File "Ngay25.htm"
Full path: E:/sites/Single15/tinmung2007/webroot/CAC-THANH/HanhCacThanh/Thang08/Ngay25.htm
File size: 34.68 KiB (35511 bytes)
MIME-type:
Charset: utf-8
<head>
<meta http-equiv="Content-Language" content="en-us" />
<meta http-equiv="Content-Type" content="text/html; charset=utf-8" />
<title>Hạnh Các Thánh - Hanh Cac Thanh - Hương Việt</title>
<base target="main">
<style type="text/css">
.style1 {
border-width: 0px;
}
</style>
<style fprolloverstyle>A:hover {color: #FF0000; font-family: Arial; font-size: 10pt}
</style>
<meta name="keywords" content="Hạnh Các Thánh, Hanh Cac Thanh, Hương Việt, tieu su cac thanh">
</head>
<body style="color: #000000; background-color: #EEEEEE; font-family:Arial; font-size:10pt; text-decoration:none" background="../../../TRANG%20CUA%20ME%20MARIA/Pictures/Background/bgr.gif">
<table border="0" width="100%" id="table1" cellspacing="15" bgcolor="#FFFFF0">
<tr>
<td>
<p align="right" style="margin-top: 0; margin-bottom: 0"><b>
<font face="Verdana" size="5" color="#006666">Hạnh Các Thánh</font></b></p>
<hr color="#FF4D20" width="80%" align="right">
<p style="margin-top: 3px; margin-bottom: 0" class="Ngaythang" align="right">
<font size="5">Ngày 25 tháng 8</font></p>
<p class="ViThanhKinh" style="margin-top: 3px; margin-bottom: 0" align="right">
<span style="font-size: 18pt; font-weight: 700"><font color="#0000FF">
THÁNH LUY HOÀNG ĐẾ</font></span><span lang="EN-US" style="font-size: 18pt"><br>
(1214-1270)<br>
</span><span style="font-size: 18pt; font-weight: 700">
<font color="#0000FF">THÁNH GIUSE CALASAN LINH MỤC</font></span></td>
</tr>
<tr>
<td align="justify">
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-US" style="font-size: 18pt">THÁNH LUY HOÀNG ĐẾ</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-US" style="font-size: 18pt">(1214-1270)</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-US" style="font-size: 18pt">Vua thánh Luy là một tấm
gương sáng ngời, phản chiếu những đức tính cao quý của một bậc dân chi
phụ mẫu và của một người cha lý tưởng trong gia đình. Ngài đã là một vị
thánh sống giữa triều đình hoa lệ, thánh trong gia đình và thánh trong
mọi việc lo cho dân an nước thịnh.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-US" style="font-size: 18pt">Vua Luy sinh tại Poissy ngày
25-04-1214. Thân phụ là vua Luy VIII và thân mẫu là Hoàng hậu Blan
Castilla.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-US" style="font-size: 18pt">Ngay từ tuổi thơ ấu, Luy đã
được hấp thụ một nền giáo dục kiện toàn, nhất là về phương diện văn
chương. Chính nhờ vốn kiến thức đó mà sau này khi lên ngôi cai trị nước
Pháp, ngài đã làm vinh danh cho Giáo hội rất nhiều. Luy mồ côi cha ngay
từ lúc cậu mới mười hai tuổi. Bà thân mẫu hằng lo lắng cho cậu sau này
trở nên một người cầm quyền đạo hạnh, coi dân trị nước trên nền tảng
công bằng, bác ái và trong sự kính sợ Thiên Chúa. Bà đã thuê riêng cho
Luy một thầy dạy để bảo ban cậu học hành và dẫn đường thiêng liêng cho
cậu. Tất cả đời sống đạo đức thánh thiện của Luy là kết quả của những lo
lắng của một người mẹ đạo đức khôn ngoan. Bà luôn luôn nhắc đi nhắc lại
cho Luy rằng: “Con ơi, mẹ yêu con trên hết mọi sự, nhưng thà mẹ thấy con
