File "2_NguoiBaoVe.htm"
Full path: E:/sites/Single15/tinmung2007/webroot/CAC-THANH/TRANGTHANHGIUSE/TongHuan_NguoiTrongNom/2_NguoiBaoVe.htm
File size: 39.52 KiB (40473 bytes)
MIME-type:
Charset: utf-8
<html>
<head>
<meta http-equiv="Content-Type" content="text/html; charset=utf-8">
<LINK rel="stylesheet" href="../_common/colours.css" type="text/css">
<title>Trang Thánh Giuse</title>
<meta name="Microsoft Theme" content="none">
<base target="_self">
<style>
<!--
h1
{margin-bottom:.0001pt;
text-align:justify;
page-break-after:avoid;
font-size:14.0pt;
font-family:VNI-Times;
font-weight:normal;
font-style:italic;
margin-left:0cm; margin-right:0cm; margin-top:0cm}
-->
</style>
</head>
<body background="../_Images/Background.jpg">
<table border="0" width="500" id="table1" bgcolor="#FFFFFF" cellspacing="15">
<tr>
<td>
<p align="center"><b><font face="Arial" color="#FF5328"><font size="3">
Tông Huấn - Người Trông Nom Đấng Cứu Thế</font><br>
</font></b><font size="2" color="#0000FF"><i>
<img border="0" src="../bar_pinkfl.gif" width="287" height="23"></i></font></td>
</tr>
<tr>
<td>
<p class="MsoNormal" align="center" style="text-align: center; line-height: normal; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<b><span lang="EN-GB" style="font-size: 12pt">NGƯỜI BẢO VỆ MẦU NHIỆM
THIÊN CHÚA</span></b></td>
</tr>
<tr>
<td>
<p class="MsoNormal" align="right" style="margin-top: 0; margin-bottom: 0">
<i><b><font face="Arial" size="2">§ Đức Gioan Phaolô Đệ Nhị</font></b></i></td>
</tr>
<tr>
<td>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; line-height: normal; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-GB" style="font-size: 12pt">4. Không lâu sau ngày Truyền
tin, khi Mẹ Maria đến nhà ông Dacaria để thăm người bà con Êlisabét, vừa
khi Mẹ cất tiếng chào, Mẹ được nghe những lời chúc tụng của Êlisabét,
lúc ấy “được đầy tràn Chúa Thánh Thần” (Lc 1,41). Ngoài lời chào hỏi gợi
lại điều sứ thần đã nói lúc truyền tin, bà Êlisabét còn nói: “</span><span lang="IT" style="font-size: 12pt">Em
thật có phúc, vì đã tin rằng Chúa sẽ thực hiện những gì Người đã nói với
em” (Lc 1,45). </span><span lang="EN-GB" style="font-size: 12pt">Những
lời này đã là ý tưởng chỉ đạo cho thông điệp Mẹ Đấng Cứu Chuộc. Trong
thông điệp này, Tôi đã nhắm đào sâu giáo huấn của Công Đồng Vatican II.
Công đồng đã nêu rõ rằng Đức Trinh Nữ rất thánh đã tiến bước trên đường
lữ hành đức tin, và kiên tín giữ sự hiệp nhất với Con cả lúc đứng dưới
chân Thập giá” (5), “đi trước” (6) mọi kẻ tin theo Đức Kitô. </span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; line-height: normal; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-GB" style="font-size: 12pt">Vào lúc khởi đầu cuộc lữ
hành, đức tin của Mẹ Maria gặp đức tin của thánh Giuse. Nếu bà Êlisabét
nói về Mẹ Đấng Cứu chuộc: “Phúc cho Bà là kẻ đã tin”, thì theo một nghĩa
nào đó, sự chúc phúc này cũng có thể được áp dụng cho Giuse, vì Ngài đã
tích cực đáp lời Thiên Chúa khi lời này được truyền đạt cho Ngài vào
giây phút quyết định. Mặc dù đúng thật là Giuse đã không đáp trả lại lời
truyền tin của sứ thần cùng một cách như Mẹ Maria, nhưng Ngài đã “l</span><span lang="IT" style="font-size: 12pt">àm
như sứ thần Chúa dạy và đón vợ về nhà”. Điều Ngài đã làm là một “sự vâng
phục đức tin” rõ rệt nhất (x. Rm 1,5; 16,26; 2Cr 10,5-6). </span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; line-height: normal; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-GB" style="font-size: 12pt">Người ta có thể nói rằng điều
Thánh Giuse làm đã liên kết Người một cách đặc biệt với đức tin của Mẹ
Maria. Người đã tin nhận như là chân lý đến từ Thiên Chúa chính điều mà
Mẹ Maria đã đón nhận vào lúc truyền tin. Công đồng dạy rằng: “Vâng phục
của đức tin là phải đáp trả lại Thiên Chúa khi Người mạc khải chính
mình. Nhờ sự vâng phục của đức tin, con người tự do tận hiến cho Thiên
Chúa, phó thác hoàn toàn trí khôn và ý chí cho Thiên Chúa, Đấng mạc
khải, và “sẵn lòng tin nhận điều Thiên Chúa mạc khải cho mình” (7). Giáo
huấn này nói lên chính yếu tính của đức tin, hoàn toàn có thể áp dụng
