File "ViTongDoMienDongA.htm"

Full path: E:/sites/Single15/tinmung2007/webroot/CAC-THANH/_CacThanh/_Thang12/PhanxicoXavie/SuyNiem/ViTongDoMienDongA.htm
File size: 33.8 KiB (34607 bytes)
MIME-type:
Charset: utf-8

Download   Open   Back

<head>
<meta http-equiv="Content-Language" content="en-us" />
<meta http-equiv="Content-Type" content="text/html; charset=utf-8" />
<title>THÁNH PHANXICÔ XAVIER VỊ TÔNG ÐỒ MIỀN ÐÔNG Á</title>
<base target="main">
<style type="text/css">
.style1 {
	border-width: 0px;
}
</style>
<style fprolloverstyle>A:hover {color: #FF0000; font-family: Arial; font-size: 10pt}
span.contents
	{}
</style>
<meta name="keywords" content="Thánh Phanxicô Xaviê - Thanh Phanxico Xavie, các thanh, cac thanh, suy niem">
</head>

<body style="color: #000000; background-color: #EEEEEE; font-family:Arial; font-size:10pt; text-decoration:none" background="../../../../../TRANG%20CUA%20ME%20MARIA/Pictures/Background/bgr.gif">

<table border="0" width="500" id="table1" cellspacing="15" bgcolor="#FFFFF0">
	<tr>
		<td colspan="2">
		<p align="right" style="margin-top: 0; margin-bottom: 0">
		<b><font color="#006666" face="Verdana" size="4">Lễ Kính Thánh Phanxicô 
		Xaviê </font></b><hr color="#FF4D20" width="80%" align="right">
		<p align="right" style="margin-top: 0; margin-bottom: 0">
		<font color="#0000FF"><b>
		<span style="font-size: 12pt; text-transform: uppercase">THÁNH PHANXICÔ 
		XAVIER VỊ TÔNG ÐỒ MIỀN ÐÔNG Á<br>
		</span></b></font><font size="2">Luật Sư Lê Đình Thông</font></td>
	</tr>
	<tr>
		<td align="justify" colspan="2">
		<p class="NORMAL" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b>
		<span lang="VI">CON ÐƯỜNG ƠN GỌI TRUYỀN GIÁO </span></b></p>
		<p class="NORMAL" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		<span lang="VI">Thánh Phanxicô Xavier sinh tại lâu đài Javier ngày 
		7-4-1506, đến 7-4-2006 là tròn 500 năm. Giáo dân nước ta gọi ngài là 
		Thánh Phanxicô Xavier, phiên âm từ tiếng Tây Ban Nha Francisco nhưng lại 
		ghép tên viết theo tiếng Pháp là Xavier. Lẽ ra nên viết là Phanxicô 
		Javier, vì tên gốc là Francisco de Javier. Viết Phanxicô Javier không 
		những trung thực, mà còn giúp phát âm đúng. Chúng ta viết tên ngài là 
		Xavier, rồi đọc theo tiếng Việt là Xavier, trong khi người Pháp tuy viết 
		là Xavier nhưng vẫn đọc là Javier như tiếng Tây Ban Nha. Trong bài này, 
		chúng tôi viết tên bằng tiếng mẹ đẻ của ngài là Javier. Trong năm Liên 
		đới Tin mừng 2006, Giáo Xứ Việt Nam tại Paris tôn vinh vị Tông đồ miền 
		Đông Á, vì ngài là nhà truyền giáo đầu tiên rao giảng Tin Mừng tại Á 
		Châu. Trong hành trình Âu Á từ Ấn Độ sang Trung Quốc và Nhật Bản, ngài 
		đã dừng chân trên đất nước ta để tránh bão. Ngài có công đem Tin Mừng 
		cho ‘‘cả trăm ngàn, sáu trăm ngàn và nhiều triệu người Á Châu’’. Ngài 
		đặt chân đến Ấn Độ có nền triết học và tôn giáo cổ kính, đến Indonexia 
		(trước đây gọi là Nam Dương) là nước Hồi giáo đông dân nhất địa cầu, 
		Nhật Bản với truyền thống Phật giáo kết hợp với Khổng giáo và Thần đạo.