chết còn hơn thấy con phạm tội trọng mất lòng Chúa”. Lời nói nồng nàn
tha thiết ấy ghi sâu vào tâm khảm Luy, đến nỗi cả đời ngài đã không phạm
tội trọng nào.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-US" style="font-size: 18pt">Lúc tuổi 19, vâng lệnh mẹ,
Luy đã kết hôn với cô Margarita, con gái quân công miền Prôvencê và sinh
hạ được bốn người con. Luy rất chăm lo đến đời sống đạo đức cho con cái,
ngài hằng dạy bảo con cái biết kính yêu Thiên Chúa, ghét tội trọng và
khinh chê của cải thế gian. Đời sống gương mẫu của ngài đã ảnh hưởng rất
nhiều đến con cái, đến nỗi mỗi thứ sáu, mặc dầu còn bé, chúng cũng xin
cha ăn chay hãm mình để bắt chước Chúa chết trên Thánh giá.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-US" style="font-size: 18pt">Lên nối ngôi cha coi dân trị
nước, Luy được dân chúng hết lòng kính phục. Ngài luôn luôn tỏ ra là một
con người thanh liêm chính trực, thương dân như thương con, đặt danh dự
của Giáo hội cũng như của dân tộc lên trên những từ lợi danh vọng của
mình. Cả triều thần ai nấy đều ngạc nhiên và cảm phục cách sống của vua
thánh Luy. Hầu như ngài có hết mọi nhân đức, mà nhân đức nào cũng trổi
vượt. Ngài xưng tội hằng tuần vào ngày thứ sáu, và sau khi lãnh phép tha
tội, ngài thường xin linh mục cho phép dùng dây có buộc nút sắt quất vào
lưng, có khi đến chảy máu để đền tội. Nhà vua còn có thói quen rửa chân
cho một số những người nghèo khổ, tật bệnh vào mỗi chiều thứ bảy, và
tiếp đón họ rất thân mật trong một bữa cơm thanh đạm do chính ngài đãi
họ. Nhiều lần thấy ngài quá khiêm nhường như thế, một vị đại quan trong
triều tỏ vẻ không bằng lòng, vua liền hỏi vị quan đó rằng: “Ngày thứ năm
tuần thánh, khanh có thể rửa chân cho họ không?” - Vị quan đó trả lời: “
Trời ơi, không, không bao giờ hạ thần rửa chân cho những kẻ dơ dáy ấy” –
Vua trả lời: “Thật, khanh không nên nói thế, không nên khinh bỉ một việc
của Chúa đã căn dặn, dạy bảo chúng ta như một mệnh lệnh. Vậy, trẫm xin
khanh hãy vì lòng yêu Chúa và nể trẫm mà tập lấy thói quen lành thánh
đó”.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-US" style="font-size: 18pt">Một hôm vua lại hỏi quan đại
thần đó rằng: “Một là bị bệnh hủi, hai là phạm một tội trọng, khanh
thích đàng nào hơn?” – “Hạ thần thích ba mươi tội trọng còn hơn bị bệnh
hủi” - “Khanh dại dột quá, nhà khanh không biết rằng: Không còn có bệnh
nào kinh tởm bằng phạm tội trọng sao? Vì linh hồn phạm tội trọng thì
giống hệt như các quỷ Satan”.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-US" style="font-size: 18pt">Có người trách vua đã quá mất
nhiều thời giờ để làm những công việc bác ái, ngài trả lời: “Các khanh
kỳ cục quá, các khanh cho sự siêng năng cần mẫn đọc kinh, cầu nguyện của
trẫm là một trọng tội. Nếu trẫm dùng gấp hai thời giờ như thế để chơi
bài bạc, hay rông ngựa vào rừng săn thú vật, chim muông thì chẳng ai nói
sao!”</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-US" style="font-size: 18pt">Nếu vua thánh Luy đã có một
khí lực mạnh mẽ để tiến tới trên đường đạo đức, thì ngài cũng không kém
hăng hái trong việc coi dân trị nước. Không bao giờ nước Pháp đã được
hưởng một sự thịnh vượng, bằng an như dưới triều đại vua Luy. Ngài đã
dùng mọi biện pháp để bài trừ những nạn thương luân bại lý, chặn đứng
