File "dinhlapliem.htm"

Full path: E:/sites/Single15/tinmung2007/webroot/ChuaNhat VI PS/dinhlapliem.htm
File size: 27.03 KiB (27679 bytes)
MIME-type:
Charset: utf-8

Download   Open   Back

<html>

<head>
<meta http-equiv="Content-Language" content="en-us">
<meta http-equiv="Content-Type" content="text/html; charset=utf-8">
<title>Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật VI Phục Sinh</title>
<base target="main">
<meta name="keywords" content="Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật VI Phục Sinh, suy niệm, tin mừng, DongCong">
<!--mstheme--><link rel="stylesheet" type="text/css" href="../_themes/suyniem3/suyn1011-109.css"><meta name="Microsoft Theme" content="suyniem3 1011">
</head>

<body>

<table border="0" width="500" cellspacing="10" style="border-color: #FFFFFF; font-family:Arial; font-size:12pt; text-decoration:none" bgcolor="#FFFFFF">
	<!-- MSTableType="nolayout" -->
	<tr>
		<td width="460">
							<font size="2" color="#FF0000">
							Chúa Nhật VI Phục Sinh</font></td>
		</tr>
	<tr>
		<td width="474" style="font-family: Arial; font-size: 12pt; text-decoration: none; font-weight: bold; text-align: center">
							CHỈ CÓ TÌNH THƯƠNG</td>
	</tr>
	<tr>
		<td width="474" style="font-family: Arial; font-size: 8pt; text-decoration: none; font-style:italic; text-align:right">
							<span style="font-size: 8pt; font-family: Arial,sans-serif; font-style: italic">
							Lm. Giuse Đinh Lập Liễm </span></td>
	</tr>
	<tr>
		<td width="474" style="text-align: justify; font-family:Arial; font-size:12pt; text-decoration:none">
		<p class="MsoNormal"><span style="font-family: Arial,sans-serif">A. DẪN NHẬP<br>
		<br>
		Bài Tin mừng hôm nay là một đoạn trích trong bài diễn từ giã biệt của 
		Đức Giêsu (Ga 13,31; 14,31). Việc Đức Giêsu ra đi đã làm cho các môn đệ 
		buồn sầu lo lắng, không biết tương lai sẽ ra sao. Thấy vậy, Đức Giêsu đã 
		trấn an các ông, Người khuyên các ông “đừng xao xuyến và buồn sầu” (Ga 
		14,27), vì Người ra đi rồi sẽ trở lại với các ông bằng một cách thế 
		khác.<br>
		<br>
		Đức Giêsu khuyên các ông hãy giữ mối tinh thắm thiết với Người, đừng 
		“cách mặt xa lòng”, và cách thế để tỏ lòng yêu mến đối với Người là hãy 
		thực hiện những điều Người truyền dạy: ”Nếu các con yêu mến Thầy, thì 
		hãy tuân giữ các giới răn của Thầy”(Ga 14,5). Và tuân giữ lời Người là 
		thước đo cụ thể và chính xác nhất lòng yêu mến của các ông đối với 
		Người.<br>
		<br>
		Đức Giêsu còn cho các ông biết việc Người ra đi thì có lợi cho các ông 
		hơn vì Người có ra đi thì Thánh Thần mới được sai đến để dạy dỗ và nhắc 
		nhở các ông, giúp các ông hiểu thấu đáo hơn những lời nói và việc làm 
		của Người khi còn tại thế: ”Thầy ra đi thì có lợi cho các con. Thật vậy, 
		nếu Thầy không ra đi, Đấng Bảo Trợ sẽ không đến với các con; nhưng nếu 
