File "Ngay28.htm"

Full path: E:/sites/Single15/tinmung2007/webroot/CAC-THANH/HanhCacThanh/Thang04/Ngay28.htm
File size: 26.63 KiB (27274 bytes)
MIME-type:
Charset: utf-8

Download   Open   Back

<head>
<meta http-equiv="Content-Language" content="en-us" />
<meta http-equiv="Content-Type" content="text/html; charset=utf-8" />
<title>Hạnh Các Thánh - THÁNH LUI MARIA MÔNPHO </title>
<base target="main">
<style type="text/css">
.style1 {
	border-width: 0px;
}
</style>
<style fprolloverstyle>A:hover {color: #FF0000; font-family: Arial; font-size: 10pt}
h2
	{margin-top:12.0pt;
	margin-right:0cm;
	margin-bottom:3.0pt;
	margin-left:0cm;
	line-height:115%;
	page-break-after:avoid;
	font-size:14.0pt;
	font-family:"Cambria","serif";
	font-weight:bold;
	font-style:italic}
</style>
<meta name="keywords" content="Thánh Phaolô Tông Đồ Trở Lại - Thanh Phaolo Tong Do Tro Lai">
</head>

<body style="color: #000000; background-color: #EEEEEE; font-family:Arial; font-size:10pt; text-decoration:none" background="../../../TRANG%20CUA%20ME%20MARIA/Pictures/Background/bgr.gif">

<table border="0" width="100%" id="table1" cellspacing="15" bgcolor="#FFFFF0">
	<tr>
		<td>
		<p align="right" style="margin-top: 0; margin-bottom: 0"><b>
		<font face="Verdana" size="5" color="#006666">Hạnh Các Thánh - Hương 
		Việt</font></b></p>
		<hr color="#FF4D20" width="80%" align="right">
		<p class="Ngaythang" style="margin-top: 3px; margin-bottom: 0" align="right">
		<span lang="EN-US"><font size="5">Ngày 28 tháng 04</font></span></p>
		<p class="ViThanhKinh" style="margin-top: 3px; margin-bottom: 0" align="right">
		<font color="#0000FF"><span style="font-size: 18pt; font-weight: 700">
		THÁNH LUI MARIA MÔNPHO </span></font></p>
		<p class="ViThanhKinh" style="margin-top: 3px; margin-bottom: 0" align="right">
		<span lang="EN-US"><font size="5">(1673-1716)</font></span></p>
		<p class="ViThanhKinh" style="margin-top: 3px; margin-bottom: 0" align="right">
		<font color="#0000FF"><span style="font-size: 18pt; font-weight: 700">
		THÁNH PHÊRÔ CHANEL LINH MỤC</span></font></p>
		<p class="ViThanhKinh" style="margin-top: 3px; margin-bottom: 0" align="right">
		<span lang="EN-US"><font size="5">(1803-1841)</font></span></td>
	</tr>
	<tr>
		<td align="justify">
		<p class="ViThanhKinh" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		<span lang="EN-US"><b><font size="5">THÁNH LUI MARIA MÔNPHO</font></b><font size="5">
		</font> </span></p>
		<p class="NamSinh-Chet" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		<span lang="EN-US"><font size="5">(1673-1716)</font></span></p>
		<p class="Noidungdau" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		<span lang="EN-US"><font size="5">Mônpho trước đây chỉ là một thị xã không tên tuổi nằm 
		dọc theo hai dòng sông Mơ và Garon; nhưng ngày nay Mônpho đã chiếm một 
		vai trò quan trọng trong lịch sử Giáo hội Pháp. Mônpho đã sinh cho Giáo 
		hội nhiều dòng tu, nhiều vị đại thánh: dòng thánh Giacôbê, dòng thánh 
		Gioan, dòng thánh Nicôlao, dòng Lagiarít và cũng là nơi trú thân của 
		thánh Vinhsơn Phêriê, dòng Giảng thuyết… Nhưng đặc biệt hơn cả, trên 
