File "giaohanghocvien.htm"

Full path: E:/sites/Single15/tinmung2007/webroot/ChuaNhat V PS/giaohanghocvien.htm
File size: 21.94 KiB (22470 bytes)
MIME-type:
Charset: utf-8

Download   Open   Back

<html>

<head>
<meta http-equiv="Content-Language" content="en-us">
<meta http-equiv="Content-Type" content="text/html; charset=utf-8">
<title>Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật V Phục Sinh</title>
<base target="main">
<meta name="keywords" content="Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật V Phục Sinh, suy niệm, tin mừng, đồng công">
<!--mstheme--><link rel="stylesheet" type="text/css" href="../_themes/suyniem3/suyn1011-109.css"><meta name="Microsoft Theme" content="suyniem3 1011">
</head>

<body>

<table border="0" width="500" cellspacing="10" style="border-color: #FFFFFF; font-family:Arial; font-size:12pt; text-decoration:none" bgcolor="#FFFFFF">
	<!-- MSTableType="nolayout" -->
	<tr>
		<td width="460">
							<font size="2" color="#FF0000">
							Chúa Nhật V Phục Sinh</font></td>
		</tr>
	<tr>
		<td width="474" style="font-family: Arial; font-size: 12pt; text-decoration: none; font-weight: bold; text-align: center">
							ĐIỀU RĂN MỚI</td>
	</tr>
	<tr>
		<td width="474" style="font-family: Arial; font-size: 8pt; text-decoration: none; font-style:italic; text-align:right">
							<span style="font-size: 8pt; font-family: Arial,sans-serif; font-weight: 400; font-style: italic">Chú giải của Giáo Hoàng 
		Học Viện Đà Lạt</span></td>
	</tr>
	<tr>
		<td width="474" style="text-align: justify; font-family:Arial; font-size:12pt; text-decoration:none">
		<p class="MsoNormal"><span style="font-family: Arial,sans-serif">“ĐIỀU 
		RĂN MỚI” (Ga 13,31-33a.34-35)</span></p>
		<p class="MsoNormal"><span style="font-family: Arial,sans-serif">1. Khi 
		Giuda ra khỏi nhà tiệc ly, có lẽ sau lúc rửa chân và trước khi thiết lập 
		phép Thánh thể, Chúa Giêsu nói: “Bây giờ con người đã được tôn vinh và 
		Thiên Chúa đã được tôn vinh nơi Ngài”. Thốt lên những lời tuyên bố buồn 
		bã về một người trong nhóm 12 sẽ phản bội, câu nói ấy, đối với các tông 
		đồ, vang lên như một bài ca khải hoàn. “Bây giờ” là lúc cuộc xung đột 
		giữa Chúa Giêsu và satan, mà Giuda là dụng cụ (x.13,37), vừa thực sự 
		bùng nổ qua việc tên phản bội quyết tâm ra đi thi hành dự tính của mình; 
		“bây giờ” là lúc Chúa Giêsu đối diện với “giờ” của Ngài, Giờ mà vì đó 
		Ngài đã đến trong thế gian và không ai có quyền cho xảy ra sớm hơn hay 
		trễ hơn (7,30; 8,20; 12, 23-27; 13,1; Dt 10,3-7; Lc 13,3 - 33). Cho đến 
		khi ấy, đời Chúa Giêsu chỉ là một chuẩn bị, “bây giờ” mới bắt đầu thảm 
		kịch cứu rỗi.</span></p>
		<p class="MsoNormal"><span style="font-family: Arial,sans-serif">Nghĩ 
		đến ơn cứu rỗi loài người và vinh quang Cha Ngài (3,15.17; 8,49-50; 
		10,10; 12,47), tâm hồn Chúa Giêsu cảm thấy hài lòng đến nỗi - coi cuộc 
		khổ nạn như một thoáng qua và Thập giá như chiếc ngai vàng. Ngài đã 
		nhiều lần chơi chữ khi dùng từ ngữ: giương cao” (exalter, hupsoun) vừa 
		có ý nghĩa “nâng lên” (élever) và “tôn vinh” (glorifier), để cho thấy 
		Ngài sẽ bước lên thập giá chúng ta tư thế một kẻ chinh phục (3,14; 8,28; 
