File "giaohanghocvien.htm"
Full path: E:/sites/Single15/tinmung2007/webroot/ChuaNhat V PS/giaohanghocvien.htm
File size: 21.94 KiB (22470 bytes)
MIME-type:
Charset: utf-8
<html>
<head>
<meta http-equiv="Content-Language" content="en-us">
<meta http-equiv="Content-Type" content="text/html; charset=utf-8">
<title>Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật V Phục Sinh</title>
<base target="main">
<meta name="keywords" content="Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật V Phục Sinh, suy niệm, tin mừng, đồng công">
<!--mstheme--><link rel="stylesheet" type="text/css" href="../_themes/suyniem3/suyn1011-109.css"><meta name="Microsoft Theme" content="suyniem3 1011">
</head>
<body>
<table border="0" width="500" cellspacing="10" style="border-color: #FFFFFF; font-family:Arial; font-size:12pt; text-decoration:none" bgcolor="#FFFFFF">
<!-- MSTableType="nolayout" -->
<tr>
<td width="460">
<font size="2" color="#FF0000">
Chúa Nhật V Phục Sinh</font></td>
</tr>
<tr>
<td width="474" style="font-family: Arial; font-size: 12pt; text-decoration: none; font-weight: bold; text-align: center">
ĐIỀU RĂN MỚI</td>
</tr>
<tr>
<td width="474" style="font-family: Arial; font-size: 8pt; text-decoration: none; font-style:italic; text-align:right">
<span style="font-size: 8pt; font-family: Arial,sans-serif; font-weight: 400; font-style: italic">Chú giải của Giáo Hoàng
Học Viện Đà Lạt</span></td>
</tr>
<tr>
<td width="474" style="text-align: justify; font-family:Arial; font-size:12pt; text-decoration:none">
<p class="MsoNormal"><span style="font-family: Arial,sans-serif">“ĐIỀU
RĂN MỚI” (Ga 13,31-33a.34-35)</span></p>
<p class="MsoNormal"><span style="font-family: Arial,sans-serif">1. Khi
Giuda ra khỏi nhà tiệc ly, có lẽ sau lúc rửa chân và trước khi thiết lập
phép Thánh thể, Chúa Giêsu nói: “Bây giờ con người đã được tôn vinh và
Thiên Chúa đã được tôn vinh nơi Ngài”. Thốt lên những lời tuyên bố buồn
bã về một người trong nhóm 12 sẽ phản bội, câu nói ấy, đối với các tông
đồ, vang lên như một bài ca khải hoàn. “Bây giờ” là lúc cuộc xung đột
giữa Chúa Giêsu và satan, mà Giuda là dụng cụ (x.13,37), vừa thực sự
bùng nổ qua việc tên phản bội quyết tâm ra đi thi hành dự tính của mình;
“bây giờ” là lúc Chúa Giêsu đối diện với “giờ” của Ngài, Giờ mà vì đó
Ngài đã đến trong thế gian và không ai có quyền cho xảy ra sớm hơn hay
trễ hơn (7,30; 8,20; 12, 23-27; 13,1; Dt 10,3-7; Lc 13,3 - 33). Cho đến
khi ấy, đời Chúa Giêsu chỉ là một chuẩn bị, “bây giờ” mới bắt đầu thảm
kịch cứu rỗi.</span></p>
<p class="MsoNormal"><span style="font-family: Arial,sans-serif">Nghĩ
đến ơn cứu rỗi loài người và vinh quang Cha Ngài (3,15.17; 8,49-50;
10,10; 12,47), tâm hồn Chúa Giêsu cảm thấy hài lòng đến nỗi - coi cuộc
khổ nạn như một thoáng qua và Thập giá như chiếc ngai vàng. Ngài đã
nhiều lần chơi chữ khi dùng từ ngữ: giương cao” (exalter, hupsoun) vừa
có ý nghĩa “nâng lên” (élever) và “tôn vinh” (glorifier), để cho thấy
Ngài sẽ bước lên thập giá chúng ta tư thế một kẻ chinh phục (3,14; 8,28;
