File "Ngay25.htm"
Full path: E:/sites/Single15/tinmung2007/webroot/CAC-THANH/HanhCacThanh/Thang05/Ngay25.htm
File size: 42.07 KiB (43082 bytes)
MIME-type:
Charset: utf-8
<head>
<meta http-equiv="Content-Language" content="en-us" />
<meta http-equiv="Content-Type" content="text/html; charset=utf-8" />
<title>Hạnh Các Thánh - Hanh Cac Thanh - Hương Việt</title>
<base target="main">
<style type="text/css">
.style1 {
border-width: 0px;
}
</style>
<style fprolloverstyle>A:hover {color: #FF0000; font-family: Arial; font-size: 10pt}
</style>
<meta name="keywords" content="Hạnh Các Thánh, Hanh Cac Thanh, Hương Việt, tieu su cac thanh">
</head>
<body style="color: #000000; background-color: #EEEEEE; font-family:Arial; font-size:10pt; text-decoration:none" background="../../../TRANG%20CUA%20ME%20MARIA/Pictures/Background/bgr.gif">
<table border="0" width="100%" id="table1" cellspacing="15" bgcolor="#FFFFF0">
<tr>
<td>
<p align="right" style="margin-top: 0; margin-bottom: 0"><b>
<font face="Verdana" size="5" color="#006666">Hạnh Các Thánh</font></b></p>
<hr color="#FF4D20" width="80%" align="right">
<p style="margin-top: 3px; margin-bottom: 0" class="Ngaythang" align="right">
<font size="5">Ngày 25 tháng 5</font></p>
<p style="margin-top: 3px; margin-bottom: 0" class="ViThanhKinh" align="right">
<span style="font-size: 18pt; font-weight: 700"><font color="#0000FF">
THÁNH BÊĐA, TIẾN SĨ, DÒNG THÁNH BIỂN ĐỨC</font></span></p>
<p style="margin-top: 3px; margin-bottom: 0" class="Ngaythang" align="right">
<font size="5">(673-753)</font></p>
<p style="margin-top: 3px; margin-bottom: 0" class="Ngaythang" align="right">
<font color="#0000FF"><span style="font-size: 18pt; font-weight: 700">
THÁNH GIÁO HOÀNG GRÊGÔRIÔ VII<br>
</span></font><font size="5">(1015-1086)</font></p>
<p style="margin-top: 3px; margin-bottom: 0" class="Ngaythang" align="right">
<font color="#0000FF"><span style="font-size: 18pt; font-weight: 700">
THÁNH MAĐALÊNA PAZI HIỂN TU<br>
</span></font><font face="Arial">
<span lang="EN-US" style="font-size: 18pt">(1566-1607)</span></font></td>
</tr>
<tr>
<td align="justify">
<h1 style="text-indent: 0; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-weight: 400"><b>
<span lang="EN-US" style="font-size: 18pt"><font face="Arial">THÁNH
BÊĐA, TIẾN SĨ, DÒNG THÁNH BIỂN ĐỨC</font></span></b><span lang="EN-US" style="font-size: 18pt"><font face="Arial"><br>
(673-753)</font></span></span></h1>
<h1 style="text-indent: 0; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-US" style="font-size: 18pt; font-weight:400"><font face="Arial">Thánh Bêđa
là con một gia đình nghèo khó trong nước Anh. Thánh nhân sinh năm 673,
và mồ côi cha ngay từ khi mới lên bảy tuổi. Nhưng bù lại Chúa đã ban cho
Bêđa sớm có một trí khôn sắc sảo và nhiều đức tính cao đẹp. Vì thế, một
người bà con đã không ngại giúp cho cậu ăn học và vào tu trong dòng
thánh Biển Đức ở Weamouth. Theo tiếng Anh thời bấy giờ, chữ Bêđa có
nghĩa là “cầu nguyện”. Chính đời sống của thánh nhân đã phản ảnh trung
thành ý nghĩa thâm thuý ấy!</font></span></h1>
<h1 style="text-indent: 0; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-US" style="font-size: 18pt; font-weight:400"><font face="Arial">Năm 682,
Bêđa sung sướng sống trong tu viện. Nhưng cũng ở đây đời sống của ngài
phải trải qua rất nhiều vất vả khó khăn; các tu sĩ ngoài công việc học
hành, còn phải làm việc chân tay, khai khẩn đất hoang. Hơn thế, năm 686,
bệnh dịch tả lan tràn; cả tu viện chỉ còn cha bề trên Céolfrid và Bêđa
là sống sót. Nhiều người cho rằng nhà dòng sẽ tan vỡ.</font></span></h1>
<h1 style="text-indent: 0; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-US" style="font-size: 18pt; font-weight:400"><font face="Arial">Nhưng ai
hiểu được Chúa Quan phòng! Sau thời gian bị thử thách, dòng lại phát
triển mạnh mẽ và mau lẹ, thầy Bêđa lại được diễm phúc làm bạn với đèn
sách. Sẵn trí thông minh và tinh thần hiếu học đặc biệt, thầy Bêđa đã
thu lượm được rất nhiều kết quả về các môn Kinh thánh, khoa học và âm
nhạc bình ca. Thêm vào vốn văn hóa sâu rộng ấy, thầy Bêđa còn có một đức
vâng phục, lòng khiêm tốn và tính đơn sơ nhã nhặn. Sau mỗi giờ học, thầy
nâng lòng lên nguyện cầu với Thiên Chúa: “Lạy Chúa nhân từ, Chúa đã
thương cho con được ngụp lặn trong kho tàng kiến thức, thì xin Chúa cũng
cho con được khiêm tốn bước theo Chúa, Đấng khôn ngoan và thánh thiện,
đồng thời cũng khiêm nhường tuyệt đối. Lạy Chúa, xin đừng để con bỏ Chúa
bao giờ...”. Năm 691, thầy thụ phong chức phó tế do Đức Giám mục địa
phận Exam và năm 702 thầy lĩnh chức linh mục. Sau đó, cha Bêđa được cử
làm giáo sư dạy học ngay tại trường. Nhiệt thành với sứ mệnh giáo dục,
ngài dạy đủ các lớp, đủ mọi trình độ. Nhờ có phương pháp dạy học mới mẻ
và hợp tâm lý, cha Bêđa nổi tiếng là nhà sư phạm biệt tài thời bấy giờ.