		</span></p>
		<p class="NORMAL" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		<span lang="VI">Sử sách nói nhiều đến con đường tơ lụa Âu Á từ Antioche 
		(Syrie) đến Tây An (Thiểm Tây) của Trung Quốc. Thánh Phanxicô Xavier là 
		người đầu tiên hành trình Phúc thật từ Âu sang Á. Trước khi lược trình 
		về hành trình Phúc thật, thiết tưởng cũng nên nhắc lại vài dấu mốc trong 
		cuộc đời thánh nhân. </span></p>
		<p class="NORMAL" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		<span lang="VI">Lâu đài Javier nơi chôn rau cắt rốn của Phanxicô nằm ở 
		phía tây dãy núi Pyrénées, nơi có hang đá Lộ Đức. Thân phụ ngài Jean de 
		Jassu có bằng tiến sĩ luật. Thân mẫu Marie de Azpilcueta là hậu duệ của 
		triều đại Aragon. Ông bà có ba trai, hai gái. Là con út trong gia đình, 
		Javier học tiếng la tinh từ thuở nhỏ. Năm 19 tuổi, Javier đến Paris học 
		ở Sorbonne, nơi đào tạo các nhà thần học cho Giáo Hội, các luật gia và 
		giáo sư cho xã hội. Paris vào năm 1525 có khoảng ba trăm ngàn người, 
		Sorbonne có bốn ngàn sinh viên. Năm thứ nhất, Javier học ở học viện 
		Sainte-Barbe về văn chương cổ điển, ba năm rưỡi tiếp theo là học trình 
		Cao học Văn chương. Cuộc sống của Javier thay đổi khi gặp Inhigo de 
		Loyota là bạn đồng học ở Sorbonne. Giám đốc học viện Jacques de Gouveia 
		quyết định cho Inhigo (tiếng Pháp : Ignace, phiên âm sang tiếng Việt là 
		Inhaxiô hoặc Y Nhã) ở cùng phòng với Javier và Favre. Trong năm thứ ba, 
		tình bạn nẩy nở giữa Inhaxiô và Javier. Sau này Polanco là một trong các 
		tu sĩ Dòng Tên đầu tên kể lại : Tôi nghe nói Inhaxiô có thể trộn bột rời 
		rạc chưa được nhào nặn để trở nên mẫu người tận hiến. Từ khi gặp 
		Inhaxiô, Javier trở thành người mới. </span></p>
		<p class="NORMAL" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		<span lang="VI">Ngày 15-8-1534 (1-11-1950 : ĐTC Piô XI trong hiến chế 
		Munificentissimus Deus định ngày 15-8 hàng năm là lễ Đức Mẹ Lên Trời), 
		trên ngọn đồi Tử đạo của Giáo Hội Pháp, sáu anh em dâng lời khấn nghèo 
		khó, khiết trinh, sống cộng đoàn khai nguyên Dòng Tên. Pierre Favre là 
		linh mục dâng thánh lễ. Ngày 15-8-1534 mở đầu lịch sử Dòng Tên. Tên 
		tiếng Pháp của nhà dòng là Société du Nom de Jésus. Vì tôn kính Thánh 
		danh Chúa Giêsu, Giáo Hội Việt Nam quen gọi là Dòng Tên. Sau ngày khấn 
		dòng, Javier gặp một thanh niên Thổ Nhĩ Kỳ, làm phép rửa cho người này. 
		Sự việc này mở đầu sứ mạng truyền giáo của Javier. Nhờ tác động của Chúa 
		Thánh Thần, sáu anh em dòng Tên trên đồi Montmartre quyết tâm đem ánh 
		sáng chân lý cho nguời ngoại trên Đất Thánh, thời đó là đất của Hồi 
		giáo. Quyết định sang Jérusalem chưa thực hiện ngay được. Nhà Dòng quyết 
		định vâng theo ý Đức Thánh Cha, sẵn sàng đi phục vụ bất cứ nơi nào trên 
		thế giới. Inhaxiô ghi lại kinh nghiệm thiêng liêng trong tập Hành giáo 
		(Exercices) : ‘‘Đi gặp những người sinh sống trên mặt đất khác biệt 
		nhau, khác từ phong tục đến mầu da. Có người sống an bình, kẻ khác gặp 
		phải loạn lạc.’’ </span><b><span lang="VI">&nbsp;</span></b></p>
		<p class="NORMAL" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b>
		<span lang="VI">ẤN ÐỘ : ÐIỂM HẸN ÐẦU TIÊN </span></b></p>
		<p class="NORMAL" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		<span lang="VI">Năm 1537, các tu sĩ Dòng Tên đến Roma, được ĐTC Phaolô 
		III ban phép lành. Sau đó, họ đến Venise và tất cả đều được thụ phong 
		linh mục, ngoại trừ Pierre Favre đã là linh mục. Năm 1539, vua Jean III 
		nước Bồ Đào Nha xin Dòng Tên cử người sang Đông Ấn truyền đạo. Cha Simon 
		Rodrigues (người Bồ Đào Nha) và cha Nicolas Bobadilla (người Tây Ban 
		Nha) được chọn nhưng Bobadilla bị sốt. Inhaxiô xin cha Javier lúc đó là 
		bí thư dòng đi thay. Trước khi lên đường, Javier để lại ba phong thư 
		niêm kín : một chấp thuận Hiến pháp Dòng Tên (còn đang dự thảo), một 
		phiếu bầu cha Inhaxiô làm bề trên cả và và một tuyên khấn trọn đời.