		Thầy đi, Thầy sẽ sai Đấng ấy đến với các con”(Ga 16,7).<br>
		<br>
		Sau cùng, Đức Giêsu còn hứa ban cho các môn đệ sự bình an riêng của 
		Người. Đây là sự bình an đặc biệt, bình an nội tâm, một sự bình an tuyệt 
		hảo mà chỉ Thiên Chúa mới có thể ban tặng cho chúng ta: ”Thầy để lại 
		bình an cho các con. Thầy ban cho các con bình an của Thầy, Thầy ban cho 
		các con không như thế gian ban tặng”(Ga 14,27).<br>
		<br>
		B. TÌM HIỂU LỜI CHÚA<br>
		<br>
		+ Bài đọc 1: Cv 15,1-2.22-29<br>
		<br>
		Ngay từ ban đầu, Hội thánh cũng gặp một ít trục trặc, nhưng đã được Chúa 
		Thánh Thần hướng dẫn. Số là đang khi Phaolô và Barnabê truyền giáo cho 
		dân ngoại thì có những người Do thái từ Giêrusalem đến buộc dân ngoại 
		tân tòng phải cắt bì và phải tuân giữ luật của Maisen. Hai vị truyền 
		giáo không đồng ý nên trình vấn đề này lên Hội thánh.<br>
		<br>
		Các Tông đồ đã họp hội nghị tại Giêrusalem và ra quyết nghị: những người 
		ngoại tân tòng chỉ phải giữ những cái tối thiểu. Hội nghị đã cử Phaolô, 
		Barnabê và mấy vị khác đến Antiochia với sứ mạng báo tin cho họ: chỉ cần 
		giữ những điều cần thiết, đó là kiêng ăn đồ đã cúng cho ngẫu tượng, 
		kiêng ăn tiết, ăn thịt loài vật không cắt tiết và tránh gian dâm.<br>
		<br>
		+ Bài đọc 2: Kh 21,10-23<br>
		<br>
		Trong một thị kiến khác, thánh Gioan được trông thấy “kinh thành muôn 
		thưở” lý tưởng trong tương lai. Đó là hình ảnh uy nghi của Giêrusalem 
		mới được trình bầy cho chúng ta: <br>
		<br>
		- Thành từ trên trời ngự xuống.<br>
		<br>
		- Rất xinh đẹp và tươi sáng.<br>
		<br>
		- Thành không có đền thờ vì chính Thiên Chúa là đền thờ của thành; thành 
		cũng không có mặt trời mặt trăng vì chính Thiên Chúa là ánh sáng của 
		thành. <br>
		<br>
		- Đó là Hội thánh tương lai trên trời khi vương quốc của Thiên Chúa sẽ 
		đến trong vinh quang trọn vẹn.<br>
		<br>
		+ Bài Tin mừng: Ga 14, 23-29<br>
		<br>
		Bài Tin mừng lấy từ bài diễn từ của Đức Giêsu trong bữa Tiệc Ly, và ý 
		chính là sự ra đi sắp xẩy ra của Người. Người bảo đảm cho các môn đệ 
		rằng Người sẽ không để cho họ mô côi. Dù Người ra đi, Người và họ sẽ 
		không rời nhau. Nếu họ giữ lời Người, họ sẽ được đưa vào trong tình yêu 
		của Chúa Cha và Chúa Con. Chính Thánh Thần sẽ nhắc họ lời Người.<br>
		<br>
		Trong dịp này, Người trấn an các môn đệ trong cuộc ra đi của Người. Vì 
		thế, Người hứa ban cho các ông sự bình an, một thứ bình an đặc biệt mà 
		thế gian không thể ban cho.<br>
		<br>
		C. THỰC HÀNH LỜI CHÚA<br>
		<br>
		Những lời hứa của Đức Giêsu<br>
		<br>
		I. SỰ HIỆN DIỆN MỚI CỦA ĐỨC GIÊSU<br>
		<br>
		1. Sự ra đi của Đức Giêsu<br>
		<br>
		Trong suốt thời gian rao giảng Tin mừng của Đức Giêsu, các môn đệ đã 
		được Người rao giảng về Nước Trời, được nghe những lời Người giảng, 
		chứng kiến những việc Người làm, nhưng các ông chưa hiểu được ý Chúa. 