cho Giuse, người làng Nagiarét. </span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; line-height: normal; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-GB" style="font-size: 12pt">5. Vì thế Ngài trở thành
người bảo vệ duy nhất của mầu nhiệm “đã</span><span lang="IT" style="font-size: 12pt">
được giữ kín từ muôn thuở nơi Thiên Chúa</span><span lang="EN-GB" style="font-size: 12pt">”
(Ep 3,9), giống như Mẹ Maria, vào giây phút quyết định mà Thánh Phaolô
gọi là: “khi thời gian tới hồi viên mãn”, lúc “</span><span lang="IT" style="font-size: 12pt">Thiên
Chúa đã sai Con mình tới, sinh làm con một người đàn bà... để chuộc
những ai sống dưới Lề Luật, hầu chúng ta nhận được ơn làm nghĩa tử” (Gl
4,4-5). Dùng chính ngôn từ của Công Đồng: “Theo hảo ý, trong sự tốt lành
và khôn ngoan của mình, Thiên Chúa muốn tự mạc khải và thông tri mầu
nhiệm ý muốn của mình (x. Ep 1,9) Ý muốn của Ngài là con người phải tới
được Thiên Chúa Cha, qua Đức Kitô, Ngôi Lời thành xác phàm, trong Chúa
Thánh Thần, và trở nên người tham dự vào thiên tính (x. Ep 2,18; 2Pr
1,4)” (8).</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; line-height: normal; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-GB" style="font-size: 12pt">Cùng với Mẹ Maria, Giuse là
người gìn giữ đầu tiên mầu nhiệm thiêng liêng này. Cùng với Mẹ Maria, và
trong tương quan với Mẹ Maria, Ngài cộng tác vào giai đoạn tự mạc khải
cuối cùng của Thiên Chúa trong Đức Kitô, và Ngài đã cộng tác như thế
ngay từ buổi đầu. Nhìn lại các đoạn văn Tin Mừng của cả Mátthêu và Luca,
người ta có thể nói rằng thánh Giuse là người đầu tiên chia sẻ đức tin
của Mẹ Thiên Chúa, và khi chia sẻ như thế, Ngài nâng đỡ niềm tin của vị
hôn thê vào lời truyền tin của Thiên Chúa. Ngài cũng là người đầu tiên
được Thiên Chúa đặt trên đường “lữ hành đức tin” của Mẹ Maria. Đó là
đoạn đường Mẹ Maria đi trước cách tuyệt hảo, đặc biệt vào lúc ở Núi Sọ
và lúc Hiện Xuống. </span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; line-height: normal; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-GB" style="font-size: 12pt">6. Đường lữ hành trong đức
tin của Thánh Giuse kết thúc trước, nghĩa là trước khi Mẹ Maria đứng
dưới chân thập giá trên đồi Gôngôtha, và trước thời điểm Đức Kitô trở về
cùng Cha, khi Mẹ hiện diện ở lầu Tiệc Ly vào lễ Ngũ Tuần, ngày mà Giáo
Hội biểu lộ mình ra cho thế giới, sau khi được sinh ra trong quyền năng
của Thánh Thần Chân lý. Dầu vậy, đường đức tin của thánh Giuse không có
gì thay đổi: hoàn toàn được xác định bởi cùng một mầu nhiệm, mà Ngài
cùng với Mẹ là người bảo vệ đầu tiên. Mầu nhiệm Nhập Thể và mầu nhiệm
Cứu chuộc tạo thành một duy nhất tính hữu cơ và bất khả phân, nơi đó
“chương trình mạc khải được thực hiện qua ngôn từ và hành động, cả hai
tương quan mật thiết nội tại với nhau” (10). Chính vì duy nhất tính này
mà Đức Gioan XXIII, người rất sùng kính thánh Giuse, đã chỉ thị phải
thêm tên của thánh Giuse vào Lễ Quy Rôma của Thánh lễ - vốn là hành vi
muôn đời tưởng nhớ việc cứu chuộc – sau tên của Mẹ Maria, và trước tên
các Thánh Tông đồ, Giáo hoàng và Tử đạo. (11)</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; line-height: normal; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<b><span lang="EN-GB" style="font-size: 12pt">Việc phục vụ của người Cha</span></b></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; line-height: normal; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-GB" style="font-size: 12pt">7. Như có thể suy diễn từ các
bản văn Tin Mừng, cuộc hôn nhân của thánh Giuse với Mẹ Maria là nền tảng
pháp lý cho chức vụ làm cha. Vì nhằm bảo đảm có một người cha bảo vệ
Chúa Giêsu mà Thiên Chúa chọn Giuse làm chồng Mẹ Maria. Nhờ thế mà chức
vụ làm cha của Giuse – một tương quan khiến Ngài hết sức gần gũi với Đức
Kitô, Đấng mà những ai được tuyển chọn và được tiền định đều quy chiếu
về (x. Rm 8,28-29) – [chức vụ làm cha] có được qua cuộc hôn nhân với Mẹ
Maria, nghĩa là qua gia đình. </span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; line-height: normal; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-GB" style="font-size: 12pt">Khi minh nhiên khẳng định
Chúa Giêsu được thụ thai bởi quyền năng Chúa Thánh Thần, và sự trinh
khiết vẫn được bảo toàn nguyên vẹn trong hôn nhân (x. Mt 1,18-25; Lc