Tuy bận rộn với công việc giáo dục, thánh nhân cũng viết được 45 cuốn
sách giá trị thuộc đủ mọi môn, như văn chương, triết lý, vũ trụ học,
toán học, sử học, thi ca và hùng biện khoa...</font></span></h1>
<h1 style="text-indent: 0; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-US" style="font-size: 18pt; font-weight:400"><font face="Arial">Ngoài công
việc dạy học và viết sách, thánh Bêđa còn đảm nhận nhiệm vụ đối chất với
các lạc giáo. Những bằng chứng thánh nhân đưa ra luôn thích hợp với tinh
thần Giáo hội. Ngài là một sử gia trứ danh của giáo hội và Anh quốc. Nói
đến thánh Bêđa, người đương thời nghĩ ngay đến một giáo sư danh tiếng,
một nhà bác học uyên thâm, và một vị truyền giáo thánh thiện. Trong đời
sống siêu nhiên của ngài, người ta thấy nổi bật đức khiêm tốn và bác ái.
Để phần nào hiểu thêm về đời sống nội tâm và chí tông đồ của thánh nhân,
chúng ta hãy đọc mấy câu sau đây trong một bức thư ngài viết năm 734 gởi
cho người con thiêng liêng làm Giám mục địa phận York. Ngài viết “...
Tôi khuyên Đức Cha hãy chú ý nhiều đến việc nguyện ngắm và xét mình mỗi
ngày. Đức cha cũng phải nhớ rằng: nhiệm vụ trọng yếu nhất của một Giám
mục là lo thánh hóa hàng linh mục và nhiệt thành nuôi dưỡng đoàn chiên,
tìm mọi phương thế hữu hiệu đem ơn Chúa đến cho những linh hồn tội lỗi
và lòng tin cho những ai còn xa Chúa. Lại nữa, Đức Cha phải thúc giục
các họ đạo năng đọc kinh cầu nguyện, nhất là học hỏi Thánh kinh và nhờ
thế có thể huấn luyện cho họ những chân lý căn bản trong đạo...”. Được
coi như một tờ di chúc, bức thư này đã được in ra và gửi đi nhiều nơi.
Theo nhiều sử gia thì về cuối đời, thánh nhân bị khiếm thị. Nhưng không
vì thế mà ngài bỏ công việc truyền giáo là dạy học và giảng thuyết.
Người ta phải cảm phục biết bao vì thấy ngài tuy mụ tật mà vẫn tiếp tục
làm những công việc đèn sách cách thông thạo. Đó phải chăng là một ơn
đăïc biệt Chúa đã ban để tán thưởng cha Bêđa trong những năm cuối đời.</font></span></h1>
<h1 style="text-indent: 0; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-US" style="font-size: 18pt; font-weight:400"><font face="Arial">Đời sống
của cha là đời sống tận tụy làm việc và sốt sắng cầu nguyện, khi nằm
trên giường bệnh, mặc dầu không viết được, ngài cũng đọc cho các đệ tử
chép bản dịch Phúc âm thánh Gioan. Ngài từ trần vào chính ngày lễ Thăng
Thiên năm 735, trong khi miệng còn thầm thì đọc kinh Sáng Danh. Thi hài
thánh nhân được mai táng trọng thể trong tu viện Jarrow. Sau khi cha tạ
thế, nhiều tín hữu từ xa đến kính viếng và cầu nguyện bên phần mộ của
ngài. Lòng sốt sắng của họ đã đáng Chúa ban nhiều phép lạ vì lời bầu cử
của thánh Bêđa. Năm 1020, di hài ngài được chuyển về Durham đặt trong
một hòm bằng vàng có gắn nhiều ngọc trai và kim cương. Lòng sùng mộ của
giáo dân cùng với những phép lạ xẩy ra đặt nền tảng vững chắc cho giáo
hội phong ngài lên bậc hiển thánh. Rồi ngày 13-11-1899 thánh nhân lại
được truy phong lên bậc Tiến sĩ Giáo hội.</font></span></h1>
<h1 style="text-indent: 0; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-US" style="font-size: 18pt; font-weight:400"><font face="Arial">Đẹp thay
đời sống của thánh Bêđa! Ngài đã biết sống ăn nhịp với sự thông thái
Chúa phú bẩm, biết phát triển vốn trí thức trong đức khiêm nhường, và
lòng bác ái. Ước gì tinh thần học hỏi của ngài là đường lối để mọi tâm
hồn noi theo mà tìm ra chân lý như lời ngài nói: “Người thông thái thật,
là người biết tự hạ mình sống theo khoa học BÁC ÁI mà Ngôi Lời đã mang
tự trời xuống”.</font></span></h1>
<h1 style="text-indent: 0; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-weight: 400"><b>
<span lang="EN-US" style="font-size: 18pt"><font face="Arial">* THÁNH
GIÁO HOÀNG GRÊGÔRIÔ VII</font></span></b><span lang="EN-US" style="font-size: 18pt"><font face="Arial"><br>
(1015-1086)</font></span></span></h1>
<h1 style="text-indent: 0; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-US" style="font-size: 18pt; font-weight:400"><font face="Arial">Nói đến
những vị Giáo Hoàng có công nhiều trong việc phục hưng tinh thần đạo đức
của hàng giáo sĩ và tranh đấu cho tự do của Giáo hội, người ta không thể
bỏ qua tên tuổi của Đức Grêgôriô VII, tục danh là Hildebrand.</font></span></h1>
<h1 style="text-indent: 0; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-US" style="font-size: 18pt; font-weight:400"><font face="Arial">Ngài xuất
thân từ một gia đình trung lưu miền Soano nước Ý, vào khoảng năm 1015.