		mảnh đất diễm phúc ấy, vào thế kỷ XVII, đã xuất hiện một ngôi sao chói 
		sáng, soi khắp Giáo hội trong lãnh vực sùng kính Mẹ Thiên Chúa, đó là 
		cha Mônpho tông đồ Thánh Mẫu.</font></span></p>
		<p class="Noidung" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		<span lang="EN-US"><font size="5">Ông Gioan, thân phụ Mônpho là một người có thế giá 
		trong xã hội; ông đã từng giữ chức trạng sư lâu năm tại thị xã Mônpho 
		với rất nhiều huy chương, danh tiếng nhưng ít bổng lộc. Ông làm việc để 
		nuôi cả gia đình, một gia đình khá đông miệng ăn. Nhưng bạn ông, bà 
		Robert một thiếu phụ dệt vải thành Ren (Rennes), bà còn là chị của ba vị 
		linh mục; với đức tính khiêm tốn, trầm lặng và tận tụy lạ thường trong 
		việc giáo dục con cái.</font></span></p>
		<p class="Noidung" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		<span lang="EN-US"><font size="5">Hai ông bà đã sinh hạ được mười tám mặt con; Lui 
		Maria là trưởng. Trong số mười tám người con, chín người chết lúc còn 
		nhỏ, bốn người đi tu dòng nữ và ba người dâng mình làm linh mục, mà một 
		người là đại thánh của Giáo hội: thánh Lui Maria Ghinhong Mônpho. Thực 
		là một gia đình phúc hậu cả về lượng lẫn về phẩm.</font></span></p>
		<p class="Noidung" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		<span lang="EN-US"><font size="5">Vì gia cảnh túng thiếu lại là trưởng của gia đình, 
		Lui phải đến ở thuê cho bà Anrêa là chủ trại. Chính ở trại này mà tâm 
		hồn Lui đượm nét tươi sống: những cánh đồng lúa chín vàng, những buổi 
		hoàng hôn ở đây, tất cả đều hiến cho Lui một bài chiêm niệm đầy yêu 
		thương về Thiên Chúa.</font></span></p>
		<p class="Noidung" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		<span lang="EN-US"><font size="5">Hai năm sau, Lui lại cùng gia đình đi đến miền 
		Iffendic và năm 1679 Lui đựơc diễm phúc chịu lễ lần đầu. Còn gì hạnh 
		phúc hơn cho cậu, vì là ngày mở màn đời say mê mến Chúa và Thánh Mẫu. 
		Cha Picôt đã viết về lòng đạo đức của cậu như sau: “Lui lợi dụng mọi 
		thời giờ để cầu nguyện và làm những việc đạo đức hy sinh. Tâm hồn cậu 
		trinh bạch, mọi ước muốn chỉ qui hướng về Chúa. Vì thế tâm hồn cậu là 
		một trong những tâm hồn thấm nhuần hồng ân Thiên Chúa. Chỉ có Chúa mới 
		có thể dạy con trẻ đơn sơ ấy biết cầu nguyện…” Nhưng một điểm nổi nhất 
		trong tâm hồn thánh thiện của Lui là lòng sùng kính Trinh Nữ Maria.
		</font>
		</span></p>
		<p class="Noidung" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		<span lang="EN-US"><font size="5">Mùa thu năm 1685, Lui được gửi học tại trường thánh 
		Tôma là trường do các cha Dòng Tên sáng lập và điều khiển. Cậu học cần 
		mẫn và luôn đứng đầu lớp. Đi đôi với sức học là tính đơn sơ vui vẻ và dễ 
		thông cảm của cậu. Lòng sùng kính Đức Mẹ càng ngày càng phát triển rõ 
		rệt; Lui thích đọc sách nói về Đức Mẹ mà cậu gọi là “Bà chủ các tâm 
		hồn”. Với Đức Mẹ, cậu đã học ở Phúc âm tinh thần bác ái chân thực. Việc 
		đứng ra tổ chức lạc quyên giúp một bạn nghèo cùng lớp là một trong những 
		bằng chứng nói lên lửa bác ái hằng nung nấu tâm hồn cậu. </font> </span></p>
