File "NguoiBietUocMuon.htm"

Full path: E:/sites/Single15/tinmung2007/webroot/CAC-THANH/_CacThanh/_Thang12/PhanxicoXavie/SuyNiem/NguoiBietUocMuon.htm
File size: 39.43 KiB (40380 bytes)
MIME-type:
Charset: utf-8

Download   Open   Back

<head>
<meta http-equiv="Content-Language" content="en-us" />
<meta http-equiv="Content-Type" content="text/html; charset=utf-8" />
<title>THÁNH PHANXICÔ XAVIER NGƯỜI BIẾT ƯỚC MUỐN VÀ NHẬN ĐỊNH</title>
<base target="main">
<style type="text/css">
.style1 {
	border-width: 0px;
}
</style>
<style fprolloverstyle>A:hover {color: #FF0000; font-family: Arial; font-size: 10pt}
span.contents
	{}
</style>
<meta name="keywords" content="Thánh Phanxicô Xaviê - Thanh Phanxico Xavie, các thanh, cac thanh, suy niem">
</head>

<body style="color: #000000; background-color: #EEEEEE; font-family:Arial; font-size:10pt; text-decoration:none" background="../../../../../TRANG%20CUA%20ME%20MARIA/Pictures/Background/bgr.gif">

<table border="0" width="500" id="table1" cellspacing="15" bgcolor="#FFFFF0">
	<tr>
		<td colspan="2">
		<p align="right" style="margin-top: 0; margin-bottom: 0">
		<b><font color="#006666" face="Verdana" size="4">Lễ Kính Thánh Phanxicô 
		Xaviê </font></b><hr color="#FF4D20" width="80%" align="right">
		<p align="right" style="margin-top: 0; margin-bottom: 0">
		<font color="#0000FF"><b>
		<span style="font-size: 12pt; text-transform: uppercase">THÁNH PHANXICÔ 
		XAVIER <br>
		NGƯỜI BIẾT ƯỚC MUỐN VÀ NHẬN ĐỊNH<br>
		</span></b></font><em style="font-style: normal">
		<span lang="VI" style="font-family: Arial"><font size="2">Philippe 
		LéCrivain, s.j.<br>
		</font></span></em><em><span style="font-family: Arial; color: black">
		<font size="2">Người dịch: Cosma Hoàng Văn Đạt, s.j.</font></span></em></td>
	</tr>
	<tr>
		<td align="justify" colspan="2">
		<p class="NORMAL" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		<span lang="VI">Rạng sáng ngày 3.12.1552, cách nay đúng 450 năm, thánh 
		Phanxicô Xavier đã qua đời trên đảo Thượng Xuyên, sát cửa biển tỉnh 
		Quảng Đông của Trung Hoa. Lúc ấy, tay ngài đang cầm một cây nến cháy 
		sáng, do một thanh niên Trung Hoa tên là Antonio, người bạn đồng hành 
		duy nhất của ngài trao. Cả lục địa mênh mông trước mắt ngài sắp đón nhận 
		ánh sáng của rạng đông. Khi được tin ở Rôma, cha Polanco, thư ký của 
		thánh I-nhã, đã viết: “Thiên Chúa nhân hậu (đã gợi lên nơi cha Phanxicô) 
		những ước muốn ấy để ngài được thêm công phúc, nhưng nhất là chính ngài 
		đã muốn bắt chước Chúa Giêsu chết đi như một hạt lúa được gieo xuống 
		đất, ngay cửa ngõ Trung Hoa, để những người khác đến gặt hái hoa quả dồi 
		dào hơn”. Cái chết âm thầm lặng lẽ ấy chẳng bao lâu sẽ trở nên như một 
		chuyện thần kỳ</span><em><span lang="VI" style="font-family: Arial; font-style: normal">.</span></em><span lang="VI">Nhưng 
		chúng ta hãy tạm dừng lại ở đây để, theo gợi ý của cha Xavier 
		Léon-Dufour, dõi bước theo hành trình của thánh Phanxicô Xavier, đặc 
		biệt ở ba thời điểm quan trọng nhất, tức là khi ngài rời Ấn Độ đi 
		Maluku, đi Nhật Bản và đi Trung Hoa. Ba lần lên đường này có thể hiểu 
		được dựa trên các kinh nghiệm thánh Phanxicô Xavier đã trải qua ở Paris 
		và Rôma, nhưng cũng đưa chúng ta vào những chiều sâu khác nữa. Lần thứ 
		nhất đánh dấu một quyết định quan trọng; lần thứ hai ghi dấu một cuộc 
		chiến đấu cam go; và lần thứ ba là cơ hội tự hiến đến trọn vẹn.</span></p>
		<p class="NORMAL" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><strong>
		<span lang="VI" style="font-family: Arial">ĐI MALUKU</span></strong></p>
		<p class="NORMAL" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		<span lang="VI">Vì thánh Phanxicô Xavier không để lại nhật ký, nên chúng 
		ta chỉ có thể theo bước chân ngài qua những lá thư ngài gửi cho anh em 
		Dòng Tên ở Châu Á hay cho thánh I-nhã và các bạn ở Rôma, hoặc cho cha 
		giám tỉnh hay vua Bồ Đào Nha. Đây là những tài liệu khá tản mạn, nhưng 
		không phải là không để lại những dấu ấn cá nhân đáng kể.</span></p>
		<p class="NORMAL" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><strong><i>
		<span lang="VI" style="font-family: Arial">Phục vụ một “vua đời tạm”</span></i></strong></p>
		<p class="NORMAL" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		<span lang="VI">Vừa đặt chân đến Goa, thánh Phanxicô Xavier bắt tay ngay 
		vào việc: giảng thuyết, dạy giáo lý, giải tội. Ngài hết sức tận tụy. 