		</span></p>
		<p class="NORMAL" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		<span lang="VI">Ngày 7-4-1541, Phanxicô Javier đáp tầu Santiago sang Á 
		Châu truyền giáo. Ngài chỉ mang theo vài bộ đồ cho đỡ lạnh khi đi ngang 
		qua mũi Hảo Vọng (cap de Bonne-Espérance), kinh nhật tụng, cuốn giáo lý, 
		cuốn giáo phụ học, ba cuốn sách nhỏ tiếng la tinh. Ngài viết : Tôi bị 
		say sóng khổ sở suốt hai tháng dọc theo bờ biển Guinée, tuy trời yên bể 
		lặng, đứng gió. </span></p>
		<p class="NORMAL" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		<span lang="VI">Đúng một năm một tháng sau ngày dời Lisbonne (Bồ Đào 
		Nha), tầu Santiago cặp bến Goa (Ấn Độ). Thánh nhân thuật lại : ‘‘Ở Goa, 
		tôi ở trong bệnh viện sống chung với người nghèo. Tôi giải tội cho các 
		bệnh nhân, ban Mình Thánh Chúa cho họ. Thân này ví xẻ làm ‘‘10’’ được. 
		Sau khi lo cho bệnh nhân, buổi sáng giải tội cho người khoẻ mạnh. Sau đó 
		đến lượt các tù nhân. Tôi dạy cho các em biết cầu nguyện, dạy kinh Tin 
		Kính và 10 điều răn tại nhà nguyện Đức Bà.’’ Đứng đầu Goa là một phó 
		vương thay nhà vua trị vì lãnh thổ Bồ Đào Nha ở hải ngoại. Vào thời đó, 
		Goa được coi như ‘‘Roma châu Á’’. Đối với người Ấn, Javier đến từ một 
		hành tinh khác. Sau khi đến Ấn được 5 tháng, ngài xuống miền nam Dekkan. 
		‘‘Chúng tôi đến làng mạc công giáo. Ở đây không có người Bồ Đào Nha vì 
		đất đai cằn cỗi. Không có ai dạy giáo lý cho dân làng. Trên danh nghĩa, 
		họ là người công giáo mà chưa thực sự sống đạo. Không có linh mục cử 
		hành Thánh Lễ, cũng không có ai dạy dân làng kinh Tin Kính, kinh Lạy 
		Cha, kinh Kính Mừng hoặc các điều răn.’’ Công việc mục vụ của thánh nhân 
		‘‘khi đi ngang ngôi làng là lo tập trung dân chúng vào một chỗ trong ít 
		ngày, dạy cho họ kinh bổn, rửa tội cho người ngoại.’’ &nbsp;</span></p>
		<p class="NORMAL" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		<span lang="VI">Tuy đã rửa tội, người Ấn vẫn tụng niệm bùa chú bằng 
		tiếng Phạn. Ngài thay thế bằng các câu Kinh Thánh soạn bằng tiếng 
		tamoul. Một hôm, ngài gặp một sản phụ đau đớn sinh con trong một túp lều 
		nhỏ. Ngài đọc kinh Tin Kính thay thần chú. Nhờ vậy mà mẹ tròn con vuông. 
		Sau đó cả gia đình xin rửa tội. Cha Coellho kể lại một giai thoại về 
		Javier. Ngài có thói quen ra sân vắng giữa đêm khuya để cầu nguyện và 
		hành xác. Một hôm Javier la lớn lên nhiều lần : ‘‘Lạy Thánh Mẫu Maria, 
		bộ Mẹ không giúp con sao ?’’. Ngài la to đến nỗi người giúp việc Malabar 
		giật mình thức dậy. Một lúc sau là tiếng roi hành xác. Sau đó, cha 
		Phanxicô thiếp đi suốt hai ngày trời. Thánh nhân là người Tây phương đầu 
		tiên học tiếng Phạn. Ngài viết : ‘‘Trong đất nước này, giữa những người 
		hiền lương còn những người được gọi là brahman (Bà La Môn). Họ chăm sóc 
		đền thờ bụt thần. Họ là những người tai ác. Chính họ là hiện thân Thánh 
		Vịnh : Xin Chúa che chở con khỏi những người không phải là thánh nhân, 
		đầy bất công lừa đảo (Thánh vịnh 42, 1). Tôi lột trần sự lừa đảo của họ, 
		dân nghèo phải tùng phục họ chỉ vì sợ hãi.’’ </span></p>
		<p class="NORMAL" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		<span lang="VI"><b>CÒN NHIỀU ÐIỂM HẸN KHÁC TẠI QUẦN ÐẢO NAM DƯƠNG </b>
		</span></p>
		<p class="NORMAL" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		<span lang="VI">Phanxicô đã rửa tội khoảng 100 000 tại Ấn Độ và Tích 
		Lan, bắt đầu bằng lễ rửa tội một hoàng tử đạo Phật, cháu vua Kottê 
		Bhuvaneka Bâhu. Trước đó, nhà vua ra lệnh hành quyết con trai vì theo 
		đạo Công giáo. Tháng 3-1545, gió mùa ẩm ướt khiến tầu bè đi phía tây rất 
		nguy hiểm, thánh nhân phải sang hướng đông, đến Meilapur là nơi an táng 
		thánh Tôma Tông đồ, người có phúc đặt tay vào vết thương của Chúa Kitô 
		Phục sinh. Thực ra, vào thế kỷ thứ 3, xương thánh Tôma đã được chuyển về 
		Edesse miền Tiểu Á. Nơi mộ phần Thánh Tôma, Phanxicô nghe tiếng Chúa. 
