File "Ngay24.htm"

Full path: E:/sites/Single15/tinmung2007/webroot/CAC-THANH/HanhCacThanh/Thang04/Ngay24.htm
File size: 21.08 KiB (21582 bytes)
MIME-type:
Charset: utf-8

Download   Open   Back

<head>
<meta http-equiv="Content-Language" content="en-us" />
<meta http-equiv="Content-Type" content="text/html; charset=utf-8" />
<title>Hạnh Các Thánh - THÁNH FIĐÊLÊ SIGMARINGA,TỬ ĐẠO</title>
<base target="main">
<style type="text/css">
.style1 {
	border-width: 0px;
}
</style>
<style fprolloverstyle>A:hover {color: #FF0000; font-family: Arial; font-size: 10pt}
h2
	{margin-top:12.0pt;
	margin-right:0cm;
	margin-bottom:3.0pt;
	margin-left:0cm;
	line-height:115%;
	page-break-after:avoid;
	font-size:14.0pt;
	font-family:"Cambria","serif";
	font-weight:bold;
	font-style:italic}
</style>
<meta name="keywords" content="Thánh Phaolô Tông Đồ Trở Lại - Thanh Phaolo Tong Do Tro Lai">
</head>

<body style="color: #000000; background-color: #EEEEEE; font-family:Arial; font-size:10pt; text-decoration:none" background="../../../TRANG%20CUA%20ME%20MARIA/Pictures/Background/bgr.gif">

<table border="0" width="100%" id="table1" cellspacing="15" bgcolor="#FFFFF0">
	<tr>
		<td>
		<p align="right" style="margin-top: 0; margin-bottom: 0"><b>
		<font face="Verdana" size="5" color="#006666">Hạnh Các Thánh - Hương 
		Việt</font></b></p>
		<hr color="#FF4D20" width="80%" align="right">
		<p class="Ngaythang" style="margin-top: 3px; margin-bottom: 0" align="right">
		<span lang="EN-US"><font size="5">Ngày 24 tháng 04</font></span></p>
		<p class="ViThanhKinh" style="margin-top: 3px; margin-bottom: 0" align="right">
		<font color="#0000FF"><span style="font-size: 18pt; font-weight: 700">
		THÁNH FIĐÊLÊ SIGMARINGA,TỬ ĐẠO</span></font></p>
		<p class="ViThanhKinh" style="margin-top: 3px; margin-bottom: 0" align="right">
		<span lang="EN-US"><font size="5">(1577-1622) </font> </span></td>
	</tr>
	<tr>
		<td align="justify">
		<p class="Noidungdau" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		<span lang="EN-US"><font size="5">Thánh Fiđêlê Sigmaringa tên thật là Marc Rey con một 
		gia đình rất đạo đức; ngài sinh năm 1577 tại tỉnh Sigmaringa, một thành 
		phố chính của miền Hohenzollern. Sau khi qua ban trung học, Máccô được 
		gửi tới Frigbourg học triết và lấy chứng chỉ đại học. Vì có đức khôn 
		ngoan và nếp sống mẫu mực, nên mọi người đã tặng cho Máccô biệt hiệu là 
		“triết gia Công giáo”. Tuy mải mê với công việc đèn sách, nhưng Máccô 
		vẫn không quên giữ nếp sống nhiệm nhặt, khắc khổ. Chính nhờ đấy Máccô 
		mới có thể thắng vượt dễ dàng được những tình dục hỗn loạn sớm nẩy nở 
		trong tâm hồn một người thanh niên mới lớn lên.</font></span></p>
		<p class="Noidung" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		<span lang="EN-US"><font size="5">Được chỉ định làm hộ úy cho ba hoàng tử muốn du lịch 
		Âu châu, Máccô vui lòng nhận chức vụ mới với điều kiện là họ phải để cho 
		mình thời giờ làm các việc đạo đức và coi mình như một người cha, một 
		người bạn hơn là một nhà dìu dắt. Cuộc du hành đó kéo dài trong sáu năm 
		và cả ba hoàng tử đều làm chứng rằng Máccô luôn luôn trung thành với 
		những quyết định: treo gương sáng cho mọi người, chăm lo săn sóc các 
		bệnh nhân tại các nhà thương, năng lui tới các nhà thờ, và hằng làm phúc 
		cho các người nghèo khó ngay đến cả tấm áo mặc hằng ngày của mình.</font></span></p>
		<p class="Noidung" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		<span lang="EN-US"><font size="5">Sau cuộc du hành, Máccô đến Dilligen chuyên học luật 
		để làm nghề trạng sư. Nhưng chẳng được bao lâu, vì sợ khó giữ đức công 
		bằng, Máccô bỏ không theo học luật nữa, đồng thời được ơn Chúa thúc đẩy, 
		ngài quyết bỏ trần tục và chọn dòng thánh Phanxicô, một lý tưởng tu trì 
		mà ngài cho là có thể dung hoà được cả đời sống hoạt động và chiêm niệm. 