		Ngày 20.9.1542, trong thư gửi về Rôma, ngài viết: “</span><em><span lang="VI" style="font-family: Arial; font-style: normal">Tôi 
		tin rằng ai thực lòng yêu mến thánh giá Chúa Kitô sẽ tìm thấy an nghỉ 
		khi đương đầu với những thử thách. Còn cái chết nào tệ hơn đời sống của 
		người, sau khi đã biết Chúa Kitô, lại bỏ Chúa để chạy theo sở thích và 
		quyến luyến riêng! Thật không có gì buồn hơn. Trái lại, ai chết đi mỗi 
		ngày, tức là đi nguợc lại ý riêng, không tìm những điều thuộc về mình, 
		nhưng là những điều thuộc về Chúa Giêsu Kitô, sẽ được bình an biết bao</span></em><span lang="VI">” 
		(Bt 15,15). Ngài cũng báo tin sẽ xuống phía nam, đồng thời gửi cho thánh 
		I-nhã hai thư khác, một mặt xin Tòa Thánh rộng ban các đặc ân cho giáo 
		dân Ấn Độ (Bt 16), mặt khác đề cập vai trò quan trọng của vị Tổng Trấn 
		và của một trường học tại Goa (Bt 17). Trong hai năm sau đó, thánh 
		Phanxicô Xavier đã “vất vả ngày đêm” nhằm mục đích “</span><em><span lang="VI" style="font-family: Arial; font-style: normal">chinh 
		phục khu vực ngoại giáo</span></em><span lang="VI">”(Lt 93). Năm 1543, 
		cùng với các tân tòng, ngài đối diện với những hoạt động thù nghịch của 
		những tín đồ Ấn giáo và Hồi giáo. Ước nguyện duy nhất với ngài - đây 
		cũng là ước nguyện của vị Giám Mục và của vị Tổng Trấn sở tại - là nới 
		rộng biên cương Hội Thánh dưới quyền “bảo trợ” của Bồ Đào Nha. Việc ngài 
		thiếu thiện cảm với văn hóa và tôn giáo Ấn Độ chỉ hiểu được trong bối 
		cảnh ấy. Từ năm 1544, ngài không còn đơn độc ở Mũi Comorin nữa: ngài có 
		bạn đồng hành là Malsilhas, người Bồ Đào Nha, một tập sinh được ngài 
		nhận vào Dòng Tên. Trong các thư gửi cho tập sinh này, chúng ta thấy 
		những hoạt động mục vụ và bác ái của ngài trong lúc giáo đoàn gặp nhiều 
		khó khăn. Rồi tiếng kêu cứu từ Sri Lanca, từ Maluku. Ngài bị xâu xé: 
		phải bảo vệ quyền lợi của Bồ Đào Nha hay phải bênh vực người Ấn Độ?</span></p>
		<p class="NORMAL" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		<span lang="VI">Cuối cùng, ngài dứt khoát. Ngày 20.1.1545, ngài viết thư 
		xin vua João III của Bồ Đào Nha nghiêm túc xem xét lại những mục tiêu đã 
		đề ra ở Châu Á. Nhưng không phải vì giận người Bồ Đào Nha mà ngài bỏ đi; 
		thư gởi về Rôma sau đó mấy ngày cho thấy những lý do tích cực hơn và có 
		lẽ cũng sâu xa hơn.</span></p>
		<p class="NORMAL" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><strong><i>
		<span lang="VI" style="font-family: Arial">Đến với Thiên Chúa bằng một 
		con đường khác</span></i></strong></p>
		<p class="NORMAL" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		<span lang="VI">Thánh Phanxicô Xavier đã hiểu ra: việc phục vụ một vua 
		đời tạm chỉ nhằm mục đích “</span><em><span lang="VI" style="font-family: Arial; font-style: normal">giúp 
		chiêm ngắm đời sống vị vua muôn đời</span></em><span lang="VI">”(Lt 91). 
		Phải trải qua kinh nghiệm ngài mới vào được trong khoa sư phạm ấy: liên 
		kết ý muốn của con người với ý muốn của Thiên Chúa, mục tiêu với phương 
		tiện của một tình yêu đích thực.</span></p>
		<p class="NORMAL" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		<span lang="VI">Chúng ta hãy theo ngài. Ngày 20.9.1542, ngài viết: “</span><em><span lang="VI" style="font-family: Arial; font-style: normal">Xin 
		Chúa ban sức mạnh cho chúng ta ở đời này, để chúng ta phục vụ Chúa trong 
		mọi sự, như Chúa truyền dạy, và chu toàn thánh ý Chúa ở đời này.”(Bt 15, 
		câu kết). Ngày 15.1.1544, ngài tiến thêm một bước: “Xin Chúa ban cho 
		chúng ta ơn này là suốt thời gian đang phải lưu đày, chúng ta cảm nghiệm 
		được, từ bên trong tâm hồn, và chu toàn ý muốn rất thánh Chúa Người.”(Bt 
		20, câu kết). Ngày 27.1.1545, ngài bước thêm một bước dài: “Xin Chúa ban 
		cho chúng ta được biết và nhận ra ý muốn rất thánh thiện của Chúa, và 
		khi đã nhận ra, xin Chúa ban dồi dào sức lực và ân sủng, để với đức mến, 
		chúng ta chu toàn thánh ý ngay ở đời này</span></em><span lang="VI">.”(Bt 
		48, câu kết).</span></p>
		<p class="NORMAL" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		<span lang="VI">Kế đến, ngày 7 tháng 4 năm ấy, ngài viết cho Mansilhas: 
		“</span><em><span lang="VI" style="font-family: Arial; font-style: normal">Chúa 
		muốn chúng ta luôn sẵn sàng chu toàn thánh ý mỗi khi Người bày tỏ và cho 
		chúng ta cảm nhận được từ trong lòng. Muốn sống tốt ở đời này, chúng ta 
		phải làm khách hành hương để đi bất cứ đâu, đến nơi chúng ta có thể phục 
		vụ Chúa</span></em><span lang="VI">.”(Bt 50,2). Sau khi cho biết ở 
		“Malacca”, vì thiếu người giúp, nên nhiều người không theo đạo được, 
		ngài kết luận: “Tôi </span><em>
		<span lang="VI" style="font-family: Arial; font-style: normal">còn 
		nguyên tháng 5 để quyết định.” </span></em><span lang="VI">(Bt 50,3). 
