File "Nhung-su-that-ve-tinh-yeu-va-hon-nhan.htm"
Full path: E:/sites/Single15/tinmung2007/webroot/GIADINH/GiaDinhKitoHuu/2012/08/Nhung-su-that-ve-tinh-yeu-va-hon-nhan.htm
File size: 35.34 KiB (36189 bytes)
MIME-type:
Charset: utf-8
<html>
<head>
<meta http-equiv="Content-Language" content="en-us">
<meta name="keywords" content="gia đình kitô hữu, giáo dục gia đình, tâm lý gia đình, giáo dục tâm lý, gia dinh kito huu, giao duc gia dinh, tam ly gia dinh, giao duc tam ly, tình yêu, hôn nhân">
<meta name="description" content="gia đình kitô hữu, giáo dục gia đình, tâm lý gia đình, giáo dục tâm lý, gia dinh kito huu, giao duc gia dinh, tam ly gia dinh, giao duc tam ly, tình yêu, hôn nhân">
<LINK rel="stylesheet" href="../../../_common/colours.css" type="text/css">
<meta http-equiv="Content-Type" content="text/html; charset=utf-8">
<title>Những sự thật về tình yêu và hôn nhân</title><base target="main">
<style>
<!--
span.StyleBodyTMBoldChar
{font-family:Arial;
font-weight:bold}
table.MsoNormalTable
{mso-style-parent:"";
font-size:11.0pt;
font-family:"Calibri","sans-serif";
}
li.MsoNormal
{mso-style-parent:"";
margin-top:0cm;
margin-right:0cm;
margin-bottom:10.0pt;
margin-left:0cm;
line-height:115%;
font-size:11.0pt;
font-family:"Calibri","sans-serif";
}
span.apple-converted-space
{}
h1
{margin-top:12.0pt;
margin-right:0cm;
margin-bottom:3.0pt;
margin-left:0cm;
line-height:115%;
page-break-after:avoid;
font-size:16.0pt;
font-family:"Cambria","serif";
font-weight:bold}
span.authors
{}
span.yshortcuts
{}
-->
</style>
</head><body background="../../../_images/barbkgde.gif">
<table border="0" width="500" cellspacing="0" style="border-color: #FFFFFF; font-family:Arial; font-size:12pt" bgcolor="#FFFFF0" cellpadding="0"><tr>
<td width="500" bgcolor="#F7F8FD" background="../../../../_Images/Background/Background9.jpg" height="250">
<p class="MsoNormal" style="line-height: normal; text-align: right; margin-bottom: 0px; margin-top:0; margin-right:15px">
<b>
<font size="4" color="#FF3E3E">
<br>
</font></b></p>
<p class="MsoNormal" style="line-height: normal; text-align: right; margin-bottom: 0px; margin-top:0; margin-right:15px">
</p>
<p class="MsoNormal" style="line-height: normal; text-align: right; margin-bottom: 0px; margin-top:0; margin-right:15px">
</p>
<p class="MsoNormal" style="line-height: normal; text-align: right; margin-right: 15px; margin-top: 0; margin-bottom: 0px">
<b><font size="4" color="#0000FF">Những sự thật về tình yêu và hôn nhân</font></b></p>
<hr color="#008080" align="right" noshade>
<div>
<p align="right" style="line-height: normal; margin-right: 15px; margin-top: 0; margin-bottom: 0px" class="MsoNormal">
<font size="2" color="#FF0000"><b><i>Lm Nguyễn Hữu Thy</i></b></font><p align="right" style="line-height: normal; margin-right: 15px; margin-top: 0; margin-bottom: 0px" class="MsoNormal">
<font size="2" color="#FF0000"><b><i>Nguồn: vietcatholic</i></b></font></div>
</td></tr><tr>
<td width="500" style="text-align: justify" bgcolor="#FFFFFF">
<table border="0" width="100%" id="table2" cellspacing="20">
<tr>
<td style="font-family: Arial; font-size: 12; margin-top: 12; margin-bottom: 0" align="justify">
<p style="line-height: normal; margin-top: 12px; margin-bottom: 0" class="MsoNormal">
<font size="3">Thánh Augustinô, thánh Tiến Sĩ của Giáo Hội, đã
phát biểu một cách rõ ràng và ngắn gọn nguyên tắc luân lý Công
Giáo: „<i>Thương yêu người có tội, nhưng ghét bỏ tội lỗi</i>.“
Tuy nhiên, đối với một số người, nguyên tắc luân lý nền tảng đơn
giản này của Giáo Hội Công Giáo gây nên một cảm tưởng khô cứng,
thiếu quảng đại. Do đó, họ không muốn chấp nhận nguyên tắc luân
lý ấy và không muốn thuần phục cả Giáo Hội nữa, vì họ cho rằng
Giáo Hội chỉ đưa ra những sứ điệp hù dọa, bất khoan dung cũng
như những nguyên tắc luân lý quá cứng nhắc, v.v… đặc biệt trong
các giáo huấn của Giáo Hội liên quan tới hôn nhân và gia đình.