những cuộc vui mại dâm của phường buôn son bán phấn, và ngài là người
đầu tiên đã cấm trò dấu gươm ở nước Pháp. Ngài luôn luôn sẵn sàng nghe
những nguyện vọng của dân chúng và tìm cách làm cho họ được thoả mãn
trong phạm vi có thể được.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-US" style="font-size: 18pt">Thêm vào đó, vua Luy luôn
luôn sẵn sàng tuân phục những mệnh lệnh, cũng như những lời khuyên giải
của các Đức Giáo Hoàng. Ngài luôn giao tiếp với các tu sĩ dòng thánh
Đaminh và Phanxicô, lĩnh hội thêm ánh sáng của chân lý và đem thực hành
trong công việc cai trị quốc gia. Ngoài ra, vua thánh còn cho thiết lập
những nhà thương, viện dưỡng lão, trại cô nhi và các dòng, đồng thời
cũng cung cấp cho những viện đó đầy đủ các thứ tiện nghi.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-US" style="font-size: 18pt">Lòng quảng đại, thương người
của vua thánh Luy còn lan rộng tới nhiều miền ở Đông phương. Người ta
thuật lại rằng, Hoàng đế Contantinô muốn tỏ lòng biết ơn vua thánh Luy
vì những sự giúp đỡ vật chất ấy, đã vui lòng biếu thánh Luy những báu
vật, những di tích của Chúa Cứu Thế, nhất là vòng gai quân lính đã đội
cho Chúa Giêsu. Vua đã cho xây trong cung điện của ngài một gian phòng
rất nguy nga tráng lệ để giữ những báu vật đó.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-US" style="font-size: 18pt">Chúng ta cũng nên biết rằng,
mặc dầu hết sức thánh thiện, vua thánh Luy cũng có một tinh thần hiếu
chiến. Tinh thần đó đã khiến vua Luy hai lần trong đời mở cuộc nghĩa
binh thánh giá để chinh phục những người Hồi giáo.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-US" style="font-size: 18pt">Vào khoảng cuối năm 1244, vua
thánh Luy mắc một cơn bệnh hiểm nghèo thập tử nhất sinh, bà thái hậu rất
lo lắng bối rối, không biết chạy liệu làm sao. Bỗng nhiên bà nghĩ đến
những di tích thánh của Chúa mà Hoàng đế Contantinô đã biếu vua. Bà liền
mang những báu vật đó để sát bên cạnh thân thể bất động của vua Luy. Sau
mấy lời kinh sốt sắng, bà quốc mẫu vui mừng sung sướng, vì Chúa đã cứu
con bà sống lại. Luy nhớ lại hồng ân Chúa đã ban cho, ngài nhất quyết
chiêu mộ nghĩa binh thánh giá để đi chiếm lại đất thánh cho khỏi tay
những quân Hồi giáo.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-US" style="font-size: 18pt">Ngày 12-6-1248, sau khi đã
chiêu mộ nghĩa binh và sửa soạn đầy đủ, vua Luy trao quyền nhiếp chánh
cho mẹ để khởi công đi chinh phục đất thánh. Bỏ Paris, vua Luy ngừng
quân tại Lyon để xưng tội với Đức Giáo Hoàng Innôxentê IV, và xin phép
lành toà thánh cho tất cả nghĩa quân.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-US" style="font-size: 18pt">Ngày 28-8-1248, nghĩa quân bỏ
Signe Mortes, và ngày 17-9 năm ấy, nghĩa quân cập bến; đóng quân ở đảo
Kyprô. Vua thánh Luy thấy rằng để giải cứu đất thánh khỏi lọt vào tay
những quân man di, cần phải chinh phục đất Ai cập. Lập tức nghĩa quân
thánh giá tiến đến Damiette. Ở đây, quân Hồi giáo phòng thủ rất kiên cố;
vì bãi biển chỗ này không sâu lắm nên phải dùng những ghe, thuyền để tấn
công vào bờ, nhưng cuối cùng thuyền, ghe cũng không thể bơi vào được vì
cạn quá.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-US" style="font-size: 18pt">Xung phong: một tiếng hô lớn
