File "giaohoanghocvien.htm"
Full path: E:/sites/Single15/tinmung2007/webroot/ChuaNhat VI PS/giaohoanghocvien.htm
File size: 21.09 KiB (21597 bytes)
MIME-type:
Charset: utf-8
<html>
<head>
<meta http-equiv="Content-Language" content="en-us">
<meta http-equiv="Content-Type" content="text/html; charset=utf-8">
<title>Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật VI Phục Sinh</title>
<base target="main">
<meta name="keywords" content="Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật VI Phục Sinh, suy niệm, tin mừng, DongCong">
<!--mstheme--><link rel="stylesheet" type="text/css" href="../_themes/suyniem3/suyn1011-109.css"><meta name="Microsoft Theme" content="suyniem3 1011">
</head>
<body>
<table border="0" width="500" cellspacing="10" style="border-color: #FFFFFF; font-family:Arial; font-size:12pt; text-decoration:none" bgcolor="#FFFFFF">
<!-- MSTableType="nolayout" -->
<tr>
<td width="460">
<font size="2" color="#FF0000">
Chúa Nhật VI Phục Sinh</font></td>
</tr>
<tr>
<td width="474" style="font-family: Arial; font-size: 12pt; text-decoration: none; font-weight: bold; text-align: center">
<b><span style="font-family: Arial,sans-serif">SỰ
HIỆN DIỆN LIÊN TỤC CỦA CHÚA GIÊSU</span></b></td>
</tr>
<tr>
<td width="474" style="font-family: Arial; font-size: 8pt; text-decoration: none; font-style:italic; text-align:right">
<span style="font-size: 8pt; font-family: Arial,sans-serif; font-weight: 400; font-style: italic">Chú giải của Giáo Hoàng
Học Viện Đà Lạt</span></td>
</tr>
<tr>
<td width="474" style="text-align: justify; font-family:Arial; font-size:12pt; text-decoration:none">
<p class="MsoNormal"><span style="font-family: Arial,sans-serif">1. Chúa
Giêsu kêu gọi các môn đệ đừng bối rối trước viễn ảnh ra đi của Ngài
(c.1): Chúa Cha sắp gởi đến cho họ một đấng phù trợ khác trong ngôi vị
Thánh Thần (c.16-17); còn Ngài, Ngài sắp trở lại với họ dưới một hình
thức mà thế gian không thấy, nhưng những ai tin vào Ngài mới thấy
(c.18-21).</span></p>
<p class="MsoNormal"><span style="font-family: Arial,sans-serif">Việc
Thiên Chúa đến ở đây khác xa với ý nghĩ của những người Do thái cũng như
của các môn đệ. Được nuôi dưỡng bằng những câu chuyện Cựu Ước, các thị
kiến tiên tri, các quang cảnh có tính cách Khải huyền, họ mơ đến một
cuộc thần hiện dị thường, chói lòa vinh quang Thiên Chúa (Is 60), một
cuộc phán xét toàn diện chấm dứt dòng lịch sử để thiết lập vương quyền
Thiên Chúa và các thánh (Đn 7). Giuda bày tỏ sự ngạc nhiên của tất cả
các môn đệ: “Thưa Ngài tại sao có thế này: là Ngài chỉ tỏ mình ra cho
chúng tôi, chứ không cho thế gian?” (c.22). Ông ta mơ đến một cuộc hiển
