File "Ngay06.htm"
Full path: E:/sites/Single15/tinmung2007/webroot/CAC-THANH/HanhCacThanh/Thang10/Ngay06.htm
File size: 16.1 KiB (16490 bytes)
MIME-type:
Charset: utf-8
<head>
<meta http-equiv="Content-Language" content="en-us" />
<meta http-equiv="Content-Type" content="text/html; charset=utf-8" />
<title>Hạnh Các Thánh - Hanh Cac Thanh - Hương Việt</title>
<base target="main">
<style type="text/css">
.style1 {
border-width: 0px;
}
</style>
<style fprolloverstyle>A:hover {color: #FF0000; font-family: Arial; font-size: 10pt}
</style>
<meta name="keywords" content="Hạnh Các Thánh, Hanh Cac Thanh, Hương Việt, tieu su cac thanh">
</head>
<body style="color: #000000; background-color: #EEEEEE; font-family:Arial; font-size:10pt; text-decoration:none" background="../../../TRANG%20CUA%20ME%20MARIA/Pictures/Background/bgr.gif">
<table width="100%" border="0" align="center" cellspacing="15" bgcolor="#FFFFF0" id="table1">
<tr>
<td>
<p align="right" style="margin-top: 0; margin-bottom: 0"><b>
<font face="Verdana" size="5" color="#006666">Hạnh Các Thánh</font></b></p>
<hr color="#FF4D20" width="80%" align="right">
<p style="margin-top: 3px; margin-bottom: 0" class="Ngaythang" align="right">
<font size="5">Ngày 6 tháng 10</font></p>
<p class="ViThanhKinh" style="margin-top: 3px; margin-bottom: 0" align="right">
<font color="#0000FF"><span style="font-size: 18pt; font-weight: 700">
THÁNH BRUNÔ</span></font></p>
<p class="ViThanhKinh" style="margin-top: 3px; margin-bottom: 0" align="right">
<font color="#0000FF"><span style="font-size: 18pt; font-weight: 700">
SÁNG LẬP DÒNG SÁCTRƠ</span></font></td>
</tr>
<tr>
<td align="justify">
<p class="Noidungdau" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-US"><font size="5">Thánh Brunô một trong những nhân vật thời danh của
phong trào phục hưng của thế kỷ XI và XII. Ngài cũng là một trong những
vị tôn sư khả ái, có nhiều môn đệ và bằng hữu nhất thời bấy giờ. Tuy
nhiên, sau khi qua đời, tên tuổi ngài mau bị lu mờ trong suốt mấy thế
kỷ. Cho tới ngày 19.7.1514, thánh Giáo Hoàng Lêô X truyền ghi tên ngài
vào sổ bộ chư thánh của Giáo hội, danh thơm và nhân đức của ngài mới
được phục hồi xứng đáng.</font></span></p>
<p class="Noidung" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-US"><font size="5">Theo những tài liệu còn lại, chúng ta biết thánh nhân
sinh khoảng năm 1034, trong một gia đình quý tộc thuộc tỉnh Côlônia. Lúc
còn nhỏ, Brunô theo học tại các trường ở tỉnh nhà. Mãn học, ngài dâng
mình cho Chúa và lãnh chức kinh sĩ. Chịu chức linh mục rồi ngài đi Rêims
theo lớp bổ túc về tín lý. Năm 1056, cha Brunô được mời về Rôma giữ chức
giáo sư tín lý. Kỳ này cha bắt đầu chú giải Kinh thánh. Tập chú giải đầu
tiên về thánh vịnh, và tập thứ hai về thư thánh Phaolô. Tuy là những tác
phẩm chú giải, cha cũng mặc cho chúng một văn từ hoa mỹ, sáng sủa và
mạch lạc. Ngài chịu ảnh hưởng rất nhiều tư tưởng của thánh Âutinh.</font></span></p>
<p class="Noidung" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-US"><font size="5">Những tác phẩm này được chuộng nhất vào thế kỷ XVI vì
thế, danh hiệu tôn sư Brunô mà các môn đệ và nhiều học giả thời bấy giờ
truy tặng cha, nay sống lại một cách trọn vẹn hơn khi nào hết. Cha Brunô