12,32-34; 12,23.24). Ngài thâm tín sẽ tìm thấy sự sống trong cái chết và
vinh quang trong ô nhục đến nỗi nói về sự vinh hiển của Ngài như là một
điều gì đã hoàn tất: “Con người sẽ được tôn vinh ”. Thì quá khứ này, để
diễn tả một việc sẽ xảy ra, có thể giải thích dễ dàng nhờ lòng tin tưởng
tuyệt đối của Đức Kitô vào hiệu quả chương trình của Chúa Cha hơn là nhờ
các hậu kết bất khả kháng gây ra do việc Giuda phản bội.</span></p>
<p class="MsoNormal"><span style="font-family: Arial,sans-serif">Có lẽ
đừng nghĩ đến các chứng tá Chúa Cha đã ban cho Con Ngài thì đặt trong
viễn cảnh đó thì câu nói đến việc Chúa Giêsu đã tôn vinh Chúa Cha bằng
cách chu toàn bổn phận khi còn sống (4,34; 17,4), bằng việc mạc khải
Chúa Cha (17,6) và vinh quang của Người (2,11; 11,4.40; 17,4), qua lời
nói (1,18; 3,32-34; 5,24.38.47; 6,45.63; 7,16; 8,38.40 - 47.55...) và
hành động (3,21; 5,19-20.30.36; 8,28; 9,3.4; 10,25.32.37.38; 14,10-11;
15,24). Nhưng chữ “bây giờ” bắt đầu câu 31 cho thấy một cái gì mới mẻ
vừa khởi phát với việc Giuda bội phản: cuộc khổ nạn - phục sinh của Chúa
Giêsu được xem như sự tôn vinh tuyệt hảo nhất, và sự tôn vinh tột bực
này một cách nào đó đã được chiêm ngắm trong ý nghĩa thần học của nó.
Như thể đã được thực hiện trong mầm mống qua việc phản bội của Giuda. Để
xác quyết điều này, chỉ cần nhớ lại chứng tá Chúa Cha vài ngày trước đó:
“Ta đã tôn vinh danh Ta và Ta sẽ còn tôn vinh danh Ta nữa” (12,28).
Trong trường hợp này, chính Chúa Giêsu đã tuyên bố đã đến giờ Con Người
sắp được tôn vinh; hiển nhiên đây là lời tiên báo trực tiếp vào cuộc khổ
nạn Ngài sắp chịu và vinh quang Ngài sắp lãnh nhận (12,23-25).</span></p>
<p class="MsoNormal"><span style="font-family: Arial,sans-serif">Chính
Chúa Giêsu ở đây đã có ý tự xưng là “Con Người”. Mặc dù vẫn có nghĩa
thiên sai như trong các phúc âm tước hiệu này dưới ngòi bút của Gioan,
mang một ý nghĩa chính xác hơn. Trong mười đoản văn mà chúng ta gặp nó
luôn luôn trên miệng Đức Kitô, tước hiệu “Con Người” đã ám chỉ đến vinh
quang đang chờ đợi Ngôi lời nhập thể, để đáp lại việc Ngài hạ cố làm
thân phận con người, dù là con người tuyệt hảo hơn hết. Và trong 4 lần,
tước hiệu này trực tiếp ám chỉ đến sự vinh hiển nhờ thập giá (1,51;
3,13.14; 5,27; 6,27; 6,54.63; 8,28; 12,23; 13,31).</span></p>
<p class="MsoNormal"><span style="font-family: Arial,sans-serif">Nếu Đức
Kitô đã được tôn vinh, chính là vì “Thiên Chúa đã được tôn vinh nơi
Ngài”. Mọi việc con người phụng sự Thiên Chúa sẽ trở lại với con người
dưới dạng thức vinh quang. Đó là luật, luật này trước tiên liên hệ đến
Đức Kitô, và vì thế “Thiên Chúa cũng sẽ tôn vinh Ngài (Đức Kitô) trong
chính mình Người (Thiên Chúa)”. Nghĩa là gì? Nghĩa là Ngài sẽ ban vinh
quang thuộc về Ngài, khi đón nhận Ngài “trong chính Người”. Con Người sẽ
được thông phần vào các đặc quyền của sự sống thần linh, các đặc quyền
mà Ngài sẽ nhắc tới trong lời nguyện: “Con đã tôn vinh Cha dưới đất, đã
chu toàn công việc Cha giao phó cho Con làm. Và bây giờ xin Cha tôn vinh
Con nơi Cha trước khi có thế gian” (17,4-5). Ở đây có sự đối chiếu giữa