		Ngài đến São Tomé để nhận định. Cha Coelho, cha sở nơi đó, người đã cho 
		ngài trọ, sau này kể lại: “</span><em><span lang="VI" style="font-family: Arial; font-style: normal">Ngài 
		có thói quen cứ tối đến là lén… đến chòi lá sát đền kính vị tông đồ… Một 
		đêm, đang khi thầm thĩ cầu nguyện, ngài kêu lên nhiều lần: Thưa Mẹ, vậy 
		Mẹ không giúp con sao</span></em><span lang="VI">?” </span>Tối tăm bao 
		trùm trong khi Chúa Thánh Thần thinh lặng. Nhưng cuối cùng, ngài nhận 
		được ánh sáng. Trong thư gửi về Goa ngày 8.5.1545, ngài viết: “<em><span style="font-family: Arial; font-style: normal">Luôn 
		sẵn lòng từ bi, đang đã thương nhớ đến tôi, và tôi đã cảm nhận được an 
		ủi nội tâm mạnh mẽ, nên biết ý Chúa là tôi phải đi vùng Malacca</span></em>” 
		(Bt 51,1).</p>
		<p class="NORMAL" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Kết quả, 
		ngài đã đến tận đảo Môrô, điểm tận cùng của ý Chúa và của “an ủi”. Ngài 
		viết cho anh em Dòng Tên ở Rôma ngày 20.1.1548: “<em><span style="font-family: Arial; font-style: normal">Tôi 
		nhớ là xưa nay chưa từng được an ủi thiêng liêng lớn lao và liên tiếp 
		như trên các đảo này, lại ít cảm thấy phải cực nhọc vê phần xác (…) Thay 
		vì gọi đó là Các Đảo Môrô, có lẽ nên gọi là Các Đảo Hy Vọng Vào Chúa thì 
		hơn</span></em>” (Bt 59,4).</p>
		<p class="NORMAL" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><strong>
		<span style="font-family: Arial">GIỮA SÓNG DẬP GIÓ VÙI</span></strong></p>
		<p class="NORMAL" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Nhờ ơn 
		Chúa, ngay trên quần đảo Inđônêxia, thánh Phanxicô Xavier đã tận hiến 
		cho Thiên Chúa: “<em><span style="font-family: Arial; font-style: normal">Sau 
		khi đã suy nghĩ, con muốn và ước ao nên giống Chúa, miễn là điều này 
		giúp con phục vụ và ca ngợi Chúa hơn</span></em>…” (Lt 98). Nhưng ở 
		Malacca, trên bán đảo Mã Lai, đang khi ngài chờ tàu đi Ấn Độ, có một 
		người Nhật Bản đến gặp ngài (Bt 59,15).</p>
		<p class="NORMAL" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><strong><i>
		<span style="font-family: Arial">Một lựa chọn đúng và tốt</span></i></strong></p>
		<p class="NORMAL" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Kể từ ngày 
		ấy, các hòn đảo Nhật Bản chiếm một chỗ quan trọng trong tâm trí ngài. 
		Ngày 20.1.1548, ngài viết cho thánh I-nhã: “<em><span style="font-family: Arial; font-style: normal">Con 
		chưa quyết định dứt khoát là trong khoảng một năm rưỡi nữa con sẽ phải 
		đi Nhật Bản cùng với một hay hai anh em trong Dòng, hoặc con sẽ phải gửi 
		hai anh em trong Dòng đến đó. Có điều chắc chắn là nếu con không đi 
		được, con sẽ gửi người đi. Cho đến nay, con nghiêng về phía chính con đi 
		hơn. Con đang xin Chúa cho con biết rõ điều nào phù hợp với ý Chúa hơn</span></em>” 
		(Bt 60,4). Cùng hôm ấy, ngài nói rõ ý định của mình trong các thư gửi 
		vua João III và anh em Dòng Tên ở Rôma. Trong thư trước, ngài đã nghĩ 
		đến việc không ở lại Ấn Độ nữa: “<em><span style="font-family: Arial; font-style: normal">Tôi 
		chưa quyết định dứt khoát đi Nhật Bản, nhưng dần dần tôi sẽ biết phải 
		làm gì, vì tôi rất ít tin tưởng là tôi sẽ được giúp đỡ thực sự ở Ấn Độ, 
		cả để đạo thánh tiến triển cũng như để duy trì tình trạng đạo như hiện 
		nay</span></em>” (Bt 61,9). Trong thư sau, ngài có cái nhìn tích cực hơn 
		về việc ra đi: “<em><span style="font-family: Arial; font-style: normal">Tôi 
		nghĩ (người Nhật Bản) hiếu học hơn tất cả các dân khác chúng ta từng 
		biết cho đến nay</span></em>” (Bt 59,16). Ít lâu sau, ngày 2.4.1548, 