		12,32-34; 12,23.24). Ngài thâm tín sẽ tìm thấy sự sống trong cái chết và 
		vinh quang trong ô nhục đến nỗi nói về sự vinh hiển của Ngài như là một 
		điều gì đã hoàn tất: “Con người sẽ được tôn vinh ”. Thì quá khứ này, để 
		diễn tả một việc sẽ xảy ra, có thể giải thích dễ dàng nhờ lòng tin tưởng 
		tuyệt đối của Đức Kitô vào hiệu quả chương trình của Chúa Cha hơn là nhờ 
		các hậu kết bất khả kháng gây ra do việc Giuda phản bội.</span></p>
		<p class="MsoNormal"><span style="font-family: Arial,sans-serif">Có lẽ 
		đừng nghĩ đến các chứng tá Chúa Cha đã ban cho Con Ngài thì đặt trong 
		viễn cảnh đó thì câu nói đến việc Chúa Giêsu đã tôn vinh Chúa Cha bằng 
		cách chu toàn bổn phận khi còn sống (4,34; 17,4), bằng việc mạc khải 
		Chúa Cha (17,6) và vinh quang của Người (2,11; 11,4.40; 17,4), qua lời 
		nói (1,18; 3,32-34; 5,24.38.47; 6,45.63; 7,16; 8,38.40 - 47.55...) và 
		hành động (3,21; 5,19-20.30.36; 8,28; 9,3.4; 10,25.32.37.38; 14,10-11; 
		15,24). Nhưng chữ “bây giờ” bắt đầu câu 31 cho thấy một cái gì mới mẻ 
		vừa khởi phát với việc Giuda bội phản: cuộc khổ nạn - phục sinh của Chúa 
		Giêsu được xem như sự tôn vinh tuyệt hảo nhất, và sự tôn vinh tột bực 
		này một cách nào đó đã được chiêm ngắm trong ý nghĩa thần học của nó. 
		Như thể đã được thực hiện trong mầm mống qua việc phản bội của Giuda. Để 
		xác quyết điều này, chỉ cần nhớ lại chứng tá Chúa Cha vài ngày trước đó: 
		“Ta đã tôn vinh danh Ta và Ta sẽ còn tôn vinh danh Ta nữa” (12,28). 
		Trong trường hợp này, chính Chúa Giêsu đã tuyên bố đã đến giờ Con Người 
		sắp được tôn vinh; hiển nhiên đây là lời tiên báo trực tiếp vào cuộc khổ 
		nạn Ngài sắp chịu và vinh quang Ngài sắp lãnh nhận (12,23-25).</span></p>
		<p class="MsoNormal"><span style="font-family: Arial,sans-serif">Chính 
		Chúa Giêsu ở đây đã có ý tự xưng là “Con Người”. Mặc dù vẫn có nghĩa 
		thiên sai như trong các phúc âm tước hiệu này dưới ngòi bút của Gioan, 
		mang một ý nghĩa chính xác hơn. Trong mười đoản văn mà chúng ta gặp nó 
		luôn luôn trên miệng Đức Kitô, tước hiệu “Con Người” đã ám chỉ đến vinh 
		quang đang chờ đợi Ngôi lời nhập thể, để đáp lại việc Ngài hạ cố làm 
		thân phận con người, dù là con người tuyệt hảo hơn hết. Và trong 4 lần, 
		tước hiệu này trực tiếp ám chỉ đến sự vinh hiển nhờ thập giá (1,51; 
		3,13.14; 5,27; 6,27; 6,54.63; 8,28; 12,23; 13,31).</span></p>
		<p class="MsoNormal"><span style="font-family: Arial,sans-serif">Nếu Đức 
		Kitô đã được tôn vinh, chính là vì “Thiên Chúa đã được tôn vinh nơi 
		Ngài”. Mọi việc con người phụng sự Thiên Chúa sẽ trở lại với con người 
		dưới dạng thức vinh quang. Đó là luật, luật này trước tiên liên hệ đến 
		Đức Kitô, và vì thế “Thiên Chúa cũng sẽ tôn vinh Ngài (Đức Kitô) trong 
		chính mình Người (Thiên Chúa)”. Nghĩa là gì? Nghĩa là Ngài sẽ ban vinh 
		quang thuộc về Ngài, khi đón nhận Ngài “trong chính Người”. Con Người sẽ 
		được thông phần vào các đặc quyền của sự sống thần linh, các đặc quyền 
		mà Ngài sẽ nhắc tới trong lời nguyện: “Con đã tôn vinh Cha dưới đất, đã 
		chu toàn công việc Cha giao phó cho Con làm. Và bây giờ xin Cha tôn vinh 
		Con nơi Cha trước khi có thế gian” (17,4-5). Ở đây có sự đối chiếu giữa 