		Ngài thuật lại : ‘‘Khi hành hương nơi mộ phần Thánh Tôma đợi ngày đi 
		Malacca, tôi gặp một thương nhân có tầu buôn và hàng hóa. Tôi nói với 
		thương nhân này về Chúa. Chúa đã khiến cho người lái buôn bỏ thuyền bỏ 
		lái, đồng hành sang đảo Macassar sống suốt đời trong khó nghèo để phụng 
		sự Thiên Chúa. Trước kia người thanh niên 35 tuổi đời là một người lính, 
		ngày nay trở nên chiến sĩ của Chúa Kitô.’’ &nbsp;</span></p>
		<p class="NORMAL" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		<span lang="VI">Từ tháng 9 đến cuối năm 1545, Javier đáp tầu đi Malacca 
		giữa phong ba bão tố. Malacca nằm trong quần đảo Indonexia (Nam Dương). 
		Khi Javier đặt chân đến Malacca, nơi này được tự do hành đạo. Đền Hồi 
		giáo và Thánh đường Công giáo xây cạnh nhau, cùng với chùa chiền Phật 
		giáo và đền thờ Do Thái giáo. Chỉ có một linh mục tuyên úy lo cho giáo 
		dân đủ mọi sắc dân. Cũng như trước đây ở Goa, Phanxicô chung sống với 
		người nghèo ở Malacca. Phanxicô làm việc ngày quên ăn, đêm quên ngủ. Đêm 
		về, ngài cùng các thiếu nhi công giáo đi qua các đường phố Malacca rung 
		chuông, lớn tiếng cầu nguyện cho các linh hồn ở chốn luyện hình. Ngài 
		học tiếng Mã Lai để lo việc truyền giáo. &nbsp;</span></p>
		<p class="NORMAL" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		<span lang="VI">Trong hai năm 1546-1547, Phanxicô sang đảo Moluques nổi 
		tiếng là trù phú, đa số dân chúng theo đạo Hồi. Thánh nhân kể lại : 
		‘‘Phần lớn trên các đảo này núi lửa phun ầm ĩ ra các tảng đá cực lớn. Vì 
		không có linh mục thuyết giảng, Chúa cho phép cửa hỏa ngục mở ra vì tội 
		lỗi nhân loại. Một trong các đảo này động đất liên miên. Ngày Lễ Tổng 
		Lãnh Thiên Thần Micae, trong lúc đang cử hành Thánh lễ, động đất mạnh 
		đến nỗi tôi sợ bàn thờ bị xiêu vẹo. Có lẽ Thánh Micae dùng quyền lực 
		trừng phạt quỷ sứ, đuổi chúng xuống địa ngục.’’ Ngài ghi thêm : Hải đảo 
		này nên được mang tên là đảo Hy vọng vào Chúa hơn là đảo Maure. </span>
		</p>
		<p class="NORMAL" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		<span lang="VI">Tại Maluco, Phanxicô quen thân vua Hồi giáo Hairun. Nhà 
		vua mong mỏi Hồi giáo và Thiên Chúa giáo sau cùng có thể gặp nhau. ‘‘Nhà 
		vua tỏ ra ưu ái tôi khiến những kỳ lão buông lời trách móc. Nhà vua muốn 
		tôi kết thân và nhà vua sẽ chịu phép rửa tội. Hairun muốn rằng tôi là 
		bạn thân, vì người Công giáo và Hồi giáo đều là con một cha và một ngày 
		kia cả hai sẽ hiệp nhất.’’ </span></p>
		<p class="NORMAL" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		<span lang="VI">Phanxicô không ở một nơi lâu. Trước khi đi, ngài hình 
		thành Giáo Hội địa phương. Javier không chỉ là nhà truyền giáo Dòng Tên. 
		Ngài còn là Sứ thần Tòa Thánh. Ngài thu thập các thông tin về địa dư, 
		dân tộc học hoặc tôn giáo. Trong thời gian từ tháng 9 đến tháng 12-1545, 
		ngài gặp một thương nhân Bồ Đào Nha từng đi Trung Quốc. Ngài cho rằng có 
		thể đến Trung Quốc bằng đường biển từ Malacca khi đó ở trong tay người 
		Bồ Đào Nha. Trung Quốc chính là nước Cathay trong sử liệu của Marco 
		Polo. Javier tin rằng Thánh Toma Tông đồ từng đến Trung Quốc giảng đạo. 