tình trạng của Đức Kitô lúc còn ở “dưới đất” và tình trạng “trên trời”
mà Ngài xin cho được. Từ đó ta hiểu tại sao nói “Con Người” và “Thiên
Chúa” thay vì nói Con và Cha. Đúng ra Chúa Con đã bao giờ mất vinh quang
đã có ở Chúa Cha ngay trước khi tạo dựng vũ trụ; nhưng nhờ sự vinh hiển
mà Đức Kitô đạt được cho nhân tính mình, Thiên Chúa đã nâng con người
lên chính Ngai của Thiên Chúa. Chính đấy là nơi mà từ nay các tín hữu
đầy lòng tin và đạo đức sẽ tìm đến gặp Ngài. Chính từ đó mà Ngài đã mạc
khải cho vị tử đạo tiên khởi của Ngài. Vị này nói khi chết: “Tôi thấy
các tầng trời mở ra, và Con Người đứng bên hữu Thiên Chúa” (Cv 7,56).</span></p>
<p class="MsoNormal"><span style="font-family: Arial,sans-serif">Khi
loan báo “Thiên Chúa sắp tôn vinh Ngài”, Chúa Giêsu ám chỉ đến chứng tá
hùng hồn Chúa Cha ban cho Ngài khi cho Ngài phục sinh từ cõi chết. Ngoài
ra, việc phục sinh này đối với Ngài chỉ là bước đầu tiên trong cuộc sống
hiển vinh mà cuộc khổ nạn sắp đưa Ngài vào.</span></p>
<p class="MsoNormal"><span style="font-family: Arial,sans-serif">2.
Trước khi từ giã các môn đệ, Đức Kitô đã cho họ biết ý muốn tối thượng
của Ngài: “Ta ban cho các ngươi một điều răn mới là hãy yêu mến nhau.
Như Ta đã yêu mến các ngươi, các ngươi cũng hãy yêu mến nhau” (c.34).
Ngài nói trong tư thế một sư phụ trăn trối những lời cuối cùng trước khi
ra đi (x.Mt 24,45.51), và trong tư thế một người cha hằng lo bảo đảm
hạnh phúc cho con cái mà ông sắp giã từ. Nếu được chấp hành tốt, điều
răn này sẽ đền bù cho các môn đệ, trong mức độ có thể, sự mất mát không
còn thấy Thầy cách khả giác, và sẽ làm họ xứng đáng gặp lại Ngài. Giới
luật bác ái huynh đệ mà ở đây Chúa Giêsu gọi là giới luật “mới” ít lúc
nữa sẽ được Ngài gọi là “giới luật của Ngài” (15,12).</span></p>
<p class="MsoNormal"><span style="font-family: Arial,sans-serif">Chính
nhờ giới luật mới, nên Đức Kitô mới có thể tuyên bố là của Ngài. Luật tự
nhiên dạy đừng làm cho ai điều ta không muốn họ làm cho mình. Luật
Môisen đã thừa nhận khoản luật tự nhiên đó, khi dạy phải yêu tha nhân
như chính mình (Lv 19,18). Nhưng đối với ai người Do thái, tha nhân là
anh em, đồng bào, bạn hữu mà họ cần phải sống an hoà với, không thì sẽ
bất an khi cùng đi đường. Luật trực tiếp liên hệ đến người Do thái,
nhưng không gạt bỏ ngoại kiều (Mt 5,43. Trong các điều kiện trên, tình
yêu tha nhân có tính cách tiêu cực nhiều: tránh tất cả những gì có thể
gây thù oán, báo phục. Nếu tình yêu được thể hiện cách tích cực bằng
hành động, thì cũng không kém vụ lợi; tựu trung, qui tắc là yêu chính
bản thân mình. Chính giáo sĩ Hiller, nhà luân lý Do thái nhân bản nhất
đã hiểu như thế: “Điều chi ngươi ghét, ngươi chớ làm cho tha nhân. Chính
đó là tất cả lề luật, các điều khác chỉ là lời chú giải” (Chabbath,
f.31).</span></p>
<p class="MsoNormal"><span style="font-family: Arial,sans-serif">Để xác
quyết, Chúa Giêsu đã hơn một lần nhắc lại luật căn bản của mọi tương
giao xã hội (Mt 7,12; 19,19; 22,39-40), nhưng Ngài đã vượt qua luật đó,
hay ít ra, đã đưa nó về lại nội dung ban đầu, khi tố giác lối chú giải