ở thuyền của vua Luy phát ra, rồi người ta thấy vua Luy đầu đội mũ trận,
đeo mộc, thuẫn, tay vung kiếm lao mình theo sóng biển. Thấy vậy, tất cả
nghĩa quân đều ổ ạt nhảy xuống khỏi thuyền tấn công vào bờ… Sau mấy
tiếng đồng hồ, địch quân chạy tán loạn, mà nghĩa quân không phải giao
chiến một trận nào. Toàn thắng, vua thánh Luy cất bài ca tạ ơn Chúa vang
cả một góc trời. Nhưng khốn nạn thay, sau khi thắng trận, nghĩa quân đã
không tuân theo mệnh lệnh của vua Luy. Họ đã chơi bời phóng đãng, hành
hạ kẻ chiến bại rất cay nghiệt. Vua thánh Luy hết lòng lo lắng cho quân
sĩ sao cho họ biết đàng ăn ở đạo hạnh, nhưng họ bất chấp. Chính vì thế,
Thiên Chúa để họ phải rơi vào tay quân thù. Không quen thủy thổ, các
quân sĩ của vua Luy bị bệnh nằm la liệt. Họ đành chịu để cho những kẻ
chiến bại hành hung mà không có phương thế nào chống trả. Chỉ còn một
cách là nộp mình cho quân man di mới hòng cứu sống được bao nhiêu nhân
mạng. Quân sĩ la ó om sòm xin vua Luy cho phép đầu hàng, vì nếu không,
họ phải chết đói, chết bệnh hoặc bị quân địch tàn sát. Trước những lời
kêu van tha thiết của nghĩa quân, vua thánh Luy vui lòng nộp khí giới
đầu hàng quân man di, với điều kiện là không được giết người lính nào.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-US" style="font-size: 18pt">Lúc này vua thánh Luy lại
thành kẻ chiến bại, ngài bị quân man di hành hung dữ tợn. Chúng lột hết
quần áo ngài ra, xiềng chân, xích tay và xỉ nhục ngài trăm chiều. Nhưng
vua thánh Luy vẫn bình tĩnh, thản nhiên trước tất cả những đau đớn cực
hình ấy, không một lời ta thán kêu oan. Chỉ khi nào mà quân ngoại đạo
dày xéo thánh giá dưới chân và lăng nhục đạo Chúa Kitô, lúc ấy ngài mới
tỏ một thái độ phẫn nộ trên nét mặt. Thái độ quả cảm, lòng nhân từ và
quảng đại của vua Luy đã làm cho quân man di hết sức ngạc nhiên. Họ định
chọn ngài làm lãnh chúa cho họ, miễn là Luy phải chối bỏ đạo Chúa Kitô.
Nhưng vua thánh Luy nào có màng chi đến cái vinh dự hão huyền đó.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-US" style="font-size: 18pt">Hết thời hạn bị cầm tù, vua
thánh Luy còn ở lại Đông phương bốn năm nữa. Trong những năm đó, ngài
bôn ba vật lộn đó đây để yên ủi những bổn đạo bị bắt làm nô lệ, dạy bảo
lương dân và dẫn đưa họ về chính đạo.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-US" style="font-size: 18pt">Ngày 26-11-1252, vua Luy được
tin mẹ qua đời, ngài nhất định trở về quê hương để thu xếp công việc
trong nước.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-US" style="font-size: 18pt">Nhưng tiếng cầu cứu của giáo
hữu Đông phương vẫn còn vang lên mãi vì bị những người Hồi giáo hành hạ,
đe dọa phá hoại đức tin. Tiếng kêu đó động lòng trắc ẩn của vua Luy,
ngài nhất định chiêu mộ nghĩa quân một lần nữa. Năm 1270 ngài lại cất
quân lên đường. Nhưng vua nước Tunisie hứa với ngài là ông sẽ trở về với
Kitô giáo nếu vua Luy cho quân xuống Phi châu. Vua thánh Luy vui mừng
hớn hở và hy vọng được làm cha đỡ đầu thiêng liêng cho một vị quốc
trưởng, nên ngài cho thuyền lái về phía Châu Phi. Nhưng vua đã bị lừa:
vừa xuống khỏi tầu, ngài bị vua Tunisie xông đánh, thêm vào đó ngài bị
một chứng bệnh kinh khủng, quân lính hết lương, bao nhiêu nguy hiểm đang