		Các ông cứ tưởng Chúa mời gọi mình để được hưởng đặc quyền đặc lợi, được 
		ăn trên ngồi trốc, được quyền lãnh đạo và được mọi người tôn trọng trong 
		Nước Người sắp thành lập.<br>
		<br>
		Nhưng không, trong bữa Tiệc Ly, Đức Giêsu nói về sự ra đi của Người: 
		Người sẽ bị bắt, bị đánh dòn, bị giết chết, nhưng sau ba ngày sẽ sống 
		lại. Thật là một tin sét đánh làm cho các ông chao đảo. Các ông chìm vào 
		sự đau buồn trước viễn cảnh mất Người. Họ không muốn Người đi, họ muốn 
		giữ Người lại vì “Ra đi là chết trong lòng một ít”.<br>
		<br>
		Các ông cảm thấy lo sợ vì như sống trong cảnh rắn mất đầu, các ông sẽ 
		phải cô đơn, phải gặp nhiều trắc trở và gian nan thử thách. Tương lai 
		còn mù mịt, không biết số phận mình sẽ rao sao. Đức Giêsu hiểu rõ tâm 
		trạng của các ông.<br>
		<br>
		2. Những lời khích lệ của Đức Giêsu<br>
		<br>
		Đức Giêsu nói với họ rằng Người không để cho họ mồ côi đâu. Người ra đi 
		rồi sẽ trở lại với họ, để bắt đầu giữa họ và trong họ một cách hiện diện 
		khác, mầu nhiệm, chỉ dành cho những ai trung tín với lời Người. Người 
		không có ý đề cập đến sự trở lại với hình dạng thể lý, cũng không phải 
		sự trở lại huy hoàng trong ngày thế mạt, nhưng, ngay từ bây giờ, là sự 
		hiệp thông nghĩa thiết với Thiên Chúa trong mầu nhiệm Ba Ngôi: ”Ai yêu 
		mến Thầy, thì sẽ giữ lời Thầy, Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy, chúng ta sẽ 
		đến và ở lại với người ấy”(Ga 14,23).<br>
		<br>
		Đức Giêsu còn cho biết việc ra đi của Người sẽ có lợi cho các ông hơn, 
		vì như Người nói: ”Các con sẽ buồn vì nghe nói Thầy phải rời xa các con. 
		Lòng các con sẽ buồn sầu và sợ hãi, nhưng này Thầy bảo cho chúng con 
		biết Thầy ra đi sẽ tốt cho các con hơn, vì khi ấy, Cha Thầy sẽ sai Thánh 
		Thần đến giúp các con tăng trưởng theo một cách thức mới”.<br>
		<br>
		Hay nói cách khác, Đức Giêsu nói cho các môn đệ biết đã đến giờ Người 
		phải rời xa các ông ít lâu, đã đến giờ họ phải bắt đầu một giai đoạn mới 
		trong việc phát triển tâm linh, đã đến giờ họ cần được phát triển theo 
		một phương cách mới.<br>
		<br>
		Đức Giêsu nhấn mạnh cho các ông tư tưởng này là hãy bình tĩnh: ”Các con 
		đừng xao xuyến và sợ hãi”(Ga 14, 27). Người không bỏ rơi các ông nhưng 
		luôn hiện diện với các ông bằng một cách thức khác mà các ông không ngờ.<br>
		<br>
		Truyện: Thầy đã vác con trên vai<br>
		<br>
		Chúa Giêsu và một thanh niên cùng đồng hành trên một bãi cát dài trên 
		biển. Bốn vết bàn chân hằn lên rõ trên mặt cát. Nhưng khi chàng thanh 
		niên chẳng may gặp phải khó khăn thử thách, anh ta liền nhìn xuống mặt 
		cát thì chỉ thấy còn lại hai dấu bàn chân. Anh kinh ngạc thất vọng kêu 
		lên: ”<br>
		<br>
		- Thưa Thầy, lúc nãy Thầy trốn đi đâu để con bước đi một mình ?<br>