hiện khả giác. Ông không hiểu rằng việc Chúa Giêsu và thánh linh chỉ
được nhận biết trong đức tin.</span></p>
<p class="MsoNormal"><span style="font-family: Arial,sans-serif">Thoạt
nhìn, câu trả lời của Chúa Giêsu (c.23) như bất biết câu hỏi và sự ngạc
nhiên của Giuda. Thực ra Ngài trực tiếp trả lời câu hỏi đó, khi loan báo
sự mạc khải mầu nhiệm của Ngài và nói lên nguyên nhân khiến thế gian
không hiểu được mạc khải ấy. Ngài bỏ qua mọi viễn tượng cánh chung, để
chỉ nói việc Thiên Chúa đến trong Giáo hội và trong thời gian. Đó là một
quan điểm hoàn toàn mới mẻ được đưa vào nhân câu hỏi của Giuda.</span></p>
<p class="MsoNormal"><span style="font-family: Arial,sans-serif">Để tiếp
đón Thiên Chúa, phải tin nhận lời Ngài và đáp trả bằng tình yêu. Tất cả
truyền thống Thánh kinh đã tuyên bố như vậy. Biết Thiên Chúa là có tương
quan với Ngài trong nội tâm và tình yêu. Tám thế kỷ trước Chúa Giêsu,
Ôse đã loan báo sự cứu độ Israel như là cuộc đính hôn và biểu thị đặc
tính của nó bằng sự “nhận biết” Thiên Chúa: “Ta sẽ đính hôn với ngươi
muôn thuở, cưới ngươi trong công bình, chính trực, dịu hiền và yêu mến;
Ta sẽ đính ước với ngươi trong chung thủy, và ngươi sẽ biết Giavê” (Os
2,20-22). Theo kiểu nói phúc âm, các môn đệ biết rằng yêu Chúa Giêsu đầu
tiên cốt tại “giữ lời Ngài” (c. 15 và 21), nghĩa là nhận ra trong sứ
điệp của Ngài những đòi hỏi và những ân huệ của tình yêu Thiên Chúa và
đáp trả bằng sự dấn thân cả đời sống cách đích thực và quảng đại.</span></p>
<p class="MsoNormal"><span style="font-family: Arial,sans-serif">Đối với
những ai yêu Ngài như thế, Chúa Giêsu hứa hẹn rất tuyệt diệu Ngài không
nói đến tình yêu mà NGÀI đương nhiên dành cho họ, nhưng Ngài loan báo
cho họ tình yêu và hồng ân kỳ diệu của Chúa Cha: đó là cùng với Chúa Con
(c.18-21), chính Chúa Cha sẽ đến ở với các tín hữu. Các Ngài sẽ đến cư
ngụ trong họ như trong đền thờ của mình (x.4,21-24).</span></p>
<p class="MsoNormal"><span style="font-family: Arial,sans-serif">Cựu Ước
đã biết việc Thiên Chúa đến, ví dụ việc Ngài đến thăm Abraham dưới cây
sồi Membré (St 18,1-15), nhưng đó chỉ là một sự gặp gỡ tạm thời dưới
hình dáng bên ngoài. Các tiên tri đã loan báo một cuộc thần hiện vinh
quang vào thời cánh chung (Is 60), nhưng sự thể hiện kỳ diệu này không
để chỗ cho sự thân mật sâu xa giữa Thiên Chúa và tín hữu Ngài, với lại
không có vấn đề cho cuộc sống này. Còn Chúa Giêsu hứa ban cho các người
của Ngài, ngay từ đời này, được kết hợp thân mật cá vị với Thiên Chúa
trong chốn sâu thẳm của đời sống Ba Ngôi. Ngài không dùng chữ “tỏ mình”
nữa (c.21) vì trong câu hỏi của Giuda, chữ đó dễ gây hiểu lầm (c.22).