1,26-38), các thánh sử muốn nói Giuse như là chồng của Mẹ Maria, và Mẹ
Maria là vợ của Người (x. Mt 1,16,18-20,24; Lc 1,27; 2,5). </span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; line-height: normal; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-GB" style="font-size: 12pt">Và khi Giáo Hội thấy thật là
quan trọng phải tuyên xưng sự hoài thai Chúa Giêsu đồng trinh, thì một
điều khác cũng không kém trọng yếu là Giáo Hội phải bênh vực hôn nhân
của Mẹ Maria với thánh Giuse, vì theo pháp lý cương vị làm Cha của thánh
Giuse tuỳ thuộc vào đó. Vì thế người ta mới hiểu tại sao phả hệ lại được
liệt kê theo phả hệ của thánh Giuse. Thánh Augustinô hỏi: “Tại sao phả
hệ lại không được kể theo thánh Giuse cơ chứ? Người không phải là chồng
của Mẹ Maria sao? Kinh Thánh ghi nhận, qua uy quyền của sứ thần, rằng
Người là chồng của bà. Sứ thần nói: ‘Đ</span><span lang="IT" style="font-size: 12pt">ừng
ngại đón bà Maria vợ ông về, vì người con bà cưu mang là do quyền năng
Chúa Thánh Thần’. Giuse được bảo phải đặt tên cho con trẻ, dù không phải
là con do mình. Sứ thần nói: ‘Bà sẽ sinh con trai và ông phải đặt tên
cho con trẻ là Giêsu’. Kinh Thánh nhìn nhận Chúa Giêsu không sinh ra từ
dòng giống của Giuse, vì khi thắc mắc về nguồn gốc bào thai trong lòng
Mẹ Maria, Giuse được cho biết đó là do quyền năng Chúa Thánh Thần. Tuy
vậy, Ngài không bị tước mất quyền làm cha vào lúc Ngài được bảo phải đặt
tên cho con trẻ. Cuối cùng, cả Trinh Nữ Maria, dù ý thức rằng mình không
thụ thai Đức Kitô qua việc vợ chồng với Giuse, bà vẫn gọi ông là Cha Đức
Kitô”. (12)</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; line-height: normal; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="IT" style="font-size: 12pt">Người Con của Mẹ Maria cũng là
người Con của thánh Giuse qua mối liên kết hôn nhân đã nối kết hai
người: “Nhờ hôn nhân thuỷ chung của họ, cả hai xứng đáng được gọi là cha
mẹ của Đức Kitô. Không chỉ mẹ Người, nhưng cả cha Người, cũng là cha là
mẹ cùng một cách thức như nhau, vì Giuse là chồng của Mẹ Người: theo
tinh thần, chứ không theo thể xác”. (13) Trong cuộc hôn nhân này, không
thiếu vắng điều kiện cần thiết nào: “Nơi cha mẹ của Đức Kitô mọi điều
tốt đẹp của hôn nhân đều được thực hiện – con cái nối dòng, sự chung
thuỷ, sự bền vững: Con cái là chính Chúa Giêsu; chung thuỷ, vì không có
ngoại tình; bền vững, vì không có ly dị”. (14) </span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; line-height: normal; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-GB" style="font-size: 12pt">Phân tích bản chất cuộc hôn
nhân này, cả Thánh Augustinô lẫn Thánh Tôma luôn luôn đồng hoá nó với
một “hiệp nhất tâm hồn bất khả phân”, một “hợp nhất đôi tim”, với “đồng
thuận”. (15) Người ta tìm thấy những yếu tố này được thể hiện cách tuyệt
hảo trong cuộc hôn nhân của Mẹ Maria và Giuse. Vào cao điểm của lịch sử
Cứu chuộc, khi Thiên Chúa biểu lộ tình yêu dành cho nhân loại qua quà
tặng là Ngôi Lời, thì Mẹ Maria và thánh Giuse qua chính việc nhận lãnh
và biểu lộ tình yêu hôn nhân của mình, đã thực hiện trong trọn vẹn “tự
do” sự trao hiến mình cho nhau. (16) ”Trong công cuộc vĩ đại đổi mới mọi
sự trong Đức Kitô, thì hôn nhân - vốn cũng được thanh luyện và canh tân
- trở thành một thực thể mới, một bí tích của Tân Ước. Chúng ta thấy
rằng, vào lúc khởi đầu của Tân Ước, cũng giống như lúc ban đầu của Cựu
ước, đã có một cặp vợ chồ<b>n</b>g. Nhưng trong khi Ađam và Evà là nguồn
gieo vãi sự dữ vào thế gian, thì thánh Giuse và Mẹ Maria là cao điểm hội
tụ từ đó sự thánh thiện lan toả khắp thế giới. Chính nơi cuộc hôn nhân
trinh khiết và thánh thiện này mà Đấng Cứu Thế đã bộc lộ ý toàn năng của
Ngài, khi khởi đầu việc cứu chuộc, là muốn thanh luyện và thánh hoá gia
đình – là cung thánh tình yêu và nôi bảo dưỡng sự sống”. (17) </span>
</p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; line-height: normal; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-GB" style="font-size: 12pt">Các gia đình ngày nay học hỏi
được biết bao nhiêu điều từ điểm này! “Phân tích cho cùng thì bản chất
và vai trò của gia đình là tình yêu. Vậy gia đình có nhiệm vụ bảo toàn,
