File "Vi-tong-do-nguoi-cui.htm"

Full path: E:/sites/Single15/tinmung2007/webroot/DocGia/_SuyTu/2012/Vi-tong-do-nguoi-cui.htm
File size: 29.98 KiB (30701 bytes)
MIME-type:
Charset: utf-8

Download   Open   Back

<html xmlns:v="urn:schemas-microsoft-com:vml" xmlns:o="urn:schemas-microsoft-com:office:office" xmlns="http://www.w3.org/TR/REC-html40">

<head>
<link href="file:///C:/DOCUME~1/TTMV_M~1/LOCALS~1/Temp/msohtmlclip1/01/clip_themedata.thmx" rel="themeData">
<link href="file:///C:/DOCUME~1/TTMV_M~1/LOCALS~1/Temp/msohtmlclip1/01/clip_colorschememapping.xml" rel="colorSchemeMapping">
<style>
<!--
/* Font Definitions */
 @font-face
	{font-family:"Cambria Math";
	panose-1:2 4 5 3 5 4 6 3 2 4;
	mso-font-charset:1;
	mso-generic-font-family:roman;
	mso-font-format:other;
	mso-font-pitch:variable;
	mso-font-signature:0 0 0 0 0 0;}
 /* Style Definitions */
 div.MsoNormal
	{mso-style-parent:"";
	margin-bottom:.0001pt;
	font-size:12.0pt;
	font-family:"Times New Roman","serif";
	margin-left:0cm; margin-right:0cm; margin-top:0cm}
 li.MsoNormal
	{mso-style-parent:"";
	margin-bottom:.0001pt;
	font-size:12.0pt;
	font-family:"Times New Roman","serif";
	margin-left:0cm; margin-right:0cm; margin-top:0cm}
 p.MsoNormal
	{mso-style-parent:"";
	margin-bottom:.0001pt;
	font-size:12.0pt;
	font-family:"Times New Roman","serif";
	margin-left:0cm; margin-right:0cm; margin-top:0cm}
span.longtext
	{}
.MsoChpDefault
	{font-size:10.0pt;
	}
@page Section1
	{size:612.0pt 792.0pt;
	margin:72.0pt 90.0pt 72.0pt 90.0pt;
	mso-header-margin:36.0pt;
	mso-footer-margin:36.0pt;
	mso-paper-source:0;}
div.Section1
	{}
-->
</style>
<meta http-equiv="Content-Language" content="en-us" />
<meta http-equiv="Content-Type" content="text/html; charset=utf-8" />
<title>Nhớ ĐGM JEAN CASSAIGNE, Vị Tông Đồ Phong Cùi</title>
<base target="main">
<style type="text/css">
.style1 {
	border-width: 0px;
}
</style>
<style fprolloverstyle>A:hover {color: #FF0000; font-family: Arial; font-size: 10pt}
</style>



<!--[if !mso]>
<style>span.contents
	{}
span.small
	{}
</style>
<![endif]-->
<!--[if !mso]>
<style>h2
	{margin-right:0cm;
	margin-left:0cm;
	font-size:18.0pt;
	font-family:"Times New Roman";
	font-weight:bold}
h1
	{margin-right:0cm;
	margin-left:0cm;
	font-size:24.0pt;
	font-family:"Times New Roman","serif";
	}
 li.MsoNormal
	{mso-style-parent:"";
	margin-top:0cm;
	margin-right:0cm;
	margin-bottom:10.0pt;
	margin-left:0cm;
	line-height:115%;
	font-size:12.0pt;
	font-family:"Times New Roman","serif";
	}
span.submitted
	{}
h4
	{margin-top:12.0pt;
	margin-right:0cm;
	margin-bottom:3.0pt;
	margin-left:0cm;
	line-height:115%;
	page-break-after:avoid;