Việc Thiên Chúa đến mà Ngài loan báo vượt lên trên tất cả những mơ tưởng
của Do thái giáo và những kỳ vọng của các tiên tri: đó là sự hiện diện
trực tiếp của chính Thiên Chúa trong nội tâm và tình yêu; lời hứa tuyệt
vời của phúc âm là vậy.</span></p>
<p class="MsoNormal"><span style="font-family: Arial,sans-serif">Những
ai chối từ tình yêu Thiên Chúa (c.24) thì không thể thấu triệt việc
Thiên Chúa Ba Ngôi đến cách vô hình mà Chúa Giêsu vừa loan báo cho những
ai yêu mến Ngài. Họ không “biết” Chúa Giêsu vì đã khước từ sứ điệp của
Ngài. Họ không thể “biết” Chúa Cha, nguồn sứ điệp này (3,31-34; 5,37-38;
7,16-17; 8,47; 12,48-50). Ở đây, Giuda tìm thấy lời giải đáp cho câu hỏi
của ông: chỉ biết được Chúa Giêsu nhờ đức tin (1,9-12), Ngài chỉ tỏ mình
ra cho những kẻ tin (14,19).</span></p>
<p class="MsoNormal"><span style="font-family: Arial,sans-serif">Đã có
một thời gian Chúa Giêsu hiện diện cách hữu hình với môn đệ; họ có thể
nghe lời Ngài qua giác quan (c.25). Nhưng bây giờ thời gian này không
còn nữa, và phục sinh sắp mở đầu một thời gian mới trong đó tương quan
giữa thày và trò thay đổi cách thức (Lc 24,44). Sự lưu truyền lời chúa
phán trong cuộc đời tại thế vẫn còn. Và chính sự lưu truyền này phát
sinh ra phúc âm. Tuy nhiên nó sẽ được đổi mới hoàn toàn.</span></p>
<p class="MsoNormal"><span style="font-family: Arial,sans-serif">2. Thật
vậy, sự lưu truyền lời Chúa Giêsu trong Giáo hội không phải là một sự
tồn kho bất động, một việc sưu tập những lời cổ kính, bởi lẽ chính Thánh
Thần làm nên sự lưu truyền này (c.26). Theo các lời từ biệt khác của
Chúa Giêsu, Thánh thần là đấng bàu chữa công lý bênh vực Chúa Giêsu và
môn đệ của Ngài trước tòa án của thế gian này (15,16; 16,7-11; Mt 10,20;
Mc 13,11; Lc 12,12). Ở đây cũng như trong các tiên tri, Ngài (Chúa Thánh
Thần) là đấng linh ứng lời Thiên Chúa. Trong sứ mệnh tại thế, Chúa Giêsu
đã nói được “những lời của Thiên Chúa, Đấng ban dư đầy THÁNH THẦN cho
Ngài” (Ga 3,34) những lời này là “thần trí và là sự sống” (Ga 6,63). Và
nếu Thánh Thần được ban cho môn đệ trong ngày phục sinh (Ga 20,22;
7,37-39), đó là để đặc biệt nhắc nhở họ nhớ lại sứ điệp. Không phải một
việc ghi vào ký ức cách vật chất; thánh Gioan hai lần ghi chú trong phúc
âm là các môn đệ chỉ thấu triệt ý nghĩa lời Chúa Giêsu cũng như các hành
động của Ngài khi “nhớ lại” chúng dưới ánh sáng phục sinh (Ga 2,22;
12,16), nghĩa là dưới sự thúc đẩy của Chúa Thánh thần, Đấng giúp họ quán
triệt ý nghĩa thâm sâu. (Vai trò soi chiếu của Thánh Thần đã được phác
họa trong Ga 16,12-14).</span></p>
<p class="MsoNormal"><span style="font-family: Arial,sans-serif">Chúa
Giêsu đã loan báo trong diễn từ (14,16) là sẽ xin Cha sai Thánh Thần bàu
chữa đến với họ. Ở đây Ngài cũng thêm là Cha sẽ sai đến nhân danh Ngài.