<br>
<br>
Qua các bài bình luận của họ trên các báo chí, nhiều ký giả đã
bất bình và phản đối gay gắt về việc các người ly hôn và lại đã
tái kết hôn không được phép chịu các Bí tích của Giáo Hội. Mặc
dù tại một số Giáo Xứ tại Âu-Mỹ, người ta đã công khai hay ngấm
ngầm cho phép các tín hữu thuộc trường hợp trên lại được lãnh
nhận các Bí tích. Nhưng ý kiến của những kẻ chống đối Giáo Hội
là họ muốn Giáo Hội phải chính thức cho phép điều thực hành ấy
bằng các văn kiện rõ ràng. Họ đòi hỏi Giáo Hội phải sửa đổi giáo
luật, phải nới lỏng luật „<i>bất khả phân ly</i>“ của hôn nhân
trong một số trường hợp ngoại lệ. Nói cách khác, họ đòi hỏi Giáo
Hội phải hợp thức hóa và chấp nhận cuộc sống của những người ly
hôn đã tái kết hôn.<br>
<br>
Trước những thành kiến đầy nhạy cảm và chủ quan được nêu lên ở
trên đây, ĐTC Bênêđíctô XVI đã đi thẳng vào vấn đề và đưa ra
những lời giải đáp chí lý trong dịp Đại hội quốc tế của các gia
đình từ ngày 30.5.2012 đến ngày 3.6.2012 tại Milanô/Ý.(1) Tuy
ĐTC vẫn giữ bản tính tế nhị, nhẹ nhàng và thân tình tự nhiên cố
hữu của ngài, nhưng ngài đã đưa ra những lời phát biểu rõ ràng
và dứt khoát đối với những khẳng định và những phản kháng chủ
quan của các phương tiện truyền thông trong vấn đề này. Bởi vậy,
trong những dòng sau đây chúng ta thử tìm hiểu ý nghĩa sâu sắc
những lời phát biểu của Đức Thánh Cha trong vấn đề hôn nhân gia
đình nhân dịp gặp gỡ các gia đình tại Milanô.<br>
<br>
<b>Sự ưng thuận tự do là điều kiện tất yếu của hôn nhân</b><br>
<br>
Trước hết, ĐTC đã giải thích sự khác biệt to lớn giữa hôn nhân
ngày nay và hôn nhân xa xưa trước kia. ĐTC nói: „<i>Mãi cho tới
thế kỷ XIX tại Âu châu hiện hữu một kiểu mẫu hôn nhân khác. Xưa
kia hôn nhân thường được sử dụng như một sự giao kèo giữa hai
gia đình hay hai dòng tộc, nhằm bảo đảm an ninh cho hai gia đình
liên hệ và các quyền lợi vật chất của họ. Ngày nay, hôn nhân
không còn bị chi phối bởi ý muốn của người khác nữa,(2) nhưng là
một sự tự do quyết định của đương sự</i>.“ Qua lời phát biểu của
ngài, Đức Bênêđíctô XVI muốn khẳng định thêm lời dạy của Sách
Giáo Lý Công Giáo (SGLCG), tức sự ưng thuận hoàn toàn tự do của
hai người nam-nữ trong việc kết hôn. Sách Giáo Lý nói về sự ưng
thuận hôn nhân(3). Thiếu sự ưng thuận tự do, hôn nhân giữa hai
người nam-nữ không phải là hôn nhân thành sự.(4)<br>
<br>
Ở đây, chúng ta thấy hai chữ „<i>tình yêu</i>“ không được đề cập
tới, mặc dù tình yêu là động lực chính của hôn nhân. Theo sự
nhận định của hai nhà thần học thời danh của Giáo Hội, thánh
Augustinô thành Hippô và thánh Thomas thành Aquinô, thì tình yêu
là hành vi tiên khởi của ý chí. Nói cách khác, trong sự ưng
thuận tự do của hôn nhân, tình yêu đương nhiên đã được chứa đựng
một cách mặc nhiên trong hành vi của ý chí đôi nam-nữ. Đúng vậy,
tiếng thưa „<i>vâng</i>“ hay „<i>có</i>“ của đôi nam-nữ khi cử
hành hôn lễ là sự bày tỏ rõ ràng của ý chí muốn đi tới hôn ước,
đã mặc nhiên bao gồm tiếng thưa „<i>vâng</i>“ hay „<i>có</i>“ để
đi tới tình yêu vợ chồng. Sách GLCG dạy rõ ràng: „<i>Sự ưng
thuận phải là hành vi của ý chí mỗi người phối ngẫu, không bị
cưỡng bức vì bạo lực hay quá sợ hãi do một nguyên cớ ngoại tại</i>.“(5).