		Nhưng trước khi nhập dòng, ngài khao khát được chịu chức thánh để có thể 
		dâng thánh lễ mỗi ngày. Cha bề trên dòng cũng để cho ngài được hoàn toàn 
		tự do theo ý riêng và chọn ngày nhập dòng. Thụ phong linh mục rồi, ngày 
		4-10-1612, ngài tới làm lễ tại tu viện các cha dòng Phanxicô và được cha 
		bề trên nhà tập đặt cho gọi tên là Fiđêlê. Trong những ngày đầu năm nhà 
		tập, không gì có thể kìm hãm nổi lòng sốt sắng của ngài. Được hãm mình 
		chay tịnh và ăn ở nhiệm nhặt, ngài lấy làm vui sướng nhất. Luật nhà có 
		nặng nhọc và bó buộc đến đâu ngài cũng chỉ thấy khoan khoái dễ chịu. 
		Nhưng rồi ngài cũng phải qua những cám dỗ gay go làm cho ngài nghi ngờ 
		rằng mình sống làm linh mục giáo phận có lẽ sẽ giúp ích cho đời nhiều 
		hơn. Có những lúc tâm thần ngài hầu như bị lung lạc muốn ngả theo. Ngài 
		sốt sắng cầu nguyện nhiều hơn rồi đi gặp cha bề trên nhà tập để giãi bày 
		tâm sự; tức thì ngài lại được bình an và đủ nghị lực chống trả chước cám 
		dỗ. Để cắt đứt hoàn toàn mối tơ duyên với trần tục, ngài xin phép cha bề 
		trên cho gọi một người chưởng khế đến làm giấy cúng tất cả gia tài của 
		mình vào quỹ trợ cấp các giáo sĩ. Từ đó không còn vương vấn với tiền tài 
		nữa, ngài sẵn sàng sống kiếp nghèo hạnh phúc theo gương các con cái của 
		thánh Phanxicô.</font></span></p>
		<p class="Noidung" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		<span lang="EN-US"><font size="5">Đồng thời với nếp sống nghèo, ngài còn hãm mình ép 
		xác mãnh liệt vì cho rằng đó là phương thế cần thiết để bảo toàn đức 
		thanh bần. Vì lòng khiêm tốn sâu xa, ngài thường kể mình như người rốt 
		bét nhất trong anh em; ngài coi những công việc hèn hạ nhất làm điều 
		vinh dự. Lòng tôn sùng Đức Trinh Nữ Maria đối với ngài là phương thế đặc 
		biệt để tiến tới trên đường nhân đức và là bài thuốc thần hiệu để chữa 
		tính ươn hèn và nguội lạnh. Nhưng Chúa quan phòng còn muốn giao phó cho 
		ngài những công việc lớn lao khác. Khi đã theo xong ban thần học, ngài 
		được bổ nhiệm trông coi tu viện Weltkirchen. Được giảng dạy cho công 
		chúng, dù có phải mệt nhọc đến đâu ngài cũng không hề quản ngại. Được 
		chết vì bác ái mưu phần rỗi cho anh em, ngài cảm thấy rằng đó là vinh 
		quang tuyệt diệu. Vì thế người ta thường thấy ngài chạy rảo khắp các 
		châu thành và làng mạc để rao giảng sự ăn năn đền tội. Ngài chỉ lên toà 
		giảng sau khi đã nguyện ngắm một nửa giờ trước Mình Thánh Chúa. Ngài 
		thẳng thắn nguyền rủa những thói xấu của mọi người, không phân giai cấp, 
		những kiểu cách lãng mạn của các bà các cô… Chẳng bao lâu thành phố 
		Weltkirchen đã cải thiện, và thay hẳn cục diện làm cho người ta có cảm 
		tưởng rằng đó là thời đại của các tông đồ. Để phòng ngừa dân chúng có 
		thể quay trở lại làm điều bất lương, ngài xin nghị viện cho công bố 
		những điều luật mà chính ngài đã soạn thảo. Các sách báo rối đạo và có 