Cả hai cách nói tương đương và tạo nên một trong những công thức chính
xác rõ ràng nhất về thần học Thiên Chúa Ba Ngôi trong Tân Ước. Thiên
Chúa Ba Ngôi hiện diện trong tín hữu, có cùng một mục đích là làm cho họ
nhận biết sứ điệp Thiên Chúa và cho họ thông hiệp vào mầu nhiệm sự sống
của Ngài.</span></p>
<p class="MsoNormal"><span style="font-family: Arial,sans-serif">3. Khi
đã bảo đảm cho họ về một ánh sáng sống động sắp đến, Chúa Giêsu mới có
thể từ giã họ. Ngài từ giã theo phong tục người Do thái, với lời chào:
Shalôm: bình an. Tuy nhiên đây không phải là một lời từ giã thông
thường: “Ta ban bình an của Ta cho các con”. Thế gian chỉ có thể chúc
bình an, còn Ngài ban bình an, bình an riêng của Ngài. Theo não trạng
người Hy Bá, chữ “bình an” diễn tả một cái gì còn hơn sự an tĩnh của tâm
hồn. Nó bao gồm tất cả những thiện hảo mà người ta có thể cầu chúc; đó
chính là sự an lạc. Nhưng sự bình an của Chúa Phục sinh (20,19.21.26)
còn hơn sự an lạc vật chất hay hạnh phúc nhân bản. Bình an hệ tại việc
chiếm hữu chân lý (theo nghĩa đã giải thích ở trên) với sự hiện diện
viên mãn của Thiên Chúa. Sự chiếm hữu này làm cho các môn đệ thoát khỏi
những thăng trầm của cuộc sống này, bằng cách bảo đảm cho họ rằng họ sẽ
vượt qua tất cả các chướng ngại vật thế gian gây ra cho các việc chứng
nhân của họ: “Hãy vững lòng, Ta đã thắng thế gian” (16,33). Lời từ biệt
này có thể làm cho họ bối rối (14,1), nhưng họ chẳng có gì phải sợ, vì
sự ra đi này không phải là một sự chia cách.</span></p>
<p class="MsoNormal"><span style="font-family: Arial,sans-serif">4. “Cha
lớn hơn Ta”. Các giáo phụ và các thần học gia, nhất là những vị đã từng
tranh luận về Thiên Chúa Ba Ngôi, đã bối rối vì mấy chữ đó, và đã dựa
vào chúng để bàn cãi sôi nổi về mối liên hệ giữa Ngôi Cha và Ngôi Con,
cũng như việc phân biệt hai bản tính trong Đức Kitô và về nguồn gốc của
Chúa Con. Nhưng những cuộc bút chiến này, nếu không đi sai đường, thì
cũng đi vào ngõ cụt. Tình yêu của môn đệ chỉ nhằm đến vẻ bề ngoài của
con người Chúa Giêsu. Họ còn yêu Ngài trong mức độ họ còn có thể đụng
chạm Ngài dưới hình thức nhân loại của Ngài và tùy theo địa vị mà họ ao
ước nắm giữ trong vương quốc thiên sai. Họ đã phán đoán và yêu Ngài từ
bên ngoài. Nhưng con người của Ngài bám chặt cách thâm sâu vào Chúa Cha,
Cha trở nên hữu hình trong Ngài (x.14,9). Cái quan trọng không phải là
cái mà họ đã nắm chắc được nơi Ngài cho tới bây giờ, nhưng là Chúa Cha
qua Ngài. Chính trong nghĩa này mà Gioan đã có thể viết mà không sợ đụng
chạm đến đức tin tí nào: “Cha trọng hơn Ta”, có nghĩa là trọng hơn cái
mà các con đã thấy nơi ta. Chúa Giêsu kém cao trọng xét như là người mạc
khải Cha. Sự phân biệt đó không nhằm đối chiếu bản tính loài người và
bản tính Thiên Chúa (như truyền thống đã cắt nghĩa) nhưng nhằm đối chiếu
cái môn đệ hình dung, trình bày về Ngài (sa “prêsentation humaine”)
(trong tư thế một vị thiên sai) với ý nghĩa thiện linh trọn vẹn của Ngài
