File "Ngay21.htm"

Full path: E:/sites/Single15/tinmung2007/webroot/CAC-THANH/HanhCacThanh/Thang10/Ngay21.htm
File size: 14.67 KiB (15017 bytes)
MIME-type:
Charset: utf-8

Download   Open   Back

<head>
<meta http-equiv="Content-Language" content="en-us" />
<meta http-equiv="Content-Type" content="text/html; charset=utf-8" />
<title>Hạnh Các Thánh - Hanh Cac Thanh - Hương Việt</title>
<base target="main">
<style type="text/css">
.style1 {
	border-width: 0px;
}
</style>
<style fprolloverstyle>A:hover {color: #FF0000; font-family: Arial; font-size: 10pt}
</style>
<meta name="keywords" content="Hạnh Các Thánh, Hanh Cac Thanh, Hương Việt, tieu su cac thanh">
</head>

<body style="color: #000000; background-color: #EEEEEE; font-family:Arial; font-size:10pt; text-decoration:none" background="../../../TRANG%20CUA%20ME%20MARIA/Pictures/Background/bgr.gif">

<table width="100%" border="0" align="center" cellspacing="15" bgcolor="#FFFFF0" id="table1">
	<tr>
		<td>
		<p align="right" style="margin-top: 0; margin-bottom: 0"><b>
		<font face="Verdana" size="5" color="#006666">Hạnh Các Thánh</font></b></p>
		<hr color="#FF4D20" width="80%" align="right">
		<p style="margin-top: 3px; margin-bottom: 0" class="Ngaythang" align="right">
		<font size="5">Ngày 21 tháng 10</font></p>
		<p class="ViThanhKinh" style="margin-top: 0; margin-bottom: 0" align="right">
		<font color="#0000FF"><span style="font-size: 18pt; font-weight: 700">
		THÁNH HILARIÔ</span></font></p>
		<p class="ViThanhKinh" style="margin-top: 0; margin-bottom: 0" align="right">
		<font color="#0000FF"><span style="font-size: 18pt; font-weight: 700">TU 
		VIỆN TRƯỞNG</span></font></td>
	</tr>
	<tr>
		<td align="justify">
		<p class="Noidungdau" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		<span lang="EN-US"><font size="5">Thánh Giêrônimô rất cảm phục những đức tính đặc biệt 
		của thánh Hilariô, nên đã tường thuật cuộc đời của vị thánh ngài ngưỡng 
		mộ với rất nhiều chi tiết quý báu, làm nổi bật những nhân đức anh hùng 
		của một vị thánh xuất sắc của thế kỷ thứ IV. Vì thế, người ta có thể tin 
		vào giá trị lịch sử của bản tường thuật ấy. Tuy nhiên nhiều chi tiết và 
		sự kiện có vẻ chung cho những vị thánh khổ tu thuộc mấy thế kỷ đầu như 
		thánh Antôn, thánh Phaolô... Những trang sau đây giúp chúng ta hiểu đại 
		cương tinh thần khổ tu của các tu sĩ đầu tiên.</font></span></p>
		<p class="Noidung" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		<span lang="EN-US"><font size="5">Hilariô sinh tại Tabatha, một thị trấn nhỏ tại 
		Palestina cách Gaza chừng năm dặm về phía nam. Cha mẹ ngài là người 
		ngoại giáo, do đấy người ta ví ngài như một bông hồng mọc giữa bụi gai. 
		Hilariô học tại Alexanđria và theo khoa hùng biện. Khi đã trở thành môn 
		đệ Chúa Giêsu, ngài xa lánh các nơi vui chơi, các hí trường. Từ đây, sở 
		thích của ngài là lui tới các cộng đồng kitô hữu hội họp trong các giáo 
		đường.</font></span></p>
		<p class="Noidung" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		<span lang="EN-US"><font size="5">Hilariô đã tiếp xúc với thánh Antôn tu hành và thụ 
