">
</span></p>
<div style="line-height: 150%; margin: 0pt; background: white" class="MsoNormal">
<span style="line-height: 150%; font-family: Arial; color: #333333; font-size: 10.5pt" lang="EN-GB">
<hr size="1" width="33%" align="left"></span></div>
<p style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0; background: white">
<span style="color: #0000ff"><sub><sup>
<span style="line-height: 150%; font-family: Times New Roman; font-size: 13pt" lang="EN-GB">
<a name="[1]">[1]</a></span></sup></sub></span><span style="line-height: 150%; font-family: Times New Roman; color: #333333; font-size: 13pt" lang="EN-GB">
Trong tiếng Latinh, ngoài danh từ <i>fides </i>(và những từ cùng gốc <i>
fidelis, fidelitas</i>) còn có động từ <i>credere</i> (và những từ ngữ
cùng gốc: <i>credibilis, credibilitas</i>). Một cách tương tự như vậy
tiếng Pháp có danh từ <i>foi</i> và động từ <i>croire</i> (từ đó: <i>
croyance</i>), thêm vào những từ gốc Latinh: <i>crédibilité, fidèle,
fidélité</i>. - Trong tiếng Anh, danh từ là <i>faith</i> (với các từ ngữ
liên hệ: <i>faithful, faithfulness</i>), còn hành vi được gọi là <i>to
believe</i> (từ đó có: <i>belief, believer</i>); ngoài ra còn có những
từ gốc Latinh: <i>credit, credentials, fidelity.</i>Trong tiếng Việt, “<i>tin</i>”
hoặc “<i>tín</i>” cũng được ghép với nhiều từ khác: tin tưởng, tin cậy,
tín ngưỡng, tín thác, trung tín, tín nhiệm, vv.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0; background: white">
<a name="[2]">
<span style="line-height: 150%; font-family: Times New Roman; font-size: 13pt; color: #0000ff" lang="EN-GB">
[2]</span></a><span style="line-height: 150%; font-family: Times New Roman; color: #333333; font-size: 13pt" lang="EN-GB">
J. Duplacy, “Fede” in: Xavier Leon Dufour (dir.), <i>Dizionario di
Teologia Biblica</i>, Marietti Torino 1971, col.380-385.</span></p>
<p style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0; background: white">
<a name="[3]">
<span style="line-height: 150%; font-family: Times New Roman; font-size: 13pt; color: #0000ff" lang="EN-GB">
[3]</span></a><span style="line-height: 150%; font-family: Times New Roman; color: #333333; font-size: 13pt" lang="EN-GB">
Thật ra, <i>batak</i> được chuyển sang tiếng Hy-lạp là <i>elpìs</i>, <i>
elpìzo</i>, <i>pèpoitha</i> (và sang tiếng Latinh Vulgata là <i>spes</i>,
<i>sperare</i>, <i>confido</i>); còn <i>aman</i> là <i>pistis</i>, <i>
pistúein</i>, <i>alétheia</i> (Latinh: <i>fides</i>, <i>credere</i>, <i>
veritas</i>). Trong Tân ước danh từ <i>pistis</i> xuất hiện 243 lần và
động từ <i>pisteúein</i> 241 lần.</span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><a name="[4]">
<span style="font-family: Times New Roman; font-size: 13pt; color: #0000ff" lang="EN-GB">
[4]</span></a><span style="font-family: Times New Roman; color: #333333; font-size: 13pt" lang="EN-GB">
Về ý nghĩa đoạn văn này, xem thông điệp <i>Spe salvi</i> của đức thánh
cha Bênêđictô XVI, số 7</span></td>
</tr>
<tr>
<td>
</td>
</tr>
<tr>
<td>
<table border="0" width="100%" cellspacing="0" cellpadding="0">
<tr>
<td width="50%">
<table border="0" width="100%" cellspacing="0" cellpadding="0">
<tr>
<td width="67">
<p style="margin-top: 0; margin-bottom: 0">
<img border="0" src="../../../_Images/LOGOtinmung2.gif" width="67" height="40"></td>
<td>
<p style="margin-left:15px; margin-top:0; margin-bottom:0" align="left">
<font size="2"><b>
<a style="text-decoration: none" href="../../../DocGia/DocGia_INDEX.htm">
<span style="text-decoration: none">Trang Độc Giả</span></a></b></font></td>
</tr>
</table>
</td>
<td width="50%">
<table border="0" width="100%" cellspacing="0" cellpadding="0">
<tr>
<td>
<p style="margin-right:15px; margin-top:0; margin-bottom:0" align="right">
<font color="#FF5328" face="Arial" size="2"><b>
<a style="text-decoration: none" target="_top" href="../../../index.htm">Trang Nhà</a></b></font></td>
<td width="67">
<p style="margin-top: 0; margin-bottom: 0">
<font size="2">
<a target="_top" href="../../../index.htm">
<img border="0" src="../../../logo/LOGOtinmung.gif" width="67" height="40"></a></font></td>
</tr>
</table>
</td>
</tr>
</table>
</td>
</tr>
</table>
</body>
</html>