	font-size:14.0pt;
	font-family:"Calibri","sans-serif";
	font-weight:bold}
h3
	{margin-top:10.0pt;
	margin-right:0cm;
	margin-bottom:0cm;
	margin-left:0cm;
	margin-bottom:.0001pt;
	line-height:115%;
	page-break-after:avoid;
	font-size:11.0pt;
	font-family:"Times New Roman","serif";
	color:#4F81BD;
	font-weight:bold}
span.author
	{}
span.longtext
	{}
span.apple-converted-space
	{}
span.MsoFootnoteReference
	{vertical-align:super}
</style>
<![endif]-->
</head>

<body style="color: #000000; background-color: #EEEEEE; font-family:Arial; font-size:10pt; text-decoration:none" background="../../../TRANG%20CUA%20ME%20MARIA/Pictures/Background/bgr.gif">

<table border="0" width="500" id="table1" cellspacing="15" bgcolor="#FFFFF0">
	<tr>
		<td>
		<p class="MsoNormal" align="right" style="margin-top: 0; margin-bottom: 0">
		<b><font face="Arial" color="#0000FF" style="font-size: 14pt">Nhớ ĐGM 
		JEAN CASSAIGNE, <br>
		Vị Tông Đồ Phong Cùi</font></b></td>
	</tr>
	<tr>
		<td align="justify">
		<p class="MsoNormal" style="margin-top: 0; margin-bottom: 0" align="right">
		<font size="2"><i><span style="font-family: Arial,sans-serif">Trầm Thiên 
		Thu (Tổng hợp)</span></i></font></td>
	</tr>
	<tr>
		<td align="justify">
		<link rel="themeData" href="file:///C:/Users/peace/Desktop/New%20folder%20(2)/ĐGM%20JeanCassaigne_files/themedata.thmx">
		<link rel="colorSchemeMapping" href="file:///C:/Users/peace/Desktop/New%20folder%20(2)/ĐGM%20JeanCassaigne_files/colorschememapping.xml">
		<div class="Section1">
			<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
			<font face="Arial">
			<img src="_Images/TongDoNguoiCui.jpg" v:shapes="_x0000_s1026" height="196" hspace="12" width="235" align="left"></font><span class="style11"><font face="Arial">Hồi 
			còn thiếu niên, tôi thường đọc báo Trái Tim Đức Mẹ và báo Đức Mẹ 
			Hằng Cứu Giúp. Có lần đọc bài viết về Đức cha Jean Cassaigne (thường 
			gọi Cha Sanh), tôi đã thực sự ấn tượng. Cũng hồi đó, một lần đến nhà 
			thờ Fatima Bình Triệu, tôi thấy có tượng ngài đứng với một bệnh nhân 
			cùi ngồi bên chân ngài, tôi càng ấn tượng về ngài. Nhưng ngày nay 
			không còn thấy bức tượng đó nữa.</font></span></p>
			<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
			<span class="style11"><font face="Arial">Theo yêu cầu của Hội Đồng 
			Giám Mục Việt Nam về “tập kỷ yếu Năm Linh Mục”, Giáo Phận Đàlạt hoàn 
			toàn nhất trí chọn Đức cha Cassaigne là <b>chứng tá sống động</b> về 
			mầu nhiệm Giáo Hội </font><i><font face="Arial">“</font></i></span><em><font face="Arial">yêu 
			thương và phục vụ”</font></em><span class="style11"><font face="Arial">. 