		<br>
		Chúa Giêsu nhỏ nhẹ bảo anh ta: <br>
		<br>
		- Con thử nhìn kỹ xem, coi đó là những vết chân của ai ?<br>
		<br>
		Nghe lời Chúa, anh thanh niên nhìn kỹ lại thì mới tỉnh ngộ ra, đó là 
		những dấu chân của Chúa. Anh ta vội thắc mắc la lên: <br>
		<br>
		- Vậy thưa thầy, lúc đó con ở đâu ?<br>
		<br>
		Chúa âu yếm trả lời: <br>
		<br>
		- Con ạ, những lúc con gặp khó khăn gian nan, chính khi đó Thầy biết con 
		không đủ sức chịu đựng nên Thầy đã vác con trên vai Thầy để cứu giúp con 
		khỏi hoạn nạn đấy.<br>
		<br>
		Dĩ nhiên đây là câu chuyện tưởng tượng, nhưng lại là một câu chuyện đầy 
		ý nghĩa vì nó nói lên được một sự thật mà có lẽ ngày xưa các Tông đồ 
		cũng như ngày nay chúng ta đều không nhận ra hoặc chưa tìm hiểu cặn kẽ: 
		đó là Chúa luôn luôn hiện diện bên ta để bênh vực giúp đỡ ta.<br>
		<br>
		Một chân lý thật đơn giản và rõ ràng. Vì suốt trong thời gian truyền 
		đạo, riêng tư cũng như công khai, Chúa Giêsu luôn nhắc đi nhắc lại câu 
		nói: ”Thầy ở với các con mọi ngày cho đến tận thế”. Thế thì tại sao 
		trong cuộc sống hằng ngày, nhất là những lúc gặp gian nan khốn khó chúng 
		ta hầu như quên sự hiện diện của Chúa, thậm chí đôi lúc có những người 
		đối xử, ăn nói kiểu như không có Chúa nữa.<br>
		<br>
		3. Những lời căn dặn của Đức Giêsu<br>
		<br>
		Người ta thường nói: ”Cách mặt xa lòng” (Tục ngữ) nghĩa là xa nhau thì 
		dễ quên nhau. Đây là một kinh nghiệm rất phổ biến vì nó thường xẩy ra 
		hằng ngày một cách rất tự nhiên. Đức Giêsu muốn đề phòng cho các môn đệ 
		khỏi lâm vào cảnh đau lòng “cách mặt xa lòng”, nên trước khi về trời, về 
		cùng Chúa Cha, Người đã đảm bảo với môn đệ rằng về phía Thiên Chúa không 
		có chuyện xa mặt cách lòng, và về phía con người cần phải giữ lời Thầy 
		để “cách mặt, nhưng gần lòng”.<br>
		<br>
		a) Về phía Thiên Chúa<br>
		<br>
		Đức Giêsu đảm bảo với các môn đệ rằng về phía Thiên Chúa không có cách 
		mặt xa lòng đâu. Chúng ta có thể trưng ra những câu Đức Giêsu nói với 
		các ông trong bữa Tiệc Ly: <br>
		<br>
		- “Cha Thầy và Thầy sẽ đến và ở với các con (Ga 14,23)<br>
		<br>
		- “Cha Thầy phái đến nhân danh Thầy, Đấng Bào chữa là Thánh Thần sẽ dạy 
		các con mọi điều và sẽ làm cho các con nhớ lại mọi điều Thầy đã nói với 
		các con”(Ga 14,26).<br>
		<br>
		-Thầy ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế, chứ không để các con mồ 
		côi đâu.<br>
		<br>
		Như vậy, cả Ba Ngôi Thiên Chúa đều đến ở trong các con, các con được yêu 
		mến, dạy dỗ, được bào chữa nâng đỡ và được ban phúc bình an, không còn 
		phải xao xuyến, sợ hãi, mà còn được vui mừng về cùng Chúa Cha cao trọng 
		hơn Thầy. Vậy, về phía Đức Giêsu, Người càng xa mặt về phần xác bao 
		nhiêu, thì về phía thiêng liêng càng gắn bó kết hợp với các con ở khắp 