(sa pleine signification divine) là mạc khải Chúa Cha. Đây là vấn đề
nhận biết Chúa Cha trong Chúa Giêsu. Khi các môn đệ nhận biết điều đó
rồi, thì không còn vấn đề hơn thua, vì Cha và Ngài chỉ là một.</span></p>
<p class="MsoNormal"><b><span style="font-family: Arial,sans-serif">KẾT
LUẬN</span></b></p>
<p class="MsoNormal"><span style="font-family: Arial,sans-serif">Nhờ suy
tư sau khi gần hoàn tất phúc âm, thánh Gioan ngày càng thấu triệt khiếm
diện và hiện diện của Chúa Giêsu trong các môn đệ. Từ lúc Chúa chết trên
thập giá, ông đã sống trong sự khiếm diện siêu việt của Chúa. Ông có thể
kết luận cuốn phúc âm của mình: “Phúc cho những ai không thấy mà tin”
(Ga 20,29). Vì ông kinh nghiệm rằng sự hiện diện của Chúa Giêsu đối với
các môn đệ không cốt tại các thị kiến phi thường, cũng không phải trong
các lần hiện ra ngắn ngủi và dành riêng cho một vài nhân chứng sau khi
sống lại, nhưng sự hiện diện luôn có đối với những ai tìm kiếm Ngài với
niềm tin. Được nâng lên trong vinh quang Thiên Chúa, hiệp nhất cách mầu
nhiệm với Cha và Thánh Thần, Đấng Phục sinh đã từ bỏ đời sống trần thế,
là đời sống đã làm cho Ngài có thể nhận biết một cách khả giác. Nhưng
khuất mắt ta để từ đây luôn luôn hiện diện với chúng ta theo cách thế
của Thiên Chúa (Mt 28,20)</span></p>
<p class="MsoNormal"><b><span style="font-family: Arial,sans-serif">Ý
HƯỚNG BÀI GIẢNG</span></b></p>
<p class="MsoNormal"><span style="font-family: Arial,sans-serif">1. Trái
ngược với việc tuân giữ cách máy móc và mệt nhọc những giới luật tỉ mỉ,
không sống động, thích hợp chút nào với tâm hồn tín hữu, Chúa Giêsu
thiết lập các tương quan giữa Ngài với các môn đệ trên mối liên lạc tình
yêu. Để thấy Chúa Giêsu, để sống nhờ Ngài, với Ngài, thì phải “giữ lời
Ngài” (c.24). Sự sống này, như Chúa Giêsu xác định, là chính sự sống của
Ngài nhận từ Cha, sự sống mà Ngài có với Cha, nghĩa là mối dây tình yêu.</span></p>
<p class="MsoNormal"><span style="font-family: Arial,sans-serif">2. Lúc
sắp lìa xa các môn đệ, lúc sắp được nâng lên, Đức Kitô loan báo cho họ
biết Ngài hằng hiện diện luyôn mãi qua lời Ngài. Bài giã từ trong chương
14 của Gioan không mang một mục đích nào khác ngoài việc tỏ cho biết sự
hiện diện mới mẻ này.</span></p>
<p class="MsoNormal"><span style="font-family: Arial,sans-serif">Đối với
người Semit, lời nói là cái gì cụ thể; cũng như tên gọi, lời nói là biểu
thức của một hữu thể, một ngôi vị; hơn tất cả các phương tiện khác, nó
bảo đảm được mối giây liên lạc sống động mà mỗi người cố nối kết với tha
nhân; đó là cơn mưa đưa sự sống đến cho trái đất, làm nẩy mầm những hạt
lúa sẽ trở thành cơm bánh (Is 55,8-11)</span></p>
<p class="MsoNormal"><span style="font-family: Arial,sans-serif">Sự hiện
diện của Chúa Giêsu đã biến đổi cuộc đời các tông đồ khi đi sâu vào
trong những xác tín của họ. Lúc Chúa Giêsu rời bỏ họ, họ nhớ lại kinh
nghiệm đặc biệt mà họ vừa có mà Chúa Giêsu tóm lại trong một chữ: Lời