Ngay từ thời niên thiếu Hildebrand đã được thụ huấn với chính người chú
ruột là Lôrensô bấy giờ đang làm bề trên tu viện. Sẵn có thiên khiếu
thông minh và lòng mộ đạo, Hildebrand đã thu hoạnh được nhiều kết quả về
đạo đức cũng như về trí thức.</font></span></h1>
<h1 style="text-indent: 0; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-US" style="font-size: 18pt; font-weight:400"><font face="Arial">Tới tuổi
trưởng thành, Hildebrand được cử làm bề trên tu viện thánh Phaolô. Ngài
đã tỏ ra rất lành nghề trong việc hướng dẫn tu viện và thành công nhiều
trong việc phục hưng tinh thần đạo đức của các tu sĩ. Mến phục tài đức
của ngài, Đức Giáo Hoàng Lêô IX đã cử ngài làm đặc sứ Toà Thánh tại Pháp
để điều chỉnh lại tình trạng đạo đức của các tu sĩ ở nước này.</font></span></h1>
<h1 style="text-indent: 0; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-US" style="font-size: 18pt; font-weight:400"><font face="Arial">Năm 1045,
dưới đời Đức Giáo Hoàng Grêgôriô VI, ngài là một trong những vị phó tế
của thành Rôma trông coi tài sản của Giáo hội; đó là một chức vụ quan
trọng mà nhờ đó ngài đã học hỏi được nhiều kinh nghiệm quý báu để điều
khiển Giáo hội mai ngày.</font></span></h1>
<h1 style="text-indent: 0; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-US" style="font-size: 18pt; font-weight:400"><font face="Arial">Năm 1049,
nhân dịp tu viện trưởng Huygô bề trên cả tu viện Cluni sang chầu Đức tân
Giáo Hoàng Brunô, Hildebrand cũng được may mắn đi theo. Là một người có
tâm huyết và tính tình cương trực, ngài đã không ngần ngại lên tiếng
phản đối cả Đức tân Giáo Hoàng mà ngài nghĩ rằng đã được bầu lên một
cách bất hợp pháp. Nhưng Đức tân Giáo Hoàng đã bình tĩnh giải thích cho
Hildebrand hay mình được lên ngôi kế vị thánh Tông đồ không phải chỉ do
sự quyết định của Hoàng đế mà là do sự biểu quyết của các giáo sĩ và
toàn dân Rôma nữa. Bấy giờ Hildebrand mới biết mình nhầm và thực tâm xin
thần phục quyền Đức Thánh Cha. Đức tân Giáo Hoàng cảm mến tài đức và
lòng can đảm của con người cương trực ấy. Ngài xin tu viện trưởng Huygô
cho Hildebrand ở lại để làm cố vấn và giúp việc Toà thánh. Ngày
02-02-1049, Đức Brunô lên ngôi Giáo Hoàng lấy hiện là Lêô IX; và chính
thức đặt Hildebrand làm cố vấn giúp ngài trong việc điều khiển guồng máy
Giáo hội. Âu cũng là thời gian thuận tiện để ngài có thể đem ra thực
hiện những dự định cải tổ đã từ bao năm mơ ước.</font></span></h1>
<h1 style="text-indent: 0; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-US" style="font-size: 18pt; font-weight:400"><font face="Arial">Giáo hội
lúc đó lâm vào một tình trạng đen tối hơn bao giờ hết. Giáo quyền bị lệ
thuộc thế quyền; nhiều Giám mục đã dùng tiền bạc, quyền lực để mua bán
chức thánh, đó là nạn mại thánh; đời sống đạo đức và trinh khiết của
giáo sĩ cũng đi dần đến chỗ sa đọa sút kém. Để chặn đứng những cảnh đồi
phong bại tục đó trong Giáo hội, thánh nhân bàn định với Đức Giáo Hoàng
để triệu tập một công đồng kết án tất cả những Giám mục và linh mục đã
phạm tội mại thánh, phạt vạ những tu sĩ cố chấp không giữ đức trinh
khiết, thay thế những người bất xứng bằng những vị tài đức và thánh
thiện.</font></span></h1>
<h1 style="text-indent: 0; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-US" style="font-size: 18pt; font-weight:400"><font face="Arial">Ảnh hưởng
và hoạt động của thánh nhân đã cứu vãn lại được một phần nào tình thế.