biểu lộ, hiệp thông tình yêu, và gia đình là một suy tư sống động về, và
là một chia sẻ tình yêu Thiên Chúa dành cho nhân loại và tình yêu Đức
Kitô dành cho Giáo Hội, Hiền thê Người”. (18) Đây là điều diễn ra nơi
Thánh Gia thất, mà mọi gia đình Kitô hữu phải phản ánh được nơi “Giáo
Hội nhỏ bé (Giáo Hội tại gia)”. (19) “Qua an bài mầu nhiệm của Thiên
Chúa, chính trong gia đình như thế mà Con Thiên Chúa đã trải qua nhiều
năm ẩn cư. Vì thế, đó chính là nguyên mẫu và gương sáng cho mọi gia đình
Kitô hữu”. (20) </span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; line-height: normal; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-GB" style="font-size: 12pt">8. Thánh Giuse được Thiên
Chúa gọi để phục vụ con người và sứ mạng Chúa Giêsu trực tiếp qua việc
thi hành chức vụ làm cha. Chính qua cách này, như Phụng vụ Giáo hội dạy,
mà Người “cộng tác vào mầu nhiệm Cứu chuộc cao cả khi thời gian viên
mãn” và Người đích thực là “thừa tác viên của ơn cứu chuộc”. (21) Chức
vụ cha của Người được biểu hiện cụ thể “qua việc Người phải biến đời
mình thành phục vụ, thành hy lễ cho mầu nhiệm Nhập Thể và cho sứ mạng
cứu chuộc liên kết theo đó; qua việc Người phải dùng quyền uy hợp pháp
của Người trên Gia đình thánh để biến chính Người, biến cuộc đời và công
việc Người thành một quà tặng trọn vẹn; qua việc Người phải chuyển ơn
gọi thuần nhân loại yêu thương trong nội vi gia đình thành một tế hiến
siêu nhiên chính mình, chính con tim và mọi khả năng thành tình yêu phục
vụ Đấng Thiên Sai đang trưởng thành dưới mái nhà mình”. (22) </span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; line-height: normal; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-GB" style="font-size: 12pt">Khi nhắc lại rằng “buổi đầu
của việc cứu chuộc chúng ta” được tín thác trao cho “thánh Giuse thành
tín chăm lo”. (23) Phụng Vụ nhấn mạnh rằng “Thiên Chúa đặt Người làm đầu
gia đình, như một người phục vụ tín thành và cẩn trọng, hầu qua việc
chăm lo trong vai người cha, Người coi sóc người Con duy nhất được sinh
ra”. (24) Đức Lêô XIII nhấn mạnh đến bản chất cao siêu của sứ mệnh này:
“Người trổi vượt giữa mọi người nhờ phẩm cách uy nghiêm, vì Thiên Chúa
an bài Người làm người bảo vệ và nhân loại chân nhận Người là cha của
Con Thiên Chúa. Từ đó Ngôi Lời Thiên Chúa quy phục thánh Giuse, Người
vâng lời thánh Giuse và trao về thánh Giuse vinh quang và kính trọng mà
mọi người con phải có đối với cha mình”. (25) </span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; line-height: normal; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-GB" style="font-size: 12pt">Vì người ta không thể tưởng
tượng được rằng một công tác cao trọng như thế mà không có những phẩm
cách cần thiết tương xứng để chu toàn nó cách thích đáng, nên chúng ta
phải nhìn nhận rằng Thánh Giuse, “nhờ hồng ân đặc biệt từ trời”, đã dành
cho Chúa Giêsu “trọn tình yêu tự nhiên, mọi chăm nom âu yếm mà một trái
tim người cha có thể nghĩ ra được”. (26) </span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; line-height: normal; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-GB" style="font-size: 12pt">Ngoài quyền uy của một người
cha đối với Chúa Giêsu, Thiên Chúa còn ban cho thánh Giuse thông phần
vào tình yêu, tình yêu bắt nguồn từ Thiên Chúa Cha “từ nơi Người là
nguồn gốc mọi gia tộc trên trời dưới đất“ (Ep 3,15). </span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; line-height: normal; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-GB" style="font-size: 12pt">Các sách Tin Mừng miêu tả rõ
ràng trách nhiệm làm cha của thánh Giuse đối với Chúa Giêsu. Vì việc cứu
chuộc - xuyên qua nhân tính của Chúa Giêsu – được thực hiện bằng những
hành động, là một phần đời sống gia đình hằng ngày, tương ứng với việc
“tự hạ” vốn gắn liền với nhiệm cục Nhập Thể. Các thánh sử cẩn thận cho
thấy không có gì trong cuộc đời Chúa Giêsu là ngẫu nhiên, nhưng mọi việc
đều xảy ra theo đúng chương trình quan phòng của Thiên Chúa. Công thức
thường được lặp lại: “Điều này xảy ra, để thực hiện trọn vẹn...” liên
quan đến một sự kiện đặc biệt trong Cựu Ước, dùng để nhấn mạnh đến tính
chất duy nhất và liên tục của chương trình được thành toàn nơi Đức Kitô.