Tiếp đến, Sách GLCG còn nhấn mạnh: „<i>Không có thế lực nhân
loại nào có thể thay thế sự ưng thuận này. Thiếu sự tự do, hôn
nhân không thành</i>.“<br>
<br>
Theo Công đồng Vatican II, hôn nhân do tình yêu được coi là một
„<i>hành vi cá nhân tự do, trong đó, hai vợ chồng tự hiến cho
nhau và đón nhận nhau, nhờ sự an bài của Thiên Chúa, phát sinh
một định chế vững chắc có giá trị trước mặt xã hội nữa</i>.“(6)
Xưa kia, hôn nhân thường được sử dụng như một phương tiện để
nhằm đạt tới một mục đích khác. Bởi thế, mới có nhiều loại hôn
nhân khác nhau, như: „<i>hôn nhân chính trị</i>“, „<i>hôn nhân
kinh tế</i>“ hay „<i>hôn nhân thương mại</i>“, v.v…, tức những
hôn nhân giữa hai người nam-nữ không do tình yêu và sự ưng thuận
tự do của các đương sự, nhưng là do những nguyên nhân ngoại tại
khác tác thành, hay nói cách khác, do sự sắp đặt với một hậu ý
nhất định của những đệ tam nhân, của những kẻ khác. <br>
<br>
Ngày nay hoàn toàn khác hẳn. Từ hai thế kỷ qua, với sự chấm dứt
thể chế „<i>Ständestaat</i>“, tức các vùng tự trị của các ông
hoàng bà chúa, của các gia đình giàu có trong một quốc gia,(xưa
kia ở các nước Âu châu nói chung và ở Đức quốc nói riêng, ngoài
hoàng đế là người đứng đầu nhà nước, còn có các ông hoàng hay
các gia đình giàu có, mỗi gia đình hùng cứ một vùng. Vì thế, hôn
nhân giữa các dòng tộc ấy thường là phương tiện để bành trướng
lãnh thổ của mình bằng cách đòi nhượng đất đai hay lãnh thổ của
dòng tộc kia. Đây cũng là điều đã xảy ra tai Việt Nam: Vào năm
Bính Ngọ 1306, khi vua Chiêm Thành là Jaya Simh Varman, mà người
Việt Nam vẫn gọi là Chế Mân, đã cầu hôn công chúa Huyền Trân,
con vua Trần Nhân Tông và là em gái vua Trần Anh Tông, và dâng
cho nước Đại Việt lúc bấy giờ hai châu Ô và châu Lý, hai vùng
đất rộng lớn kể từ Quảng Bình cho tới Qui Nhơn ngày nay, làm đồ
sính lễ. Đây rõ ràng là một cuộc hôn nhân hoàn toàn chính trị,
chứ không do tình yêu) với sự thay đổi thuộc lãnh vực xã
hội-kinh tế và với sự phát sinh những hình thức sống và não
trạng thoát ly (mentalité émancipante) mang tính cách cá nhân,
hôn nhân tình yêu đã bắt đầu dành lại chỗ đứng bất khả nhượng
của mình trong đời sống hôn nhân. Sự quan hệ cá nhân riêng tư –
mà mục đích là nhằm làm thỏa mãn những đòi hỏi thuộc cảm xúc
cũng như phái tính – đã trở thành kiểu mẫu chính của hôn nhân,
vì nó loại bỏ động lực thuộc kinh tế-xã hội từng thịnh hành cho
tới lúc bấy giờ trong cuộc sống hôn nhân.<br>
<br>
Ngày nay, qua việc loại bỏ được quan niệm xã hội cổ điển lệch
lạc về hôn nhân trên đây, hôn nhân tình yêu đã trở thành quy tắc
chính của hôn nhân. Hôn nhân được coi như nơi trú ẩn an toàn cho
nhu cầu nội tâm thầm kín và mật thiết của con người. Dĩ nhiên,
trong đó vẫn luôn ẩn chứa một sự nguy hiểm mà trong lần gặp gỡ
các gia đình tại Milanô, Đức Bênêđíctô XVI cũng đã nêu rõ với
những lời sau đây: „<i>Người ta thường dễ lầm tưởng cho rằng
tình yêu thì tuyệt đối, nó phải trường tồn mãi mãi, nhưng sự
thật thì không phải thế. Giai đoạn mới quen biết và yêu nhau là
thời gian thơ mộng, nhưng lại không hoàn hảo trọn vẹn. Cảm xúc
nơi con người thay đổi theo thời gian. Sự chuyển tiếp từ việc
đính hôn cho tới hôn nhân là cả một quá trình diễn tiến những
cảm nghiệm nội tâm. Cảm xúc của tình yêu cần phải được hướng dẫn
bởi lý trí và ý chí</i>.“ Bởi vậy, trong khuôn khổ lễ nghi hôn
phối, người ta không hề nói tới giai đoạn „<i>bốc đồng</i>“ khi