chờ đợi.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-US" style="font-size: 18pt">Thấy ngày chết chẳng còn xa,
vua thánh Luy cho triệu vời Philippê, người con cả của ngài, và ban cho
một huấn lệnh để về thi hành công cuộc coi dân trị nước. Ngài cũng không
quên nhắc nhở cho con phải sống đạo đức, thánh thiện, và nhất là xa lánh
tội lỗi.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-US" style="font-size: 18pt">Sau khi ân cần khuyến khích
quân sĩ hãy luôn luôn trung thành làm tôi Chúa, xa lánh những thói hung
tàn bạo ngược, vua thánh đã giao phó linh hồn trong tay Chúa một cách an
bình, thánh thiện. Hôm ấy là ngày 25-8-1270.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: center; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-US" style="font-size: 18pt">-o0o-</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-US" style="font-size: 18pt">THÁNH GIUSE CALASAN LINH MỤC
</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-US" style="font-size: 18pt">Giuse chào đời ngày 16
–9-1556, trong một lâu đài nguy nga tráng lệ, giữa một khung cảnh gia
đình thuộc bậc vương giả. Ngay từ lúc còn thơ, Giuse đã được cha mẹ hun
đúc cho có một tâm hồn yêu Chúa tha thiết, thích thú cầu nguyện và ghét
sợ tội lỗi. Một ít nhà sử học đã lấy làm thích thú kể lại rằng: cậu
Giuse từ ngày còn hoi miệng sữa, mới năm tuổi đầu mà đã cảm thấy huyết
quản sôi sùng sục vì muốn chiến đấu với Satan quỷ dữ (!). Tay xách gươm,
cậu thường băng qua những cánh đồng bao la, cùng với một ít bạn bè để đi
giao tranh với quỉ. Lúc này Giuse hết sức ham mê lần hạt Mân côi, và
phải quỳ mà lần hạt thì cậu mới lấy làm vừa ý.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-US" style="font-size: 18pt">Dần dà, hình như cảm thấy
muốn làm linh mục, Giuse thường tụ tập một ít bạn học quây quần chung
quanh một chiếc bàn thờ mà chính tay cậu bày biện ra. Những lúc các bạn
muốn bỏ ra về, Giuse lại dùng những hoa quả, đồ chơi để giữ chúng lại và
nhân cơ hội ấy, cậu lại nghiêm trang đứng lên một cái ghế bắt chước linh
mục, giảng cho chúng nghe. Để bế mạc những cuộc tụ họp như thế, cậu
thường đứng đầu lần năm chục hạt. Chúng ta nên nhớ rằng, Giuse làm những
việc đó không phải như những đứa trẻ tinh nghịch, làm, để vui đùa nhạo
báng, nhưng cậu làm hết sức nghiêm trang đầy tin tưởng. Thật đúng là một
“ông cụ non”. Ngoài ra Giuse còn ham mê đọc hạnh các thánh và bắt chước
các ngài cách hãm mình ăn chay. Một điểm đặc biệt nơi con người Giuse là
cậu đã giữ đức trinh khiết rất nghiêm khắc. Khi mới lớn lên, câïu nhất
định không cho ai động đến thân thể cậu, cả mẹ cậu cũng bị từ chối.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-US" style="font-size: 18pt">Lớn lên, Giuse được gửi đi
thành phố Estadilla để học văn phạm và những môn cổ điển. Lúc này nhân
đức và gương sáng của Giuse đã làm cho các bạn học hết sức ngạc nhiên,
họ thường gọi cậu là “ông thánh con”. Mười lăm tuổi Giuse đã học xong
ban trung học, kết quả hết sức mỹ mãn. Đang tuổi ấy, với sức học ấy và
với lòng đạo đức như thế, Giuse hẳn làm cho ông thân sinh rất hài lòng
và hy vọng ở cậu rất nhiều. Cha mẹ cậu muốn cho cậu trở nên một sĩ quan