		<p class="Noidung" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		<span lang="EN-US"><font size="5">Cũng nhờ ánh sáng Phúc âm và ơn phù trợ của Đức Mẹ, 
		Lui đã tìm được ơn gọi làm linh mục cho Chúa, cho Mẹ và cho các linh 
		hồn. Năm 1692, Lui mãn khóa triết học trường thánh Tôma. Dù nhận biết rõ 
		ơn gọi, nhưng người thanh niên ấy không khỏi phân vân lo ngại vì kinh tế 
		gia đình eo hẹp. Lui yên lặng cầu nguyện mặc cho Chúa lo liệu… Chúa đã 
		dun rủi cho một thiếu phụ thuộc xứ Xuân bích, cô Montigi nhận chịu mọi 
		phí tổn cho Lui vào học tại đại chủng viện Xuân-bích. Sau một ngày đường 
		thấm mệt, Lui được cha Giám đốc đón nhận với điều kiện phải giúp việc 
		thêm trong nhà để thay học phí. Dù phải học nhiều, công việc lại có phần 
		vất vả, thầy Lui vẫn vui vẻ. Thầy sống hoàn toàn tin tưởng vào Chúa Quan 
		phòng và Đức Trinh Nữ “bản mệnh”. Vì sớm cảm nhận đời sống thánh thiện 
		và khả năng học vấn của thầy, mùa thu năm sau, bề trên đã gọi thầy chịu 
		bốn chức nhỏ. Sau đó bề trên lại đổi thầy đi Montaigu. Tại đây thầy bị 
		bêïnh sốt rét và phải đi tĩnh dưỡng lâu ngày tại “dưỡng đường Thiên 
		Chúa”. Thời gian chịu bệnh cũng là thời gian thầy Lui tỏ ra cho mọi 
		người, nhất là các vị bề trên, thấy rõ chí khí sắt đá và lòng mến yêu 
		đến cực độ của thầy đối với Thiên Chúa và Mẹ Maria. Vì thế sau ngày rời 
		khỏi bệnh viện, mùa xuân năm 1695, thầy được Đức Giám mục thành Nantes 
		chính thức nhận vào hội Xuân-bích. Hân hoan như nai khát gặp nước trong, 
		thầy Lui cố gắng sống những năm thần học thánh thiện. Và ngày 5-6-1700 
		là ngày hạnh phúc nhất đời thầy: thầy thụ phong linh mục và làm lễ mở 
		tay tại bàn thờ Đức Mẹ Đồng Trinh tại thánh đường Xuân-bích. Ghi lại 
		ngày chịu chức thánh và lễ đầu tay của cha Mônpho, cha Blain phải nghẹn 
		bút chỉ còn viết lại được ba lần câu: “Đó là một thiên thần trên bàn 
		thánh”.</font></span></p>
		<p class="Noidung" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		<span lang="EN-US"><font size="5">Nhưng giờ hạnh phúc nhất, giờ thụ phong linh mục và 
		làm lễ mở tay dưới cặp mắt Mẹ hiền, cũng là giờ mở màn 16 năm truyền 
		giáo của cha Mônpho. Biết Chúa Quan phòng không muốn cha đưa bước đến 
		những nơi truyền giáo xa xăm, mà ngay từ thiếu thời cha vẫn mong ước 
		được tới, như Ấn Độ, Nhật Bản và Mỹ Châu v.v... cha đành vâng lệnh bề 
		trên về coi giáo đường thánh Clêmentê tại Pictaria. Cha biến Pictaria 
		thành trung tâm truyền giáo, mở rộng vương quyền Chúa Giêsu trong các 
		tâm hồn nhờ Mẹ Maria.</font></span></p>
		<p class="Noidung" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		<span lang="EN-US"><font size="5">Cha làm việc không biết mệt. Suốt ngày hết giờ này 
		đến giờ khác cha liên tiếp dạy đạo lý, tập hát và điều động các hội 
		đoàn. Để việc truyền giáo được phát triển sâu rộng và có nhiều kết quả, 
		cha đã lập nhiều hội đoàn, huấn luyện nhiều cán bộ xuất sắc đủ năng lực 
		làm việc tông đồ giáo dân. Đoàn thể nổi tiếng hơn cả là hội các Trinh 
		nữ. Hội dành riêng cho các thanh thiếu nữ mà điều kiện gia nhập là phải 
		khấn giữ mình trinh khiết trong thời gian ít nhất là một hay hai ba năm. 