mới bắt đầu yêu nhau, nhưng là bày tỏ lòng mong ước và sự sẵn
sàng chín chắn bước đi trên con đường do ý chí và lý trí cùng
hướng dẫn. Ở đây, đề cập tới con người toàn diện qua lý trí và
khả năng phán đoán của nó, vâng, đề cập tới chính cuộc sống con
người. Tại tiệc cưới Cana, thứ rượu được đem hầu khách lần thứ
hai thì tốt hơn thứ rượu đem hầu lần đầu. Cũng vậy, tình yêu
phải luôn lớn lên và trở nên chín chắn hơn trong một diễn tiến
bao gồm giáo xứ, Giáo Hội, bạn bè, sự sống chung đúng đắn với
những người khác, tức với những gia đình có tín ngưỡng, những
người cùng có chung một hoàn cảnh như nhau.“<br>
<br>
Như vậy, sau ý chí và sự ưng thuận hôn nhân của đôi nam-nữ, một
thực tại khác được nêu danh, mà đối với giáo huấn về hôn nhân
cũng quan trọng tương tự, đó chính là cộng đoàn. Không thể có
hôn nhân, nếu không có tương quan với cộng đoàn. Sự ưng thuận
qua tiếng thưa „xin vâng“ để bày tỏ sự ưng thuận của các đương
sự khi cử hành hôn lễ cũng là lời hứa trước cộng đoàn. Chính
trong những thời gian bị khủng hoảng khó khăn người ta nhận ra
được một điều mà Đức Bênêđíctô XVI nêu lên trong tác phẩm „<i>Chúa
Giêsu thành Na-da-rét</i>“ của ngài: „<i>Gia đình là trọng tâm
của tất cả mọi trật tự xã hội</i>“ và hôn nhân là điều kiện cho
sự ổn định bền vững của các gia đình, nên hôn nhân là trọng tâm
của mọi trọng tâm. Theo giáo sư Ernst-Wolfgang Böckenförde, nhà
luật học người Đức, thì hôn nhân và gia đình nằm trong số những
điều kiện mà một nhà nước không thể tạo ra được, nhưng là những
điều kiện giúp cho một nhà nước tồn tại. Nói cách khác, gia đình
còn là nhà nước còn, gia đình tan vỡ là nhà nước bị tiêu diệt.
Bởi vậy, trong bộ luật hình sự mỗi quốc gia đều ghi rõ điều
khoản phải bảo vệ và thăng tiến hôn nhân và gia đình.(7)<br>
<br>
<b>Hôn nhân mang lại lợi ích cho nhà nước</b><br>
<br>
Qua những điều vừa nói trên, người ta nhìn thấy được rằng, chính
nhà nước là đơn vị đầu tiên được hưởng thụ những lợi ích từ hôn
nhân và gia đình. Cuộc sống thực tế đã minh chứng điều ấy một
cách cụ thể, đó là khi những tương quan hôn nhân và gia đình bền
vững thì sự giảm thiểu các mối đe dọa nguy hiểm, như sự nghèo
đói, bệnh tật và sự bất ổn xã hội, và đồng thời nâng cao tình
trạng an sinh, sự hài hòa an bình và sự thăng tiến cuộc sống mọi
người trong xã hội, v.v…là một điều tất yếu. Và điều ấy không
chỉ đối với cuộc sống hôn nhân gia đình mà còn đối với phúc lợi
chung của toàn xã hội. Những tác dụng tích cực ngoại tại ấy được
minh chứng một cách thực tiễn trong nhiều công trình khảo cứu.
Vì thế, các nhà chuyên môn về hôn nhân đã gọi hôn nhân và gia
đình là „<i>vốn liếng văn hóa</i>“. Và đối với các sinh hoạt xã
hội và chính trị, vốn liếng văn hóa này mang một ý nghĩa hết sức
quan trọng: Nó củng cố hệ thống xã hội và kinh tế. Trong các
thời kỳ huê lợi hằng năm bất ổn và các mối đe dọa gia tăng do sự
phát triển dân số thì hôn nhân và gia đình là một phương thức
bảo hiểm sinh mệnh một cách đặc biệt và an toàn. Nó tạo nên một
khuôn khổ mà trong đó không chỉ các cảm xúc của con người có thể
phát huy, nhưng từ khuôn khổ ấy cả sự bền vững của cộng đồng
cũng được củng cố và tăng trưởng.<br>
<br>
Còn phía Kitô giáo luôn coi hôn nhân: một đàng là một giải đáp
cho những đòi hỏi xã hội và một đàng khác là một giải đáp cho
nỗi khao khát tình yêu, sự an toàn và tương lai của các cá nhân.