		viết cho ông Diogo Pereira, ngài đã dứt khoát: “<em><span style="font-family: Arial; font-style: normal">Tôi 
		rất ước ao và rất vui báo cho ông đôi điều, như với một người bạn đích 
		thực và tâm phúc của tôi, về chuyến đi Nhật Bản mà tôi dự tính sẽ thực 
		hiện trong vòng một năm nữa</span></em>” (Bt 65,1).</p>
		<p class="NORMAL" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Đến ngày 
		1.2.1459, việc nhận định kết thúc: ngài sẽ cùng với cha Cosma de Torres 
		khởi hành vào tháng 4. Ngài viết cho thánh I-nhã: “<em><span style="font-family: Arial; font-style: normal">Ở 
		Nhật Bản, tất cả là lương dân, không có người Hồi giáo cũng không có 
		người Do Thái, mà lại có đầu óc tò mò, rất muốn học biết cái mới, cả về 
		Thiên Chúa cũng như về những điều tự nhiên khác, nên con đã quyết định 
		sẽ đến đó. Con thấy tâm hồn rất phấn khởi… Con không ngại đi Nhật Bản, 
		vì con cảm nhận trong tâm hồn mình cái gì đó dào dạt, mặc dầu con hầu 
		như chắc chắn sẽ gặp nhiều nguy hiểm lớn lao hơn những gì con từng gặp 
		xưa nay</span></em>” (Bt 70,8.10). Tin chắc là đã được chính Thiên Chúa 
		thúc bách, ngài nêu lên những lý do (Lt 180-183). Ngài giải thích với 
		thánh I-nhã là ở Nhật Bản “<em><span style="font-family: Arial; font-style: normal">anh 
		em trong Dòng chúng ta có thể dùng đời sống làm trổ sinh hoa trái, và 
		sau đó chính họ sẽ tiếp nối</span></em>” (Bt 70,8). Về điều này, ngài đã 
		được xác chuẩn: Anjiro, người Nhật Bản ngài đã gặp ở Malacca, cùng với 
		hai người bạn đã sẵn sàng lên đường. Ngài viết cho thánh I-nhã: “<em><span style="font-family: Arial; font-style: normal">Ở 
		Học viện Đức Tin tại Goa, có ba thanh niên sinh trưởngt tại đảo Nhật Bản 
		ấy. Họ cùng từ Malacca đến đó với con năm 48. Họ đã cho con biết nhiều 
		điều về khu vực Nhật Bản, và con hiểu dân chúng ở đó có phong hóa tốt, 
		lại rất thông minh, cách riêng là Phaolô… Trong vòng 8 tháng, Phaolô đã 
		học đọc, viết và nói tiếng Bồ Đào Nha, và hiện đang tập Linh Thao. Anh 
		ấy tiến rất xa và đi sâu vào những điều thuộc Đức Tin. Con rất hy vọng, 
		điều này chỉ đặt hết nơi Thiên Chúa, là ở Nhật Bản sẽ có nhiều người 
		theo đạo</span></em>” (Bt 71,8). Với cha Simão Rodrigues, ngài nói rõ: “<em><span style="font-family: Arial; font-style: normal">Trong 
		các khu vực này (Ấn Độ), người ta không cần đến tôi lắm nữa, vì có các 
		cha đến trong năm nay</span></em>” (Bt 73,3).</p>
		<p class="NORMAL" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Viết cho 
		vua João III, ngài nói khác: “<em><span style="font-family: Arial; font-style: normal">Kinh 
		nghiệm đã dạy cho tôi biết là Hoàng Thượng thi hành quyền bính ở Ấn Độ 
		không phải chỉ vì muốn tăng số người tin vào Đức Kitô: Hoàng Thượng thi 
		hành quyền bính cũng để chiếm hữu của cải vật chất ở Ấn Độ nữa. Xin 
		Hoàng Thượng thứ lỗi vì tôi nói toạc ra như vậy (…) Tôi không hy vọng 
		chút nào là những mệnh lệnh hay chỉ thị có lợi cho giáo đoàn mà Hoàng 
		Thượng gửi đến sẽ được tuân giữ ở Ấn Độ. Chính vì vậy mà tôi đi Nhật 
		Bản, gần như bỏ trốn, để khỏi mất thêm thời giờ như trước kia đã mất</span></em>” 
		(Bt 77,2.3). Đến Malacca vào mùa xuân năm 1549. Ngài biết rõ là những 
		nguy hiểm do bão tố và cướp biển luôn chờ đợi ngài. Với những ai sợ, 
		ngài trả lời: “<em><span style="font-family: Arial; font-style: normal">Vì 
		Thiên Chúa có quyền trên chúng ta hết thảy, nên tôi không sợ ai, ngoại 
		trừ Thiên Chúa… Còn những nỗi sợ, những nguy hiểm khác, những đau khổ 
		khác, mà bạn bè nói tới, tôi kể là số không. Tôi chỉ còn sợ Thiên Chúa, 
		vì nỗi sợ đối với các thụ tạo chỉ lớn tới mức Đấng Sáng Tạo ra chúng cho 