trong quân đội để nối lại dòng máu anh hùng của tổ tiên.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-US" style="font-size: 18pt">Nhưng những vinh dự trần tục
không làm cho tâm hồn Giuse toại nguyện. Cậu mong chờ một sứ mạng cao
quý hơn xung phong vào nghề binh đao. Vì thế cậu xin đi học triết học
tại đại học đường Lerida. Để giữ lấy tâm hồn trong trắng và để đề phòng
những dục vọng bất chính của tuổi thanh xuân, Giuse Calasan đã có một
chương trình sống rất nghiêm khắc và trung thành tuân theo. Cậu năng
chịu các phép bí tích, mỗi ngày chỉ ăn một bữa mà thường chỉ có bánh và
nước lã; cậu hãm mình đánh tội để lo phần riêng. Ngoài ra cậu còn lo
lắng dạy giáo lý cho những người dốt nát, thăm viếng bệnh nhân, quyên
tiền giúp những người nghèo khổ đói rách. Tuy hãm mình nhiều, Giuse vẫn
khỏe mạnh và học triết lý rất trôi.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-US" style="font-size: 18pt">Danh tiếng Giuse càng ngày
càng lan rộng. Ông thân sinh nghe biết liền cho phép cậu ở lại Lerida để
học dân luật và giáo luật. Nhưng ít lâu sau, Giuse được chịu phép cắt
tóc nhập hàng giáo sĩ. Hôm đó là ngày 11-04-1575, một ngày trọng đại
trong đời cậu. Nhất định đoạn tuyệt với những thèm khát trần tục, Giuse
đến quỳ gối trước bàn thờ Đức Mẹ khấn giữ đức trinh khiết trọn đời. Năm
20 tuổi, Giuse đậu tiến sĩ dân luật và giáo luật, ông thân sinh lại cho
Giuse tiếp tục học thần học tại đại học Valencia. Tại thành phố hoa lệ
này, ma quỷ không bỏ lỡ cơ hội đến cám dỗ Giuse. Có lần ma quỷ đã dùng
một cô gái trẻ măng để làm cho Giuse sa ngã về đức trinh khiết. Nhưng
Giuse đã thắng được một cách vẻ vang, và anh hùng. Giuse từ đó bỏ
Valencia đến đại học Alcaja tiếp tục học thần học. Lúc ấy một hung tín
đến làm cho Giuse hết sức buồn rầu vì nó có ảnh hưởng đến sự quyết định
dâng mình cho Chúa của Giuse: Người anh duy nhất của Giuse, một sĩ quan
trong quân đội Tây Ban Nha, từ trần và không có người nối dõi tông
đường. Thân phụ Giuse đã thiết tha kêu gọi con về. Sau khi đậu tiến sĩ
thần học, cậu trở về Pêralta quê cha đất tổ. Giuse vốn luôn vâng lời và
kính yêu cha, nên không biết nói năng làm sao để khỏi bị mang tiếng bất
hiếu với cha mà vẫn giữ được làm linh mục. Ngài vẫn cương quyết làm linh
mục và giữ lời khấn hứa, nên càng hãm mình phạt xác, đêm ngày cầu nguyện
với Trinh Nữ Maria cho lời hứa của mình được nên trọn. Và, Đức Mẹ đã
nghe con thảo của Người: Giuse ngã bệnh thập tử nhất sinh, tất cả các
lang y đều hết hy vọng cứu sống. Thân phụ Giuse buồn rầu, cho phép Giuse
khấn sẽ làm linh mục nếu được qua khỏi. Vừa đọc dứt lời khấn, Giuse khỏe
mạnh như thường, và sau ít lâu ngài được chịu bốn chức nhỏ.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-US" style="font-size: 18pt">Giuse được lên bàn thánh Chúa
ngày 17 tháng 12 năm 1583. Trong cuộc đời truyền giáo của ngài, thánh
nhân luôn luôn phát huy tình bác ái huynh đệ nơi bổn đạo. Mặc dầu còn ít
tuổi, cha Giuse đã là cha giải tội cho Đức Giám mục Albarracur, rồi làm
cha chính địa phận Urgel. Trong tám năm trời tận tụy làm việc cho địa
phận, tài ba và sự thánh thiện của ngài được mọi người biết đến. Hoàng
đế Tây Ban Nha đã định đề cử ngài làm Giám mục. Nhưng cha Giuse cảm thấy
như có tiếng nói trong thâm tâm rằng: “Giuse, Giuse con hãy đi Rôma”.