</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; line-height: normal; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-GB" style="font-size: 12pt">Với việc Nhập thể, các “lời
hứa” và “hình ảnh” trong Cựu Ước trở thành “thực tại”: các nơi chốn,
nhân vật, biến cố và nghi thức liên quan với nhau theo đúng mệnh lệnh
chính xác của Thiên Chúa được các sứ thần thông tri và được các thụ tạo
là những người đặc biệt mẫn cảm với tiếng nói Thiên Chúa đón nhận.
</span><span lang="IT" style="font-size: 12pt">Mẹ Maria là nữ tì khiêm
hạ của Thiên Chúa, được chuẩn bị từ muôn thuở để đảm trách chức vụ làm
Mẹ Thiên Chúa, còn</span><span lang="EN-GB" style="font-size: 12pt">
thánh Giuse là một người được Thiên Chúa chọn để thành “người chăm nom
việc Chúa hạ sinh”, (27) người có trách nhiệm trông nom việc Con Thiên
Chúa được “chỉ định” nhập thế, theo đúng những điều Thiên Chúa an bài và
luật lệ nhân loại. Tất cả đời sống được gọi là “riêng tư” hay “ẩn dật“
của Chúa Giêsu được tín thác vào sự bảo vệ của Thánh Giuse. </span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; line-height: normal; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<b><span lang="EN-GB" style="font-size: 12pt">Cuộc kiểm tra dân số</span></b></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; line-height: normal; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-GB" style="font-size: 12pt">9. Khi lên đường trở về Bêlem
để được kiểm tra dân số theo lệnh của thẩm quyền hợp pháp, thánh Giuse
đã chu toàn cho Hài Nhi một công việc đầy ý nghĩa là chính thức thêm tên
“Giêsu, con của Giuse làng Nagiarét” (x. Ga 1,45) vào sổ bộ Đế quốc La
Mã. Việc đăng ký này chứng minh rõ ràng rằng Đức Giêsu thuộc loài người
như một người nam trong nam giới, một công dân của thế giới này, chịu sự
chi phối của lề luật và các định chế dân sự, nhưng cũng là “đấng cứu
chuộc thế giới”. Origênê đã miêu tả đúng đắn ý nghĩa thần học của sự
kiện lịch sử này mà không hề tránh né một chút nào: “Vì cuộc kiểm tra
dân số đầu tiên của toàn thế giới được thực hiện dưới thời Xêdarê
Augúttô, và cùng với mọi người khác, thánh Giuse cũng đi đăng ký với Mẹ
Maria bạn đời mình đang có thai, và vì Đức Giêsu được sinh ra trước khi
cuộc kiểm tra hoàn tất, nên đối với những ai chăm chú khảo sát, dường
như có một mầu nhiệm được biểu hiện qua sự kiện là vào chính thời điểm
mọi người trên thế giới đi trình diện để được đếm, Đức Kitô cũng phải
được đếm. Bởi được ghi tên vào sổ bộ chung với mọi người, Ngài có thể
thánh hoá mọi người; bởi được ghi danh vào chung với toàn thế giới trong
cuộc kiểm tra, Ngài mời gọi thế giới hiệp thông với Ngài, và sau khi
trình diện mình, Ngài ghi tên mọi người thế gian vào sách hằng sống, để
dù có bao nhiêu người tin vào Ngài, họ cũng được ghi danh trên trời
chung với các thánh của Thiên Chúa, Đấng đáng được mọi vinh quang và
quyền năng muôn thuở muôn đời, Amen”. (28) </span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; line-height: normal; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<b><span lang="EN-GB" style="font-size: 12pt">Giáng sinh tại Bêlem</span></b></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; line-height: normal; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-GB" style="font-size: 12pt">10. Là người bảo vệ mầu nhiệm
“được giấu kín từ muôn đời trong ý định của Thiên Chúa,” và bắt đầu tỏ
lộ trước mắt Ngài “vào lúc thời gian viên mãn,” cùng với Mẹ Maria, thánh
Giuse là nhân chứng ưu tuyển việc Con Thiên Chúa giáng sinh vào thế gian
đêm Sinh nhật tại Bêlem. Thánh Luca viết: “</span><span lang="IT" style="font-size: 12pt">Khi
hai người đang ở đó, thì bà Maria đã tới ngày mãn nguyệt khai hoa. Bà
sinh con trai đầu lòng, lấy tã bọc con, rồi đặt nằm trong máng cỏ, vì
hai ông bà không tìm được chỗ trong nhà trọ” (Lc 2,6-7).</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; line-height: normal; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-GB" style="font-size: 12pt">Thánh Giuse đã là chứng nhân