dạy học có tiếng đến nỗi sau khi cha qua đời, ghế giảng sư của cha Brunô
bị bỏ trống trong một thời gian gần một phần tư thế kỷ. Nhắc đến cha, ai
cũng khen ngợi tài ba và đức độ của ngài. Người đương thời đã khen tặng
cha bằng những tước hiệu như: nhà hùng biện số một, nhà văn lỗi lạc, nhà
biện chứng luận, nhà văn phạm và tiến sĩ trên các tiến sĩ...</font></span></p>
<p class="Noidung" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-US"><font size="5">Những lời khen tặng ấy không có gì quá đáng nếu đem
đối chiếu với những lời chứng rất thật do các cựu môn sinh của thánh
nhân kể lại. Cha Rangêriô sau làm giám mục thành Luques thường xưng mình
là môn sinh của vị tôn sư khả kính Brunô. Đức Giám mục Rôbertô địa phận
Langres hay xin các vị tu hành trong địa phận cầu nguyện cho vị tôn sư
lỗi lạc của mình. Còn cha Lambert, tu viện trưởng ở Pochiê cũng luôn
luôn nói với các tu sĩ trong dòng rằng: “Hầu hết những điều tôi huấn dụ
anh em, tôi đã được Thiên Chúa phú ban qua người thầy thánh thiện là tôn
sư Brunô”. Cha Mainard, bề trên tu viện Comêry và cha Phêrô, giám đốc tu
viện thánh Gioan tại Soisson cũng thường hãnh diện xưng mình là môn đệ
của tôn sư Brunô. Nhưng có lẽ người môn đệ trung thành và thời danh nhất
của cha Brunô, chính là cha Êuđê Chatillôn, sau làm Giáo Hoàng với danh
hiệu là Urbanô II.</font></span></p>
<p class="Noidung" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-US"><font size="5">Với tinh thần nhân bản đích thực, cha Brunô đã được
hân hạnh làm cố vấn cho một trong những vị Giáo Hoàng đã từng canh tân
Giáo hội nhiều nhất. Nhưng không phải vì thế mà cha Brunô không vấp phải
những trở ngại do những người khác ý kiến, khác lập trường tư tưởng gây
nên. Ngay khi cha mới về dạy tín lý tại Rôma, họ đã tìm mọi cách phản
đối cha. Dưới triều Đức Giáo Hoàng Grêgôriô VII, tại công đồng Autun,
năm 1077, nhiều linh mục thành Reims đã đệ đơn tố cáo cha. Vụ án kéo dài
tới công đồng Lyon năm 1080. Nhưng sau cùng phần thắng vẫn về phía cha
Brunô, và mọi người, kể cả đối phương, đều công nhận cha là người chính
trực và liêm khiết.</font></span></p>
<p class="Noidung" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-US"><font size="5">Kể từ năm 1077, khi bị tố cáo tại công đồng Autun,
cha Brunô từ giã ghế giáo sư tín lý, để thong dong hướng về đời sống
thánh thiện âm thầm mà cha đã nhiều năm ôm ấp. Năm 1082, cha đến Molêm
thụ huấn với cha Rôbertô. Đây là một tu viện mới được cất lên năm 1075,
với mục đích quy tụ các vị tu hành thành một cộng đồng. Tuy nhiên, quy
luật dòng vẫn chưa được nhất định. Phần cha Brunô, ngài mơ ước đời sống
bán tu hành, hay đúng hơn “bán cộng đồng” hơn là đời sống cộng đồng chặt
chẽ theo quy luật. Vì thế, cha đã lãnh ý cha Rôbertô cùng với hai đồng
bạn là Phêrô Bêthunne và Lambertô Bourgogne đến Séche Fontaine, cách
Môlêm chừng mấy dặm đường. Nhưng chỉ một năm sau, cha lại từ giã các
bạn, đi tìm một địa điểm thuận tiện hơn. Nguyên do chính khiến cha từ
biệt cha Rôbertô và các bạn cha chỉ vì lý tưởng sống của cha Brunô có
một mầu sắc khác biệt. Dầu vậy, mối liên lạc giữa cha Brunô và toàn thể
cộng đồng tu viện do cha Rôbertô sáng lập vẫn bền chặt và đằm thắm. Bằng
chứng là khi được tin cha Brunô qua đời, các thầy đã gửi đến tu viện