		hại cho thuần phong mỹ tục cũng được ngài đề nghị cấm xuất bản và lưu 
		hành. Chính ngài còn thân đến các thư viện, và hễ thấy ở đâu có những 
		sách lố lăng ngài liền quăng ngay vào lửa. Trước sự phản đối và ngoan cố 
		của nhiều người, ngài luôn giữ được sự bình tĩnh để hành động sáng suốt. 
		Một ngày kia, khi ngài đang giảng, có một phụ nữ theo bè rối dám ngắt 
		lời và công khai diễu cợt bài giảng của ngài. Giảng xong nhà truyền giáo 
		tìm đến tận nhà bà ở, cố gắng lấy lời nói hiền từ và lẽ phải để chinh 
		phục bà; nhưng bà một mực cố chấp trong điều lầm lạc của mình, cha buộc 
		lòng phải đề nghị trục xuất bà ra khỏi thành. Thực ra ngài hành động như 
		vậy không phải vì nóng giận hay vì ác cảm, vì trong khi sửa phạt cha vẫn 
		nhỏ lệ, đêm ngày cầu xin Chúa soi trí mở lòng bà. Cuối cùng cha đã được 
		may mắn nghe tin bà trở lại.</font></span></p>
		<p class="Noidung" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		<span lang="EN-US"><font size="5">Càng săn sóc linh hồn kẻ khác, ngài càng lo lắng hơn 
		cho phần riêng của mình. Vì thế cha đã muốn trở về tĩnh tâm ở trong 
		dòng, để làm được nhiều việc đạo đức. Ngài đến ở giữa các tu sĩ, lấy đức 
		khiêm nhường, lòng nhân hậu, tính thích trầm lặng và đời sống nhiệm nhặt 
		để thúc giục mọi người nên thánh.</font></span></p>
		<p class="Noidung" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		<span lang="EN-US"><font size="5">Bấy giờ quân đội hoàng gia Áo đóng tại Weltkirchen bị 
		tiêu hao rất nhiều vì một bệnh truyền nhiễm. Bệnh dịch đó còn lan tới cả 
		các gia đình ở thành phố giết hại nhiều người. Cha Fiđêlê lại phải bỏ 
		đời tĩnh tâm để tới nơi có các người đau yếu, các bệnh viện, và đến cả 
		các nhà đề lao, để yên ủi săn sóc và chạy chữa cho các bệnh nhân cả phần 
		xác và phần hồn. Trong dịp này Chúa đã cho cha làm nhiều phép lạ. Một 
		ngày kia, cha an ủi một bà lão mà bệnh tình của bà có lẽ cầm chắc cái 
		chết. Cha nói: “Bà sẽ khỏi lại”. Sau đó ngài bắt đầu cầu nguyện xin cho 
		bà khỏi bêïnh, tức thì lời tiên báo của cha ứng nghiệm: bà khỏi bệnh 
		trước sự ngạc nhiên của các y sĩ.</font></span></p>
		<p class="Noidung" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		<span lang="EN-US"><font size="5">Trong khi đó bè rối vẫn tiếp tục hoành hành, gieo rắc 
		nhiều điều lầm lạc tại nhiều nơi trong nước Thụy Sĩ, nhất là tại miền 
		Grisons (Grisons). Để chặn đứng đà tiến của họ, Bộ truyền giáo đã xin 
		các cha dòng Phanxicô cử những nhà truyền giáo nhiệt thành tới hoạt động 
		tại các miền đó. Cha Fiđêlê được chọn để đứng đầu phái đoàn. Ngài sung 
		sướng lãnh nhận chức vị đó với một niềm hân hoan và khao khát được triều 
		thiên tử đạo. Có lẽ Thiên Chúa cũng đã tỏ cho ngài biết số phận vinh 
		quang đang chờ đón ngài, vì người ta thấy rằng trong khi từ giã dân 
		chúng miền Weltkirchen, nhà truyền giáo như cảm thấy đó là giờ phút vĩnh 