của cuộc hạ sinh này vốn xảy ra trong những hoàn cảnh quá lúng túng, nói
theo phương diện loài người, – đó là một lời tiên báo về việc “tự huỷ
diệt” (x. Pl 2,5-8) mà Đức Kitô tự nguyện chấp nhận để tha tội. Thánh
Giuse cũng mục kích việc các mục đồng đến nơi Chúa Giêsu hạ sinh để thờ
lạy sau khi các thiên thần báo cho họ tin vui và quan trọng ấy (x. Lc
2,15-16). Sau đó, Ngài cũng mục kích việc các đạo sĩ từ Đông phương đến
bái kiến (x. Mt 2,11).</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; line-height: normal; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<b><span lang="EN-GB" style="font-size: 12pt">Cắt bì</span></b></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; line-height: normal; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-GB" style="font-size: 12pt">11. Việc cắt bì cho người con
trai là nghĩa vụ tôn giáo đầu tiên của người cha, và với nghi thức này
(x. Lc 2,21) thánh Giuse đã sử dụng quyền hạn và bổn phận của mình đối
với Chúa Giêsu.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; line-height: normal; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-GB" style="font-size: 12pt">Nguyên tắc cho rằng cho mọi
nghi lễ Cựu Ước đều là hình bóng của thực tại (x. Dt 9,9t; 10,1) được
dùng để cắt nghĩa tại sao Chúa Giêsu phải chấp nhận những nghi lễ ấy.
Cùng với mọi nghi lễ khác, việc cắt bì cũng “được hoàn thành” nơi Chúa
Giêsu. Giao Ước củaThiên Chúa với Abraham, mà nghi thức cắt bì là dấu
chỉ (x. St 17,13) đạt được đầy đủ hiệu quả và được thi hành trọn vẹn nơi
Chúa Giêsu, Đấng là lời đáp “có” cho mọi lời hứa xưa (x. 2Cr 1,20).
</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; line-height: normal; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<b><span lang="EN-GB" style="font-size: 12pt">Đặt Tên</span></b></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; line-height: normal; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-GB" style="font-size: 12pt">12. Vào lúc cắt bì, thánh
Giuse đặt tên con trẻ là “Giêsu”. Đây chính là cái tên duy nhất mang lại
ơn cứu độ (x. Cv 4,12). Ý nghĩa của tên này đã được mạc khải cho thánh
Giuse vào lúc truyền tin: “Ô</span><span lang="IT" style="font-size: 12pt">ng
phải đặt tên cho con trẻ là Giêsu, vì chính Người sẽ cứu dân Người khỏi
tội lỗi của họ”. (x. Mt 1,21). Khi đặt tên, thánh Giuse biểu thị cương
vị làm cha hợp pháp của Người đối với Chúa Giêsu, và khi gọi tên ấy,
Người tuyên bố sứ mệnh Đấng Cứu thế của Con trẻ. </span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; line-height: normal; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<b><span lang="EN-GB" style="font-size: 12pt">Dâng Chúa Giêsu vào Đền
Thờ</span></b></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; line-height: normal; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-GB" style="font-size: 12pt">13. Nghi thức này, theo thánh
Luca kể lại (2,22tt), bao gồm việc chuộc lại người con đầu lòng, đồng
thời soi sáng ý nghĩa cho việc sau đó Chúa Giêsu lưu lại Đền Thờ khi lên
mười hai tuổi.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; line-height: normal; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-GB" style="font-size: 12pt">Việc chuộc lại người con đầu
lòng cũng là một nghĩa vụ nữa của người cha, mà thánh Giuse đã lo chu
toàn. Biểu tượng của người con đầu lòng là dân của giao ước từng được
chuộc khỏi ách nô lệ để thuộc về Thiên Chúa. Cũng vậy, chính Chúa Giêsu
là “giá chuộc” đích thực (x. 1Cr 6,20; 7,23; 1Pr 1,19) chẳng những đã
chu toàn một nghi thức của Cựu ước, mà đồng thời vượt trên chính nghi
thức ấy, bởi vì không phải Người đã được cứu chuộc mà chính Người là
Đấng Cứu Chuộc.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; line-height: normal; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-GB" style="font-size: 12pt">Thánh sử ghi lại rằng “</span><span lang="IT" style="font-size: 12pt">Cha