Sự tương quan giữa một người nam và một người nữ trong hôn nhân
luôn được coi là sự tương quan nhân bản chặt chẽ nhất, là sự
tương quan nền tảng do chính Tạo Hóa thiết đặt nên. Và kết quả
tất yếu của một mối tương quan nguyên thủy như thế là sự mật
thiết giữa hai người, là không gian vô điều kiện mà trong đó
chúng ta không thẩm định theo điều chúng ta tạo nên hay có được,
nhưng là chính chúng ta, chính sự hiện hữu của mình. Trong cuộc
gặp gỡ họ tại Milanô, Đức Bênêđíctô XVI đã kêu mời các gia đình
đừng nghe theo lý lẽ của các của cải vật chất, những thứ mà các
học thuyết tân thời về kinh tế và chính trị nhằm tới, nhưng lý
lẽ của chính cuộc sống. Chính lý lẽ của cuộc sống sẽ dẫn tới một
sự „<i>cân bằng hài hòa</i>“ giữa gia đình, công việc làm ăn và
lễ hội. Và thuộc về lý lẽ của cuộc sống là sự quan hệ mật thiết
vợ chồng, vì nó là yếu tố nền tảng của cuộc sống hôn nhân.<br>
<br>
Khuôn khổ sự tương quan mật thiết và sự tin tưởng cơ bản tự
nhiên là mẫu mực nền tảng của đời sống hôn nhân và gia đình.
Trong các tự điển toàn thư khổ lớn, ý niệm „<i>mật thiết</i>“
(intimité) này được sử dụng để đề cập tới các sinh hoạt „<i>phòng
the</i>“, các sinh hoạt vợ chồng. Nhưng trong thực tế, ý niệm „<i>mật
thiết</i>“ trong đời sống hôn nhân còn bao hàm một ý nghĩa bao
quát hơn nhiều, vượt lên khỏi biên giới của phạm vi „sinh hoạt
vợ chồng“ theo nghĩa đen. Ý niệm „mật thiết“ bao hàm toàn diện
mọi sinh hoạt nội tâm của con người, gồm các tư tưởng và các cảm
xúc, tức sự tin tưởng tuyệt đối, sự tin tưởng nền tảng nguyên
thủy. Vì thế, người ta có thể nói rằng sự mật thiết là bộ mặt
của nhân bản, là điểm hẹn để con người gặp gỡ được chính mình.
Điều đó muốn nói rằng, sự mật thiết trước hết mang chiều kích
tinh thần. Nó thuộc về chính cuộc sống con người. Nó chứa đựng
trong mình chính bản ngã con người. Qua đó, nó là sự đảm bảo cho
lời khẳng định mang tính cách nhân chủng học của Kinh Thánh khi
dạy rằng, con người được dựng nên theo hình ảnh Thiên Chúa (x.
St 1,27). <br>
<br>
Và bởi vì sự gặp gỡ hôn nhân giữa hai người nam-nữ, giữa hai vợ
chồng, trong một không gian hoàn toàn tự do, hoàn toàn vô điều
kiện và hoàn toàn tự nhiên mang tính chất hiện sinh như thế, nên
sự nối kết giữa họ cũng mang tính cách vĩnh viễn, bất khả tháo
gỡ. Đó cũng là ý kiến của các nhà thần học thời danh của Giáo
Hội. Trong tác phẩm thần học mang tính cách minh giáo „Contra
Gentes: Chống Lại Lương Dân“ của ngài, thánh Thomas Aquinô đã
viết: <i>„Một khi tình yêu càng to lớn, thì nó càng chắc chắn và
bền vững. Nhưng tình yêu to lớn nhất phải là tình yêu giữa một
người nam và một người nữ. Họ kết hợp với nhau không chỉ trong
hành động liên kết về phần thể xác, (…), nhưng trong toàn diện
cuộc sống chung của họ. Bằng chứng về điều ấy là người nam vì vợ
mình mà xa lìa cha mẹ, đúng như Kinh Thánh đã dạy (x. St 2,24).