		mọi nơi mọi lúc.<br>
		<br>
		b) Về phía loài người<br>
		<br>
		Để đề phòng khi xa mặt Chúa, mà lòng mình không xa Chúa, thì Đức Giêsu 
		đã bảo: ”Ai yêu mến Thầy thì sẽ giữ lời Thầy”(Ga 14,23). Giữ lời Thầy là 
		một trắc nghiệm rõ nhất, chính xác nhất về lòng mến Chúa.<br>
		<br>
		Đức Giêsu đã nói: ”Ai yêu mến Thầy thì sẽ giữ lời Thầy… Ai không yêu mến 
		Thầy, thì không giữ lời Thầy”. Câu nói này đủ xác định thế nào là yêu 
		mến Chúa, nghĩa là dấu hiệu, bằng chứng để chúng ta biết được hay người 
		khác biết được chúng ta yêu mến Chúa là chúng ta tuân giữ lời Chúa. Vì 
		đây cũng là thước đo lòng yêu mến của chúng ta đối với Chúa nhiều hay 
		ít, đó là chúng ta giữ lời Chúa nhiều hay ít.<br>
		<br>
		Chúa bảo chúng ta hãy tuân giữ lời Chúa, nhưng lời Chúa ở đâu ? Nếu trả 
		lời một cách ngắn gọn, chúng ta có thể nói: lời Chúa chứa đựng trong 
		Sách Thánh, tức là trong Kinh Thánh. Nhưng nếu hiểu rộng ra, chúng ta có 
		thể nói: lời Chúa còn chứa đựng trong Thánh truyền, tức là một phần mạc 
		khải được lưu lại dưới hình thức truyền khẩu và trong giáo huấn của các 
		giáo phụ. Lời Chúa còn chứa đựng trong Phụng vụ, tức là những gì Giáo 
		hội sống và thể hiện trong sinh hoạt phụng tự. Và lời Chúa còn chứa đựng 
		trong đời sống của Giáo hội, tức là giáo huấn của các công đồng, các Đức 
		Giáo hoàng, các Giám mục.<br>
		<br>
		Tóm lại, Kinh thánh, Thánh truyền, phụng vụ và giáo huấn của Giáo hội, 
		đó là những kho tàng chứa đựng lời Chúa. Nhưng thông thường và cụ thể, 
		mỗi khi nói đến lời Chúa, chúng ta thường hiểu là Thánh Kinh, nhất là 
		sách Tin mừng.<br>
		<br>
		Ngoài ra, Đức Giêsu muốn cho các môn đệ và chúng ta khi xa mặt Chúa, 
		phải có đức tin vững vàng trong cơn gian nan thử thách. Thiên Chúa xếp 
		đặt cho chúng ta phải trải qua một thời kỳ gian khổ, để ta trưởng thành 
		về tâm linh. Nhưng trong suốt thời gian chịu đựng thử thách đó, Thiên 
		Chúa không bỏ rơi ta. Người luôn ở trong ta để động viên và giúp đỡ ta 
		vượt qua gian khổ, để đức tin của ta ngày càng mạnh mẽ và trưởng thành.<br>
		<br>
		Truyện: Con kén và con bướm.<br>
		<br>
		Ngày nọ, một chuyên gia sưu tầm các loài bướm vào một công viên, thấy 
		một cái kén lạ treo lơ lửng trên cành cây, ông ta liền bứt lấy cành cây 
		ấy và đem kén bướm về nhà nghiên cứu. Ít ngày sau, ông thấy có cái gì 
		động đậy bên trong kén. Ông biết là sắp tới lúc con bướm nở. Hôm sau, 
		cái kén lại nhúc nhích, nhưng cũng chẳng có gì khác xẩy ra. Ngày thứ ba 
		vẫn thấy kén nhúc nhích mà con bướm bên trong cũng không ra được. Nghĩ 
		rằng tại cái kén mà bướm không ra được, ông lấy con dao sắc ra rạch vỏ 
		kén giúp nó ra ngoài. Có điều sau một ngày mà con bướm vẫn không bay ra 
		được, và cuối cùng chết.<br>
		<br>