và mẹ Hài Nhi ngạc nhiên vì những lời nói về Người” (Lc 2,33). đặc biệt
vì những điều Simêon nói lên trong bài ca tụng Thiên Chúa, khi ông đề
cập đến Chúa Giêsu như là: “ơn cứu độ Chúa đã dành sẵn cho muôn dân, đó
là ánh sáng soi đường cho dân ngoại, là vinh quang của Ítraen Dân Ngài”
và là “dấu hiệu cho người đời chống báng” (x.Lc 2: 30-34). </span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; line-height: normal; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<b><span lang="EN-GB" style="font-size: 12pt">Lánh nạn sang Ai Cập</span></b></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; line-height: normal; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-GB" style="font-size: 12pt">14. Sau sự kiện dâng Chúa
Giêsu vào Đền Thờ, thánh sử Luca ghi nhận: “</span><span lang="IT" style="font-size: 12pt">Khi
hai ông bà đã làm xong mọi việc như Luật Chúa truyền, thì trở về nơi cư
ngụ là thành Nagiarét, miền Galilê. Còn Hài Nhi ngày càng lớn lên, thêm
vững mạnh, đầy khôn ngoan, và hằng được ân nghĩa cùng Thiên Chúa” (Lc
2,39-40).</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; line-height: normal; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="IT" style="font-size: 12pt">Nhưng theo bản văn của Mát-thêu,
một biến cố rất quan trọng đã xảy ra trước khi họ trở về Galilêa, biến
cố trong đó Thiên Chúa quan phòng một lần nữa cậy nhờ đến Giuse. Chúng
ta đọc thấy: “Khi các nhà chiêm tinh đã ra về, thì sứ thần Chúa hiện ra
báo mộng cho ông Giuse rằng: "Này ông, dậy đem Hài Nhi và mẹ Người trốn
sang Ai-cập, và cứ ở đó cho đến khi tôi báo lại, vì vua Hêrôđê sắp tìm
giết Hài Nhi đấy! " (Mt 2,13) Các nhà chiêm tinh từ phương Đông đến báo
cho Hê-rô-đê biết việc hạ sinh của “Đức Vua dân Do thái” (Mt 2,22). Và
khi các nhà chiêm tinh đi rồi, ông “sai người đi giết tất cả các con trẻ
ở Bêlem và toàn vùng lân cận, từ hai tuổi trở xuống” (Mt 2,16). Khi giết
hết các hài nhi, ông mong giết được hài nhi “Vua dân Do thái” mới sinh,
mà ông vừa nghe biết. Vậy, sau khi được báo mộng, thánh Giuse đã “đưa
Hài Nhi và mẹ Người trốn sang Ai-cập. Ông ở đó cho đến khi vua Hêrôđê
băng hà, để ứng nghiệm lời Chúa phán xưa qua miệng ngôn sứ: ‘Ta đã gọi
con Ta ra khỏi Ai cập’” (</span><span lang="EN-GB" style="font-size: 12pt">Mt
2,14-15; x. Hs 11,1). </span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; line-height: normal; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-GB" style="font-size: 12pt">Và như thế lộ trình của Chúa
Giêsu từ Bê-lem về Nagiarét phải qua ngả Ai cập. Cũng như Ítraen đã theo
lộ trình xuất hành “từ thân phận nô lệ” để bắt đầu Giao Ước cũ, thì
thánh Giuse, người bảo vệ và cộng tác vào mầu nhiệm quan phòng của Thiên
Chúa, dù trong lưu đày, cũng đã chăm sóc Đấng thực hiện Giao Ước mới.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; line-height: normal; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<b><span lang="EN-GB" style="font-size: 12pt">Chúa Giêsu lưu lại Đền Thờ
</span></b></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; line-height: normal; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-GB" style="font-size: 12pt">15. Từ lúc Truyền tin, cả
Thánh Giuse và Mẹ Maria, theo một nghĩa nào đó, đã là trung tâm của mầu
nhiệm được giấu kín từ muôn đời trong ý định Thiên Chúa, mầu nhiệm đã
trở thành người phàm: “Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa
chúng ta” (Ga 1,14). Người ở giữa loài người, trong nội vi Gia đình
Thánh tại Nagiarét – một trong nhiều gia đình sinh sống tại làng nhỏ
miền Galilê, một trong nhiều gia đình của xứ Ítraen. Ở đó, Chúa Giêsu
“ngày càng lớn lên, thêm vững mạnh, đầy khôn ngoan, và hằng được ân
nghĩa cùng Thiên Chúa” (Lc 2,40). Tin Mừng chỉ tóm lược trong vài chữ
thời gian dài “sống ẩn dật”. Trong khoảng thời gian này, Chúa Giêsu tự