		Hội đã cung cấp nhiều hội viên cho các dòng, nhất là dòng “Con cái Đấng 
		khôn ngoan”. Từ hội Trinh nữ lại nẩy ra chi nhánh khác gồm những phần tử 
		trung kiên mang danh là “Hội đền tạ”. Hơn thế, cha còn cộng tác với cha 
		Poullat des Places lập hội “Anh em Chúa Thánh Thần” với mục đích huấn 
		luyện các chủng sinh thành những linh mục làm chiến sĩ của Đức Mẹ sau 
		này. Với bầu nhiệt tông đồ và lòng yêu mến Đức Mẹ, chính cha còn sáng 
		lập dòng “Thừa sai Đức Mẹ”.</font></span></p>
		<p class="Noidung" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		<span lang="EN-US"><font size="5">Quả thế, ngay năm đầu tiên đời truyền giáo, cha 
		Mônpho đã ôm ấp nguyện vọng lập dòng “Linh mục thừa sai của Mẹ”. Nguyện 
		vọng ấy cha đã bày tỏ với cha linh hướng của cha như sau: “… Lạy cha, 
		con tha thiết xin Chúa và Đức Mẹ cho con đủ sức lập hội dòng linh mục 
		khó khăn và thánh thiện, luôn hăng hái chiến đấu dưới bóng cờ Trinh Nữ 
		Maria…” Sau bao năm vất vả và cầu nguyện, ý nguyện của cha đã được Thiên 
		Chúa và Mẹ chuẩn nhận: ngày 28-04-1716 dòng ra đời với bảy thầy và hai 
		linh mục. Tinh thần và hoạt động căn bản của dòng là cổ động phong trào 
		“nô lệ Mẹ” với khẩu hiệu “Nhờ Mẹ đến với Chúa” và “Nước Mẹ trị đến để 
		nước Chúa vinh quang”. </font> </span></p>
		<p class="Noidung" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		<span lang="EN-US"><font size="5">Thêm vào ước vọng lập dòng “Linh mục thừa sai của 
		Mẹ”, cha Mônpho còn kiên chí xin Chúa và Đức Mẹ giúp đỡ để lập một dòng 
		nữ nữa là “Dòng con cái Đấng khôn ngoan”. Thực ra cha Mônpho đã gieo 
		giống ngay từ khi bước chân về Pictaria; và cha phải đợi cho đến ngày 
		02-02-1703 mới tìm được một “cột trụ” đầu tiên cho dòng mới, đó là cô 
		Lui Trichet. Cô đã được cha trao áo dòng và đặt tên là Maria Luisa 
		Giêsu. Bông hoa thứ hai của dòng là cô Catarina Brunet, một thiếu nữ đạo 
		đức trong hội Trinh nữ mà cha đã lập tại bệnh viện Pictaria. Hợp ý với 
		vị sáng lập, hai chị dòng mới này vững tâm cầu nguyện xin Chúa tăng đông 
		số con cái của Chúa, nếu Chúa muốn. Sau 13 năm mong chờ, ngày 20-8-1715 
		nhờ sự huấn luyện chu đáo của chị Maria Luisa Giêsu, cha Mônpho đã sung 
		sướng nhận lời hứa và trao áo dòng cho một số đông các chị em. Thế là 
		Chúa đã nhận lời cầu xin của cha Mônpho và các con cái ngài. Chị em dòng 
		“Con cái Đấng khôn ngoan” đã chính thức ra mắt sau một tuần tĩnh tâm 
		lĩnh ơn Chúa Thánh Linh và sức hộ vực của Đức Trinh Nữ Maria. Tinh thần 
		của dòng thu gọn trong câu “Tất cả nhờ Mẹ đến với Chúa”. Với tinh thần 
		ấy các chị lĩnh sứ mạng giáo dục thiếu nhi, thăm nom người nghèo khổ, 
		coi sóc các bệnh nhân, và nhất là tôn sùng Thánh Thể và Đức Mẹ Vô Nhiễm.