		phép là cùng</span></em>” (Bt 78,2). Nhưng một cuộc chiến khác đang chờ 
		đợi người “khách hành hương”.</p>
		<p class="NORMAL" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><strong><i>
		<span style="font-family: Arial">Đương đầu với “thủ lãnh các kẻ thù”</span></i></strong></p>
		<p class="NORMAL" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Lúc còn ở 
		Ấn Độ, để khích lệ cha Henriques đang ở Travancore, ngài đã viết: “<em><span style="font-family: Arial; font-style: normal">Hãy 
		thấy là cha sinh được nhiều hoa trái ở vương quốc Travancore này hơn cha 
		nghĩ, vì từ khi cha đến đó, bao nhiêu trẻ em đã được rửa tội và đã qua 
		đời, hiện nay đang sống trong vinh quang Thiên Đàng (…) Kẻ thù của loài 
		người rất thù ghét cha, và muốn cha tránh xa xứ ấy, để đừng ai rời bỏ 
		vương quốc Travancore mà lên Thiên Đàng nữa. Ma quỉ thường nhử những 
		người đang phục vụ Đức Giêsu Kitô là họ sẽ phục vụ Thiên Chúa được nhiều 
		hơn, với ý xấu là làm cho một linh hồn đang phục vụ Thiên Chúa được ở 
		nơi này phải áy náy và bối rối, vì vậy bỏ đi nơi khác, thế là nó đuổi 
		được người ấy ra khỏi nơi họ đang phục vụ được Thiên Chúa</span></em>” 
		(Bt 68,3). Mấy tháng sau, đang khi chờ tàu tại Malacca, ngài viết thư 
		gửi anh em Dòng Tên Ấn Độ: “<em><span style="font-family: Arial; font-style: normal">Kẻ 
		Thù vùng vẫy rất nhiều để ngăn cản tôi thực hiện chuyến đi này: tôi 
		không biết nó sợ gì trong việc chúng tôi đi Nhật Bản</span></em>.” Rồi 
		ngài viết tiếp: “<em><span style="font-family: Arial; font-style: normal">Thực 
		ra, tôi luôn luôn giữ trước mắt và trước trí khôn tôi điều tôi đã nhiều 
		lần nghe cha I-nhã nói: những ai muốn thuộc về Dòng này phải chịu gian 
		khổ để thắng được mình và đuổi xa mọi nỗi sợ là điều ngăn cản người ta 
		tin, cậy và mến Chúa, và muốn được như vậy, phải sử dụng những phương 
		thế thích đáng” (Bt 85,8.13). Đây chẳng phải là ngài ám chỉ các qui tắc 
		nhận định sao </span></em>(Lt 325-327)?</p>
		<p class="NORMAL" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Nhưng mặt 
		biển mới là nơi thử thách nặng nề. Trên chiếc thuyền gỗ của một nhà buôn 
		Trung Hoa có biệt danh là Hải Tặc, một bức tượng Thủy Tề được đặt trang 
		trọng ở mũi thuyền. Thánh Phanxicô Xavier kinh hoàng và khổ sở: “<em><span style="font-family: Arial; font-style: normal">Người 
		ta mang theo một tượng thần trên thuyền, đặt ngay ở phía trước; anh 
		thuyền trưởng và các kẻ ngoại khác cầu khẩn cúng bái bức tượng liên tục, 
		và chúng tôi không sao ngăn cản được họ nhiều lần gieo quẻ để hỏi tượng 
		thần xem chúng tôi có đến Nhật Bản được không, gió cần cho thuyền chạy 
		có kéo dài không: khi thì họ nói là tốt, khi thì họ nói là xấu, theo như 
		họ tin (…) Anh em thấy là chúng tôi phải khổ sở thế nào trong chuyến đò 
		ấy, vì chúng tôi có đi Nhật Bản được hay không là tùy thuộc ý kiến của 
		ma quỉ và các tôi tớ của nó, mà những người điều khiển và hướng dẫn con 
		thuyền thì cứ nhất nhất làm theo như ma quỉ nói với họ qua các thẻ</span></em>”(Bt 
		90,2.4). Hẳn là ngài nghĩ đến điều thánh I-nhã viết trong Linh Thao: 
		Luxiphe gửi thuộc hạ đi “<em><span style="font-family: Arial; font-style: normal">bủa 
		lưới và xiềng xích</span></em>” khắp nơi (Lt 142). Bão tố nổi lên, các 
		tai họa dồn dập, và thánh Phanxicô Xavier bị thử thách tận trong đấy 
		lòng. Chính ngài phải chiến đấu: “<em><span style="font-family: Arial; font-style: normal">Tôi 
		cảm nhận được, biết được bằng chính cảm nghiệm, nhiều điều liên hệ đến 
		những nỗi kinh hoàng rụng rời do ma quỉ gây ra</span></em>” (Bt 90,7). 