		Tại Malacca, Phanxico gặp một người Nhật tên là Anjiro. Tại Nhật Bản, 
		Anjiro đã nghe tiếng Javier là sứ giả nhà trời. Anjiro lặn lội sang 
		Malacca tìm gặp Javier. Khi sang đến Malacca năm 1546, Javier đã đi nơi 
		khác. Anjiro trở lên mạn bắc, về hướng Trung Quốc và Nhật Bản. Một người 
		Bồ Đào Nha cho anh biết Phanxicô đã trở về Malacca. Hai người gặp nhau 
		vào tháng 12-1547. </span></p>
		<p class="NORMAL" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		<span lang="VI">Anjiro thuộc giáo phái Phật giáo Chân Ngôn (Shingon). 
		Anh thông thạo tiếng Bồ nhưng không am tường các danh từ thần học. 
		Javier nghĩ ngay đến việc cùng Anjiro dịch thuật. ‘‘Tôi hỏi Anjiro nếu 
		tôi đến Nhật, người Nhật liệu có rửa tội không. Anh trả lời người Nhật 
		không trở lại đạo tức khắc. Anh cho biết dân Nhật sẽ đặt nhiều câu hỏi 
		và tùy theo cách trả lời của tôi và nhất là họ xem lời nói của tôi có đi 
		đôi với việc làm không. Nếu cả hai điều kiện vừa kể tốt đẹp, nửa năm sau 
		có thể vua dân nước Nhật sẽ theo đạo.’’ </span></p>
		<p class="NORMAL" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		<span lang="VI"><b>HAI ÐIỂM HẸN CUỐI ÐỜI : NHẬT VÀ TRUNG HOA </b></span>
		</p>
		<p class="NORMAL" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		<span lang="VI">Javier viết về dự định đi Nhật như sau : Về phần con, 
		lạy Chúa, con vẫn chưa quyết định có đi hay không, nhưng dần dà hình 
		thành câu trả lời xin vâng. Tháng 5-1548, Phanxicô rửa tội cho Anjirô và 
		hai người Nhật khác. Sau cùng, Javier quyết định sang Nhật, ‘‘quần đảo 
		Nhật Bản được chúc phúc. Người dân có óc cầu tiến, ham học hỏi Lời 
		Chúa.’’ Javier cũng như những người Bồ Đào Nha vào thời đó nghĩ rằng 
		người Tầu và ngưòi Nhật có nhiều ưu điểm hơn người Mã Lai và Ấn Độ. Nền 
		văn minh Trung Nhật là văn minh văn tự ‘‘tri thức’’. Còn tại Nam Á, theo 
		thánh nhân, ngoài một số trí thức thông thạo chữ Phạn và chữ Á rập, còn 
		lại dân chúng không biết đọc biết viết. Ngày 14-1-1549, Phanxicô gửi thư 
		cho Inhaxiô báo tin sẽ lên đưòng sang Nhật truyền giáo. Ngày 23-6-1549, 
		Javier đi thuyền buồm Trung Quốc qua Malacca. Ngài viết : ‘‘Tất cả các 
		giáo hữu và bạn bè thân thiết tỏ ra lo sợ về chuyến viễn du đầy nguy 
		hiểm này. Về phần tôi, tôi chỉ sợ cho họ thiếu đức tin, vì Chúa lèo lái 
		và có quyền uy trên phong ba bão tố trên biển Trung Hoa và Nhật Bản. Từ 
		trước tới nay tôi chưa từng chứng kiến trận bão nào ghê hồn đến như vậy. 
		’’ Javier đi cùng hai giáo sĩ Dòng Tên người Tây Ban Nha, ba người Nhật 
		trong số có Anjirô. Con thuyền cập bến Kagoshima, lãnh địa Satsuma ở cực 
		nam đảo Kyushu vào đúng ngày lễ Đức Mẹ 15-8-1549 (cũng là ngày kỷ niệm 
		thành lập Dòng Tên). Cảnh trí thật nên thơ : ruộng lúa trên đồng bằng, 
		cây đào cây cam trên sườn núi Sakujima. Phanxicô nhận xét : ‘‘Người Nhật 
		trọng danh dự hơn là tiền của, tỏ ra rất lễ độ. Phần lớn người Nhật biết 
		đọc biết viết. Đó là cách tốt nhất để học kinh bổn.’’ Trong tự điển Nhật 
		Bản về Lịch sử và Truyền thống, tên thánh nhân viết tiếng Nhật là 
		Huranutusuko Zabieru. </span></p>
		<p class="NORMAL" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		<span lang="VI">Mùa đông 1549-1550, Phanxicô và hai giáo sĩ Dòng Tên học 
		tiếng Nhật dưới sự hướng dẫn của Anjirô. Phanxicô và Louis Almeida học 
		rất nhanh. Hòa thượng Nanriji mời Phanxicô vào dạy kinh Công giáo dịch 
		sang tiếng Nhật tại Thiền Viện nơi Hòa thượng Nanriji trụ trì, có tới 
		100 thiền sư. Có hai thiền sư xin rửa tội một cách kín đáo. Phanxicô 
		định sẽ du nhập giáo huấn Công giáo vào Thiền tông, nhưng gặp sự phản 
		đối của Almeida. </span></p>