		biệt mọi người.</font></span></p>
		<p class="Noidung" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		<span lang="EN-US"><font size="5">Kết quả đầu tiên trong công cuộc truyền giáo của cha 
		là một nhân viên quan trọng của thệ phản trở lại. Ông tên là Adolphe de 
		Salès. Sau khi nghe cha Fiđêlê giảng xong, ông đến tìm cha và chất vấn 
		cha cách cặn kẽ. Cuối cùng ông phục lẽ cha và xin theo đạo. Nhiều người 
		khác cũng theo gương ông. Đầu năm 1622, khi thoạt bước chân vào lãnh thổ 
		của những người Grisons, cha Fiđêlê lên toà giảng nhằm ngày lễ Hiển 
		Linh. Lần đó cha đã làm cho cử tọa say mê vì giọng nói khoan thai, đanh 
		thép và trang trọng của cha khi giảng; hơn nữa người ta còn nhận thấy vẻ 
		thánh thiện chiếu giãi sáng ngời trên mặt cha. Những người thệ phản báo 
		động cho nhau và quyết tâm làm hại ngài. Họ đồng mưu gây cuộc nổi loạn 
		để rũ ách thống trị của người Áo, và nhân cơ hội đó, sẽ ám sát cha. Vị 
		thừa sai được Chúa soi sáng cho biết kế hoạch của họ. Ngài chỉ cầu 
		nguyện xin Chúa thương đến số phận đám dân lành. Những người Grisons nổi 
		loạn thực. Họ đánh tỉa các đội quân của hoàng gia Áo, tấn công các đồn 
		phòng thủ, xâm chiếm và làm uế tạp các giáo đường; sự kiện này gây nhiều 
		hoang mang lo lắng cho người công giáo. Cha Fiđêlê chỉ còn lo lắng một 
		điều là sẵn sàng dọn mình chết. Trong mấy ngày liền cha thức thâu đêm 
		quỳ trước Thánh Thể hoặc trước ảnh Chuộc Tội để cầu nguyện xin Chúa và 
		Đức Mẹ che chở.</font></span></p>
		<p class="Noidung" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		<span lang="EN-US"><font size="5">Ngày 24-4-1622 ngài tới Grisch, một ấp lớn của những 
		người Grisons. Nơi đây họ đã đào hào đắp luỹ và võ trang cẩn thận để 
		chiến đấu với quân lực của đế quốc Áo. Sau khi xưng tội và hành lễ rồi, 
		cha lại lên toà, giảng một bài rất hùng hồn. Các giáo hữu phải thú nhận 
		chưa bao giờ được nghe cha giảng sốt sắng và hoạt bát như vậy. Giảng 
		xong, cha được ơn xuất thần và Thiên Chúa đã tỏ cho cha biết đời ngài sẽ 
		kết liễu ngày hôm đó. Ơn Chúa soi sáng càng làm cho cha thêm nhiệt tâm 
		hăng hái hơn. Vừa từ toà giảng xuống, cha nói với người bạn đồng hành 
		rằng: “Cha ở lại đây để giải tội cho người ta, còn tôi sẽ đi Sêvi, vì 
		nơi đó, như cha đã biết, các giáo hữu đang đợi tôi; tôi không biết sẽ ra 
		sao, nhưng xin vĩnh biệt cha trước và xin cha cầu cho tôi”. Nói đoạn 
		ngài lên đường. </font> </span></p>
		<p class="Noidung" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		<span lang="EN-US"><font size="5">Tới Sêvi, cha kéo chuông tập họp mọi người đến nhà 
		thờ, rồi lên toà giảng khuyến khích mọi người hãy trung thành với lời đã 
		hứa và nhớ cầu nguyện cho ngài. Cha vừa giảng xong, người ta nghe thấy 
		có tiếng hô lớn: “Chuẩn bị gươm súng!” Quân đội Áo đang công hãm những 
		người Grisons trong đồn của họ. Người Grisons tin chắc rằng cha Fiđêlê 