hẹp hòi và cứng nhắc mà các thày ký lục đã đề ra (Mt 5,43). Không phải
chỉ yêu thương bạn hữu, mà còn phải muốn điều lành cho mọi người, kể cả
kẻ thù mình; bằng không, không phải là Kitô hữu (Mt 5,46-48).</span></p>
<p class="MsoNormal"><span style="font-family: Arial,sans-serif">Với
“giới luật mới”, Chúa Giêsu còn thêm nhiều điều trong những đòi buộc của
tình bác ái huynh đệ; yêu tha nhân như chính mình chưa đủ người kitô hữu
phải yêu tha nhân như Đức Kitô đã yêu họ (c.34). Mà tình yêu Đức Kitô
đối với chúng ta là ân cần, vô vụ lợi, tận tâm (Ga 13,13-16; 15,16.19;
Rm 15,13). Ngài đã hiến mình cho loài người đến cùng, nghĩa là cho đến
chết (Ga 13,1; 15,12-14). Thánh Gioan đã ghi rõ ràng: “Chính do điều này
mà ta nhận ra được lòng yêu mến: là Đấng ấy (Đức Kitô) đã thí mạng vì
chúng ta; nên ta cũng thí mạng vì anh em mình” (1Ga 3,16).</span></p>
<p class="MsoNormal"><span style="font-family: Arial,sans-serif">Giao
ước mới đã được đóng ấn với máu của tác giả giao ước (1Co 11,25). Điều
trong trình thuật rửa chân trước đó được giới thiệu như một việc “phục
vụ”, ở đây được gọi là “tình yêu”; nhưng tựu trung chỉ có một vấn đề:
hiến thân hoàn toàn, không hạn chế. Tình yêu Chúa Giêsu dành cho chúng
ta là tình yêu thần linh, không chỉ vì Ngài là Thiên Chúa, vì Ngài yêu
chúng ta như là tạo vật và Con Thiên Chúa (Ga 17,6.9.10); nhưng còn vì
Ngài mô phỏng theo tình yêu Chúa Cha dành cho Ngài: “Như Cha yêu mến Ta,
Ta cũng yêu mến các ngươi” (Ga 15,9). Nói tóm lại có nghĩa là: “Hãy yêu
thương nhau, như Ta đã yêu thương các ngươi, cho đến hy sinh mạng sống;
hãy yêu thương nhau như chính Thiên Chúa đã yêu Ta”.</span></p>
<p class="MsoNormal"><span style="font-family: Arial,sans-serif">Một khi
được hiểu và thực hành như vậy, tình bác ái huynh đệ phải tạo ra giữa
loài người mối hiệp nhất theo gương Thiên Chúa: “Để hết thảy chúng được
nên một, cũng như, Lạy Cha, Cha ở trong Con và Con ở trong Cha, ngõ hầu
chúng ở trong chúng ta” (Ga 17,21). Mà Đấng cầu nguyện như thế cũng đã
nói: “Cha và Ta là một” (10,30).</span></p>
<p class="MsoNormal"><span style="font-family: Arial,sans-serif">Ngoài
ra, Đức Kitô của Thánh Gioan ở đây không dạy điều gì khác các điều chúng
ta đã học trong các phúc âm nhất lãm. Bài diễn từ trên núi tóm tắt toàn
bộ lý tưởng Kitô hữu: “Các ngươi hãy nên trọn lành như Cha các ngươi
trên trời là Đấng trọn lành” (Mt 5,48). Đoạn này cũng nói yêu kẻ thù là
dấu chỉ phân biệt người Kitô hữu (Mt 5,46-48). Để yêu người như Chúa
Giêsu muốn, phải yêu Thiên Chúa trên hết mọi sự. Vì thế vị tôn sư đã đặt
tình yêu Thiên Chúa và tình yêu tha nhân một cách nào đó ngang hàng với
nhau (Mt 22,39). Gioan và Phaolô, hai môn đệ Ngài, đã nhất trí dạy rằng:
người yêu tha nhân là giữ trọn lề luật (1Ga 2,7-11; 3,10 -11.14-16; Rm
13,9-10).</span></p>
<p class="MsoNormal"><span style="font-family: Arial,sans-serif">“Chính
nơi điều này mà mọi người sẽ nhận ra là các ngươi là môn đệ Ta: ấy là
các ngươi có lòng yêu mến nhau” (c.35). Bác ái giữa người Kitô hữu với
nhau phải hiện thực và rõ ràng đến nỗi tự nó cho thấy họ là môn đệ Chúa