		<p class="NORMAL" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		<span lang="VI">Các cuộc đàm đạo thường bắt đầu bằng việc tụng kinh Công 
		giáo bằng tiếng Nhật. Lãnh chúa Niiro Isênô Kaminodo sống trong lâu đài 
		Ichiku xin rửa tội, chọn tên thánh là Micae. Lâu đài của ông trở thành 
		cộng đoàn công giáo. Tại Yamaguchi, các tu sĩ daimyô cho Phanxicô sử 
		dụng tu viện. Khi Javier dời Kagoshima để đi Hirado, Aijirô điều khiển 
		một cộng đoàn nhỏ. Về sau, Anjiro bị các nhà sư chống đối, phải trốn 
		khỏi Kagoshima, bị rơi vào tay cướp biển. </span></p>
		<p class="NORMAL" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		<span lang="VI">Trong bảng tổng kết năm 1552, Phanxicô nhấn mạnh các 
		giáo hữu Nhật phần lớn thuộc tầng lớp quý tộc. Phanxicô đến kinh đô 
		Kyoto với danh nghĩa sứ thần Tòa Thánh. Việc giao thiệp với các nhà sư 
		Nhật trở nên khó khăn. ‘’Khi đi ngoai đường, đám đông chạy theo chúng 
		tôi nói rằng : Đây là những người nói chúng ta phải tôn thờ Thiên Chúa 
		để được cứu rỗi. Chỉ có Thiên Chúa là đấng cứu độ chúng ta. Người khác 
		nói rằng : Đây là những người rao giảng không thể lấy hai vợ. Người khác 
		lại nói : Đây là những người cấm tội dâm dục.’’ </span></p>
		<p class="NORMAL" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		<span lang="VI">Cuối năm 1551, một tầu buôn Bồ Đào Nha cặp bến Kyushu 
		không mang theo thư từ cho Javier. Sống ở Nhật vào thế kỷ 16 giống như 
		bị lưu đầy biệt xứ. Thánh nhân quyết định dời Nhật Bản, giao cho hai 
		giáo sĩ Cosme de Torres và Jean Fernandez chăn dắt đoàn chiên. Trong lá 
		thư gửi Inhaxiô, Phanxicô viết về Trung Quốc như sau : ‘‘Trung Quốc đất 
		rộng, an bình và có pháp luật. Chỉ có một Hoàng đế trị vì. Họ là người 
		da trắng, không để râu, mắt hí, tỏ ra đại lượng và rất hiền hòa. Giữa 
		người Hoa với nhau không có chiến tranh. Năm nay 1552, tôi hy vọng sẽ 
		lên đường sang Trung Quốc để hoàn thành sứ mạng đối với Thiên Chúa. Cái 
		gì có thể thực hiện ở Trung Quốc cũng có thể làm ở Nhật Bản. Hơn nữa, 
		khi người Nhật biết người Tầu chấp nhận luật Thiên Chúa, họ sẽ từ bỏ 
		niềm tin vào các giáo phái. Tôi hy vọng nhờ Dòng Tên, người Hoa cũng như 
		người Nhật sẽ không thờ cúng bụt thần và thờ lạy Chúa Kitô là đấng cứu 
		chuộc loài người.’’ </span></p>
		<p class="NORMAL" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		<span lang="VI">Khi con tầu ghé ngang Malacca, Phanxicô nhận được thư đề 
		ngày 10-10-1549 của Inhaxiô bổ nhiệm ngài làm bề trên tỉnh dòng tại Ấn 
		Độ. Từ nay Phanxicô phụ trách khắp Á châu, trước đây thuộc quyền của 
		Tỉnh Dòng Bồ Đào Nha. Phanxicô lên đường sang Trung Quốc mà không được 
		đọc những hàng chữ này của Inhaxiô : ‘‘Tôi tin chắc sự khôn ngoan hướng 
		dẫn cha, tuy nhiên theo các thông tin hiện nay, tôi thiết nghĩ nếu ở lại 
		Ấn Độ cha phục vụ hữu hiệu hơn. Cha nên gửi những anh em khác sang Trung 
		Quốc.’’ Từ tháng 5 đến tháng 11-1552, Phanxicô dời Goa, Cochin đi 
		Malacca. Trước khi đến Trung Quốc, Phanxicô học tiếng Hoa : ‘‘Hán văn 
		được dạy trong các đại học ở Nhật. Các thiền sư biết Hán văn được coi là 
		uyên bác. Mỗi chữ Hán đều mang một ý nghĩa. Người Nhật đọc tiếng Hoa 
		theo phát âm riêng. Chúng tôi biên soạn một cuốn sách bằng tiếng Nhật về 
		tạo thiên lập địa và các mầu nhiệm trong cuộc đời Chúa Kitô. Chúng tôi 
		cũng sẽ soạn một cuốn sách tương tự bằng tiếng Hoa.’’ </span></p>
		<p class="NORMAL" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		<span lang="VI"><b>ÐƯỢC GỌI VỀ ÐIỂM HẸN TRUYỀN GIÁO VĨNH CỬU </b></span>
		</p>
		<p class="NORMAL" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		<span lang="VI">Tầu chở Phanxicô gặp bão lớn, phải ném bớt hàng hóa 