		đã gọi những toán quân Áo kia đến, nên họ nắm lấy dịp đó để hại ngài. 
		Một người trong bọn họ nhằm bắn cha trong khi ngài còn đang ở trong nhà 
		thờ, nhưng may viên đạn đó lại không trúng đích. Riêng phần cha Fiđêlê, 
		ngài hiểu rằng giờ chết của mình đã đến. Ngài muốn đi ra khỏi đó ngay, 
		nhưng một giáo hữu giữ cha lại và nói: “Xin cha hãy khoan, đợi cho cơn 
		giận của họ nguôi đi đã”. Cha chỉ mỉm cười đáp lại: “Cám ơn ông có lòng 
		tốt, nhưng thôi, ông đừng quá bận tâm đến số phận của tôi, tôi không sợ 
		chết, vì từ lâu tôi hằng khao khát được dâng lễ hy sinh là mạng sống của 
		tôi cho Thiên Chúa. Thôi, ta cứ đi, đã có Chúa và Đức Mẹ che chở, gìn 
		giữ”.</font></span></p>
		<p class="Noidung" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		<span lang="EN-US"><font size="5">Ngài đi ra trước những cặp mắt căm hờn của bọn lính, 
		nhưng không một ai dám nguyền rủa hoặc phỉ báng cha. Hình như Chúa cũng 
		mở lòng cho họ biết kính sợ cha trong lúc này. Tới khi cha vừa rẽ sang 
		đường đi Grisons, 20 tên lính theo phe rối, dưới quyền chỉ huy của một 
		mục sư ồ ạt xông đến. Một tên kêu lên: “Đồ khốn kiếp, chính mi là hạng 
		cuồng tín mà lại muốn làm nhà tiên tri. Mi phải tuyên bố rằng mi đã nói 
		dối, lừa đảo người ta, hoặc mi sẽ chết vì tay ta thì nói”. Cha đáp lại 
		một cách từ tốn nhưng không kém phần rắn rỏi: “Ta chỉ dạy cho các anh 
		chân lý đời đời, đó chính là đức tin của cha ông các anh; ta sẵn sàng 
		hiến mạng sống ta, để các anh được nhận biết đức tin”. - Một người lính 
		khác cướp lời: “Chúng ta không cần nghe lý luận nhiều, ngươi có muốn 
		theo đạo chúng ta hay không thì nói?” - “Ta được sai đến để soi sáng cho 
		các anh, chứ không phải để thông phần sự lầm lạc của các anh” - Người 
		lính thứ ba nói thêm: “Ngươi phải đầu hàng làm tù binh chúng ta, bằng 
		không sẽ phải chết”. - “Ta không sợ chết, ta sẽ bênh vực chân lý mà các 
		vị tử đạo xưa đã bênh vực; ta quyết chết vì chính nghĩa như các ngài, để 
		đáng chung số phận vinh quang như các ngài”.</font></span></p>
		<p class="Noidung" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		<span lang="EN-US"><font size="5">Một tên lính quá hăng tiết đã lấy thanh kiếm giáng 
		trên đầu ngài. Cha bị choáng váng ngã lăn trên đất; nhưng với một cử 
		điệu anh hùng quả cảm, cha gắng chỗi dậy, giang tay quỳ gối cầu nguyện: 
		“Lạy Chúa nhân lành, xin tha thứ cho thù địch con đã mù quáng vì dục 
		vọng, họ không biết việc họ làm. Lạy Chúa Giêsu, xin thương xót con; lạy 
		Mẹ Maria, Mẹ Chúa, xin hộ vực con”.</font></span></p>
		<p class="Noidung" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		<span lang="EN-US"><font size="5">Đó là những lời cuối cùng của nhà truyền giáo. Một 
		đòn kiếm khác lại giáng vào đầu ngài, đồng thời một cây chùy nặng đánh 
		bể đầu nhà truyền giáo. Ngài nằm lăn trên đất, quằn quại trong vũng máu. 