Thế nên khi Đức Lêô IX băng hà, thánh nhân vẫn được các Giáo Hoàng kế
tiếp trọng dụng, và ngài đã tiếp tục làm cố vấn cho bốn đời Giáo Hoàng
sau. Dưới triều Giáo Hoàng nào, ngài cũng mang hết tài đức ra phụng sự
Chúa, cố gắng chấn hưng Giáo hội và hăng hái tranh đấu với các lạc giáo
để bảo vệ toàn vẹn kho tàng chân lý măïc khải. Năm 1073, khi Đức Giáo
Hoàng Alexanđrô II băng hà, toàn thể hội đồng Hồng Y đều tán thành bầu
ngài lên kế vị, vì nhận thấy không còn ai xứng đáng hơn ngài. Trước sự
tán đồng và tín nhiệm của toàn thể các Hồng Y, Đức Hildebrand biết có từ
chối cũng chẳng được, nên ngài đành khiêm tốn cúi mình lãnh nhận nhiệm
vụ Chúa trao.</font></span></h1>
<h1 style="text-indent: 0; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-US" style="font-size: 18pt; font-weight:400"><font face="Arial">Tin Đức
Hildebrand đắc cử Giáo Hoàng truyền ra, toàn dân Rôma hớn hở vui mừng.
Hàng biển người đã tụ tập giơ tay hoan hô Đức tân Giáo Hoàng: “Vạn tuế
Đức Hildebrand, vạn tuế Đấng kế vị thánh Phêrô”. Niềm vui nừng đó lan
tràn qua năm châu bốn bể. Các tín hữu nơi nơi phấn khởi dâng lên vị cha
chung tấm lòng khâm phục và hiếu thảo. Ngài lên ngôi Giáo Hoàng với danh
hiệu là Grêgôriô VII.</font></span></h1>
<h1 style="text-indent: 0; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-US" style="font-size: 18pt; font-weight:400"><font face="Arial">Tuy với
hoàn cảnh và địa vị mới, nhưng Đức Grêgôriô VII vẫn cố gắng duy trì nếp
sống cũ. Ngài sống khắc khổ không khác gì một cha dòng khổ tu. Vì biết
rằng chỉ có hãm mình cầu nguyện để xin ơn Chúa mới có thể hoán cải được
tâm hồn kẻ có tội và làm cho tương lai của Giáo hội được sáng sủa hơn.
Thực vậy, ngài lên ngôi giữa lúc con thuyền Giáo hội bị phong ba dồn dập
dữ tợn. Tương lai và vận mệnh Giáo hội hầu như bị đe dọa nghiêng ngửa.
Các đế quốc muốn chia nhau xâm chiếm thánh địa, chiếm hữu tài sản và chi
phối quyền hành của Giáo hội; đời sống đạo đức của giáo sĩ và giáo dân
sút kém rất nhiều. Trước tình thế đen tối đó, thánh nhân vẫn một niềm
tin tưởng vào sức mạnh của lời cầu nguyện và lời Chúa phán cùng Phêrô
xưa: “Phêrô, con là đá, trên đá này Ta xây Giáo hội và dù cửa hoả ngục
có dấy lên cũng không phá đổ được...”.</font></span></h1>
<h1 style="text-indent: 0; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-US" style="font-size: 18pt; font-weight:400"><font face="Arial">Không phải
chỉ cầu nguyện và tin tưởng suông, nhưng ngài đã bắt tay ngay vào việc
cải tổ và bênh vực Giáo hội; làm như thế vì ngài thừa hiểu rằng cầu
nguyện và hãm mình phải đi trước, nhưng cũng phải có lời nói việc làm
kèm theo thì mới mong có kết quả. Đêm ngày ngài hăng hái lao mình vào
công việc săn sóc đoàn chiên Chúa, bảo vệ uy quyền Giáo hội và duy trì
ích lợi chung cho nhân loại.</font></span></h1>
<h1 style="text-indent: 0; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-US" style="font-size: 18pt; font-weight:400"><font face="Arial">Bấy giờ có
Rôbetô Ghica thủ lãnh nước Ý, muốn chiếm đoạt một phần đất của Toà
thánh. Đức Grêgôriô cương quyết phản đối lòng tham của Rôbetô. Kết cuộc
chẳng những ngài đã bảo vệ được tài sản của Giáo hội mà còn chinh phục
được cả đối thủ. Vì mến phục Đức Grêgôriô, Rôbetô dâng cho Đức Giáo
Hoàng hai đảo thuộc xứ Sicilia.</font></span></h1>
<h1 style="text-indent: 0; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-US" style="font-size: 18pt; font-weight:400"><font face="Arial">Hoạt động
của Đức Grêgôriô không chỉ giới hạn trong phạm vi nhỏ hẹp của đất Ý mà
thôi, nhưng, là một vị cha chung, ngài hằng phóng tầm con mắt để ý săn
sóc toàn thể Giáo hội khắp nơi. Thấy nước Pháp rơi vào tình trạng trụy
lạc từ vua cho tới thần dân, nên một mặt ngài cổ võ phong trào chấn hưng
phong tục tốt, một mặt ngài đe dọa nếu vua Philíppê II không cải thiện
thì sẽ ra vạ tuyệt thông. Ngài cũng khuyên Giám mục Cantorbêry đẩy mạnh
công việc chấn hưng đạo đức trong địa phận ngài.</font></span></h1>
<h1 style="text-indent: 0; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-US" style="font-size: 18pt; font-weight:400"><font face="Arial">Nhưng dầu
sao trọng tâm hoạt động của Đức Grêgôriô vẫn là việc tranh đấu cho tự do
và thánh thiện của Giáo hội. Chẳng thế mà khi vừa lên ngôi ngài đã tuyên
bố: “Giáo hội công giáo, Mẹ chúng ta, đã đặt Ta lên ngôi vị Giáo Hoàng,
mặc dầu Ta tự cảm thấy bất xứng. Nhưng một khi đã lãnh nhận chức vụ đó,
Ta cương quyết dành lại quyền tự do, đức trong sạch và vẻ huy hoàng
nguyên thủy cho người bạn trăm năm của Đức Giêsu”. Và ngài đã bắt đầu
thực hiện chương trình đó dầu có phải bao phen điêu đứng cũng không lui.</font></span></h1>
<h1 style="text-indent: 0; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-US" style="font-size: 18pt; font-weight:400"><font face="Arial">Năm 1075,
ngài triệu tập một hội đồng để tuyên bố phạt tất cả mọi người bất cứ ở
địa vị nào, Hoàng đế hay vương hầu bá tước, Giám mục hay linh mục, đã
dùng tiền bạc hay uy quyền để mua bán chức thánh.</font></span></h1>
<h1 style="text-indent: 0; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-US" style="font-size: 18pt; font-weight:400"><font face="Arial">Cuộc tranh
đấu với Henricô IV vua nước Đức được coi là gay go và quyết liệt hơn cả.