chuẩn bị cho sứ mạng Thiên sai của mình. Chỉ có một tình tiết trong
“thời ẩn dật” này được Tin mừng Luca ghi lại: Lễ Vượt qua tại Giêrusalem
khi Chúa Giêsu lên mười hai tuổi. Cùng với Mẹ Maria và Thánh Giuse, Chúa
Giêsu tham dự cuộc lễ như một thiếu niên trong đoàn hành hương. “Xong kỳ
lễ, hai ông bà trở về, còn cậu bé Giêsu thì ở lại Giêrusalem, mà cha mẹ
chẳng hay biết” (Lc 2,43). Sau một ngày hành trình, hai ông bà mới nhận
thấy thiếu Ngài và bắt đầu tìm kiếm “giữa đám bà con và người quen
thuộc”. “Sau ba ngày, hai ông bà mới tìm thấy con trong Ðền Thờ, đang
ngồi giữa các thầy dạy, vừa nghe họ, vừa đặt câu hỏi. Ai nghe cậu nói
cũng ngạc nhiên về trí thông minh và những lời đối đáp của cậu” (Lc
2,47). Mẹ Maria hỏi: “Con ơi, sao con lại xử với cha mẹ như vậy? Con
thấy không, cha con và mẹ đây đã phải cực lòng tìm con!” (Lc 2,48) Chúa
Giêsu trả lời mà “ông bà không hiểu lời Người vừa nói”. Ngài đã nói:
“Sao cha mẹ lại tìm con? Cha mẹ không biết là con có bổn phận ở nhà của
Cha con sao? " (Lc 2,49-50)</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; line-height: normal; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-GB" style="font-size: 12pt">Thánh Giuse, người mà Mẹ
Maria dùng từ “cha con” để gọi, đã nghe câu trả lời này. Dẫu sao, đó là
điều mà mọi người nói và nghĩ: “Chúa Giêsu là con (như vẫn được coi) của
Giuse” (Lc 3,23). Tuy nhiên, câu trả lời của Chúa Giêsu trong Đền thờ
một lần nữa gợi lên trong trí người “vẫn được coi là cha” điều người ấy
đã nghe được trong một đêm mười hai năm trước đó: “Giuse... đ</span><span lang="IT" style="font-size: 12pt">ừng
ngại đón bà Maria vợ ông về, vì người con bà cưu mang là do quyền năng
Chúa Thánh Thần”. Từ thời điểm ấy trở đi, Giuse biết mình là người bảo
vệ mầu nhiệm của Thiên Chúa, và chính mầu nhiệm này mà cậu Giêsu mười
hai tuổi nhắc lại cho nhớ: ”Con có bổn phận ở nhà của Cha con".</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; line-height: normal; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<b><span lang="EN-GB" style="font-size: 12pt">Việc bảo trợ và giáo dục
Đức Giêsu làng Nagiarét</span></b></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; line-height: normal; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-GB" style="font-size: 12pt">16. Việc Chúa Giêsu lớn lên
</span><span lang="IT" style="font-size: 12pt">“thêm khôn ngoan, thêm
cao lớn và thêm ân nghĩa đối với Thiên Chúa và người ta” (Lc 2,52). xảy
ra trong nội vi Gia đình Thánh dưới sự chăm sóc của thánh Giuse, người
có trách vụ quan trọng “nuôi dưỡng” Chúa Giêsu, nghĩa là chăm lo cái ăn
cái mặc, và dạy dỗ Người biết Lề Luật và biết mưu sinh, mà vẫn luôn
vuông tròn bổn phận làm cha.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; line-height: normal; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="IT" style="font-size: 12pt">Trong Hiến Tế Thánh Thể, Giáo
hội kính nhớ Mẹ Maria trọn đời đồng trinh của Thiên Chúa, và thánh
Giuse, (29) vì “Người nuôi dưỡng Chúa, Đấng mà người tín hữu phải ăn như
là bánh hằng sống”. (30)</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; line-height: normal; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="IT" style="font-size: 12pt">Về phần mình, Chúa Giêsu “hằng
vâng phục các ngài” (Lc 2,51), cung kính hồi đáp tình yêu của “cha mẹ
Người”. Nhờ thế, Người mong thánh hoá những bổn phận gia đình và lao
động, mà Người thi hành bên cạnh Thánh Giuse. </span>
</td>
</tr>
<tr>
<td>
<p align="center">
<img border="0" src="../_Images/Background1.jpg" width="200" height="200" align="right"><font size="3" color="#2F2417"><a target="_blank" href="../ThanhGiuseINDEX.htm">Trang
Giuse</a> </font><font size="3" color="#006666">|</font><font size="3" color="#2F2417"><font color="#2F2417">
</font><a target="_blank" href="http://tinmung.net/">Trang
nhà</a></font></td>
</tr>
</table>
</body>
</html>