		Về sau, ông được một người bạn thân là nhà côn trùng học cho biết lý do 
		con bướm không bay ra được, là do thiên nhiên đã xếp đặt cho nó phải tự 
		phấn đấu để thoát ra khỏi cái kén. Ngày nào nó phát triển đến độ tự mình 
		đạp bể cái kén chui ra ngoài thì mới chứng tỏ nó phát triển đầy đủ và 
		mới có khả năng sinh tồn được trong thiên nhiên. Muốn làm con bướm bay 
		trên ngàn hoa rực rỡ, thì bướm phải trải qua thời kỳ làm con sâu lặng 
		lẽ, rồi phải ẩn mình trong cái kén một thời gian, đợi ngày phát triển 
		đầy đủ. Còn nếu ông rạch cái kén giúp nó ra ngoài trước thời hạn, là ông 
		vô tình tiêu hủy khả năng phát triển và sinh tồn của nó.<br>
		<br>
		Chúng ta chẳng khác gì con bướm nọ: Thiên Chúa đã hoạch định cho chúng 
		ta phải đấu tranh gian khổ để nhờ đó chúng ta được tiến triển về mặt tâm 
		linh. Chúa đã an bài mọi sự để vào một số thời điểm trong cuộc sống 
		chiêm niệm của chúng ta, vào một số thời điểm trong cuộc sống tín trung 
		của chúng ta, vào một số thời điểm trong cuộc sống thiêng liêng của 
		chúng ta, chúng ta phải nỗ lực gian khổ. Vào những thời điểm ấy, Thiên 
		Chúa ở rất gần chúng ta. Chúa biết rõ chúng ta cần phải chịu gian khổ 
		một thời gian vì lợi ích riêng của chúng ta, vì nhờ những gian khổ này 
		chúng ta mới được tăng triển về mặt thiêng liêng để trở thành những Kitô 
		hữu vững mạnh (M. Link, Giảng lễ Chúa nhật năm C, tr 133).<br>
		<br>
		II. ĐỨC GIÊSU BAN THÁNH THẦN CHO CÁC MÔN ĐỆ<br>
		<br>
		Nay Đức Giêsu ra đi, sự lưu truyền của Thiên Chúa trong Giáo hội không 
		phải là một sự tồn kho bất động, bởi vì chính Chúa Thánh Thần, Đấng mà 
		Chúa Cha sai đến nhân danh Đức Giêsu, làm nên sự lưu truyền này bằng 
		cách dạy dỗ và nhắc nhở cho Giáo hội tất cả những gì Đức Giêsu đã ban bố 
		khi còn ở trần gian.<br>
		<br>
		Đúng vậy, Lời của Đức Giêsu không phải là một “sự vật”, nhưng là một 
		“con người nào đó”. Dù Đức Giêsu đã ra đi, nhưng vẫn có một “Đấng khác” 
		đến để tiếp tục Lời của Chúa Cha, một thầy phụ đạo thần linh, một thầy 
		nội tâm, được Chúa Cha sai đến nhân danh Đức Giêsu.<br>
		<br>
		Một thời kỳ đã kết thúc, thời kỳ người ta thấy được bằng mắt, nghe được 
		bằng tai. Với biến cố Phục sinh, một thời kỳ mới bắt đầu, một cách thể 
		khác cho liên hệ giữa Người và các môn đệ. Thời kỳ Chúa Thánh Thần mà 
		“Cha sai đến nhân danh Thầy”. Người sẽ dẫn các ông tới chỗ hiểu thấu đáo 
		lời nói và cử chỉ của Đức Giêsu.<br>
		<br>
		X. Léon Dufour giải thích rằng:”Tiếp theo thời kỳ mạc khải của Đức Giêsu 
		Nazareth, là thời kỳ của Đấng Bầu Chữa. Người tỏ lộ cùng một mạc khải, 
		nhưng đầy đủ, trọn vẹn. Sứ vụ của Đức Giêsu ở trần gian kết thúc, nhưng 
		đối với các môn đệ, Chúa Thánh Thần còn rọi sáng những lời Đức Giêsu dạy 
		rõ hơn khi các ông nghe lúc trước”(Lecture de l’Evangile selon Jean, 