			Đây là những chứng từ sống độngvà rất gần gũi để giới thiệu về ông 
			Tổ của công cuộc truyền giáo cho anh chị em Kơho Lâm Đồng và là Vị 
			Sáng lập Trại Phong Di linh từ năm 1929.</font></span></p>
			<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
			<strong><font face="Arial">NGƯỜI GIEO GIỐNG TỐT</font></strong></p>
			<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
			<span class="style11"><font face="Arial">Trong bản tường trình năm 
			1920, Đức Cha Victor Quinton Giám Mục Giáo phận Sàigòn đã nói đến ý 
			định truyền giáo cho người Dân Tộc trên cao nguyên Djiring – 
			Langbiang. Nhưng công cuộc truyền giáo này chỉ thực sự bắt đầu khi 
			Đức Cha Dumortier đặt Cha Jean Cassaigne (tên Việt nam là Sanh), một 
			linh mục thuộc Hội Thừa Sai Balê đến Di Linh năm 1927. Đức Cha 
			Dumortier viết trong bản tường trình năm 1927 như sau:</font></span></p>
			<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
			<span class="style11"><i><font face="Arial">“</font></i></span><em><font face="Arial">Chúa 
			Quan Phòng đã sắp đặt cho tôi một vị tông đồ như ý để khởi sự công 
			cuộc truyền giáo cho người Dân Tộc. Tôi thấy Cha Cassaigne được 
			chuẩn bị tốt để chịu được gian khổ thiếu thốn. Vừa khi biết chương 
			trình truyền giáo của tôi, Cha Cassaigne đã tình nguyện và bầy tỏ 
			niềm vui khôn tả khi nghe tôi công bố việc bổ nhiệm Ngài vào công 
			cuộc này</font></em><span class="style11"><font face="Arial">&quot;.</font></span></p>
			<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
			<span class="style11"><font face="Arial">Thứ tư ngày 20-10-1926, Cha 
			Cassaigne lên đường đến thí điểm truyền giáo Di Linh. Ngài đi từ 
			Sàigòn đến Phan Thiết, rồi từ Ma Lâm lên Cao nguyên Di Linh. Nhưng 
			gặp mưa bão càn quét vùng cao nguyên làm con đường từ Ma Lâm lên Di 
			Linh hư hại nặng cho nên Ngài phải trở về Sàigòn.</font></span></p>
			<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
			<span class="style11"><font face="Arial">Cho đến ngày 24-01-1927, 
			Cha Cassaigne mới có thể từ Đàlạt chính thức đến nhận thí điểm 
			truyền giáo Di Linh. Toà Giám Mục Sàigòn đã chuẩn bị cho Ngài một 
			căn nhà mua lại của ông Ngô Châu Liên để làm cơ sở lập thí điểm 
			truyền giáo.</font></span></p>
			<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
			<span class="style11"><font face="Arial">Ngay trong buổi chiều đầu 
			tiên đến vùng đất Di Linh, Cha Cassaigne đã nhìn thấy những người 
			Dân Tộc lặng lẽ nghi ngại đi ngang qua nhà Ngài. Ngài đã nhìn thấy 
			những anh chị em Dân Tộc được trao phó cho Ngài, cả một cánh đồng 
			truyền giáo rộng lớn đang chờ đợi Ngài. Để có thể gặp gỡ những người 
			Dân Tộc rụt rè nhút nhát trước những người xa lạ, Cha Cassaigne khởi 
			sự bằng cách học nói tiếng của họ, một ngôn ngữ quá mới mẻ và không 
			có chữ viết. Cha Cassaigne đã phải mầy mò ký tự từng chữ trong ngôn 
			ngữ của họ. Công việc này đã cuốn hút vị Thừa Sai trẻ đầy nhiệt 
			huyết. Vì thế, vào tháng 12-1929 Cha Cassaigne đã xuất bản tự điển 
			Pháp – Kơho – Việt, đây là cuốn tự điển đầu tiên hình thành chữ viết 
			cho ngôn ngữ Kơho, một công trình rất đáng trân trọng vì góp phần 
			giữ gìn bản sắc dân tộc và phát triển cho người dân tộc Kơho.</font></span></p>
			<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
			<span class="style11"><font face="Arial">Tháng 12-1937 Cha Cassaigne 
			xuất bản cuốn: PHONG TỤC TẬP QUÁN người Dân Tộc Kơho, đây cũng là 
			một công trình đầu tiên nghiên cứu về người Kơho, một công trình 
			giúp cho Cha Cassaigne có thể hiểu và gặp gỡ được với những người 
			Dân Tộc và từ đó nói về Chúa cho họ. Năm 1938 Cha cho xuất bản tập 
			Giáo lý cho người Kơho.</font></span></p>