		tình trạng của Đức Kitô lúc còn ở “dưới đất” và tình trạng “trên trời” 
		mà Ngài xin cho được. Từ đó ta hiểu tại sao nói “Con Người” và “Thiên 
		Chúa” thay vì nói Con và Cha. Đúng ra Chúa Con đã bao giờ mất vinh quang 
		đã có ở Chúa Cha ngay trước khi tạo dựng vũ trụ; nhưng nhờ sự vinh hiển 
		mà Đức Kitô đạt được cho nhân tính mình, Thiên Chúa đã nâng con người 
		lên chính Ngai của Thiên Chúa. Chính đấy là nơi mà từ nay các tín hữu 
		đầy lòng tin và đạo đức sẽ tìm đến gặp Ngài. Chính từ đó mà Ngài đã mạc 
		khải cho vị tử đạo tiên khởi của Ngài. Vị này nói khi chết: “Tôi thấy 
		các tầng trời mở ra, và Con Người đứng bên hữu Thiên Chúa” (Cv 7,56).</span></p>
		<p class="MsoNormal"><span style="font-family: Arial,sans-serif">Khi 
		loan báo “Thiên Chúa sắp tôn vinh Ngài”, Chúa Giêsu ám chỉ đến chứng tá 
		hùng hồn Chúa Cha ban cho Ngài khi cho Ngài phục sinh từ cõi chết. Ngoài 
		ra, việc phục sinh này đối với Ngài chỉ là bước đầu tiên trong cuộc sống 
		hiển vinh mà cuộc khổ nạn sắp đưa Ngài vào.</span></p>
		<p class="MsoNormal"><span style="font-family: Arial,sans-serif">2. 
		Trước khi từ giã các môn đệ, Đức Kitô đã cho họ biết ý muốn tối thượng 
		của Ngài: “Ta ban cho các ngươi một điều răn mới là hãy yêu mến nhau. 
		Như Ta đã yêu mến các ngươi, các ngươi cũng hãy yêu mến nhau” (c.34). 
		Ngài nói trong tư thế một sư phụ trăn trối những lời cuối cùng trước khi 
		ra đi (x.Mt 24,45.51), và trong tư thế một người cha hằng lo bảo đảm 
		hạnh phúc cho con cái mà ông sắp giã từ. Nếu được chấp hành tốt, điều 
		răn này sẽ đền bù cho các môn đệ, trong mức độ có thể, sự mất mát không 
		còn thấy Thầy cách khả giác, và sẽ làm họ xứng đáng gặp lại Ngài. Giới 
		luật bác ái huynh đệ mà ở đây Chúa Giêsu gọi là giới luật “mới” ít lúc 
		nữa sẽ được Ngài gọi là “giới luật của Ngài” (15,12).</span></p>
		<p class="MsoNormal"><span style="font-family: Arial,sans-serif">Chính 
		nhờ giới luật mới, nên Đức Kitô mới có thể tuyên bố là của Ngài. Luật tự 
		nhiên dạy đừng làm cho ai điều ta không muốn họ làm cho mình. Luật 
		Môisen đã thừa nhận khoản luật tự nhiên đó, khi dạy phải yêu tha nhân 
		như chính mình (Lv 19,18). Nhưng đối với ai người Do thái, tha nhân là 
		anh em, đồng bào, bạn hữu mà họ cần phải sống an hoà với, không thì sẽ 
		bất an khi cùng đi đường. Luật trực tiếp liên hệ đến người Do thái, 
		nhưng không gạt bỏ ngoại kiều (Mt 5,43. Trong các điều kiện trên, tình 
		yêu tha nhân có tính cách tiêu cực nhiều: tránh tất cả những gì có thể 
		gây thù oán, báo phục. Nếu tình yêu được thể hiện cách tích cực bằng 
		hành động, thì cũng không kém vụ lợi; tựu trung, qui tắc là yêu chính 
		bản thân mình. Chính giáo sĩ Hiller, nhà luân lý Do thái nhân bản nhất 
		đã hiểu như thế: “Điều chi ngươi ghét, ngươi chớ làm cho tha nhân. Chính 
		đó là tất cả lề luật, các điều khác chỉ là lời chú giải” (Chabbath, 
		f.31).</span></p>
		<p class="MsoNormal"><span style="font-family: Arial,sans-serif">Để xác 
		quyết, Chúa Giêsu đã hơn một lần nhắc lại luật căn bản của mọi tương 
		giao xã hội (Mt 7,12; 19,19; 22,39-40), nhưng Ngài đã vượt qua luật đó, 
		hay ít ra, đã đưa nó về lại nội dung ban đầu, khi tố giác lối chú giải 