Vua Henricô IV là người có tính kiêu căng và chuyên quyền. Tính tham lam
và kiêu căng đã khiến vua muốn trấn áp quyền bính đạo đời. Đức Grêgôriô
kịch liệt phản đối hành động chuyên quyền của nhà vua. Để báo thù, Vua
đã sai người đến bắt cóc Đức Giáo Hoàng trong khi ngài đang hành lễ, rồi
tống giam vào ngục. Vì lòng mộ mến Đức Thánh Cha và vì bất mãn trước
hành động phạm thánh của nhà vua, dân chúng Rôma đã biểu tình và hô hào
phản đối vua Đức. Thấy có thể bất lợi cho đường lối chính trị và ngoại
giao của mình, vua Henricô IV hạ lệnh phóng thích Đức Giáo Hoàng. Thái
độ của Đức Grêgôriô trong lúc này cũng như trong suốt đời ngài vẫn luôn
luôn chiếu giãi một tình thương yêu và quảng đại; ngài tha thứ cho vua
và những người đã xúc phạm đến ngài và lại trở về thánh đường tiếp tục
hành lễ.</font></span></h1>
<h1 style="text-indent: 0; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-US" style="font-size: 18pt; font-weight:400"><font face="Arial">Vua
Henricô IV vẫn không thôi ngoan cố và bạo ngược. Năm 1076 vua triệu tập
các Giám mục về phe mình và đặt Ghibêtô Raven làm giáo hoàng. Thấy nhà
vua hành động quá bạo ngược, xâm phạm đến quyền lợi của Giáo hội, Đức
Giáo Hoàng Grêgôriô liền ra vạ tuyệt thông phạt nhà vua. Vạ vừa ra, thần
dân đều bất phục vua Henricô IV. Thêm vào đó là những thất bại về ngoại
giao và quân sự, buộc lòng nhà vua phải đổi thái độ. Mùa đông năm sau,
không quản tuyết phủ sương sa, nhà vua mặc áo sám hối một mình vượt qua
rạng núi Anpê và đến phủ phục dưới chân Đức Giáo Hoàng tỏ vẻ thống hối.
Đầy lòng rộng lượng và thứ tha, ngày 28-01-1077, Đức Giáo Hoàng giải vạ
cho vua.</font></span></h1>
<h1 style="text-indent: 0; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-US" style="font-size: 18pt; font-weight:400"><font face="Arial">Nhưng thật
ra “sông sâu còn có kẻ dò, lòng người nham hiểm ai đo cho cùng”. Vua
Henricô IV chỉ giả vờ thống hối để làm dịu lại tình thế. Vì thế sau ít
lâu con người giả dối kia lại quay lại mưu phản Đức Giáo Hoàng. Vua
quyết chiếm lấy nhiều khu đất của Toà thánh. Trước tình thế đó, một số
quận chúa trung thành với Giáo hội đã bầu ông Ghicađô chỉ huy lực lượng
chống lại với Hoàng đế Henricô IV. Và cuộc kháng chiến giữa đôi bên bắt
đầu trở nên gay go, gây khốc hại cho bao người.</font></span></h1>
<h1 style="text-indent: 0; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-US" style="font-size: 18pt; font-weight:400"><font face="Arial">Trong khi
quân đội của Henricô IV và Ghicađô còn đang tranh giành để chiếm cứ
thành Rôma thì Đức Giáo Hoàng Grêgôriô VII từ trần tại Salernô ngày
25-5-1085. Ngài thụ bệnh và từ trần vì những vất vả chiến đấu trong đời
và vì những thiếu thốn, cực nhọc trong khi lánh nạn. Trước khi từ trần,
Đức Grêgôriô VII luôn luôn nhắc đi nhắc lại lời Thánh vịnh để áp dụng về
mình: “Ta mến sự công chính và chê ghét sự gian tà nên ta mới chết ở
chốn lưu đầy này”. Một tu sĩ đã an ủi ngài rằng: “Tâu Đức Thánh Cha, một
vị Giáo Hoàng không có thể chết ở chốn lưu đầy, vì ngài đã được Chúa ban
các dân tộc làm gia nghiệp...”</font></span></h1>
<h1 style="text-indent: 0; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-US" style="font-size: 18pt; font-weight:400"><font face="Arial">Thi hài
Đức Grêgôriô VII được an táng tại nhà thờ thánh Mátthêu. Năm năm sau,
khi cải táng người ta thấy xác ngài hầu như còn nguyên vẹn.</font></span></h1>
<h1 style="text-indent: 0; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-US" style="font-size: 18pt; font-weight:400"><font face="Arial">Tuy Đức
Grêgôriô VII không đổ máu như các vị tử đạo, nhưng ngài đã có công tranh
đấu và bênh vực Giáo hội tới hơi thở cuối cùng, nên đã đáng được Đức
Grêgôriô VIII liệt ngài vào hàng các vị tử đạo. Và ngày 28-8-1619, Đức
Phaolô V đã chính thức phong ngài lên bậc hiển thánh.</font></span></h1>
<h1 style="text-indent: 0; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span style="font-weight: 400"><b>
<span lang="EN-US" style="font-size: 18pt"><font face="Arial">* THÁNH
MAĐALÊNA PAZI HIỂN TU</font></span></b><span lang="EN-US" style="font-size: 18pt"><font face="Arial"><br>
(1566-1607)</font></span></span></h1>
<h1 style="text-indent: 0; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-US" style="font-size: 18pt; font-weight:400"><font face="Arial">Thánh nữ