		Seuil, tr 120).<br>
		<br>
		Nhiệm vụ của Chúa Thánh Thần là dạy dỗ và nhắc lại những điều Đức Giêsu 
		đã dạy lúc tại thế. Khi nói nhắc lại thì không phải chỉ là ôn lại, nhưng 
		theo cách nói của Thánh Kinh, là khám phá ra ý nghĩa lời nói và cử chỉ 
		của Đức Giêsu dưới ánh sáng của biến cố Phục sinh.<br>
		<br>
		Về vấn đề này, X. Léon-Dufour chú giải: ”Khi nhắc các môn đệ nhớ lời của 
		Đức Giêsu, Chúa Thánh Thần không chỉ lặp lại giọng điệu của Thầy cho 
		những trí nhớ quá tệ, nhưng Người còn giải nghĩa dưới ánh sáng Phục sinh 
		cho các ông nắm bắt được ý nghĩa mà, cho đến lúc này, còn rất tối tăm 
		đối với các ông… Nhiệm vụ giải thích của Chúa Thánh Thần liên quan tới 
		sứ điệp của Ngôi Con, nhằm làm cho cộng đoàn nơi mạc khải luôn được tiếp 
		tục và hiện thực một cách sáng tạo trong đời sống các tín hữu. Như thế, 
		lời Đức Giêsu luôn sống động qua thời gian”(Sđd, tr 132).<br>
		<br>
		III. ĐỨC GIÊSU BAN BÌNH AN CHO CÁC ÔNG<br>
		<br>
		Đức Giêsu nói với các môn đệ: ”Thầy để lại bình an cho các con, Thầy ban 
		bình an của Thầy cho các con, Thầy ban cho các con không như thế gian 
		ban tặng”(Ga 14, 27).<br>
		<br>
		Theo phong tục Do thái, khi từ giã nhau, người ta thường chào nhau bằng 
		“bình an” (shalom), nhưng ở đây sự bình an của Đức Giêsu để lại, không 
		có ý nghĩa như lời chào từ biệt thông thường, vì thế gian chỉ có thể cầu 
		chúc bình an chứ không thể tự mình ban bình an được, còn Đức Giêsu chính 
		Người ban bình an riêng của Người.<br>
		<br>
		Trong tiếng Hip-ri, bình an là Shalom, một chữ được dùng rộng rãi trong 
		Thánh Kinh. Nội dung từ ấy rất phong phú đến nỗi từ “bình an hay hòa 
		bình” chỉ chuyển tải một phần ý nghĩa. Một cách tổng quát, nó có ý nghĩa 
		một sự viên mãn phổ quát, một điều kiện trong đó không một vật gì được 
		thiếu sót. Từ ấy diễn tả hạnh phúc hoàn hảo chỉ thuộc về Thiên Chúa. Khi 
		người ta có bình an, người ta sống trong sự hiệp thông hoàn hảo với 
		Thiên Chúa.<br>
		<br>
		Vì vậy, Bình an, đối với người quen thuộc Thánh Kinh, không phải chỉ là 
		vắng bóng bạo hành, tĩnh lặng tâm hồn, không có chiến tranh, mà chính là 
		sức khỏe, sự thịnh vượng, hạnh phúc sung mãn, ơn cứu độ. Và chỉ một mình 
		Thiên Chúa mới có thể ban bình an này. <br>
		<br>
		Theo cha Cantalamessa, Đức Giêsu không nói tới một sự bình an bên ngoài, 
		chủ yếu là không có chiến tranh, xung đột giữa các dân tộc và quốc gia 
		khác nhau. Người nói đến bình an đó trong những dịp khác, chẳng hạn khi 
		nói: ”Phúc thay ai xây dựng hòa bình vì họ sẽ được gọi là con Thiên 
		Chúa”.<br>
		<br>
		Trong đoạn Tin mừng hôm nay, Người nói đến một sự bình an khác, bình an 
		nội tâm của con tim, của con người với chính mình và với Thiên Chúa. 