Torre những lời phân ưu tình nghĩa như sau: “Chúng tôi đoan hứa trong 30
ngày liền sẽ dâng lễ cầu cho cha Brunô, người cha ân nhân của các thầy
và là người bạn chí ái của chúng tôi. Chúng tôi sẽ ghi ngày giỗ của cha
vào niên lịch của tu viện...”</font></span></p>
<p class="Noidung" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-US"><font size="5">Sau những chặng đường mệt mỏi, cha Brunô gặp được cha
Seguin Escotay, bề trên tu viện. Theo lời chỉ dẫn của vị này, năm 1084,
cha Brunô đến Chartreuse (Sáctrơ) giữ chức bề trên một tu viện mới. Tại
đây, tu viện được Đức Giám mục Hugues nhiệt liệt ủng hộ và khuyến khích
theo đúng như nội quy mà cha Brunô đã đệ trình. Noi theo quy luật của
thánh Giêrônimô và thánh Bênêđitô, các tu sĩ đầu tiên ở Sáctrơ, ngày đêm
chăm lo cầu nguyện, làm việc chân tay, trau dồi trí thức và biên chép
sách vở. Nhờ đó mà chẳng bao lâu, tu viện đã có được một thư viện nổi
tiếng vì nhiều sách.</font></span></p>
<p class="Noidung" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-US"><font size="5">Cho đến ngày nay, tu viện Sáctrơ vẫn là một tu viện
khắc khổ và nhiệm nhặt nhất. Khí hậu của miền rừng núi càng làm tăng
thêm giá trị đời sống hy sinh hãm mình của các thầy. Đầu tiên các tu sĩ
sống từng hai người một, nhưng dần dà mỗi người sống trong một hang núi
hay trong một túp lều riêng biệt. Ở đó, mỗi thầy tự do cầu nguyện, hãm
mình và làm việc riêng, chỉ hội nhau dự lễ cộng đồng vào các ngày lễ
trọng và chủ nhật mà thôi.</font></span></p>
<p class="Noidung" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-US"><font size="5">Ngày tháng trôi qua tốt đẹp trong sự ganh đua hy sinh
và cầu nguyện. Tới năm 1089, bỗng một việc không đẹp xảy ra tại tu viện
khiến cha Brunô hết sức đau đớn. Nhưng cũng là sự kiện chứng tỏ tài ba
và nhân đức của ngài. Số là năm 1088, khi cha Êuđê Chatillon, một trong
những môn sinh lỗi lạc của cha Brunô, được đắc cử làm Giáo Hoàng, với
danh hiệu là Urbanô II. Đức Tân Giáo Hoàng là người có tâm hồn cởi mở,
ngài muốn có nhiều vị cố vấn khôn ngoan giúp ngài cai trị Giáo hội.
Trong số những nhân vật được đề cử có cha Brunô, vị tôn sư khả ái của
ngài. Vâng lời, cha Brunô lên đường đi Rôma cùng với mấy thầy. Ngài trao
quyền điều khiển tu viện cho cha Lăngđanh. Nhưng chẳng may, có nhiều
thầy nhân dịp vị sáng lập vắng mặt đã đứng lên chỉ trích cha Lăngđanh và
đòi cải tổ luật dòng. Giữa lúc nguy ngập, cha Lăngđanh đến xin Đức Giám
mục Huygues và cha Seguin can thiệp để làm dịu những yêu sách của các
thầy. Nhưng vô ích, tình trạng rối loạn vẫn mỗi ngày một gia tăng, đến
nỗi cha Lăngđanh phải cho người sang Rôma mời cha Brunô về. Không cần
phải cải tổ và dàn xếp vất vả, sự hiện diện của vị sáng lập đã dẹp tan
ngọn sóng phũ phàng vừa tràn ngập tu viện.</font></span></p>
<p class="Noidung" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-US"><font size="5">Sau khi trấn tĩnh mọi yêu sách của các thầy, và đem
hòa khí lại cho tu viện, cha Brunô trở lại Rôma. Ngài ở đây cho tới năm
1092, theo ý Đức Giáo Hoàng, ngài đi Calabrê, một hứa địa của các vị tu
hành thời trung cổ. Ngài muốn lập tại đó một tu viện lấy tên là tu viện
Trinh Nữ Maria. Và đặt dưới quyền bảo trợ của Đức Giáo Hoàng Urbanô II.