Cha Giuse nhất quyết nghe theo tiếng gọi ấy, mặc dầu không biết Chúa sẽ
trao phó cho sứ mệnh gì. Ngài xin từ chức cha chính, bán gia sản làm
phúc cho người nghèo và lên đường đi Rôma.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-US" style="font-size: 18pt">Sang Rôma, ngài hết sức giữ
bí mật, không cho ai biết đến ngài, nhưng những người đồng hương đã giới
thiệu ngài với Đức Hồng Y Marcô Antôn Côlôna. Ở Rôma cũng như ở Tây Ban
Nha, cha Giuse lúc nào cũng lấy sự cầu nguyện và làm việc thương giúp kẻ
nghèo hèn làm thích thú. Ngài thường thức giấc từ nửa đêm, quì gối
nguyện ngắm rất lâu trước nhà tạm, đọc kinh từ nửa đêm, đọc kinh nhật
khóa rồi đi bộ thăm viếng đủ bảy vương cung thánh đường trong thành
Rôma. Như vậy, mỗi buổi sáng ngài thường đi bộ 15 cây số và cuối cùng
dừng lại ở mộ thánh Phêrô cầu nguyện hằng mấy giờ liền. Ngày nào ngài
cũng chỉ cùng có một bữa cơm rất thanh đạm vào khoảng một giờ chiều.
Ngoài ra cha Giuse quên hẳn bản thân mình để xung phong vào những phong
trào thương giúp người nghèo khổ, thăm viếng bệnh nhân, tù tội hoặc
giảng dạy giáo lý cho những người quê mùa dốt nát. Đối với cha Giuse,
cứu được một linh hồn là một món quà rất quí báu dâng lên Chúa.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-US" style="font-size: 18pt">Sống trong thành Rôma năm
năm, cha Giuse đã được chứng kiến nhiều cảnh cơ cực của dân chúng. Ngài
thương hại và lo lắng cho số phận những thiếu niên không được giáo dục
về phương diện đạo đức và giáo lý. Các trường trung học thì nhiều nhưng
cũng chưa dung nạp hết được những thanh thiếu niên hiếu học, vả lại
trong những trường ấy lại không mấy ai chú trọng đến việc giáo dục đạo
đức cho chúng. Cha Giuse quyết định lập những nhà trường miễn học phí
cho học sinh, và lợi dụng cơ hội ấy để dạy cho chúng những bổn phận của
con người phải có đối với Thiên Chúa. Nhưng với hai bàn tay trắng ngài
làm sao nổi! Cha Giuse đã trình bày ý định của ngài với các bề trên và
xin một vài nhà dòng ủng hộ. Nhưng không một vị nào dám đảm nhận công
việc đó. Tuy nhiên, là công việc của Chúa, nên cha Giuse nhất định khởi
công. Năm 1597, cha đi bộ đến Assisi quì cầu nguyện trên mộ thánh
Phanxicô, sau đó ngài được sứ thần hiện ra kêu gọi ngài khấn ba nhân
đức: khó khăn, trinh khiết và vâng lời.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-US" style="font-size: 18pt">Cũng trong năm ấy, cha Giuse
được cha sở họ thánh Đôrothêô giúp đỡ xây dựng một trường học miễn phí
trong một xóm lại động. Được Đức Giáo Hoàng Clêmentê VIII khuyến khích,
cha Giuse ngày đêm lo cho nhà trường có một nếp sống đạo đức cũng như
học vấn khả quan. Từ đó cũng có nhiều người hảo tâm giúp công giúp của
vào công việc của cha Giuse, lại có nhiều nhà trí thức tình nguyện và
dạy học cho cha Giuse mà không đòi một điều kiện gì. Mục đích của trường
này trước hết là đào tạo những thiếu niên trở nên những con người có căn
bản đạo đức, vì thế ngài gọi trường của ngài là trường “Đạo Đức”. Dần dà
ngài đã thiết lập ở Rôma được nhiều trường như thế, mà trung tâm là
trường thánh Pantalêô có tới hàng ngàn học sinh. Chúa Quan phòng đã gửi
đến cho ngài nhiều người cộng tác, phần nhiều là các linh mục. Các ngài
sống chung với nhau như một tu viện thực sự.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-US" style="font-size: 18pt">Năm 1614, Hội những linh mục
triều “Mẹ Thiên Chúa” do chân phước Gioan Leonardi sáng lập năm 1574 ở
Lucques muốn sát nhập với hội của cha Giuse. Việc đó làm cho Calasan hết
sức vui mừng. Nhưng ít lâu sau, số học sinh càng ngày càng giảm bớt, vì
chúng không chịu nổi kỷ luật nghiêm minh của nhà trường. Vì thế năm
1617, các linh mục hội “Mẹ Thiên Chúa” tách khỏi dòng của cha Calasan để
đi làm một công tác khác. Lòng Chúa lân tuất đã không bỏ rơi công việc
của cha Giuse, dần dần gia đình thiêng liêng của ngài lại thêm đông đúc.