		xuống biển. Trên chặng đưòng từ Xingapo (Tân Gia Ba) đi ngang hải phận 
		nước ta, thuyền trưởng không còn định hướng được nữa. Chính Javier từng 
		đi ngang vùng biển này hai lần đã chỉ một hải đảo nhỏ cách Hồng Kông 
		không xa. Sở dĩ Phanxicô chọn đảo Trường Xuyên (Shangchuan) vì đây là 
		nơi trao đổi tơ lụa và đồ gốm Trung Quốc lấy hồ tiêu và gia vị Bồ Đào 
		Nha. Phanxicô kể lại rằng ‘‘một người quê Quảng Đông hứa sẽ nhận hai 
		trăm đồng cruzados cho Phanxicô trốn trong nhà trong ba ngày, sau đó đưa 
		ra cửa thành với sách vở và hành lý gặp quan tổng trấn xin yết kiến 
		Hoàng đế Trung Quốc để trình thư của Đức Giám Mục với sứ mạng rao giảng 
		Luật Chúa.’’ Dự định này bất thành. Sang tháng 11, gió bấc lạnh thổi vào 
		hải đảo. Không còn người Bồ trên đảo. Chỉ còn hai cái lều của Phanxicô 
		và Jacques Vaz là một thương nhân. Vaz nhận thấy Phanxicô suy yếu nên 
		chuyển lên một thương thuyền. Con tầu Santa Croce tròng trành khiến 
		Phanxicô kiệt sức. Người ta lại vực ngài xuống đảo, ở tạm trong căn lều 
		của Vaz cho đỡ lạnh. Người ta lấy máu ngài vào ống hút theo y học thời 
		ấy. Trước giờ lâm chung, Javier đọc kinh tiếng la tinh và tụng ca bằng 
		tiếng mẹ đẻ (Basques). Ngài qua đời đêm 2 rạng ngày 3-12-1552. Hôm sau, 
		người ta an táng ngài trên bờ biển Trường Xuyên. </span></p>
		<p class="NORMAL" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		<span lang="VI">5 tháng sau, khi mở quan tài, Phanxicô như đang nằm ngủ. 
		Ngài nổi tiếng về sự thánh thiện và làm nhiều phép lạ. Linh cữu được 
		chuyển về Goa vào mùa chay năm 1554. Quan tài một lần nữa được mở ra với 
		hình hài còn nguyên như đang ngủ. Ba năm sau Inhaxiô mới biết tin 
		Phanxicô đã qua đời. ĐTC Phaolô V phong chân phước ngày 25-10-1619. ĐTC 
		Grégoire XV phong hiển thánh ngày 12-3-1622. </span></p>
		<p class="NORMAL" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		<span lang="VI">Có thể tóm tắt cuộc đời thánh Phanxicô Javier vào 5 niên 
		biểu : 1506 : năm sinh. 1534 : dâng lời khấn Montmartre (29 tuổi). 1540 
		: lên đường sang Á Châu truyền giáo (34 tuổi). 1549 : truyền bá đức tin 
		ở Nhật Bản (43 tuổi) 1552 : từ trần trên lãnh thổ Trung Quốc (46 tuổi).
		</span></p>
		<p class="NORMAL" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		<span lang="VI">Cũng có thể tóm lược đời Javier trong 5 chữ J (hoặc chữ 
		I, (Iôta trong tự mẫu Hy Lạp) : Javier (nơi sinh), Jésus (Dòng Tên), 
		India (Ấn Độ), Indonexia (Nam Dương), Japan (Nhật Bản). Chữ I chính là 
		IHS : Thánh Danh Chúa Giêsu : Jesus Hominum Salvator (hoặc Jesus 
		Hierosolymae Salvator) : Chúa Giêsu Đấng Cứu chuộc Nhân loại. Còn một 
		chữ J liên hệ đến gia đình Javier. Cháu ruột Javier là linh mục Dòng Tên 
		Jérôme Javier noi gương chú sang Ấn Độ truyền giáo. </span></p>
		<p class="NORMAL" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b>
		<span lang="VI">DI NGÔN CỦA THÁNH PHANXICÔ </span></b></p>
		<p class="NORMAL" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		<span lang="VI">Kết thúc bài viết này, xin ghi lại hai giai thoại về 
		Thánh Phanxicô Javier và di ngôn của ngài. </span></p>
		<p class="NORMAL" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		<span lang="VI">1) Cha Laynez là giáo sư nhà tập kể lại khi các giáo sĩ 
		thực tập trong các bệnh viện ở Ý, Phanxicô Javier thức giấc trong đêm 
		nói rằng : ‘‘Lạy Chúa Giêsu, con mệt mỏi, Chúa có biết con nằm mơ thấy 
		gì không ? Con cõng trên lưng một người Ấn Độ, người này nặng quá con 
		không sao cõng nổi’’. </span></p>
		<p class="NORMAL" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		<span lang="VI">2) Một đêm khác, Phanxicô đánh thức cha Rodrigues nói : 