		giáo với thánh nhân. Sau mấy tháng, ngài trở về quê cùng với mấy tu sĩ 
		khác. Khi cha mẹ ngài từ trần, ngài đã chia gia tài với anh em, rồi phân 
		phát cho người nghèo khó tất cả phần gia tài riêng của ngài. Ngài tìm 
		một nơi hiu quạnh gần Majouma thuộc hải cảng Gaza để sống đúng tinh thần 
		một tu sĩ. Lúc ấy Hilariô mới 15 tuổi. Chiếc lều ngài trú mưa nắng chỉ 
		cao hơn một thước, nghĩa là còn thấp hơn ngài. Vì thế phải đào sâu xuống 
		đất để khỏi chạm đầu vào mái nhà. Ở đây Hilariô hãm mình và hy sinh tột 
		độ: mặc áo nhặm, ăn uống kham khổ. Ngài thường ăn lúa mạch, rễ cây và 
		rau cỏ. Bữa ăn chiều có lần ngài chỉ dùng mười lăm trái sung. Không kể 
		những giờ cầu nguyện và đọc Thánh vịnh, thánh nhân còn làm việc chân tay 
		như trồng tỉa, đan rổ, đan rá, theo gương các tu sĩ bên Ai cập, vì ngài 
		thường suy gẫm lời thánh Phaolô: “Ai không làm việc thì không đáng ăn”.</font></span></p>
		<p class="Noidung" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		<span lang="EN-US"><font size="5">Đời sống hãm mình hy sinh đi đôi với việc cầu nguyện 
		và gương nhân đức của ngài đã chiếu sáng khắp xứ, nên hầu như mọi người 
		dân Palestina ai ai cũng nghe biết danh ngài.</font></span></p>
		<p class="Noidung" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		<span lang="EN-US"><font size="5">Lời cầu nguyện của ngài có hiệu quả chắc chắn và đã 
		được Chúa nhận lời. Thế nên người ta đã tìm đến ngài để nhờ ngài cầu 
		nguyện, nhất là khi họ đau yếu bệnh tật hay bị tà ma khuấy khuất. Sau 
		đây là một trong nhiều trường hợp điển hình đã được truyền lại hay ghi 
		chép lại: ông Ôriôn là một bậc vị vọng trong thành Aila trên bờ biển đỏ 
		bị quỷ ám, người ta dẫn ông tới thánh nhân. Hôm ấy Hilariô đang đi bách 
		bộ với mấy tu sĩ và bàn hỏi về Thánh kinh. Bỗng Ôriôn nhẩy chồm đến, ôm 
		ghì lấy thánh nhân nhấc bổng lên. Mấy anh em tu sĩ la ó om sòm vì sợ 
		hãi. Ai cũng sợ con quỷ phanh thây thánh nhân. Nhưng ngài bình tĩnh trả 
		lời cách vui vẻ: “Anh em hãy yên lặng! Cứ để mặc tôi với huấn luyện viên 
		thể dục của tôi xem sao!” Thánh nhân đưa tay về đàng sau, túm lấy tóc 
		ông Ôriôn lôi hắn về phía trước. Thánh nhân xiết chặt tay hắn, dẵm lên 
		chân nạn nhân và kêu lên: “Hỡi lũ quỷ, hãy chịu thua đi, hãy chịu thua 
		đi! Lạy Chúa Giêsu, xin tháo gỡ cho người khốn nạn này, xin phóng thích 
		kẻ tù tội này! Dầu có một hay nhiều quỷ đi nữa, thì cũng chỉ có mình 
		Chúa mới có thể trừ khử được”. Khi Ôriôn được phóng thích, ông trở lại 
		cùng thánh nhân, đem theo nhiều tặng vật để tạ ơn ngài. Nhưng ngài từ 
		chối và đáp lại rằng: “Ông không biết Giêdi và Simon đã phải phạt như 
		thế nào? Người thứ nhất vì đã nhận tiền, người thứ hai vì đã đút tiền; 
		người trước thì muốn ban ân sủng của Chúa Thánh Thần, người sau lại muốn 
		mua bán ơn Chúa”. Nhưng Ôriôn xin rằng: “Xin ngài vui nhận rồi ban phát 
		cho kẻ nghèo!” Hilariô đáp lại: “Nếu chính ông đi phân phát tiền của ông 
		cho người nghèo khó hẳn còn giá trị và có ảnh hưởng hơn tôi nhiều. Riêng 
		tôi, tôi đã từ bỏ mọi tài sản của tôi. Tại sao tôi lại còn tìm kiếm của 