		</font>
		</span></p>
		<p class="Noidung" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		<span lang="EN-US"><font size="5">Những hoạt động truyền giáo ấy, những hy vọng lập 
		dòng kia phải chăng là hiệu quả của ngọn lửa say mến Mẹ Đồng Trinh mà 
		cha Mônpho đã từng ôm ấp? Phải, đúng như lời cha thường nói: “Tất cả nhờ 
		Mẹ, nhờ Mẹ để làm chiến sĩ của Chúa Kitô”. Hiểu rõ như thế, cha đã tìm 
		mọi cách huấn luyện cho đoàn con nam nữ mặc lấy tinh thần của Mẹ; cha đã 
		rao giảng rất nhiều về kinh Mân Côi. Người ta đã có lý khi tán dương cha 
		là Đaminh thứ hai của tràng Mân Côi. Hơn thế cha đã phát động nhiều 
		phong trào: Tôn Vương, Tận hiến và Nô lệ tình yêu. Lòng yêu mến Mẹ đã ăn 
		sâu vào tâm hồn cha ngay từ khi cha còn là một chủng sinh, tình yêu đó 
		hằng nung nấu tâm can cha khiến nhiều lần cha phải thốt ra: “Ôi! Bao 
		giờ, hạnh phúc ấy mới đến, giờ Mẹ Thiên Chúa được làm chủ, làm Nữ Vương 
		mọi tâm hồn, mọi con tim”. Ý nghĩa việc tôn vương cũng như đường lối tận 
		hiến và học thuyết nô lệ tình yêu Mẹ ấy, cha đã khéo ghi lại trong cuốn 
		sách: Thành thực sùng kính Mẹ, và Bí mật Mẹ Maria. Hai cuốn sách này đã 
		mang tinh thần yêu Mẹ của cha Mônpho đến cho mọi dân tộc, mọi tâm hồn. 
		Những học thuyết Thánh mẫu ấy ra đời thật như những thanh củi khô làm 
		cháy mạnh ngọn lửa yêu của Mẹ trong tâm hồn các tín hữu. </font> </span></p>
		<p class="Noidung" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		<span lang="EN-US"><font size="5">Càng yêu Chúa và mến Mẹ, cha Mônpho càng dễ thông cảm 
		với lớp người xấu số. Cha hằng lưu tâm giúp đỡ họ cả về tinh thần lẫn 
		vật chất. Còn gì tỏ tình yêu hơn cho bằng việc cha quì xuống hôn các vết 
		thương của họ rồi lau nhẹ nhàng. Cha yên ủi họ bằng lời nói, bằng chính 
		đời sống, nhất là bằng cách mang Chúa và Mẹ đến cho họ. Nối tiếp bước 
		đường của cha là đoàn con đông đảo của hai dòng tu và các hội đoàn cha 
		đã sáng lập với chủ đích thăm nom và yên ủi lớp người xấu số đó. </font> </span>
		</p>
		<p class="Noidung" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		<span lang="EN-US"><font size="5">Con tim dễ thông cảm và tế nhị của cha như đã đòi 
		được Chúa ban phép lạ cứu chữa nhiều người bệnh tật. Phải chăng đó cũng 
		là những hồng ân Chúa muốn tán thưởng cha ngay khi còn ở trần thế. Mùa 
		thu năm 1713 tại Rochelle cha đã đặt tay lên trán một hài nhi gần chết, 
		làm dấu Thánh giá và cứu em khỏi bệnh. Cũng tại đây, năm 1708, cha đã 
		chữa thầy giáo Phêrô khỏi cơn trọng bệnh. Nhưng yên ủi cho cha hơn cả là 
		những lần được hạnh phúc đàm đạo với Đức Trinh Nữ Maria. Vì lòng khiêm 
		nhường, cha Mônpho muốn giữ kín, nhưng Chúa lại muốn tỏ cho mọi người 
		biết. Năm 1708, một thiếu phụ thành Năng (Nantes) đã trông thấy cha 
		Mônpho đang đi dạo và nói truyện với một Bà trắng và sáng chói. Rồi từ 
		ngày 05-04-1716, một thanh niên đạo đức lại được diễm phúc thấy cha quỳ 
		đàm đạo với một Trinh Nữ; chàng thanh niên đã hỏi cha và cha đáp: “Cha 
		nói truyện với Trinh Nữ Maria, Mẹ hiền của cha”.</font></span></p>
		<p class="Noidung" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		<span lang="EN-US"><font size="5">Đọc biết những thành công truyền giáo và những hồng 
		ân đặc biệt Chúa đã ban cho cha Mônpho, chúng ta đừng vội tưởng đời cha 
		hoàn toàn sung sướng, luôn đi trên hoa và nhung lụa đâu. Chúa cũng không 
		muốn đặt cha ra ngoài công luật “lửa thử vàng gian nan thử đức”. Quả 
		thế, đời truyền giáo của cha là đời tận hiến, nghĩa là đời tử nạn. Cha 