			<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
			<span class="style11"><font face="Arial">Chính nhờ việc hiểu được 
			ngôn ngữ và phong tục tập quán Kơho, Cha Cassaigne đã thực sự trở 
			thành người khai phá, trở thành ÔNG TỔ CỦA CÔNG CUỘC TRUYỀN GIÁO cho 
			người Dân Tộc, và Cha đã thành công trong việc đem Ơn Cứu Độ đến cho 
			rất nhiều người Dân Tộc thuộc các buôn làng trong miền Cao Nguyên Di 
			Linh – Langbiang.</font></span></p>
			<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
			<span class="style11"><font face="Arial">Hoa trái của công cuộc 
			truyền giáo là vào chiều ngày áp lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm, 07.12.1927, Cha 
			Cassaigne đã rửa tội cho bà Ka Trut, một bệnh nhân phong cùi thường 
			xuyên nhận sự giúp đỡ của cha. Bà Maria Ka Trut qua đời ngày 
			20-12-1927 và được an táng ngày 22-12-1927 tại nghĩa trang của người 
			Dân Tộc Di Linh.</font></span></p>
			<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
			<span class="style11"><font face="Arial">Tin Mừng của Chúa đã được 
			người Dân Tộc đón nhận vì họ cảm nghiệm được tình yêu Chúa qua những 
			hành vi bác ái yêu thương của Cha cassaigne. Họ đã thực sự nhận ra 
			Cha Cassaigne yêu thương họ qua việc Ngài yêu thương đón nhận và 
			nuôi dưỡng những anh chị em phong cùi của họ, những con người bất 
			hạnh vì gia đình và buôn làng sợ hãi bị lây nhiễm đã xua đuổi họ vào 
			trong những khu rừng vắng để họ chết dần chết mòn trong nỗi đau thể 
			xác và tinh thần.</font></span></p>
			<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
			<span class="style11"><font face="Arial">Ngày 17-2-1929, Cha 
			Cassaigne đã quy tụ những người bệnh nhân phong cùi và thành lập 
			Trại Cùi Di Linh. Ngài đã xây dựng làng Cùi thành một gia đình ấm 
			cúng che chở những bệnh nhân phong cùi bất hạnh để cho cuộc đời của 
			họ được yên ủi sớm tối có nhau.</font></span></p>
			<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
			<span class="style11"><font face="Arial">Nhưng cuộc sống của cha 
			Cassaigne sắp thay đổi một cách bất ngờ. Ngày 20-2-1941, ngài nhận 
			được một bức điện tín khiến ngài buồn bã. Thật là bất thường khi 
			nhìn thấy ngài trong trạng thái này, đến nỗi người ta phải dò hỏi 
			ngài. <i>“Họ đã tấn công dồn dập bắt tôi làm Giám Mục&quot;</i>, ngài càu 
			nhàu trả lời. Quả thật, Đức Giám Mục Sài-gòn vừa qua đời năm vừa rồi 
			và Tòa Thánh trong thời kỳ khó khăn này, tìm một người để kế vị và 
			đã chọn vị Linh Mục của người phong cùi. Vị Thừa Sai phải rời bỏ Di 
			Linh. Sự chia ly rất đau lòng cho cả hai phía: anh em Thượng và nhất 
			là những bệnh nhân phong cùi mất người cha của họ; vị Linh Mục phải 
			xa con cái ngài. Dù vậy vị Thừa Sai không do dự khi vâng lời Tòa 
			Thánh với đức tin và can trường: </font><i><font face="Arial">“T</font></i></span><em><font face="Arial">ôi 
			là kẻ từng </font></em><span class="style11"><i><font face="Arial">
			mơ thành một Thừa Sai tầm thường</font></i></span><em><font face="Arial">. 
			Tôi, kẻ đã coi sự nghèo khó của mình là niềm hãnh diện và niềm vui, 
			lại trở thành một hoàng tử của Giáo Hội. Nhưng, dù người ta sẽ thay 
			y phục và chỗ ở của tôi, song chẳng ai thay được con người chất phác 
			nơi tôi”</font></em><span class="style11"><font face="Arial">. Những 
			lời lẽ thật khiêm nhường. Khẩu hiệu Giám mục là “Bác Ái và Yêu 
			Thương” đã nói lên điều đó.</font></span></p>
			<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
			<span class="style11"><font face="Arial">Ngày 24-6-1941, ngay từ 7 
			giờ sáng, chuông các Nhà Thờ Sàigòn đồng loạt đổ vang, báo tin lễ 
			tấn phong Đức Cha Cassaigne. Nghi lễ diễn ra ở Nhà Thờ Chính Tòa. 