Mađalêna Pazi sinh ngày 02-4-1566 tại miền Florencia, nước Ý. Ông thân
sinh là Camillô và bà thân mẫu là Buon del Monte. Hai ông bà là những
người đạo đức, giầu sang và có thế giá trong làng. Vì lòng sốt sắng tuân
thủ luật giáo hội, ngay ngày hôm sau ông bà vội vã mang con trẻ đến nhà
thờ để xin rửa tội và đặt tên con là Catarina.</font></span></h1>
<h1 style="text-indent: 0; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-US" style="font-size: 18pt; font-weight:400"><font face="Arial">Nhờ sự
hướng dẫn của bà mẹ đạo đức, càng lớn lên Catarina càng thêm khôn ngoan
và nhân đức. Cô sớm trở thành một thiếu nữ gương mẫu. Khác với những cô
gái cùng tuổi, Catarina đã biết sống thánh thiện xứng đáng với sự kén
chọn của Chúa và những ơn lạ Người sẽ ban cho cô sau này. Cô rất mộ mến
những việc đạo đức như đọc kinh, làm việc bố thí và hãm mình ăn chay. Hễ
có người hành khất nào qua nhà thì không phải đợi mẹ bảo, cô đã mau mắn
vào lấy bánh trái hoặc tiền riêng đã dành dụm để cho người ấy. Cô cũng
biết lợi dụng những giờ rảnh rang tìm đến những nơi yên tĩnh trong vườn
để nguyện ngắm.</font></span></h1>
<h1 style="text-indent: 0; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-US" style="font-size: 18pt; font-weight:400"><font face="Arial">Nhận thấy
những triệu chứng của một tính nết tốt lành và đạo hạnh nơi con, ông bà
thân sinh đem truyện kể lại với cha giải tội và xin ngài dẫn giắt con
trên đường trọn lành. Cha sở khuyên bảo nhiều điều và dạy cô cách thức
nguyện ngắm. Từ đó cho đến suốt đời về sau Catarina dành mỗi ngày một
giờ vào việc nguyện ngắm. Đề tài cô năng suy niệm là sự thương khó Chúa
Giêsu.</font></span></h1>
<h1 style="text-indent: 0; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-US" style="font-size: 18pt; font-weight:400"><font face="Arial">Sau ngày
được rước lễ lần đầu tiên, ngày 25-3-1576, Catarina càng tỏ ra đạo đức
hơn nữa. Cũng từ ngày đó, cô cảm thấy vẻ đẹp của một đời sống thanh
tịnh. Cô muốn giữ mình đồng trinh, sống một đời chân tu thờ phượng Chúa.
Và để kỷ niệm cũng như để nhắc nhở mình phải luôn luôn trung thành với ý
nguyện, cô đã đeo một chiếc nhẫn ở nơi tay.</font></span></h1>
<h1 style="text-indent: 0; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-US" style="font-size: 18pt; font-weight:400"><font face="Arial">Nhưng Chúa
Quan phòng lại muốn Catarina phải qua một thử thách để dọn cho cô quen
với sứ mạng hy sinh đang chờ đợi cô trên đường đời. Năm 16 tuổi cha mẹ
Catarina định gả cô cho một vị lãnh chúa trong miền là một người vừa trẻ
đẹp lại có tính tình phong nhã. Nhưng khi đem truyện ra bàn với con gái,
ông bà chỉ thấy cô một mực chối từ. Trước lời khuyên răn, dụ dỗ của cha
mẹ, Catarina vẫn quyết chí trung thành với lời khấn hứa giữ mình đồng
trinh. Biết không thể đánh đổ được lòng sắt đá của con, ông bà liều cầu
cứu tới cha sở Blanca là cha giải tội của Catarina. Cha sở an ủi và đồng
thời cũng cho ông bà hay Catarina có ơn kêu gọi tu dòng, nên khuyên ông
bà thân sinh cô bỏ hẳn ý định muốn cho con gái kết bạn, và vui lòng để
cho Catarina được tự do lựa chọn cuộc sống.</font></span></h1>
<h1 style="text-indent: 0; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-US" style="font-size: 18pt; font-weight:400"><font face="Arial">Ngày
14-8-1582, Catarina từ giã cha mẹ để vào dòng kín với tất cả niềm hân
hoan vui sướng. Trái lại, bà Buon del Monte lại ngậm ngùi, rướm lệ vì
phải xa biệt con gái yêu quý. Thế nên bà chỉ muốn kéo dài câu chuyện để
giữ con gái lại được phút nào hay phút đó. Cuối cùng bà đành phải gạt
nước mắt để Catarina ra đi. Trước khi mẹ con chia tay bà còn dặn với:
“Thôi, con đi và nhớ cầu nguyện luôn cho mẹ”.</font></span></h1>
<h1 style="text-indent: 0; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-US" style="font-size: 18pt; font-weight:400"><font face="Arial">Sau một
thời gian thực tập, ngày 01-9, Catarina được chính thức nhận vào tập
viện dòng kín. Và cách năm tháng sau, tức ngày 30-01-1583, Catarina được
mặc áo dòng và nhận tên là chị Mađalêna.</font></span></h1>
<h1 style="text-indent: 0; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-US" style="font-size: 18pt; font-weight:400"><font face="Arial">Từ đây chị
càng hăng hái lao mình vào những thực hành việc mộ đạo, như hãm mình ép
xác, tu nhân luyện đức để dọn mình đợi ngày làm lễ khấn hứa trọng thể.