		Vì sợ ngài chưa chết hẳn, những tên sát nhân còn đâm thêm nhiều nhát 
		khác và cắt đứt cẳng chân trái của cha. Cha tắt thở. Hôm đó là ngày 
		24-4-1622.</font></span></p>
		<p class="Noidung" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		<span lang="EN-US"><font size="5">Suốt ngày hôm đó, thi hài nhà truyền giáo tử đạo còn 
		được phơi sương giãi nắng để thoả căm hờn của những tên sát nhân.</font></span></p>
		<p class="Noidung" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		<span lang="EN-US"><font size="5">Nhưng đã đến lúc Thiên Chúa làm hiển danh tôi tớ 
		Người bằng các phép lạ. Cách đó không lâu, võ quan chỉ huy trưởng quân 
		đội Áo cầu khẩn vị thánh Tử đạo và được toàn thắng vẻ vang. Mục sư thệ 
		phản đã chủ tọa cuộc hành hình vị thánh tử được ơn trở lại.</font></span></p>
		<p class="Noidung" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		<span lang="EN-US"><font size="5">Khi hòa bình trở lại, các tu sĩ dòng Phanxicô ở 
		Weltkirchen đến Sêvi đòi lại xác vị tử đạo và mai táng trong nhà thờ 
		làng. Ngày song thập người ta mở huyệt ra. Lạ thay: xác ngài vẫn không 
		bị hư nát, đầu và chân liền lại y nguyên không mang một dấu vết nào. 
		Người ta liệm xác thánh nhân vào hòm quý giá. Dân chúng Weltkirchen vui 
		mừng đón nhận xác thánh như một báu vật. Ít lâu sau người ta lại di 
		chuyển thi hài vị thánh từ Sêvi về nhà thờ chính toà thành Coire. Dọc 
		đường khi rước hài cốt thánh, thành Mayenfeld bị phát hỏa; người ta kêu 
		cầu thánh nhân và tức thì ngọn lửa lụi dần.</font></span></p>
		<p class="Noidung" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
		<span lang="EN-US"><font size="5">Nhiều phép lạ khác còn được xẩy ra khiến Đức Giáo 
		Hoàng Biển đức XIII có đủ bằng chứng để phong á thánh cho ngài năm 1729. 
		Qua 14 năm Đức Giáo Hoàng Biển đức XIV lại phong cha Fiđêlê lên bậc hiển 
		thánh để làm tấm gương rạng ngời cho toàn thế giới công giáo soi chung.
		</font>
		</span></td>
	</tr>
	<tr>
		<td>
		<p align="center">
<a target="_top" href="http://tinmung.net">
<font size="5">
<img border="0" src="../../../logo/LOGOtinmung.gif" width="67" height="40"></font></a></td>
	</tr>
</table>

</body>

</html>

PHP File Manager