		thiếu thốn đủ thứ, mọi phương tiện. Nếu có những người nghe theo và ủng 
		hộ cha thì cũng không thiếu những người phản đối cha. Họ đả đảo cha và 
		cho cha là điên dai, là “lạc đạo”. Chính vì nhiều lần bị tấn công phũ 
		phàng trong năm 1709 mà cha đã phải sang tận Rôma trình bày tự sự với 
		Đấng đại diện Thiên Chúa. Đức Giáo Hoàng Clêmentê XI đã âu yếm yên ủi và 
		khuyến khích cha. Trước khi từ biệt người con, Đức Thánh Cha còn tặng 
		cha danh hiệu “Giáo sĩ thừa sai”. Địch thủ mạnh nhất chống đối cha là 
		phái Giăngsêniô, cha đã dùng tài lợi khẩu, nhất là đời sống ăn chay cầu 
		nguyện để chiến đấu với họ hầu bảo vệ chân lý đức tin. Sau cùng người 
		chiến sĩ của Mẹ đã lĩnh phần thắng với danh hiệu “búa sắt đập tan phái 
		Giăngsêniô”.</font></span></p>
		<p class="Noidung" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		<span lang="EN-US"><font size="5">Nhìn thấy trước những đau khổ ấy, cha Mônpho đã sớm 
		nhận lấy thánh giá làm khí giới chiến đấu độc nhất. Với thánh giá và vì 
		thánh giá, cha đã tha thứ cho những tên lính mưu toan sát hại cha tại 
		Rochelle, những người thuộc phái Canvanh muốn đầu độc cha và cả một “bà 
		lớn” đã dám vác gậy đánh cha vì đã nói phạm đến tính nết cô con gái của 
		bà… Cha đã lập nhiều hội, với mục đích phổ biến tinh thần “khổ giá” 
		trong đời sống tông đồ, thực không quá đáng lời người ta mến tặng cha 
		“con người của thánh giá”.</font></span></p>
		<p class="Noidung" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		<span lang="EN-US"><font size="5">Vào năm 1716, cha đến giảng tuần đại phúc tại Năng 
		(Nantes) nhưng mới sau bài giảng khai mạc cha ngã bệnh. Dù bệnh liệt 
		giường cha vẫn không ngừng làm việc, nhất là cầu nguyện và đọc Kinh 
		thánh. Cha chịu bệnh vừa được một tuần thì ngày 28-04-1716, Chúa đã cất 
		cha về giữa lời kinh của đoàn con đông đúc. Lễ an táng cha cử hành rất 
		trọng thể. Xác cha được đặt dưới bàn thờ Đức Mẹ, các giáo hữu thi nhau 
		đến cầu nguyện. Họ coi cha như một vị thánh. Nơi đây Chúa đã làm nhiều 
		phép lạ vì lời bầu cử của cha thánh. Bên cạnh mồ của cha, người ta dựng 
		một bia đá khắc bài tán dương sự nghiệp của cha, tóm tắt như sau: “Đối 
		với cha, chết là bắt đầu sống”. Quả thế, hợp theo lòng sùng kính chân 
		thành của giáo dân, mỗi ngày một lên cao, ngày 07-09-1838, Đức Thánh Cha 
		Grêgôriô XVI đã tôn cha lên bậc Đáng kính. Tiếp đó, ngày 29-01-1888, Đức 
		Giáo Hoàng Lêô XIII lại nâng cha lên bặc Chân phúc. Và sau cùng, ngày 
		20-07-1947, ngày vinh hiển nhất của cha Mônpho, Đức Piô XII tôn cha lên 
		bậc Hiển thánh.</font></span></p>
		<p class="Noidung" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		<span lang="EN-US"><font size="5">Cha Mônpho quả là một trong những tảng đá kiên cố 
		nhất của nền lâu đài học thuyết Thánh Mẫu, thế kỷ XX. Ước gì chúng ta 
		hãy theo gương thánh nhân mà nuôi lòng sùng kính nhiệt thành đối với Đức 
		Mẹ để rồi nhờ Mẹ chúng ta đến với Chúa.</font></span></p>
		<p class="Thanhriengngay" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0" align="center">
		<font size="5">-o0o-</font></p>
		<p class="Thanhriengngay" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b>
		<span lang="EN-US"><font size="5">THÁNH PHÊRÔ CHANEL LINH MỤC</font></span></b></p>
		<p class="NamSinh-Chet" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		<span lang="EN-US"><font size="5">(1803-1841)</font></span></p>