		Nhưng chính Thiên Chúa cũng chỉ cho ngài lối thoát: <em>
		<span style="font-family: Arial; font-style: normal">“Phương thuốc tốt 
		nhất cần dùng trong những hoàn cảnh như vậy là hết sức dũng cảm chống 
		lại Kẻ Thù, đừng tin tưởng chút nào nơi mình, nhưng đặt hết tin tưởng 
		nơi Thiên Chúa, đặt tất cả sức mạnh và tất cả hi vọng nơi Người, và nhờ 
		Đấng Bảo Vệ vĩ đại như vậy, chúng ta trở nên mạnh mẽ; đừng hèn nhát và 
		không chút nghi ngờ việc mình sẽ chiến thắng</span></em>” (Bt 90,7). Vậy 
		là ngài trở nên rất khiêm tốn, thoát ra khỏi chính mình, đặt mình trọn 
		vẹn trong tay Chúa: ngài đang chiến đấu dưới cờ hiệu của Đức Kitô, “<em><span style="font-family: Arial; font-style: normal">ở 
		một nơi khiêm tốn, xinh đẹp và dễ thương</span></em>”, chứ không phải 
		như Luxiphe hay các thuộc hạ của nó “<em><span style="font-family: Arial; font-style: normal">dữ 
		tợn và đáng sợ, ngồi trên ngai lửa và khói</span></em>” (Lt 140 và 143).</p>
		<p class="NORMAL" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Bão tố đến 
		rồi đi. Vì có hải tặc, người chủ thuyền không dám ghé vào Quảng Đông như 
		dự tính, nhưng tiến thẳng đến Nhật Bản, và mọi chuyện êm xuôi. Trong lá 
		thư đề ngày 29.1.1552, gửi anh em Dòng Tên ở Rôma, thánh Phanxicô Xavier 
		kể khá kỹ về thời gian ngài lưu lại trên đất Nhật Bản, đặc biệt là những 
		câu hỏi người ta nêu lên về Thiên Chúa và việc Sáng Tạo (Bt 96). Nhưng 
		người Nhật Bản vẫn thắc mắc: Tại sao người Trung Hoa không biết và tin 
		Chúa Giêsu?</p>
		<p class="NORMAL" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><strong>
		<span style="font-family: Arial">HƯỚNG VỀ TRUNG HOA</span></strong></p>
		<p class="NORMAL" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Trên đường 
		trở lại Ấn Độ, thánh Phanxicô Xavier dừng chân tại Malacca. Ngài nhận 
		được nhiều thư từ và tin tức, đặc biệt thư của thánh I-nhã thiết lập 
		Tỉnh Dòng Ấn Độ và đặt ngài làm giám tỉnh, và tình trạng đáng lo ngại ở 
		Học viện Thánh Phaolô tại Goa. Ngài có nhiều việc phải lo hơn, nhưng 
		cũng được tự do trong hoạt động tông đồ hơn.</p>
		<p class="NORMAL" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><strong><i>
		<span style="font-family: Arial">Sức mạnh của lòng yêu mến</span></i></strong></p>
		<p class="NORMAL" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Trước khi 
		đi Nhật Bản, thánh Phanxicô Xavier đã đi thăm một vòng các anh em ở 
		nhiều nơi để thảo luận về công cuộc truyền giáo và về việc thiết lập hay 
		phát triển các trường học. Riêng về Học viện Thánh Phaolô ở Goa, mặc dầu 
		ngài thấy cha viện trưởng Antonio Gomes quá độc đoán, cần phải thuyên 
		chuyển, nhưng ngài chưa dứt khoát. Ngài đã viết cho thánh I-nhã trong 
		thư ngày 1.2.1549: “<em><span style="font-family: Arial; font-style: normal">Ở 
		đây, anh em trong Dòng không lấy làm gương sáng lắm trước lệnh do N. 
		mang đến là bắt giam và trói bằng xiềng xích những ai, theo N., không 
		làm gương sáng lắm ở đây để gửi vể Bồ Đào Nha</span></em>”(Bt 70,4). Rồi 
		ngài tâm sự với thánh I-nhã: “<em><span style="font-family: Arial; font-style: normal">Con 
		nghĩ rằng Dòng Tên là Dòng yêu mến và hiệp nhất tâm hồn, chứ không phải 
		là ép buộc hay sợ hãi như nô lệ</span></em>”(Bt 70,5). Ba năm sau, từ 
		Nhật Bản trở về, ngài thấy tình hình trở nên tệ hại hơn, và ngài vẫn 
		không thay đổi ý kiến. Cha Antonio Gomes quả là không hiểu gì thánh 
		Phanxicô Xavier khi muốn biến Học viện Thánh Phaolô ở Goa thành một Học 
		viện Coimbra thứ hai: xây dựng thật lớn lao, nhưng chỉ nhận học sinh 
		người Bồ Đào Nha. Trái lại, ở Cochin, Dòng Tên cũng có một trường học, 
		nhưng không có một nhà thờ xứng đáng, ngài đã không ngần ngại tiếp nhận 
		nhà thờ Madre de Dios, của Hội Từ Thiện Casa da Misericordia, tổ chức 
		tốt nhất của người Bồ Đào Nha tại Châu Á thời ấy. Trong một thời gian 
		ngắn, ngài thu xếp mọi công việc đâu vào đó, để rồi lại thực hiện một 
		chuyến đi xa nữa.</p>
		<p class="NORMAL" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Thực ra, 
		ước nguyện của thánh Phanxicô Xavier không chỉ dừng lại ở việc làm “<em><span style="font-family: Arial; font-style: normal">triển 
		nở” cộng đồng tín hữu Bồ Đào Nha ở Ấn Độ, nhưng còn muốn góp phần tạo ra 
		những cộng đồng mới: không còn tranh chấp, kiện tụng, gương xấu, nhưng 
		giữa anh em Dòng Tên và hàng giáo sĩ, triều cũng như dòng, có sự thông 
		cảm và cộng tác; còn những kỳ đà cản mũi trong Dòng Tên thì bị loại trừ 
		khỏi Dòng </span></em>(Bt 100 và 101). Đi xa hơn nữa, ngài ra lệnh cho 
		cha Berze, viện trưởng mới của Học viện Thánh Phaolô: “<em><span style="font-family: Arial; font-style: normal">Trong 
		cách xử sự với các cha và các anh em, phải rất quí mến, bác ái và khiêm 
		tốn, đừng thô bạo hay gắt gao…”(Bt 115,1); “Còn về cách giúp (các tín 
		hữu) thì càng phổ cập hơn càng tốt” </span></em>(Bt 115,4). Ngài cũng 
		muốn các tập sinh trong Dòng phải được huấn luyện tử tế bằng việc tập 