Ngoài ra, ngài còn lập thêm một tu viện thứ ba mang tên thánh Têphanô
cũng gọi là tu viện miền Torrê. Tu viện này sau chiếm địa vị quan trọng
hơn cả tu viện đầu tiên tại Sáctrơ.</font></span></p>
<p class="Noidung" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-US"><font size="5">Lý do khiến tu viện Torrê chiếm địa vị ưu tiên có lẽ
là vì đó là nơi chứng kiến những năm sống cuối đời của cha Brunô. Cha
không ước gì hơn nữa là thánh hóa đời sống trong tịch liêu và an bình.
Hai lá thư cha viết cho tu viện Sáctrơ chứng tỏ điều đó. Cha viết: “Trái
tim và linh hồn cha no say đời sống chiêm niệm. Tuy cha chưa được về
trời như lòng mong mỏi, nhưng cha đã được Thiên Chúa ban cho một sự thư
thái và an bình tràn ngập tâm hồn…”. Trong một lá thư khác trả lời cha
Raoul Verd thành Reims, cha Brunô viết: “Tôi hiện ở tại Calabrê với mấy
anh em. Tu viện này chìm trong tĩnh mịch lặng lẽ. Ước gì tôi có đủ tài
văn chương để tả lại cho cha cảnh thanh bình nơi đây. Còn gì sung sướng
hơn khi lòng đã no say của ăn thiêng liêng nhờ chiêm niệm, mắt tôi còn
được chiêm ngắm cảnh thái bình có một không hai này. Phải chăng đó là
nguồn vui của đời sống tu hành, mà chỉ ai yêu mến thinh lặng và tịch
liêu mới có thể thưởng nghiệm…”. Quả thực chúng ta không thể đan cử hết
được những dòng chữ ca ngợi đời sống tu hành mà cha Brunô còn để lại như
những linh dược khích lệ các môn đệ hậu thế. Nhân dịp cha Lăngđanh đến
thăm và đưa tin về tu viện Sáctrơ, cha Brunô đã biên thư về cho các thầy
như sau: “Anh em rất thân mến, anh em hãy vui hưởng trọn vẹn nguồn ơn dư
đầy Thiên Chúa ban cho anh em. Anh em hãy hân hoan vì anh em đã thoát
mọi nguy hiểm, mọi phong ba của biển trần ai. Anh em hãy sung sướng vì
anh em đã tìm thấy bến bình an và vững chắc”. Cha không quên khuyên các
thầy trung thành với lý tưởng tu hành ẩn dật, xa tránh cảnh huyên náo vô
ích của người đời, ngoan ngoãn vâng lời các vị bề trên, nhất là thực
hành bác ái cộng đồng, và phát triển tinh thần hy sinh đích thực.</font></span></p>
<p class="Noidung" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-US"><font size="5">Mấy tháng sau cha lâm bệnh nặng và qua đời, để lại
cho mọi người một sự luyến tiếc sâu xa. Theo một tài liệu còn lại của tu
viện, thì các tu sĩ đã loan tin về cái chết của ngài như sau: “Chúng
tôi, những tu sĩ ẩn dật hèn mọn, thuộc tu viện mà cha Brunô là vị sáng
lập, là người cha lân ái và là bề trên cao cả, đau đớn đưa tin cho mọi
người biết rằng: khi thấy giờ từ giã trần gian để về với Cha trên trời
đã gần tới, cha Brunô cho hội anh em dòng lại khuyên nhủ và kể cho nghe
đời sống của ngài ngay từ hồi thơ ấu… đoạn ngài tuyên xưng đức tin cách
sốt sắng. Linh hồn thánh thiện lìa khỏi thân xác vào ngày chủ nhật, cũng
là ngày mồng 06 tháng 10 năm 1101. Xin mọi người cầu cho linh hồn cha và
cho chúng tôi là những tội nhân…”</font></span></p>
<p class="Noidung" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-US"><font size="5">Nguyện xin thánh Brunô bầu cử trước mặt Chúa cho
chúng con biết yêu cảnh đời thinh lặng và giữ lòng thanh sạch để luôn
cháy lửa mến yêu Chúa và yêu người.</font></span></td>
</tr>
<tr>
<td>
<p align="center">
<a target="_top" href="http://tinmung.net">
<font size="5">
<img border="0" src="../../../logo/LOGOtinmung.gif" width="67" height="40"></font></a></td>
</tr>
</table>
</body>
</html>