		cải của người khác. Đối với nhiều người, kẻ nghèo hèn là một dịp để họ 
		phô trương những tình thương đích thực thì không có gì là giả tạo. Chẳng 
		ai ban phát nhiều hơn người không giữ lại chi cả... Ông đừng buồn vì tôi 
		không nhận, tôi làm phiền lòng Chúa, và bầy quỷ sẽ trở lại ám ông 
		chăng”.</font></span></p>
		<p class="Noidung" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		<span lang="EN-US"><font size="5">Tiếng đồn thổi càng ngày càng tăng thêm, vì thế cả 
		những người ở Syria hoặc Ai cập cũng tìm hết cách để đến gặp ngài. Nhiều 
		người, sau khi được ngài chữa cho khỏi bệnh hoặc khỏi quỷ ám đã xin theo 
		ngài để làm môn đệ ngài. Cũng có người tình nguyện sống khắc khổ vì cảm 
		phục sự thánh thiện của ngài. Tuy có nhiều người làm phiền lòng ngài, 
		nhưng vì lòng nhân từ, không bao giờ ngài từ chối những người đến nhờ 
		cậy ngài cứu giúp phần hồn. Các tu sĩ sống với ngài không phải là những 
		vị thánh, nên thường có nhiều tu sĩ còn vương vấn danh vọng và của cải. 
		Thánh nhân lợi dụng mọi hoàn cảnh để giáo dục những người chưa có tinh 
		thần tu sĩ đích thực. Đây là một trường hợp điển hình. Hôm ấy vào ngày 
		chủ nhật, thầy Sabas mời cha Hilariô, các anh em tu sĩ và mọi người ra 
		thưởng ngoạn vườn nho của thầy, với mục đích để được khen lao. Nhưng 
		thánh nhân đáp: “Đáng nguyền rủa cho những kẻ nào tìm cách nuôi lòng tự 
		ái hơn là lợi ích linh hồn! Ta hãy cầu nguyện cho, hãy đọc thánh vịnh để 
		Chúa vườn nho thánh hóa chính người thợ vườn nho của Ngài”.</font></span></p>
		<p class="Noidung" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		<span lang="EN-US"><font size="5">Hilariô rất nghiêm khắc đối với nhiều tu sĩ vì thiếu 
		đức tin, đã lo lắng để dành của cải về sau hoặc quá lo lắng về tiền bạc. 
		Lúc 63 tuổi, khi thấy tu viện mỗi ngày một phát triển, lại thêm số bệnh 
		nhân và người hành hương tuốn đến như nước chảy, làm náo động vùng sa 
		mạc xưa nay vẫn yên lặng, cha Hilariô tỏ vẻ hối tiếc và nhiều lần ngài 
		đã nói với các tu sĩ: “Sống trong hoàn cảnh nhộn nhịp hiện nay, phải 
		chăng chúng ta đã lĩnh nhận được phần thưởng đời sau rồi! Nếu thế thì 
		khốn khổ quá. Chúng ta phải lo sống ẩn dật và thinh lặng để mai ngày 
		đáng được vui hưởng hạnh phúc trên trời”. Thánh nhân được Chúa cho biết 
		những việc tương lai kín nhiệm. Như một hôm, có một tu sĩ mời ngài đi 
		thăm thánh Antôn tu hành, ngài đáp: “Ta rất mong tới đó, nếu như ta 
		không bị giam giữ ở tu viện này và nếu như cuộc hành trình này không đem 
		lại sự đau khổ: vì đã từ hai hôm nay, loài người đã mất một vị cha già 
		thánh thiện”. Sau này người ta hiểu rằng ngài có ý nói tới việc thánh 
		Antôn đã qua đời.</font></span></p>
		<p class="Noidung" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		<span lang="EN-US"><font size="5">Người ta không muốn cho thánh Hilariô đi đâu xa. Một 
		hôm ngài cưỡi lừa ra đi, cốt ý tìm nơi thanh vắng để náu thân tụng niệm, 
		nhưng người ta hay biết và từng đoàn lũ kéo ra nhất định ngăn cản không 
		cho ngài đi. Thánh Hilariô bình tĩnh quỳ cầu nguyện, không kêu ca, không 