			Đám đông ken dày, có những bạn bè đến từ khắp nơi... và những anh em 
			Thượng đi thành đoàn đại diện. Các anh em Thượng bận y phục ngày lễ; 
			họ làm khách tham dự thấy vui thích, mặc dù nhiều người An Nam tỏ ra 
			khó chịu trước cảnh tượng ấy. Nghi lễ Phụng Vụ dài, quá dài đối với 
			anh em Thượng. Họ liền rời chỗ để đi tham quan tháp chuông. Khi ra 
			khỏi Nhà Thờ Chính Tòa và bị đám đông xô lấn khiến họ hoảng sợ, họ 
			liền trèo lên cây cao để nhìn đám rước. Đức Cha Cassaigne mỉm cười 
			khi nhìn thấy họ.</font></span></p>
			<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
			<span class="style11"><font face="Arial">Tân Giám Mục bắt tay vào 
			công việc. Đó là một con người đơn sơ. Lối vào Tòa Giám Mục rộng mở 
			tự do và bất cứ ai cũng có thể gõ cửa văn phòng của ngài. Các nhân 
			chứng ngày nay vẫn còn nhớ lại đã thấy ngài đi xe đạp hoặc xe Vespa 
			thăm các khu nghèo ở Sàigòn. Ngài dong duổi khắp địa phận rộng lớn 
			của Ngài.</font></span></p>
			<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
			<span class="style11"><font face="Arial">Ngày 19-12-1954, vào dịp kỷ 
			niệm thụ phong Linh Mục của Ngài, Đức Cha Cassaigne dâng Thánh Lễ Tạ 
			Ơn. Nhưng trong khi cử hành Thánh Lễ, ngài thấy trên mặt da mình, 
			chỗ phía trên cổ tay một chút, có một vết đỏ hồng màu rượu. Khi 
			Thánh Lễ kết thúc, ngài lấy một cái kim châm vào chỗ ấy: hoàn toàn 
			không cảm thấy đau ! Ngài hiểu đó là BỆNH CÙI. </font></span><em>
			<font face="Arial">“Linh Mục dâng hiến tế Thánh Thể, cũng phải trở 
			thành hy vật”</font></em><span class="style11"><font face="Arial">, 
			sau này ngài sẽ viết như thế. Công việc vất vả sáu tháng vừa qua đã 
			làm cho các bộ phận cơ thể Ngài vốn mệt mỏi, lại bị suy yếu, đến nỗi 
			bệnh cùi nằm phục từ lâu, nay phát tác.</font></span></p>
			<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
			<span class="style11"><font face="Arial">Đức Cha Cassaigne giữ bí 
			mật tin này, chỉ cho các bề trên của ngài biết. Thuốc điều trị do 
			các bác sĩ cho, đã làm Ngài suy kiệt. Sẽ phải mau chấm dứt thôi ! 