		Linh Thao và thực hiện nghiêm túc các thực nghiệm. Nhưng ngài nhấn mạnh 
		đặc biệt đến việc anh em trong Dòng phải hiệp nhất với nhau và với bề 
		trên (Bt 117). Ngài nghĩ cả đến việc được gọi trở về Rôma để gặp thánh 
		I-nhã. Trong thư ngày 29.1.1552, ngài gần như gợi ý với thánh I-nhã: “<em><span style="font-family: Arial; font-style: normal">Cha 
		viết cho con là cha rất mong được gặp con trước khi lìa khỏi cõi đời 
		này… Đối với đức tuân phục thì không có gì là không thể được</span></em>”(Bt 
		97,3). Thư hồi âm của thánh I-nhã đến Ấn Độ thì thánh Phanxicô Xavier đã 
		qua đời từ lâu rồi!</p>
		<p class="NORMAL" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Chẳng những 
		là một người dễ gần gũi, mà thánh Phanxicô Xavier còn là một người thích 
		chia sẻ và hiệp thông nữa. Ngài học được với thánh I-nhã là “mọi điều 
		thiện hảo, mọi ân huệ đều từ trên cao ban xuống”
		<span style="font-size: 12pt">(Lt 237)</span>, nên việc kết hiệp với 
		Thiên Chúa được đặt nền móng trên việc Người hiện diện khắp nơi. Nhưng 
		đối với thánh Phanxicô Xavier, kinh nghiệm này rất sống động. Tìm gặp 
		Thiên Chúa trong hiện tại chính là tìm kiếm Người mọi nơi mọi lúc. Do 
		đó, nơi ngài, việc nhận định được liên kết với việc mở rộng hoạt động 
		truyền giáo, và muốn tiến bộ trong chiêm niệm phải nhìn ngắm thế giới 
		này bằng con mắt thiêng liêng. Như trong bài “Chiêm niệm để đạt tới tình 
		yêu” trong Linh Thao (Lt 230-237), việc “tìm gặp Thiên Chúa trong mọi 
		sự” được nâng lên thành một chia sẻ và hiệp thông trong yêu mến, nơi đó 
		con người được mời gọi mở cửa cho Thiên Chúa, Đấng hoạt động cả bên 
		trong cũng bên ngoài.</p>
		<p class="NORMAL" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><strong><i>
		<span style="font-family: Arial">“Xin đừng bao giờ để con lìa xa Chúa”</span></i></strong></p>
		<p class="NORMAL" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Vừa về đến 
		Ấn Độ, thánh Phanxicô Xavier bày tỏ ngay với thánh I-nhã về ước muốn đi 
		Trung Hoa để phục vụ Thiên Chúa hơn. Chúng ta đã biết điều gì thúc bách 
		ngài, ở đây chúng ta để ý đến điểm đặc biệt là các suy nghĩ của ngài rất 
		gần với những điều được trình bày trong Hiến Chương Dòng Tên. Nguyên tắc 
		hướng dẫn việc lựa chọn hoạt động tông đồ của Hiến Chương Dòng Tên là 
		trong hoàn cảnh cụ thể, ưu tiên cho hoạt động nào “<em><span style="font-family: Arial; font-style: normal">phục 
		vụ Thiên Chúa hơn và lợi ích phổ cập hơn”. Đó cũng chính là điều thánh 
		Phanxicô Xavier đã nghĩ khi viết: “Trong Thiên Chúa, tôi rất hi vọng là 
		một con đường sắp được mở ra, không chỉ cho anh em trong Dòng, mà còn 
		cho tất cả các dòng khác</span></em>…” (Bt 96,52). </p>
		<p class="NORMAL" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Theo Hiến 
		Chương Dòng Tên, phải chọn nơi nào người ta sẵn sàng để hoa trái thiêng 
		liêng trổ sinh hơn. Thánh Phanxicô Xavier quyết định đi Trung Hoa vì 
		người Trung Hoa “có trí khôn sâu sắc” và “hiếu học” hơn người Nhật Bản 
		nhiều (Bt 96,50). Theo Hiến Chương Dòng Tên, “sự <em>
		<span style="font-family: Arial; font-style: normal">thiện càng phổ cập 
		càng đẹp lòng Thiên Chúa</span></em>”, nên phải ưu tiên đối với những 
		người sẽ làm cho sự thiện đến được những người khác nữa, “<em><span style="font-family: Arial; font-style: normal">những 
		người dưới quyền họ hoặc chịu ảnh hưởng của họ</span></em>”. Đây cũng 
		chính là điều thánh Phanxicô Xavier nhắm tới: khi người Trung Hoa đón 
		nhận Đạo Chúa Kitô, họ sẽ giúp cho người Nhật Bản bỏ lòng tin tưởng nơi 
		các giáo phái từ Trung Hoa truyền sang.&nbsp;</p>
		<p class="NORMAL" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Đã nắm vững 
		những nguyên tắc hướng dẫn ấy, thánh Phanxicô Xavier chuẩn bị chuyến đi 
		hết sức chu đáo. Ngày 8.4.1552, ngài viết cho vua João III: “<em><span style="font-family: Arial; font-style: normal">Ông 
		Diogo Pereira đi với tư cách là đại sứ (của Tổng Trấn Bồ Đào Nha tại Ấn 
		Độ), để đòi lại những người Bồ Đào Nha đang bị (chính quyền Trung Hoa) 
		cầm tù, và cũng để thiết lập quan hệ hòa bình và hữu nghị giữa Hoàng 
		Thượng và vua Trung Hoa. Về phần chúng tôi, các linh mục Dòng Tên Chúa 
		Giêsu, tôi tớ của Hoàng Thượng, chúng tôi đi để gây chiến tranh và bất 
		hòa giữa ma quỉ với những người thờ lạy chúng, thay mặt Thiên Chúa nài 
		van trước là nhà vua, sau là tất cả dân chúng trong vương quốc, để họ 
		đừng thờ lạy ma quỷ nữa, nhưng thờ lạy Đấng tạo thành trời đất, vì chính 
		Người đã dựng nên họ, và chính Chúa Giêsu Kitô đã cứu chuộc họ</span></em>” 
		(Bt 109,5). Trong lá thư cuối gửi cho thánh I-nhã, thánh Phanxicô Xavier 
		hạ giọng hơn, như thổ lộ tâm tình, trong đó chúng ta thấy sứ mạng và 
		chiêm niệm quyện vào nhau: “<em><span style="font-family: Arial; font-style: normal">Mọi 
		người đều nói với con là từ Trung Hoa có thể đi Giêrusalem được</span></em>”(Bt 
		110,12). Sau khi huấn dụ anh em Dòng Tên ở Goa vào đêm thứ năm Tuần 
		Thánh, ngài rời Goa đi Malacca để theo tàu của ông Pereira đi Trung Hoa. 