Người ta thấy chị ăn ở rất mực khiêm tốn; trong cử chỉ và lời nói chị
không hề để mất lòng ai bao giờ. Chị giữ luật dòng một cách thận trọng
và thực hành những công tác trong nhà một cách chu đáo.</font></span></h1>
<h1 style="text-indent: 0; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-US" style="font-size: 18pt; font-weight:400"><font face="Arial">Như nông
phu mong mùa gặt thế nào, thì chị Mađalêna cũng nóng lòng trông đợi ngày
được tuyên khấn như vậy. Vì chị coi đó là ngày hạnh phúc, ngày chị được
bảo đảm sống kết hợp mật thiết với Chúa hơn nhờ ở sự trung thành giữ lời
khấn hứa. Vì quá khao khát nên chị xin mẹ bề trên cho phép được khấn
trước, nhưng bà mẹ dạy phải đợi để cùng khấn một lượt với một số chị em
khác đến sau.</font></span></h1>
<h1 style="text-indent: 0; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-US" style="font-size: 18pt; font-weight:400"><font face="Arial">Ít lâu sau
vì sức khoẻ mong manh không chịu nổi những việc hãm mình, nên chị ngã
bệnh. Chị càng buồn rầu nếu phải chết trước khi được tuyên khấn. Bà bề
trên đành phải đổi dự định và lo liệu cho chị Mađalêna được khấn hứa
trọng thể trước khi về chầu Chúa, dầu rằng chị đang ở trong tình trạng
bệnh hoạn. Ngày 27-5-1584, trong bầu không khí trang nghiêm của nguyện
đường tu viện, chị Mađalêna long trọng tuyên hứa ba lời khấn sạch sẽ,
khó khăn và vâng lời. Sau đó chị vẫn nằm liệt giường. Nhưng cũng từ đây
đời chị bắt đầu chuyển sang một giai đoạn mới: chị qua nhiều lần ngất
trí và thông cảm nhiều với sự thương khó của Chúa Giêsu. Phải chăng
những lần ngất trí đó là do bệnh trạng của chị đưa đến. Điều đó rất có
thể xẩy ra. Nhưng ta cũng nên nhớ rằng trong việc ban ơn lạ cho một linh
hồn, ít khi Chúa can thiệp bằng một phép lạ vượt luật tự nhiên, Chúa
quen dùng đường lối thông thường là dựa vào thể trạng tự nhiên của người
đó để thực hiện lòng nhân từ của mình. Suốt 40 ngày liền, không ngày nào
mà chị Mađalêna không qua một lần ngất trí. Hiện tượng đó thường xẩy ra
sau mỗi lần chị rước lễ hoặc đang suy niệm về sự thương khó của Chúa
Giêsu. Lần đầu tiên trong khi xuất thần, chị cho hay được Chúa cho thấy
rõ những hậu quả ghê gớm của tội bất trung và tầm quan trọng của lời cầu
nguyện. Lần khác, chị ngất trí một thời gian kéo dài tới 16 giờ đồng hồ.