		phân giải nửa lời. Sau bảy ngày, nhận thấy thánh nhân vẫn cương quyết ra 
		đi, người ta mới chịu để ngài được tự do.</font></span></p>
		<p class="Noidung" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		<span lang="EN-US"><font size="5">Thánh nhân đến sa mạc gần Athrôđitôn và ở đó với hai 
		tu sĩ. Chẳng bao lâu, người ta lại tuốn đến xin ngài cầu nguyện và chữa 
		bệnh cho họ, nên ngài lại định trốn đến Alexanđria chung sống với các tu 
		sĩ gần Bruchium. Nhưng rồi một hôm, lúc trời đã xế chiều, thánh nhân lại 
		ngỏ ý ra đi, các tu sĩ nài nẵng xin ngài lưu lại. Ngài đáp: “Cha đi để 
		anh em buồn sầu. Rồi ra anh em sẽ hiểu tại sao cha đã ra đi đột ngột thế 
		này”. Quả nhiên, sáng hôm sau, binh lính đã tới vây nhà dòng có ý tìm 
		bắt ngài theo sắc lệnh cấm đạo của Hoàng đế mới ban hành. Nhưng họ đã 
		không tìm thấy ngài. Chính vì thế, bọn họ kháo láo với nhau rằng: “Đúng 
		như người ta đồn: ông này là một tên phù thủy biết được chuyện tương 
		lai”. Đó là thời Hoàng đế Julianô. Chính ông ra lệnh phá hủy tu viện của 
		thánh Hilariô ở Gaza và cho lệnh tầm nã ngài khắp nơi. Vì thế, Hilariô 
		phải đến trú ẩn tại một ốc đảo. Nhưng không được một năm, tiếng nhân đức 
		và ảnh hưởng phép lạ ngài làm lại vang dội khắp miền, người ta tuốn đến 
		với ngài mỗi ngày một đông, đến nỗi ngài không còn biết trú ẩn nơi đâu 
		nữa. Giữa lúc ấy, Ađrianô, đồ đệ của ngài từ Palestina tới báo tin cho 
		ngài biết là Hoàng đế Julianô đã băng hà, và Hoàng đế nối ngôi là người 
		công giáo. Thánh Hilariô vui mừng trở về tu viện Gaza, bấy giờ đã thành 
		nơi hoang phế. Tại đây, ngài đã sống những năm cuối đời trong sự thinh 
		lặng và mai danh.</font></span></p>
		<p class="Noidung" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		<span lang="EN-US"><font size="5">Thánh nhân hưởng thọ 80 tuổi. Lúc hấp hối, mắt ngài 
		mở rộng, tâm hồn như bị nung đốt, ngài kêu lên: “Ra đi, ngươi sợ gì? Hồn 
		ta ơi, ra đi thôi, tại sao ngươi còn do dự? Ngươi đã phụng sự Chúa Kitô 
		gần 70 năm trời, vậy mà còn sợ chết ư?” Nói rồi ngài tắt thở.</font></span></p>
		<p class="Noidung" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		<span lang="EN-US"><font size="5">Thánh Hilariô ghi lại cuộc đời của ngài vào khoảng 
		năm 386-391. Hình như thánh Giêrônimô đã tìm được dấu tích của thánh 
		Hilariô khi ngài sang Palestina, và ngài say mến tới nỗi đã muốn coi 
		thánh Hilariô như là một thánh Antôn thứ hai.</font></span></p>
		<p class="Noidung" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		<span lang="EN-US"><font size="5">Nguyện xin thánh Hilariô bầu cử trước tòa Chúa cho 
		chúng con được lòng khiêm tốn, biết khinh chê danh vọng và của cải thế 
		gian, để đời này, chúng con tận tình phụng sự Chúa trong chính đời sống 
		thầm lặng và mai ẩn của chúng con, và mai sau được cùng ngài vui hưởng 
		phần phúc trên trời.</font></span></td>
	</tr>
	<tr>
		<td>
		<p align="center">
<a target="_top" href="http://tinmung.net">
<font size="5">
<img border="0" src="../../../logo/LOGOtinmung.gif" width="67" height="40"></font></a></td>
	</tr>
</table>

</body>

</html>

PHP File Manager