Do đó, một điều đương nhiên là hôn nhân phải tuyệt đối bất khả
tháo gỡ.“</i><br>
<br>
Các Giáo Phụ khác, như Tertulian chẳng hạn, còn tỏ ra nhiệt tình
hơn nữa khi các ngài bàn đến „<i>tình yêu to lớn nhất</i>“ và
tính chất bất khả tháo gỡ của nó. Các ngài tham chiếu – cũng Đức
Bênêđíctô XVI vừa làm trong cuộc gặp gỡ các gia đình tại Milanô
– tình yêu hôn nhân được coi là biểu tượng của tình yêu Thiên
Chúa đối với nhân loại. Theo Đức Bênêđíctô XVI, một gia đình
được xây dựng trên nền tảng hôn nhân giữa một người nam và một
người nữ thì tượng trưng cho mầu nhiệm tình yêu của Thiên Chúa.
Thiên Chúa đã dựng nên con người gồm có nam có nữ với tất cả
nhân phẩm như nhau. Tuy nhiên, họ lại có những tính chất đặc thù
riêng và khác biệt nhau, nhưng không phải đối kháng hay nghịch
lại nhau; trái lại, các tính chất đặc thù và khác biệt của họ
lại bổ túc cho nhau. Mỗi người trong họ là quà tặng cho người
kia. Họ nâng giá trị lẫn cho nhau. Họ cùng nhau hiện thực một
cộng đồng tình yêu và cuộc sống!<br>
<br>
<b>Sự đổ vỡ của hôn nhân</b><br>
<br>
Dĩ nhiên, hôn nhân cũng không tránh khỏi một thực tại tiêu cực
đầy đau thương, đó là sự đổ vỡ của nó, là sự ly hôn, và hậu quả
tất yếu kèm theo là sự đổ vỡ của cả một gia đình với bao bất
hạnh khôn lường. Cách đây mười năm về trước, Hội Đồng Giáo Hoàng
về Gia Đình đã từng đề cập đến „<i>não trạng ly hôn</i>“ trong
các xã hội tân tiến ngày nay và đã phác họa lên một cách thẳng
thắn và thực tiễn bức tranh của thời đại tân tiến qua những dòng
sau đây: „Không một lục địa hay một xã hội nào có thể tránh khỏi
được thực trạng đau buồn ấy, vâng, qua sự đổ vỡ của hôn nhân,
toàn diện xã hội trở nên suy nhược. Khi „não trạng ly hôn“ tăng
trưởng và thống trị được con người, nó sẽ làm cho các đôi vợ
chồng ra suy nhược, không đủ khả năng để nỗ lực vượt lên mọi thử
thách và mọi khó khăn của đời sống hôn nhân của họ, và họ dễ
dàng đầu hàng buông xuôi trước các thách đố của cuộc sống hôn
nhân và gia đình. (…) „<i>Sự ly hôn không chỉ là một vấn nạn
thuộc pháp lý, không chỉ là một cơn khủng hoảng qua thời, nhưng
nó đụng chạm đến chính bản thể con người. Sự tương quan hôn nhân
bị xáo trộn sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến tất cả mọi thành viên của
gia đình và là nguyên nhân gây nên sự nghèo nàn trong mọi lãnh
vực: kinh tế, xã hội, tình cảm và nhân bản</i>.“ Các gia đình
liên hệ bị phân tán và chia rẽ, đặc biệt trong lãnh vực quyền
lợi kinh tế và tài chính. Người ta sẽ quan niệm sai lệch về sự
tự do, và tâm lý luôn trong tình trạng bất ổn, sợ hãi và mất tự
tín trong các tương quan xã hội. Nếu họ chưa rời bỏ nhau, thì họ
cũng chỉ sống chung với nhau như những người xa lạ và chỉ cho
qua ngày, thế thôi. Mọi tương quan mật thiết, mọi sinh hoạt vợ
chồng và mọi sự tin tưởng giữa họ đều hoàn toàn bị tiêu tan.