Giêsu, ngay cả đến những người không biết gì về Kitô giáo (Ga 14,31;
17,21; 1Ga 2,7-11; 4,02-21). Tình yêu được truyền dạy ở đây chỉ có thể
được hiện hữu giữa những người tin vào Chúa Giêsu Kitô. Một lần nữa,
giới luật là giới luật “mới".</span></p>
<p class="MsoNormal"><span style="font-family: Arial,sans-serif">Lịch sử
Giáo hội sơ khai là lời chú giải tuyệt hảo nhất về câu nói đó. Luật bác
ái đã được hiểu rất sớm và đã phát sinh ra nhiều hoa quả xây dựng mà
Chúa mong chờ. Tác giả sách công vụ đã nói lên đặc điểm của nhóm Kitô
hữu đầu tiên: “Các kẻ tin hết thảy đều coi mọi sự như của chung” (Cv
2,44). Theo chứng từ của Tertullien, người ta đã nói về họ: “Hãy xem họ
thương nhau biết bao và sẵn sàng hiến mạng cho nhau chừng nào”
(Apolog.39; Pl 1,53a). Sau này, những người ở ngoài sẽ gọi họ là Kitô
hữu, còn họ vẫn gọi nhau là “anh em” (Cv 11,26.29). Họ ý thức việc họ
được bác ái liên kết, đến nỗi đã dùng chữ “Agapê” (tình yêu) để đặt tên
cho bữa ăn chung, được đó họ ăn và uống Mình, Máu Chúa (Giuda 12;
Ignatiô, thơ gởi tín hữu Rm 7).</span></p>
<p class="MsoNormal"><b><span style="font-family: Arial,sans-serif">KẾT
LUẬN</span></b></p>
<p class="MsoNormal"><span style="font-family: Arial,sans-serif">Trước
ngày tử nạn, Chúa Giêsu đã ban luật sống mới cho môn đệ mình. Đây là một
luật mới vì đặt cơ sở trên một biến cố mới, bất ngờ và điên đảo: cái
chết của Chúa, và vì trong cộng đoàn nhân loại không có chi tương tự như
thế. Do đó, luật sống này là đặc điểm của cộng đoàn môn đệ vừa thành
lập: “chính nơi điều này mà mọi người sẽ nhận ra các ngươi là môn đệ
Ta”. Và các chứng tá trong Giáo hội sơ khai chứng nhận rằng luật tình
yêu này, thực sự đã được chấp hành tốt.</span></p>
<p class="MsoNormal"><span style="font-family: Arial,sans-serif">Ý HƯỚNG
BÀI GIẢNG</span></p>
<p class="MsoNormal"><span style="font-family: Arial,sans-serif">1. Sau
khi Giuda ra đi, Chúa Giêsu liền công bố, như thể cuộc ra đi của Giuda
là dấu hiệu của một điều gì quan trọng: “Bây giờ Con Người đã được tôn
vinh và Thiên Chúa đã được tôn vinh nơi Ngài”. Hãy biết rằng, trong
thánh kinh, vinh quang của Thiên Chúa hay vinh quang của một người nào
đó không cùng ngôn ngữ như trong ngôn ngữ chúng ta. Trong ngôn ngữ chúng
ta, vinh quang có nghĩa: nổi danh, đắc nhân tâm và được tiếng tốt. Trong
Thánh kinh, vinh quang chỉ phẩm cách, thế lực, ảnh hưởng hiện diện và
quyền năng của nhân vật. Với ý nghĩ đó, vinh quang cao cả, cơ sở của mọi
vinh quang khác, chỉ thuộc về Thiên Chúa, Đấng thông ban vinh quang như
ý Ngài muốn. Trong mức độ thực hiện chương trình Thiên Chúa, mỗi người
nhận được giá trị và thế lực, và lớn lên trong vinh quang.</span></p>
<p class="MsoNormal"><span style="font-family: Arial,sans-serif">2. Việc
tìm hiểu các tự nguyện đó giúp chúng ta quán triệt ý nghĩa các lời nói
của Đức Kitô. Chúa Giêsu đã được tôn vinh. Ngài chấp nhận điều Giuda
phải làm. Từ đó, Ngài được vinh hiển, vì hoàn toàn chấp nhận cuộc Vượt
qua bằng cái chết. Việc Ngài vâng phục thánh ý Chúa Cha làm cho Ngài
được “vinh quang” và nói lên việc Người nhiệt tâm yêu mến Thiên Chúa.