Thề rồi năm 1621, gia đình thiêng liêng của cha Calasan đã được Đức Giáo
Hoàng Grêgôriô XV chuyển nhận làm một dòng, và chính cha Giuse là người
khấn trọng thể thứ nhất. Sau khi được phép lập dòng, Cha Giuse xé nát
tất cả những văn bằng tiến sĩ, lấy giấy quấn thành những cái roi để đánh
tội và sửa phạt học trò. Nhờ công lao khó nhọc của cha Calasan dòng mới
này bành trướng rất nhanh, làm cho các vua chúa các nước đều nức lòng
mong đợi cha Calasan đến lập những trường học miễn phí ở nước mình.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-US" style="font-size: 18pt">Công việc của cha Calasan
thật cả là một sự cố gắng lâu dài đầy gian khổ và kết quả thật đáng kể.
Nhưng công việc của ngài gầy dựng nên cũng không thoát khỏi những manh
tâm quỷ quyệt của ma quỷ, chúng luôn luôn tìm cách phá hoại ngài. Thêm
vào đó, một số cộng tác viên của ngài cũng không hiểu rõ sứ mệnh của
mình, còn muốn tìm danh vọng ở chốn dòng tu, nên đã gây ra những mối
chia rẽ ganh tị trong nhà dòng. Vì thế Đức Giáo Hoàng Innôcentê X đã
muốn hạ ‘dòng’ của cha Calasan xuống thành một ‘hội’ mà thôi. Cha Giuse
vẫn vui vẻ như thường, lúc ấy ngài đã 90 tuổi. Trong tuổi già, Chúa đã
thưởng công cho thánh nhân rất nhiều, ngài đã được trông thấy Đức Mẹ bế
Chúa Giêsu hiện đến nhìn xem những học trò của ngài lần hạt, và Đức Mẹ
đã giơ tay ban phép lành cho các học sinh của ngài. Lúc ấy ngài nói tiên
tri rằng: sau mười năm nữa, dòng của ngài sẽ được thiết lập lại, và sẽ
bành trướng nhiều hơn trước. Lời ngài đã được thực hiện, nhưng riêng
ngài không được hân hạnh nhìn ngày vẻ vang đó.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-US" style="font-size: 18pt">Ngày 25.8.1618, sau khi đã
lãnh nhận Phép lành của Đức Thánh Cha, thánh nhân đã về hưởng mặt Chúa
cách nhẹ nhàng an bình, hưởng thọ 92 tuổi. Tất cả thành Rôma đều để tang
ngài. Trong ngày đưa ngài về chốn an nghỉ cuối cùng, biết bao bệnh nhân
ở Rôma được khỏi bệnh và đứng dậy đi dự lễ an táng ngài.</span></p>
<p class="MsoNormal" style="text-align: justify; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-US" style="font-size: 18pt">Thánh nhân qua đi nhưng nhân
đức của ngài còn để lại cho những người cộng tác với ngài, cho bao nhiêu
học sinh của ngài. Gương can đảm hy sinh, yêu Chúa yêu người của thánh
nhân đã in sâu vào tâm trí mọi người. Ngày nay dòng của ngài đã có hằng
mấy ngàn địa điểm và số trường học theo tôn chỉ của ngài đã có tới hằng
mấy trăm.</span></td>
</tr>
<tr>
<td>
<p align="center">
<a target="_top" href="http://tinmung.net">
<font size="5">
<img border="0" src="../../../logo/LOGOtinmung.gif" width="67" height="40"></font></a></td>
</tr>
</table>
</body>
</html>