		Điều này thật rõ ràng nơi lời nói mà Đức Giêsu thêm vào liền theo đó 
		trong đoạn văn này của thánh Gioan: ”Các con đừng xao xuyến, cũng đừng 
		sợ hãi”. Đây là sự bình an nền tảng nhất. Không có sự bình an này, thì 
		không bình an nào khác có thể tồn tại. Từ Đức Giêsu sử dụng là “shalom”. 
		Người Do thái chào chúc lẫn nhau với lời này và vẫn còn làm thế; chính 
		Đức Giêsu đã chào các môn đệ với lời này vào buổi chiều Phục sinh và 
		truyền cho các môn đệ chào hỏi dân chúng cùng cách thức như thế: ”Vào 
		nhà nào, trước tiên các con hãy nói: “Bình an cho nhà này”(Lc 10,5-6).<br>
		<br>
		Đức Giêsu có thể ban bình an cho các Môn đệ bởi vì chính Người sở hữu sự 
		bình an: ”Thầy ban cho các con sự bình an của Thầy”. Bình an là sự hiệp 
		thông với Thiên Chúa. Khi Đức Giêsu hiệp thông hoàn toàn với Thiên Chúa, 
		Người có thể ban cho ta ơn bình an. Chúng ta có thể ban sự bìn an nào 
		nếu không phải là sự bình an của chúng ta ? Người Kitô hữu có ơn gọi đem 
		lại bình an. Nhưng khổ nỗi, thay vì chúng ta đem lại bình an cho người 
		khác, chúng ta bắt họ chịu đựng sự bất an và bất hạnh của chúng ta.<br>
		<br>
		Sự bình an thực sự chỉ có khi chúng ta tuân giữ lệnh truyền của Đức 
		Giêsu là: ”Các con hãy yêu thương nhau”(Ga 13,34). Về vấn đề này, Đức 
		Giáo hoang Gioan Phaolô II nói: ”Con đường của bình an chung cục phải đi 
		qua trong tình thương và hướng tới việc tạo nên một nền văn minh tình 
		thương. Giáo hội chăm chú nhìn về Đấng là Tình yêu của Chúa Cha và Chúa 
		Con và bất chấp mọi đe dọa không ngớt gia tăng, Giáo hội không ngừng hy 
		vọng, Giáo hội không ngừng kêu cầu và phục vụ hòa bình của nhân loại 
		trên trái đất” (Dominum et Vivificantem đoạn 67)<br>
		<br>
		Không thể có bình an nếu không có sự tha thứ. Hãy tuân giữ luật yêu 
		thương, và tha thứ cho nhau, ngay cả kẻ thù của mình (Mt 5,44), thay vì 
		luật báo thù – luật rừng. Bạo lực sẽ dẫn đến bạo lực. Báo thù không dẫn 
		đến hòa bình.. Chỉ có tình thương mới đem lại bình an thực sự mà thôi. 
		Vì Thiên Chúa là Tình yêu cũng là nguồn bình an (Ga 4,8,16; Rm 16,20).
		</span></p>
		<p class="MsoNormal">&nbsp;</p>
&nbsp;</td>
	</tr>
	<tr>
		<td width="474">
		<p style="text-align: center">
<a target="_top" href="http://tinmung.net">
<img border="0" src="../../../../../logo/LOGOtinmung.gif" width="67" height="40"></a></td>
	</tr>
	</table>

</body>

</html>

PHP File Manager