			Vết hồng lan rộng gấp đôi. Ngày 5-3-1955, Ngài viết cho cha bề trên 
			Hội Thừa Sai Paris: </font><i><font face="Arial">“</font></i></span><em><font face="Arial">Tôi 
			xin Cha cho phép tôi nộp đơn từ chức sang Tòa Thánh và rút lui về 
			Trại Phong Di Linh, bên cạnh những con cái mà tôi yêu thương nhất và 
			Chúa quyền uy, với lòng nhân ái vô biên, đã cho tôi được nên giống 
			như họ</font></em><span class="style11"><font face="Arial">&quot;.</font></span></p>
			<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
			<span class="style11"><font face="Arial">Lời cầu xin của ngài được 
			chấp thuận và Tòa Thánh bổ nhiệm một Giám Mục kế vị Ngài, Đức Cha 
			Simon-Hòa Nguyễn Văn Hiền, được tấn phong trong Nhà Thờ Chính Tòa 
			của ngài ngày 30-11-1955. Ngày 02-12-1955, Đức Cha Cassaigne trở về 
			Di Linh.</font></span></p>
			<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
			<span class="style11"><font face="Arial">Từ đây, Đức Cha dành trọn 
			cuộc đời còn lại để sống giữa những người con cái để âm thầm yêu 
			thương và phục vụ Trại Phong Di Linh. Tháng 2-1973 Đức Cha bị té gẫy 
			xương bên đùi phải, và chính vì vết thương này mà Ngài phải trải qua 
			gần 8 tháng liệt giường. Bên giường bệnh, Đức Cha nói với người nữ 
			tu chăm sóc Ngài và một số bệnh nhân thay phiên trực: </font><i>
			<font face="Arial">“</font></i></span><em><font face="Arial">Suốt 47 
			năm dài (1926-1973), cha đã sống giữa các con, đã sống tại Việt <st1:country-region w:st="on"><st1:place w:st="on">
			Nam</st1:place></st1:country-region>
			này và đã dâng hiến tất cả cho các con. Giờ đây cha không còn tiếc 
			gì về sự dâng hiến toàn diện ấy. <b>Việt Nam chính là quê hương thứ 
			hai của cha, bởi vì Chúa muốn như vậy</b>. Khi về với Chúa, cha vẫn 
			ở với các con, các con đừng lo…”.</font></em></p>
			<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
			<span class="style11"><font face="Arial">&nbsp;&nbsp; Thứ bảy ngày 20-10-1973, 
			Đức Cha bắt đầu trở bệnh nặng với những cơn đau khiến phải phải thốt 
			lên: </font><i><font face="Arial">“</font></i></span><em><font face="Arial">Tôi 
			đau đớn lắm, tôi đau đớn quá”</font></em><span class="style11"><font face="Arial">. 
			Mười ngày trôi qua, vào lúc 10 giờ đêm ngày 30-10-1973, Đức Cha lãnh 
			nhận bí tích Xức dầu lần cuối do cha sở họ Di Linh và rạng sáng hôm 
			sau Đức Cha đã được Chúa gọi về hồi 01 giờ 25. Đức Cha được an táng 
			bên nhà nguyện Trại Phong ngày 05-11-1973.</font></span></p>
			<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
			<span class="style11"><b><font face="Arial">NẢY MẦM ĐỨC TIN</font></b></span></p>
			<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
			<span class="style11"><font face="Arial">Cha Phanxicô Darricau, một 
			linh mục thuộc Hội Thừa Sai Paris, đã viết về sự kiện Đức Cha 
			Cassaigne trở lại làng cùi Di Linh như sau: </font><i>
			<font face="Arial">“</font></i></span><em><font face="Arial">Ngài đã 
			về và đã được đón tiếp trọng hậu, tôn kính. Nhưng nhà chưa xây ngay 
			được nên ngài đã đến ở chung với tôi tại Ka-la, cách trại phung hai 
			cây số. Nhà xứ của tôi nhỏ, không cung cấp nổi cho ngài một căn 
			phòng riêng. Ngài cũng không muốn lấy phòng của một đồng nghiệp. 