		hẹp hòi và cứng nhắc mà các thày ký lục đã đề ra (Mt 5,43). Không phải 
		chỉ yêu thương bạn hữu, mà còn phải muốn điều lành cho mọi người, kể cả 
		kẻ thù mình; bằng không, không phải là Kitô hữu (Mt 5,46-48).</span></p>
		<p class="MsoNormal"><span style="font-family: Arial,sans-serif">Với 
		“giới luật mới”, Chúa Giêsu còn thêm nhiều điều trong những đòi buộc của 
		tình bác ái huynh đệ; yêu tha nhân như chính mình chưa đủ người kitô hữu 
		phải yêu tha nhân như Đức Kitô đã yêu họ (c.34). Mà tình yêu Đức Kitô 
		đối với chúng ta là ân cần, vô vụ lợi, tận tâm (Ga 13,13-16; 15,16.19; 
		Rm 15,13). Ngài đã hiến mình cho loài người đến cùng, nghĩa là cho đến 
		chết (Ga 13,1; 15,12-14). Thánh Gioan đã ghi rõ ràng: “Chính do điều này 
		mà ta nhận ra được lòng yêu mến: là Đấng ấy (Đức Kitô) đã thí mạng vì 
		chúng ta; nên ta cũng thí mạng vì anh em mình” (1Ga 3,16).</span></p>
		<p class="MsoNormal"><span style="font-family: Arial,sans-serif">Giao 
		ước mới đã được đóng ấn với máu của tác giả giao ước (1Co 11,25). Điều 
		trong trình thuật rửa chân trước đó được giới thiệu như một việc “phục 
		vụ”, ở đây được gọi là “tình yêu”; nhưng tựu trung chỉ có một vấn đề: 
		hiến thân hoàn toàn, không hạn chế. Tình yêu Chúa Giêsu dành cho chúng 
		ta là tình yêu thần linh, không chỉ vì Ngài là Thiên Chúa, vì Ngài yêu 
		chúng ta như là tạo vật và Con Thiên Chúa (Ga 17,6.9.10); nhưng còn vì 
		Ngài mô phỏng theo tình yêu Chúa Cha dành cho Ngài: “Như Cha yêu mến Ta, 
		Ta cũng yêu mến các ngươi” (Ga 15,9). Nói tóm lại có nghĩa là: “Hãy yêu 
		thương nhau, như Ta đã yêu thương các ngươi, cho đến hy sinh mạng sống; 
		hãy yêu thương nhau như chính Thiên Chúa đã yêu Ta”.</span></p>
		<p class="MsoNormal"><span style="font-family: Arial,sans-serif">Một khi 
		được hiểu và thực hành như vậy, tình bác ái huynh đệ phải tạo ra giữa 
		loài người mối hiệp nhất theo gương Thiên Chúa: “Để hết thảy chúng được 
		nên một, cũng như, Lạy Cha, Cha ở trong Con và Con ở trong Cha, ngõ hầu 
		chúng ở trong chúng ta” (Ga 17,21). Mà Đấng cầu nguyện như thế cũng đã 
		nói: “Cha và Ta là một” (10,30).</span></p>
		<p class="MsoNormal"><span style="font-family: Arial,sans-serif">Ngoài 
		ra, Đức Kitô của Thánh Gioan ở đây không dạy điều gì khác các điều chúng 
		ta đã học trong các phúc âm nhất lãm. Bài diễn từ trên núi tóm tắt toàn 
		bộ lý tưởng Kitô hữu: “Các ngươi hãy nên trọn lành như Cha các ngươi 
		trên trời là Đấng trọn lành” (Mt 5,48). Đoạn này cũng nói yêu kẻ thù là 
		dấu chỉ phân biệt người Kitô hữu (Mt 5,46-48). Để yêu người như Chúa 
		Giêsu muốn, phải yêu Thiên Chúa trên hết mọi sự. Vì thế vị tôn sư đã đặt 
		tình yêu Thiên Chúa và tình yêu tha nhân một cách nào đó ngang hàng với 
		nhau (Mt 22,39). Gioan và Phaolô, hai môn đệ Ngài, đã nhất trí dạy rằng: 
		người yêu tha nhân là giữ trọn lề luật (1Ga 2,7-11; 3,10 -11.14-16; Rm 
		13,9-10).</span></p>
		<p class="MsoNormal"><span style="font-family: Arial,sans-serif">“Chính 
		nơi điều này mà mọi người sẽ nhận ra là các ngươi là môn đệ Ta: ấy là 
		các ngươi có lòng yêu mến nhau” (c.35). Bác ái giữa người Kitô hữu với 
		nhau phải hiện thực và rõ ràng đến nỗi tự nó cho thấy họ là môn đệ Chúa 