Trong lúc đó, người ta thấy chị như đang đàm đạo với một nhân vật vô
hình nào đó; và ai nấy đều có thể đọc được những cảm tình vui buồn hoặc
đau đớn lần lượt phô diễn trên nét mặt của chị. Thứ hai tuần thánh năm
1585, chị ngất trí và khóc. Sau đó người ta hỏi và được chị cho hay lúc
đó chị cảm động vì được nhìn những thương tích trên mình Chúa Giêsu chịu
nạn. Người ta còn bỡ ngỡ hơn nữa khi thấy rằng ngày thứ năm tuần thánh
trong khi xuất thần, thánh nữ đi lang thang trên các nẻo đường trong tu
viện, khiến ai xem thấy đều có cảm tưởng như chị đang bước theo Chúa
Giêsu trên các chặng đường thánh giá.</font></span></h1>
<h1 style="text-indent: 0; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-US" style="font-size: 18pt; font-weight:400"><font face="Arial">Thời gian
hứng thú trong những lần ngất trí kia rồi cũng qua đi; tiếp đến là những
“đêm tối của linh hồn” mà chị Mađalêna phải chịu đựng. Đó vẫn là đường
lối thông thường Chúa dùng để tập luyện cho linh hồn con cái Chúa đạt
tới mức kiên nhẫn và khiêm nhường hơn. Lúc này, chị không còn cảm thấy
sốt sắng, hứng thú trong khi làm các việc đạo đức nữa. Trước đây chị say
sưa với những giây phút suy niệm thì bây giờ chỉ cảm thấy chia trí và
thời khắc nặng nề trôi qua. Ma quỷ cũng lợi dụng thời cơ gây ra tình
trạng bối rối hầu làm lung lạc tâm hồn chị hơn. Chị thú nhạân nhiều lần
phải vất vả đương đầu với những cuộc tấn công ồ ạt của ma quỷ, đến nỗi
có lần chị hầu ngã lòng muốn cởi bỏ áo dòng để hoàn tục.</font></span></h1>
<h1 style="text-indent: 0; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-US" style="font-size: 18pt; font-weight:400"><font face="Arial">Được cha
linh hướng cho biết đó là thời gian Chúa thử thách, nên chị càng hạ mình
khiêm tốn và thú nhận những khuyết điểm của mình. Chị vẫn cố gắng chu
toàn phận sự vì lòng mến. Nhất là chị đặc biệt cởi bỏ ý riêng để triệt
để tuân theo những chỉ thị của cha linh hồn, chẳng thế mà chị thường nói
với các chị em trong nhà rằng: “ngày nào không bỏ ý riêng ngày đó thật
uổng phí”.</font></span></h1>
<h1 style="text-indent: 0; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-US" style="font-size: 18pt; font-weight:400"><font face="Arial">Sau tuần
lễ Linh Giáng năm 1590, cơn khủng hoảng qua đi và tâm hồn chị lại được
bình an thư thái như xưa. Như để đền bù lại những chuỗi ngày khô khan
trước đây, từ nay chị càng để hết tâm lực mà thực hành lòng yêu Chúa và
cầu nguyện cho tội nhân được ơn trở lại. Nhiều lần vì không kìm hãm nổi
xúc động khi suy ngắm về lòng yêu Chúa, chị phải buông ra những lời than
thở: “Ôi lạy Chúa tình yêu, Chúa không được người đời yêu mến, lại còn
bị xúc phạm nữa. Đáng buồn thay, còn biết bao nhiêu người chưa nhận biết
Chúa!” Tình yêu ấy đã khiến chị yêu mến đến say sưa những việc hãm mình
phạt xác một cách kinh khủng. “Chịu khổ, nhưng không bao giờ chết”. Đó
là câu châm ngôn chị đã chọn làm tiêu chuẩn để áp dụng trong đời sống
hãm mình, khổ hạnh của chị.</font></span></h1>
<h1 style="text-indent: 0; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-US" style="font-size: 18pt; font-weight:400"><font face="Arial">Để thưởng
công nhân đức và đời sống hãm mình của chị Mađalêna, Chúa đã cho chị
được biết nhiều đến hậu lai có liên hệ đến số mệnh của riêng chị và của
một số người chung quanh. Chẳng hạn như sau khi hai ông bà thân sinh của
chị từ trần, Chúa cho chị được nhìn thấy linh hồn của cha mẹ còn bị giam
trong luyện ngục. Nhờ đó, chị có thể xin lễ và làm nhiều việc lành phúc
đức để đền tội thay cho linh hồn thân phụ và thân mẫu. Lần khác chị tiên
báo cho Đức Hồng Y Octavianô biết ngài sẽ được đặc tuyển làm Giáo Hoàng
và sự thực đã xẩy ra như lời chị báo. Thánh nữ cũng nói cho nhiều chị em
biết ngày giờ mệnh chung của mỗi người và cả ngày giờ Chúa gọi về nữa.</font></span></h1>
<h1 style="text-indent: 0; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-US" style="font-size: 18pt; font-weight:400"><font face="Arial">Thực vậy,
năm 1612, từ sau lần ho ra máu, sức khỏe của chị suy giảm nhiều. Chị
chịu bệnh một cách vui vẻ, cho đến ngày 24-5-1607 thì kiệt lực. Sau khi
chịu lễ, chị trút linh hồn an nghỉ trong tay Chúa. Hôm đó nhằm đúng ngày
lễ Thăng Thiên.</font></span></h1>
<h1 style="text-indent: 0; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-US" style="font-size: 18pt; font-weight:400"><font face="Arial">Năm 1609,
khi cải táng, người ta thấy xác thánh nữ vẫn còn nguyên tuyền như mới
chết... Đức Giáo Hoàng Clêmentê IX tuyên phong chị Mađalêna lên bậc hiển
thánh ngày 28-4-1669.</font></span></h1>
<h1 style="text-indent: 0; margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-US" style="font-size: 18pt; font-weight:400"><font face="Arial">Lạy thánh
nữ Mađalêna là đấng đang hưởng vinh quang của các thánh đồng trinh trên
thiên quốc, xin cầu cùng Chúa cho chúng con biết theo gương ngài: luôn
giữ tâm hồn trong sạch trong ý tưởng, trong lời nói, trong việc làm, để
chúng con mai ngày xứng đáng được Chúa cho hưởng vinh quang của Người
trên thiên quốc.</font></span></h1>
</td>
</tr>
<tr>
<td>
<p align="center">
<a target="_top" href="http://tinmung.net">
<font size="5">
<img border="0" src="../../../logo/LOGOtinmung.gif" width="67" height="40"></font></a></td>
</tr>
</table>
</body>
</html>