Người ta luôn sống trong sự nghi kỵ và dè chừng nhau. Hoàn cảnh
và tình trạng một cuộc sống hôn nhân và gia đình tiêu cực như
thế sẽ gây nên nơi những người trong cuộc sự „<i>hoài nghi về
các giá trị cao cả và chân chính của hôn nhân và sẽ nhận định
sai lạc khi cho rằng sự chung thủy hôn nhân cho đến chết là một
điều bất khả</i>.“<br>
<br>
Một thực tại cụ thể quan trọng khác được ghi nhận từ năm 1990
đến năm 2008 tại CHLB Đức mà chúng ta không được bỏ qua, đó là
theo thống kê chính thức của chính phủ Đức thì nguyên nhân chính
của thảm trạng ly hôn, thảm trạng hôn nhân bị đổ vỡ, tăng cao là
do tình trạng tục hóa và vô tôn giáo tại quốc gia này. Những đôi
vợ chồng không sống đạo hẳn hoi thường dễ bỏ nhau hơn.(8) <br>
<br>
<b>Cuộc sống đức tin của những người ly hôn lại tái kết hôn </b>
<br>
<br>
Còn về vấn đề những người sau khi ly hôn lại tái kết hôn, Đức
Thánh Cha đã phát biểu: „<i>Vấn đề ly hôn và những người ly dị
lại tái kết hôn là một trong những nỗi khổ tâm to lớn nhất của
Giáo Hội ngày hôm nay. Và vẫn không có những giải pháp toàn diện
cho vấn đề. Đây quả thực là một sự đau đớn to lớn, và để giúp đỡ
các giáo xứ và các cá nhân, chúng tôi chỉ có thể nói được rằng:
Nhờ vào các biện pháp phòng ngừa thích đáng, sự đào sâu tình yêu
lẫn nhau, sự đồng hành và giúp đỡ trong tương quan giữa hai vợ
chồng cũng như trong suốt cuộc sống hôn nhân của họ, các gia
đình sẽ không còn cảm thấy mình bị lẻ loi đơn độc, nhưng hằng
ngày trong cuộc sống họ luôn cảm nhận được sự nâng đỡ của kẻ
khác. Mặc dầu họ không được phép rước lễ, nhưng họ luôn cảm thấy
mình được yêu thương và được đón nhận bởi tình yêu thương mà
Giáo Hội dành cho họ. Họ cần ý thức rằng họ luôn là thành phần
của Giáo Hội và vẫn có những tương quan thân tình với vị lãnh
đạo tinh thần của giáo xứ, mặc dầu họ không được phép lãnh nhận
Bí tích Cáo Giải. Họ có thể sống kết hiệp với Chúa Giêsu qua
việc rước lễ thiêng liêng</i>.“<br>
<br>
Trên đây là toàn bộ kế hoạch dành cho các vị có trách nhiệm
trong Giáo Hội cũng như cho các Giáo Xứ. Đức Thánh Cha kêu mời
tất cả các tín hữu từng bị thất bại trong cuộc sống hôn nhân, –
những người „<i>tuy phải gánh chịu những trải nghiệm đau xót về
sự đổ vỡ và chia lìa, vẫn chia sẻ các giáo huấn của Giáo Hội về
gia đình</i>“ – hãy sống liên kết và gắn bó với các Giáo Xứ của
mình. Họ nên biết rằng Đức Giáo Hoàng và Giáo Hội luôn nâng đỡ
họ trong cuộc sống đầy thử thách khó khăn của họ. Sẽ có những
hình thức mục vụ đặc biệt cho những hoàn cảnh như thế. Nhưng dĩ
nhiên sẽ không bao giờ có sự thay đổi hay hủy bỏ sự thật về hôn
nhân. Khi còn là Hồng Y, Đức Bênêđíctô XVI đã từng viết: „<i>Một
mình tình yêu chưa đủ, chỉ khi tình yêu và sự thật cùng hòa hợp
với nhau, thì bấy giờ con người mới thực sự được tự do</i>.“ Và
trong Thông điệp „<i>Veritatis Splendor</i>“: Sự huy hoàng của
chân lý, Đức Gioan Phaolô II còn khẳng định: „<i>Sự tự do của
con người hoàn toàn phụ thuộc vào chân lý</i>.“ <br>
<br>
Điều ấy cũng được áp dụng trong phạm vị hôn nhân. Nhưng có nhiều
ký giả, và có cả một số các nhà thần học và nhất là các nhà
chính trị lại nhìn vấn đề dưới một góc độ khác, và qua đó người
ta nhận thấy họ hiểu và đánh giá sự tự do theo kiểu cách của
những kẻ theo chủ nghĩa duy lợi ích hay của những kẻ theo chủ
nghĩa hư vô. Họ quan niệm rằng tự do là „<i>hoàn toàn được tự
do, muốn làm gì tuỳ ý</i>“, chứ không phải là tự do lựa chọn
chân lý, là chấp nhận kẻ khác với ý thức đầy đủ trách nhiệm. Đây
chính là trọng tâm của vấn đề. Bởi vậy, thiếu nó người ta không
thể hiểu được hôn nhân Kitô giáo một cách chính xác được. Hôn
nhân không phải là „cơ cấu hình thức bên ngoài, là thành quả của
luật pháp và của sự phê chuẩn của xã hội và là sự hạn chế của