		Giêsu, ngay cả đến những người không biết gì về Kitô giáo (Ga 14,31; 
		17,21; 1Ga 2,7-11; 4,02-21). Tình yêu được truyền dạy ở đây chỉ có thể 
		được hiện hữu giữa những người tin vào Chúa Giêsu Kitô. Một lần nữa, 
		giới luật là giới luật “mới&quot;.</span></p>
		<p class="MsoNormal"><span style="font-family: Arial,sans-serif">Lịch sử 
		Giáo hội sơ khai là lời chú giải tuyệt hảo nhất về câu nói đó. Luật bác 
		ái đã được hiểu rất sớm và đã phát sinh ra nhiều hoa quả xây dựng mà 
		Chúa mong chờ. Tác giả sách công vụ đã nói lên đặc điểm của nhóm Kitô 
		hữu đầu tiên: “Các kẻ tin hết thảy đều coi mọi sự như của chung” (Cv 
		2,44). Theo chứng từ của Tertullien, người ta đã nói về họ: “Hãy xem họ 
		thương nhau biết bao và sẵn sàng hiến mạng cho nhau chừng nào” 
		(Apolog.39; Pl 1,53a). Sau này, những người ở ngoài sẽ gọi họ là Kitô 
		hữu, còn họ vẫn gọi nhau là “anh em” (Cv 11,26.29). Họ ý thức việc họ 
		được bác ái liên kết, đến nỗi đã dùng chữ “Agapê” (tình yêu) để đặt tên 
		cho bữa ăn chung, được đó họ ăn và uống Mình, Máu Chúa (Giuda 12; 
		Ignatiô, thơ gởi tín hữu Rm 7).</span></p>
		<p class="MsoNormal"><b><span style="font-family: Arial,sans-serif">KẾT 
		LUẬN</span></b></p>
		<p class="MsoNormal"><span style="font-family: Arial,sans-serif">Trước 
		ngày tử nạn, Chúa Giêsu đã ban luật sống mới cho môn đệ mình. Đây là một 
		luật mới vì đặt cơ sở trên một biến cố mới, bất ngờ và điên đảo: cái 
		chết của Chúa, và vì trong cộng đoàn nhân loại không có chi tương tự như 
		thế. Do đó, luật sống này là đặc điểm của cộng đoàn môn đệ vừa thành 
		lập: “chính nơi điều này mà mọi người sẽ nhận ra các ngươi là môn đệ 
		Ta”. Và các chứng tá trong Giáo hội sơ khai chứng nhận rằng luật tình 
		yêu này, thực sự đã được chấp hành tốt.</span></p>
		<p class="MsoNormal"><span style="font-family: Arial,sans-serif">Ý HƯỚNG 
		BÀI GIẢNG</span></p>
		<p class="MsoNormal"><span style="font-family: Arial,sans-serif">1. Sau 
		khi Giuda ra đi, Chúa Giêsu liền công bố, như thể cuộc ra đi của Giuda 
		là dấu hiệu của một điều gì quan trọng: “Bây giờ Con Người đã được tôn 
		vinh và Thiên Chúa đã được tôn vinh nơi Ngài”. Hãy biết rằng, trong 
		thánh kinh, vinh quang của Thiên Chúa hay vinh quang của một người nào 
		đó không cùng ngôn ngữ như trong ngôn ngữ chúng ta. Trong ngôn ngữ chúng 
		ta, vinh quang có nghĩa: nổi danh, đắc nhân tâm và được tiếng tốt. Trong 
		Thánh kinh, vinh quang chỉ phẩm cách, thế lực, ảnh hưởng hiện diện và 
		quyền năng của nhân vật. Với ý nghĩ đó, vinh quang cao cả, cơ sở của mọi 
		vinh quang khác, chỉ thuộc về Thiên Chúa, Đấng thông ban vinh quang như 
		ý Ngài muốn. Trong mức độ thực hiện chương trình Thiên Chúa, mỗi người 
		nhận được giá trị và thế lực, và lớn lên trong vinh quang.</span></p>
		<p class="MsoNormal"><span style="font-family: Arial,sans-serif">2. Việc 
		tìm hiểu các tự nguyện đó giúp chúng ta quán triệt ý nghĩa các lời nói 
		của Đức Kitô. Chúa Giêsu đã được tôn vinh. Ngài chấp nhận điều Giuda 
		phải làm. Từ đó, Ngài được vinh hiển, vì hoàn toàn chấp nhận cuộc Vượt 
		qua bằng cái chết. Việc Ngài vâng phục thánh ý Chúa Cha làm cho Ngài 
		được “vinh quang” và nói lên việc Người nhiệt tâm yêu mến Thiên Chúa. 