		‘‘Mas ! Mas ! Hơn nữa ! Hơn nữa !’’. Trước khi từ biệt Lisbonne, ngài 
		giải thích ý nghĩa của giấc mộng này : ‘‘Tôi thấy mình cơ cực, gặp nhiều 
		nguy hiểm trên đường phụng sự Thiên Chúa. Nhờ hồng phúc ngài nâng đỡ 
		tôi, thúc đẩy tôi khiến tôi không hể không xin ngài thêm nữa. Tôi hy 
		vọng sẽ đến giờ chứng minh điều xin ‘‘Hơn nữa’’ (Mas, Mas) sẽ thực hiện 
		được.’’ </span></p>
		<p class="NORMAL" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		<span lang="VI">Di ngôn : Trong lá thư viết từ Goa tháng 3-1549 gửi một 
		giáo sĩ cùng Dòng, Phanxicô viết : ‘‘ Trước hết, hãy chú tâm đến bản 
		thân và quan tâm đến sự liên hệ với Thiên Chúa, nhờ vậy bạn trở nên có 
		ích cho những người thân quen. Đừng quên tự xét lương tâm ít nhất một 
		ngày một lần nếu bạn không thể làm hai lần một ngày. Hãy quan tâm về 
		lương tâm của chính bạn hơn là lương tâm người khác, bởi vì ai không nên 
		thánh, làm sao có thể mang lại cho người khác sự tốt lành ? Trong quan 
		hệ với người khác, hãy bàn bạc và tạo tình thân.’’ </span></p>
		<p class="NORMAL" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		<span lang="VI">Phải chăng di ngôn của Thánh Phanxicô Javier nhắc nhở 
		mỗi chúng ta nhiệm vụ truyền giáo, thánh hóa bản thân trong năm Liên Đới 
		Tin Mừng 2006 ? &nbsp;</span></p>
		<p class="NORMAL" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b>
		<span lang="VI">LƯỢC SỬ THÁNH PHANXICÔ XAVIER </span></b></p>
		<p class="NORMAL" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><i>
		<span lang="VI">Năm thế kỷ Á Châu sống đạo,<br>
		Dạ sắt son tiết tháo trung kiên.<br>
		Phúc Âm hun đúc người hiền,<br>
		Hành trình Phúc Thật khắp miền Á Âu.</span></i></p>
		<p class="NORMAL" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><i>
		<span lang="VI">Năm Lẻ sáu (06) đêm thâu sinh hạ,<br>
		Một hài nhi sắt đá tâm can.<br>
		Sorbonne học tập mấy năm.<br>
		Văn chương phú lục con tằm nhả tơ.</span></i></p>
		<p class="NORMAL" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><i>
		<span lang="VI">Ngài tận hiến không mơ chức vị,<br>
		Sống đơn sơ bố thí âm thầm.<br>
		Sang Goa truyền bá Phúc Âm,<br>
		Số người rửa tội hàng năm khá nhiều.</span></i></p>
		<p class="NORMAL" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><i>
		<span lang="VI">Sống thánh thiện nhiều điều mẫu mực,<br>
		Thương yêu người hiện thực câu kinh.<br>
		Cộng đoàn vững chắc thành hình,<br>
		Ngài đi chỗ khác một mình xả thân.</span></i></p>
		<p class="NORMAL" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><i>
		<span lang="VI">Ra hải đảo ầm ầm núi lửa, <br>
		Ngài ra tay mở cửa ơn thiêng. <br>
		Cải tà quy chánh một miền, <br>
		Danh Cha cả sáng triều thiên nước Trời. </span></i></p>
		<p class="NORMAL" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><i>
		<span lang="VI">Sang Nhật Bản bằng lời khúc triết, <br>
		Ngài luận bàn hơn thiệt cao tăng. <br>
		Ngồi thiền đối thoại dưới trăng, <br>
		Ngài dùng tiếng Nhật nghiêm trang giảng bài. &nbsp;</span></i></p>
		<p class="NORMAL" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><i>
		<span lang="VI">Biển Trung Quốc thiên tai bão tố, <br>
		Ngài lo toan cứu độ đông phương. <br>
		Trong năm Liên Đới Tin Mừng, <br>
		tham gia truyền giáo noi gương Thánh hiền</span></i></td>
	</tr>
	<tr>
		<td width="212">
		<p align="center">
<a target="_top" href="http://tinmung.net">
<img border="0" src="../../../../../logo/LOGOtinmung.gif" width="67" height="40"></a></td>
		<td width="239">
		<p align="center"><a target="contents" href="../_List.htm">
		<img border="0" src="../../../../LOGOtinmung2.gif" width="71" height="44"></a></td>
	</tr>
</table>

</body>

</html>

PHP File Manager