			Chúng tôi lấy tấm màn ngăn phòng ăn làm đôi, một bên là giường nhỏ 
			của ngài, một bên là cái bàn ăn. Suốt trong 6 tháng, chúng tôi có 
			niềm vui được sống chung với nhau. Sau đó ngài tới sống tại căn nhà 
			dành riêng cho ngài ở trại cùi. Nhưng trưa nào ngài cũng về Ka-la 
			dùng bữa với tôi, khẩu phần có khá hơn trong trại. Bao nhiêu sức lực 
			còn lại ngài dành để phục vụ trại phong. Sức ngài giảm nhiều so với 
			trước kia, do những đau đớn của căn bệnh…”</font></em><span class="style11"><font face="Arial">.</font></span></p>
			<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
			<span class="style11"><font face="Arial">Cha Christian Grison, người 
			quản nhiệm cuối cùng của Trung tâm Thượng Di-linh (từ 1965 đến 
			1975), người đã gần gũi với Đức Cha Cassaigne trong mười năm cuối 
			cùng của ngài tại làng cùi Di-linh, đã viết về Vị Tông đồ người 
			phong cùi như sau: </font><i><font face="Arial">“</font></i></span><em><font face="Arial">Tôi 
			được phúc sống mười năm gần Đức Cha Cassaigne, vì thời gian đó tôi 
			phụ trách xứ đạo thượng tại Di-linh. Tôi đã chứng kiến tình cảm ưu 
			ái mà ngài khơi dậy khi ngài trở nên nhỏ bé với những kẻ nhỏ bé, trở 
			nên phong cùi với những người phong cùi. Sự mến phục người ta dành 
			cho ngài đó, không bao giờ ngài sử dụng vì lợi ích riêng của mình; 
			tất cả được hướng về sự cứu trợ cho người phong cùi. Mối quan tâm 
			duy nhất của ngài, tôi có thể nói là nổi ám ảnh đối với ngài cho đến 
			khi ngài chết, đó là tìm nguồn tài trợ cho làng cùi</font></em><span class="style11"><font face="Arial">…<i>”</i>.</font></span></p>
			<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
			<span class="style11"><font face="Arial">Ngày 26-7-2007, bà Maria 
			Nguyễn Thị Lệ, sinh năm 1938 tại Bắc Ninh đã đến viếng mộ Đức Cha và 
			để lại chứng từ: </font><i><font face="Arial">“</font></i></span><em><font face="Arial">Tôi 
			sinh sống tại khu phố III (ấp Tân Xuân) thị trấn Di Linh từ năm 1975 
			đến 1983. tôi bị bệnh thấp khớp và đặc biệt là bị đau buốt dây thần 
			kinh tọa. Một bác sĩ cho biết bệnh tôi rất khó chữa, nhưng tôi cũng 
			kiên trì chịu đựng và chỉ uống một số thuốc đau nhức thông thường 
			nên chỉ giảm đau chốc lát, vì nghèo không có tiền đi bệnh viện. Năm 
			1983 tôi bị những cơn đau dữ dội, lết đi không nổi, đau đớn đến độ 
			chán nản thất vọng vì bệnh tật, đau khổ vì hoàn cảnh nghèo khổ cơ 
			cực, bữa no bữa đói... dầu vậy, tôi không bỏ Chúa, cố gắng bước đi 
			chậm chạp, đau buốt với một bàn chân bị sưng tấy nặng nề. Khoảng 
			tháng 6/1983, sau giờ chầu Thánh Thể ban chiều, tôi đến trước tượng 
			Đức Cha Cassaigne ở cuối nhà thờ vừa khóc vừa than vì sự đau đớn, 
			nghèo nàn của mình và tôi thưa với Đức Cha: Cha ơi, thương con, kẻo 
			con chết vì con đau đớn quá, con nghèo khổ chẳng có tiền chữa bệnh, 
			con chỉ muốn chết cho yên, con xin Đức Cha cầu xin Chúa và Đức Mẹ 
			cất bệnh đau đớn cho con, nếu đẹp lòng Chúa và Đức Mẹ; còn nếu 
			không, thì xin Đức Cha thêm sức cho con để con chịu dựng cơn bệnh 
			này cho nên. Từ từ, ngày qua ngày, con cảm thấy sự đau buốt giảm 
			dần, và sau một thời gian con khỏi bệnh hẳn, đi đứng bình thường. 