con người trong sự hiện thực chính mình một cách tự do“ như lời
nhận định của Đức Gioan Phaolô II vào năm 2004 trước các vị thẩm
phán của Toà Thượng Thẩm (Romana Rota), những vị chịu trách
nhiệm trong việc tuyên bố hủy bỏ hay công nhận tính hữu hiệu của
hôn nhân. Và: <i>„Người ta cần phải tái khám phá chân lý này là
sự thiện hảo và vẻ kiều diễm của định chế hôn nhân mà qua bản
tính con người và qua sự tự do của ý chí là một tuyệt tác của
chính Thiên Chúa. Như vậy, định chế hôn nhân mãi mãi trở thành
một thực tại cá nhân và bất khả tháo gỡ, là lãnh địa của sự công
bằng và của tình yêu, luôn vẫn là một phần của chương trình cứu
độ và trong thời viên mãn đã được nâng lên thành một Bí tích cao
cả của Kitô giáo</i>.“ <br>
<br>
Đây là một chân lý bất di dịch, không một vị Giáo Hoàng nào có
thể nhân danh Giáo Hội để xóa bỏ hay tương đối hóa được, nếu
không, các ngài đã dạy người ta yêu mến tội lỗi và khuyến khích
những kẻ có tội tiếp tục sống trong sự sai lầm dối trá. Qua Đức
Giáo Hoàng và các Đức Giám Mục, những vị thừa kế sứ mệnh các
Thánh Tông Đồ, Giáo Hội có bổn phẩn phải rao giảng và bảo vệ mọi
chân lý của Tin Mừng đã được chính Thiên Chúa mặc khải qua Con
Một của Người là Đức Kitô, chứ Giáo Hội không có quyền hủy bỏ
hay thêm bớt. Bởi vậy, tính chất bất khả tháo gỡ của hôn nhân
Kitô giáo, một chân lý mặc khải của Tin Mừng, không ai có quyền
loại bỏ hay sửa đổi. Chân lý ấy cũng đã được chính Chúa Giêsu
khẳng định: <i>„Sự gì Thiên Chúa đã kết hợp, loài người không
được phân ly!“(</i>Mc 10,9)<br>
<br>
<span class="author">Lm Nguyễn Hữu Thy</span><br>
________________<br>
<br>
1. xin xem nhật báo „L´Osservatore Romano“, cơ quan báo chí bán
chính thức của Tòa Thánh, từ số ra ngày 30.5. đến 4.6.2012.<br>
2. tương tự như kiểu nói của người Việt Nam ta: „cha mẹ đặt đâu
con ngồi đó“.<br>
3. x. SGLCG, số 1625.<br>
4. x. SGLCG, số 1628.<br>
5. số 1628.<br>
6. Gaudium et Spes, số 48,1.<br>
7. Điều ấy lại một lần nữa khẳng định rằng phong trào của một số
người ngày nay sống phóng túng và tự do quá trớn chủ trương loại
bỏ gia đình là một điều chủ quan và phản xã hội, cũng như chủ
trương „tam vô“ của chủ nghĩa cộng sản vô thần nguyên thủy – vô
tôn giáo, vô tổ quốc và vô gia đình – là một ảo tưởng, là một
điều sai lầm nguy hiểm.<br>
8. x. Joachim Eicken&Ansgar Schmitz-Veltin: Die Entwicklung der
Kirchenmitglieder in Deutschland, trang 576-590, trong:
Statistisches Bundesamt (Hrsg.): Wirtschaft und Statistik
6/2010, trang 587.</font></td>
</tr>
<tr>
<td style="font-family: Arial; font-size: 12; margin-top: 12; margin-bottom: 0" align="justify">
</td>
</tr>
</table>
</td></tr><tr>
<td background="../../../../_Images/Background/Background10.jpg" height="300">
<table border="0" width="100%" id="table3" cellspacing="0" cellpadding="0">
<tr>
<td><p align="center">
<font size="3" color="#2F2417">
<a target="_blank" href="../../../GiaDinh_INDEX.htm">
<font color="#0000FF">Trang gia đình</font></a> </font><font size="3" color="#FF0000">
|</font><font size="3" color="#2F2417"><font color="#2F2417">
</font><a target="_blank" href="http://tinmung.net/">
<font color="#0000FF">Trang nhà</font></a></font><p align="center">
<span style="font-family: Tahoma; font-size: 10pt; text-decoration: none">
<a target="_top" href="../../../../CHIASE/GUI%20BAI.htm">
<img border="0" src="../../../../EMAIL05.GIF" width="45" height="48"></a><br>
<a class="leftMenu" target="_top" href="../../../../CHIASE/GUI%20BAI.htm">
<font color="#0000FF">Gửi Bài - Góp Ý - Chia Sẻ - Comments</font></a></span> <p> </td>
</tr>
<tr>
<td> <p> </p>
<p> </p>
<p> </p>
<p> </td>
</tr>
</table>
</td></tr></table></body></html>