		<p class="Noidungdau" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		<span lang="EN-US"><font size="5">Phêrô Chanel sinh ngày 12-7-1803 tại Cuet. Hồi nhỏ, 
		Phêrô Chanel chăn chiên quanh vùng Belley. Một linh mục chú ý tới ngài, 
		lo dậy dỗ và đưa ngài vào chủng viện Brou. Ngày 15-7-1827 ngài được thụ 
		phong linh mục. Trước hết ngài được bổ nhiệm làm phó xứ Ambère, sau đó 
		làm cha sở Crozet. Năm 1831, ngài nhập hội dòng Maria và đi truyền giáo 
		ở Châu úc.</font></span></p>
		<p class="Noidung" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		<span lang="EN-US"><font size="5">Thánh nhân tới đảo Futuna với cha Maria Nizier, tại 
		hòn đảo hoang vẫn còn tập tục ăn thịt người này, ngài đã dốc toàn lực mở 
		mang nước Chúa. Một tu sĩ phụ tá luôn sát cánh với nhà truyền giáo đã kể 
		lại như sau:</font></span></p>
		<p class="Noidung" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		<span lang="EN-US"><font size="5">“Làm việc dưới sức nóng nung của ánh sáng mặt trời, 
		ngài trở về nhà ướt đẫm mồ hôi, đói khát, nhọc mệt, nhưng vẫn vui tươi 
		nhanh nhẹn, tâm hồn sảng khoái như vừa trở về từ một nơi hạnh phúc. Đây 
		không phải chỉ có một lần mà dường như ngày nào cũng vậy”.</font></span></p>
		<p class="Noidung" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		<span lang="EN-US"><font size="5">“Ngài không từ chối người dân Futuna điều gì cả. Đối 
		với những ai bắt bớ ngài, ngài luôn luôn tha thứ và không khước từ họ, 
		dù cho họ có dốt nát hủ lậu đi nữa. Ngài luôn hiền dịu đối với mọi 
		người”.</font></span></p>
		<p class="Noidung" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		<span lang="EN-US"><font size="5">Thật không lạ lùng gì khi dân chúng gọi ngài là 
		“người phúc hậu”. Chính ngài đã thường nói với các bạn: </font> </span></p>
		<p class="Noidung" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		<span lang="EN-US"><font size="5">- “Trong cuộc truyền giáo khó khăn thế này, chúng ta 
		phải thánh thiện mới được”.</font></span></p>
		<p class="Noidung" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		<span lang="EN-US"><font size="5">Rao giảng Chúa Kitô và Phúc âm, ngài đã chỉ nhận được 
		những kết quả nhỏ nhoi. Dầu vậy, ngài cũng xác quyết rằng việc truyền 
		giáo là việc của loài người và đồng thời cũng là của Thiên Chúa nữa. 
		Gương và lời Chúa đã nói: “Người lo gieo và kẻ khác sẽ gặt”, nên thánh 
		nhân luôn nỗ lực rao giảng giáo lý Kitô giáo và chống lại việc sùng bái 
		của các thần dữ. Nhiệt tình của ngài đã gây nên nhiều ghen ghét đe dọa 
		tới chính mạng sống ngài. Hôm trước ngày qua đời thánh nhân còn nói:
		</font>
		</span></p>
		<p class="Noidung" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		<span lang="EN-US"><font size="5">“Kitô giáo được gieo trồng trên đảo sẽ không bị tiêu 
		diệt với cái chết của tôi, vì đây không phải là việc của loài người mà 
		là của Thiên Chúa.</font></span></p>
		<p class="Noidung" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		<span lang="EN-US"><font size="5">Ngày 28-4-1841, thánh Phêrô Chanel bị sát hại. Nhưng 
		ít lâu sau toàn thể dân đảo Futuna đã trở lại đạo công giáo, đức tin từ 
		Futuna lấn sang các đảo lân cận ở Châu Úc và thánh Phêrô Chanel được tôn 
		kính như một vị tử đạo tiên khởi.</font></span></td>
	</tr>
	<tr>
		<td>
		<p align="center">
<a target="_top" href="http://tinmung.net">
<font size="5">
<img border="0" src="../../../logo/LOGOtinmung.gif" width="67" height="40"></font></a></td>
	</tr>
</table>

</body>

</html>

PHP File Manager