			Cuối năm 1983 con bỏ Di Linh về Đắc Nông với gia đình người con để 
			làm ăn, cho đến nay là 24 năm con lành bệnh. Con xin tạ ơn Chúa tạ 
			ơn Đức Cha Cassaigne. Con, Maria Nguyễn Thị Lệ”</font></em><span class="style11"><font face="Arial">.</font></span></p>
			<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
			<span class="style11"><font face="Arial">Một chứng từ khác do bác sĩ 
			K’Đỉu chia sẻ bên phần một Đức Cha Cassaigne trong đêm canh thức dịp 
			lễ Giỗ năm 2007: </font><i><font face="Arial">“</font></i></span><em><font face="Arial">Dân 
			gian thường nói: Không có mợ, chợ cũng đông! Nhưng với Trại Phong 
			chúng con nói chung và bản thân con nói riêng, trải qua kinh nghiệm 
			của cuộc sống, con đã nhận ra rằng: nếu không có sự hiện diện của 
			Đức Cha Jean Cassaigne thì có lẽ không có Trại Phong Di Linh và chắc 
			chắn cũng không có con trên cuộc đời này. Nhưng nhờ tình yêu thương 
			của Đức Cha đã giúp ba mẹ con can đảm sống với căn bệnh đáng sợ mà 
			còn được hạnh phúc vì được làm con Chúa.</font></em></p>
			<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
			<em><font face="Arial">Khi Đức Cha ra đi về với Chúa, thì con mới 
			được 5 tuổi, với thời gian đó và tuổi thơ, con chưa biết Đức Cha 
			được bao nhiêu. Nhưng càng ngày qua các biến cố của cuộc đời, con đã 
			nhận ra từng bước bàn tay yêu thương quan phòng của Chúa dìu dắt 
			chúng con, như lời Đức Cha đã hứa: Trên thiên đàng, cha sẽ biết được 
			nhiều, biết rõ hơn về nhu cầu của chúng con; cha sẽ cầu nguyện đắc 
			lực và nhiều hơn gấp bội cho chúng con.</font></em></p>
			<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
			<em><font face="Arial">Với ngọn đèn rực sáng đức tin và tình bác ái 
			mà Đức Cha đã thắp sáng bằng sự dâng hiến tất cả cho Chúa và cho 
			chúng con, và với lời cầu bầu của Đức Cha bên cạnh Chúa mà con đã 
			nhận được biết bao hồng ân trong cuộc sống: được dạy dỗ nuôi nấng, 
			được yêu thương chăm sóc, và được học hành như bao người khác, có 
			thể nói còn hơn nhiều người khác nữa. Nhờ tình thương và hồng ân của 
			Đức Cha, nhờ những người đã tiếp nối vòng tay yêu thương của Đức Cha 
			và nhờ những ân nhân xa gần mà ngày hôm nay, có thể nói được, là con 
			đã thành đạt trong cuộc sống, có chỗ đứng trong xã hội: con đã là 
			bác sĩ chuyên khoa ngoại, điều vượt ra ngoài mơ ước của con.</font></em></p>
			<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
			<em><font face="Arial">Đây là cảm nghiệm của riêng con, xin được 
			chia sẻ như một chứng từ về tình yêu thương mà Đức Cha cố dành cho 
			chúng con”</font></em><span class="style11"><font face="Arial">.</font></span></div>
		</td>
	</tr>
	<tr>
		<td>
		&nbsp;</td>
	</tr>
	<tr>
		<td>
		<table border="0" width="100%" cellspacing="0" cellpadding="0">
			<tr>
				<td width="50%">
				<table border="0" width="100%" cellspacing="0" cellpadding="0">
					<tr>
						<td width="67">
						<p style="margin-top: 0; margin-bottom: 0">
						<a target="_top" href="../../DocGia_INDEX.htm">
						<img border="0" src="../../../_Images/LOGOtinmung2.gif" width="67" height="40"></a></td>
						<td>
				<p style="margin-left:15px; margin-top:0; margin-bottom:0" align="left">
		<font size="2"><b>
		<a style="text-decoration: none" target="_top" href="../../DocGia_INDEX.htm">
		<span style="text-decoration: none">Trang Độc Giả</span></a></b></font></td>
					</tr>
				</table>
				</td>
				<td width="50%">
				<table border="0" width="100%" cellspacing="0" cellpadding="0">
					<tr>
						<td>
				<p style="margin-right:15px; margin-top:0; margin-bottom:0" align="right">
		<font color="#FF5328" face="Arial" size="2"><b>
		<a style="text-decoration: none" target="_top" href="../../../index.htm">Trang Nhà</a></b></font></td>
						<td width="67">
<p style="margin-top: 0; margin-bottom: 0">
<font size="2">
<a target="_top" href="../../../index.htm">
<img border="0" src="../../../logo/LOGOtinmung.gif" width="67" height="40"></a></font></td>
					</tr>
				</table>
				</td>
			</tr>
		</table>
		</td>
	</tr>
</table>

</body>

</html>

PHP File Manager