		Đồng thời khi minh chứng mức độ tình yêu Ngài đối với loài người bằng 
		việc trao ban Chúa Con, Chúa Cha cũng “đã được tôn vinh” trong con người 
		Chúa Giêsu.</span></p>
		<p class="MsoNormal"><span style="font-family: Arial,sans-serif">3. Việc 
		phúc âm và phụng vụ nhấn mạnh đến tính cách mới mẻ của luật bác ái huynh 
		đệ đòi buộc chúng ta xét mình xem chúng ta thực thi Luật đó đến mức nào 
		và bằng cách nào. Nó giả thiết đức ái này tiếp nối tình yêu Đức Kitô 
		dành cho chúng ta (&quot;như thày đã yêu mến các con&quot;) và tiếp nối tình yêu 
		chúng ta đối với Chúa Giêsu (vì chính trong điều đó mà người ta nhận ra 
		các con là môn đệ Thày...). Lòng thương cảm tự nhiên khác xa tình yêu 
		anh em siêu nhiên mà chúng ta phải có. Yêu thương họ vì họ (trong môi 
		trường và điều kiện sống họ đang sống) không ngăn cản việc yêu thương họ 
		trong Thiên Chúa và trong Đức Kitô. Và ngược lại, yêu thương họ như thế 
		không giảm bớt lòng kính trọng và tình cảm tự nhiên. Yêu cách siêu nhiên 
		không có nghĩa là yêu cách nhạt nhẽo, hững hờ, “để được Chúa thưởng”. 
		Nhưng là yêu người khác hết lòng, không phải vì họ dễ thương, xinh đẹp, 
		tốt lành... nhưng là vì họ là chi thể quí giá của Chúa Giêsu, là công 
		dân Gierusalem thiên quốc. Vì các đặc điểm trên có giá trị cho mọi 
		người, nên phải yêu mọi người với tình yêu siêu nhiên.</span></p>
		<p class="MsoNormal"><span style="font-family: Arial,sans-serif">4. 
		Trong thế giới ích kỷ, bạo tàn, ham mê tiền bạc, bóc lột nghèo, người 
		Kitô hữu phải làm sáng rực như ánh lửa, tình yêu họ đối với tha nhân, 
		niềm cảm thông với người cùng khổ, lòng dịu và tha thứ cho kẻ nghịch 
		thù. Nếu làm như vậy, Kitô hữu sẽ nổi bật lên giữa bao người khác. Một 
		khi cảm nghiệm cách cụ thể tình yêu đó, thiên hạ sẽ nhận ra người Kitô 
		hữu là môn đệ đích thật của Đức Kitô, sức nóng của tình yêu, họ sẽ được 
		đưa dẫn về với Đức Kitô. Chỉ tình yêu mới có thể xây dựng đô thành huynh 
		đệ loài người hằng mơ ước.</span></p>
&nbsp;</td>
	</tr>
	<tr>
		<td width="474">
		<p style="text-align: center">
<a target="_top" href="http://tinmung.net">
<img border="0" src="../../../../../logo/LOGOtinmung.gif" width="67" height="40"></a></td>
	</tr>
	</table>

</body>

</html>

PHP File Manager