ta. Bằng ấy nói lên tất cả con người của Ngài đối với họ (x.1Ga 2,23;
4,15; 2Ga 9).</span></p>
<p class="MsoNormal"><span style="font-family: Arial,sans-serif">Sự hiện
diện này sẽ sinh hiệu quả trong họ như sự hiện diện của Thiên Chúa đã
sinh hiệu quả suốt lịch sử Israel. Sự hiện diện đó là Shékinah đã theo
dân trong sa mạc, đã bao phủ đền thờ trong ngày Salomon cung hiến, đã
nâng đỡ những người bị lưu đày, đã hoàn lại sự sống cho “nhóm còn lại”,
đã ngập tràn tâm hồn mỗi người trong niềm mong chờ sự hiện diện sung
mãn.</span></p>
<p class="MsoNormal"><span style="font-family: Arial,sans-serif">Khi
theo Chúa Giêsu, các tông đồ đã sống lại lịch sử dân Do thái và thấy
mình được kêu gọi sống thông hiệp thân mật với Đấng đã nói với Môisen
“như bạn nói với bạn” (Xac 33,11).</span></p>
<p class="MsoNormal"><span style="font-family: Arial,sans-serif">Việc
khám phá ra sự hiện diện cao quí vô giá sẽ Giáo hội được thực hiện hàng
ngày, qua kinh nghiệm của cuộc sống thường nhật, dưới sự phù trợ của
Thánh Thần, Đấng làm sống lại tạo vật mới đang thoát dần khỏi bóng tối
của sự bách hại, sự chia rẽ và sự chết. Không gì có thể lay chuyển được
sự hiện diện đó do Thánh Thần ban.</span></p>
<p class="MsoNormal"><span style="font-family: Arial,sans-serif">3. Sự
ra đi của Đức Kitô, tức cuộc tử nạn, Phục sinh của Ngài, là cần thiết để
các tông đồ khám phá một cách rõ ràng Chúa Giêsu là ai: là nhân chứng
đặc biệt của Cha và của tình yêu Ngài. Họ phải khám phá thấy tình yêu đó
còn lớn hơn tất cả những gì họ đã khám phá ra nơi Đức Kitô. Như vậy,
Chúa Giêsu mời gọi họ khám phá ra điều họ đã tiên cảm. Làm sao họ lại
không vui cho được.</span></p>
<p class="MsoNormal"><span style="font-family: Arial,sans-serif">4. Sự
hiện diện hữu hình của Chúa Giêsu không phải là tất cả. Sự hiện diện vô
hình trong tâm hồn cao quí hơn nhiều. Cũng như thánh Phaolô, chúng ta
không nuối tiếc vì đã không sống vào thời phúc âm. Thật là mối nguy hiểm
nếu chỉ nhận biết Chúa Giêsu qua ngoại diện (theo xác thịt) mà không
sống kết hiệp nội tâm với Ngài theo Thánh thần (2Co 5,16).</span></p>
<p class="MsoNormal"><span style="font-family: Arial,sans-serif">5. Tuần
tới, chúng ta sẽ cử hành lễ Chúa Thăng thiên, một cuộc ra đi cần thiết
để ban Chúa Thánh Thần xuống cho ta. Ngay từ bây giờ, chúng ta hãy tin
tưởng mong đợi Chúa Thánh Thần. Để được như vậy, chỉ cần biết chấp nhận
bình an của Đức Kitô và tuân giữ lời Ngài, nghĩa là tin và để lời đó
phát sinh trong ta hoa trái đã được Chúa loan báo trước. Chúng ta sắp
thông phần với hy tế của Ngài, sắp lãnh nhận Ngài làm của ăn; ước gì sự
hiện diện sống động của Ngài là sức mạnh và kiên nhẫn cho chúng ta. Chớ
gì bình an vượt quá mọi sự của Ngài tràn ngập chúng ta.</span></p>
</td>
</tr>
<tr>
<td width="474">
<p style="text-align: center">
<a target="_top" href="http://tinmung.net">
<img border="0" src="../../../../../logo/LOGOtinmung.gif" width="67" height="40"></a></td>
</tr>
</table>
</body>
</html>