Đồng thời khi minh chứng mức độ tình yêu Ngài đối với loài người bằng
việc trao ban Chúa Con, Chúa Cha cũng “đã được tôn vinh” trong con người
Chúa Giêsu.</span></p>
<p class="MsoNormal"><span style="font-family: Arial,sans-serif">3. Việc
phúc âm và phụng vụ nhấn mạnh đến tính cách mới mẻ của luật bác ái huynh
đệ đòi buộc chúng ta xét mình xem chúng ta thực thi Luật đó đến mức nào
và bằng cách nào. Nó giả thiết đức ái này tiếp nối tình yêu Đức Kitô
dành cho chúng ta ("như thày đã yêu mến các con") và tiếp nối tình yêu
chúng ta đối với Chúa Giêsu (vì chính trong điều đó mà người ta nhận ra
các con là môn đệ Thày...). Lòng thương cảm tự nhiên khác xa tình yêu
anh em siêu nhiên mà chúng ta phải có. Yêu thương họ vì họ (trong môi
trường và điều kiện sống họ đang sống) không ngăn cản việc yêu thương họ
trong Thiên Chúa và trong Đức Kitô. Và ngược lại, yêu thương họ như thế
không giảm bớt lòng kính trọng và tình cảm tự nhiên. Yêu cách siêu nhiên
không có nghĩa là yêu cách nhạt nhẽo, hững hờ, “để được Chúa thưởng”.
Nhưng là yêu người khác hết lòng, không phải vì họ dễ thương, xinh đẹp,
tốt lành... nhưng là vì họ là chi thể quí giá của Chúa Giêsu, là công
dân Gierusalem thiên quốc. Vì các đặc điểm trên có giá trị cho mọi
người, nên phải yêu mọi người với tình yêu siêu nhiên.</span></p>
<p class="MsoNormal"><span style="font-family: Arial,sans-serif">4.
Trong thế giới ích kỷ, bạo tàn, ham mê tiền bạc, bóc lột nghèo, người
Kitô hữu phải làm sáng rực như ánh lửa, tình yêu họ đối với tha nhân,
niềm cảm thông với người cùng khổ, lòng dịu và tha thứ cho kẻ nghịch
thù. Nếu làm như vậy, Kitô hữu sẽ nổi bật lên giữa bao người khác. Một
khi cảm nghiệm cách cụ thể tình yêu đó, thiên hạ sẽ nhận ra người Kitô
hữu là môn đệ đích thật của Đức Kitô, sức nóng của tình yêu, họ sẽ được
đưa dẫn về với Đức Kitô. Chỉ tình yêu mới có thể xây dựng đô thành huynh
đệ loài người hằng mơ ước.</span></p>
</td>
</tr>
<tr>
<td width="474">
<p style="text-align: center">
<a target="_top" href="http://tinmung.net">
<img border="0" src="../../../../../logo/LOGOtinmung.gif" width="67" height="40"></a></td>
</tr>
</table>
</body>
</html>