		Thật bất ngờ: hai người con của nhà thám hiểm lỗi lạc Vasco da Gama cùng 
		ở Malacca, nhưng đối xử với ngài hoàn toàn khác nhau. Người anh là Pedro 
		da Silva da Gama, trấn thủ trên đất, hết lòng ủng hộ ngài, nhưng người 
		em là Alvaro da Ataida da Gama, trấn thủ trên biển, nhất định không cho 
		tàu nhổ neo. Ngài phải lấy quyền Phái Viên Tòa Thánh để ra vạ tuyệt 
		thông, nhưng viên sĩ quan ấy cũng chỉ cho phép tàu đi mà không có ông 
		Pereira. Mọi sự bỗng nhiên như sụp đổ trước mắt ngài. Nhưng rồi ngài vẫn 
		đi, “<em><span style="font-family: Arial; font-style: normal">không có 
		một đặc ân nào của ai, hi vọng một người Môrô hay một kẻ ngoại sẽ chở 
		tôi vào đất liền ở Trung Hoa</span></em>”(Bt 125,4).</p>
		<p class="NORMAL" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Khoảng đầu 
		tháng 9 năm 1552, ngài đặt chân lên đảo Thượng Xuyên, một hòn đảo vốn 
		hoang vu đã được các nhà buôn Trung Hoa và Bồ Đào Nha biến thành một 
		thương cảng. Nhờ các tàu buôn Bồ Đào Nha đi Malacca, thánh Phanxicô 
		Xavier tiếp tục điều hành Tỉnh Dòng qua thư từ. Trong khi nóng lòng chờ 
		đợi một nhà buôn Trung Hoa đến đón như đã hẹn, ngài đề ra những phương 
		án khả thi khác: trở về Ấn Độ, theo một phái đoàn sứ thần Thái Lan để 
		vào Trung Hoa. Nhưng rồi ngài ngã bệnh. Dầu vậy, ngài vẫn chưa ngã lòng: 
		“<em><span style="font-family: Arial; font-style: normal">Có Thiên Chúa 
		bênh đỡ chúng ta, ai còn chống lại được chúng ta?” (Rm 8,31). Nhưng ngài 
		không dậy được nữa. Giờ đã đến để ngài dâng lên Thiên Chúa của lễ tối 
		hậu: “Lạy Chúa, xin thương nhận… Mọi sự đều là của Chúa, xin Chúa sử 
		dụng tùy ý Chúa. Xin ban cho con tình yêu và ân sủng của Chúa. Ơn Chúa 
		làm thỏa lòng con</span></em>” <i>(Lt 234).</i></p>
		<p class="NORMAL" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">Nếu ước 
		nguyện duy nhất của thánh Phanxicô Xavier là đem Tin Mừng đến cho những 
		người ở xa, thì mười năm ở Châu Á của ngài được ghi dấu bằng ba cột mốc 
		là ba chuyến đi lớn. Khi rời Ấn Độ đi Inđônêxia, ngài phần nào tách khỏi 
		quyền “bảo trợ truyền giáo” của Bồ Đào Nha và lao mình vào nơi ngài chưa 
		hề biết gì. Đó cũng là dịp để ngài đến với Thiên Chúa một cách khác. 
		Quyết định đi Nhật Bản là kết quả một cuộc nhận định lâu dài, nhưng dọc 
		theo bờ biển Trung Hoa, ngài khám phá ra Thiên Chúa đòi hỏi ngài hơn 
		nữa: phó thác trọn vẹn nơi Người. Chuyến đi cuối cùng của ngài vẫn nằm 
		trong ước nguyện cơ bản nguyên thủy: đó không phải là một cuộc chạy trốn 
		về phía trước, vì mặc dầu bất đắc dĩ phải ở lại Thượng Xuyên, ngài vẫn 
		tận tình chu toàn nhiệm vụ giám tỉnh. Nhưng chính lúc ấy, cái đến đến 
		thật bất ngờ. Chắc chắn ba chuyến đi ấy chưa làm cho ngài kiệt sức, 
		nhưng đủ làm nổi rõ những đường nét thâm sâu trong cuộc sống của ngài.</td>
	</tr>
	<tr>
		<td width="226">
		<p align="right">
<a target="_top" href="http://tinmung.net">
<img border="0" src="../../../../../logo/LOGOtinmung.gif" width="67" height="40"></a></td>
		<td width="225">
		<a target="contents" href="../_List.htm">
		<img border="0" src="../../../../LOGOtinmung2.gif" width="67" height="42"></a></td>
	</tr>
</table>

</body>

</html>

PHP File Manager