File "Ngay16.htm"
Full path: E:/sites/Single15/tinmung2007/webroot/CAC-THANH/HanhCacThanh/Thang04/Ngay16.htm
File size: 20.14 KiB (20623 bytes)
MIME-type:
Charset: utf-8
<head>
<meta http-equiv="Content-Language" content="en-us" />
<meta http-equiv="Content-Type" content="text/html; charset=utf-8" />
<title>Hạnh Các Thánh - THÁNH BIỂN ĐỨC LBRÊ, HÀNH KHẤT</title>
<base target="main">
<style type="text/css">
.style1 {
border-width: 0px;
}
</style>
<style fprolloverstyle>A:hover {color: #FF0000; font-family: Arial; font-size: 10pt}
h2
{margin-top:12.0pt;
margin-right:0cm;
margin-bottom:3.0pt;
margin-left:0cm;
line-height:115%;
page-break-after:avoid;
font-size:14.0pt;
font-family:"Cambria","serif";
font-weight:bold;
font-style:italic}
</style>
<meta name="keywords" content="Thánh Phaolô Tông Đồ Trở Lại - Thanh Phaolo Tong Do Tro Lai">
</head>
<body style="color: #000000; background-color: #EEEEEE; font-family:Arial; font-size:10pt; text-decoration:none" background="../../../TRANG%20CUA%20ME%20MARIA/Pictures/Background/bgr.gif">
<table border="0" width="100%" id="table1" cellspacing="15" bgcolor="#FFFFF0">
<tr>
<td>
<p align="right" style="margin-top: 0; margin-bottom: 0"><b>
<font face="Verdana" size="5" color="#006666">Hạnh Các Thánh - Hương
Việt</font></b></p>
<hr color="#FF4D20" width="80%" align="right">
<p class="Ngaythang" style="margin-top: 3px; margin-bottom: 0" align="right">
<span lang="EN-US"><font size="5">Ngày 16 tháng 04</font></span></p>
<p class="ViThanhKinh" style="margin-top: 3px; margin-bottom: 0" align="right">
<font color="#0000FF"><span style="font-size: 18pt; font-weight: 700">
THÁNH BIỂN ĐỨC LBRÊ, HÀNH KHẤT</span></font></p>
<p class="ViThanhKinh" style="margin-top: 3px; margin-bottom: 0" align="right">
<span lang="EN-US"><font size="5">(1748-1783)</font></span></td>
</tr>
<tr>
<td align="justify">
<p class="Noidungdau" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-US"><font size="5">“Chớ gì ý Chúa được thể hiện”, đó là lý tưởng duy
nhất của các vị thánh. Các ngài khác nhau về hoàn cảnh, địa vị, giáo
dục, về mầu da, nước tóc, nhưng lại gặp nhau ở một điểm: “Tìm biết ý
Chúa để phụng sự Chúa và các linh hồn”. Đời sống đặc biệt của thánh Biển
đức dưới đây sẽ nói lên đầy đủ chân lý ấy.</font></span></p>
<p class="Noidung" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-US"><font size="5">Trên con đường dẫn vào họ đạo xứ thánh Xuân Bích
(Saint Sulpice) thuộc địa phận Boulogne-surmer người ta thấy một cửa
hiệu tạp hóa nghèo nàn, đứng thu mình trong mảnh vườn trồng cây ăn quả,
đó là gia cư cha mẹ thánh Biển đức, một gia đình ít của cải nhưng nhiều
nhân đức. Ông bà sinh hạ được mười lăm người con mà thánh Biển đức là
con cả. </font> </span></p>
<p class="Noidung" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-US"><font size="5">Thánh nhân sinh ngày 25-05-1748. Vì hoàn cảnh gia
đình túng thiếu, lại thấy con có nhiều đức tính tốt, ông bà bèn giao
Biển đức cho người chú ruột coi sóc. Ông này tên là Phanxicô Giuse cũng
nổi tiếng là người rất đạo hạnh. Chính ông đã hun đúc cho Biển đức nhiều
đức tính tốt, đặc biệt lý tưởng sống đời tận hiến cho Chúa và các linh
hồn. Ngay khi vừa lên tám tuổi, Biển đức đã say mê đời sống khổ hạnh và
bác ái. Cậu tìm nhiều giờ cầu nguyện với Chúa nơi thanh vắng, hoặc đi
giúp việc và yên ủi các bệnh nhân trong nhà thương gần đó. Khác với các
trẻ cùng tuổi, cậu ít nói, luôn vui vẻ giúp đỡ mọi người, nhất là lớp
người xấu số và các hành khách đến trọ nhờ. Cậu mặc đơn sơ, ăn uống điều
độ. Đêm ngủ cậu thường gối đầu bằng một phiến đá nhỏ. Mỗi khi gặp điều
gì phiền muộn, cậu Biển đức thường chỉ trấn tĩnh mình bằng một câu vắn
tắt: “Xin vâng ý Chúa, hay ước gì ý Chúa được thể hiện”.</font></span></p>
<p class="Noidung" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-US"><font size="5">Tâm hồn đạo đức ấy hầu như lớn trước tuổi. Đến năm 16
tuổi, Biển đức muốn xin nhập dòng Trappê. Cậu đem trình bày ý định với
chú và cha sở họ Erinô. Nhưng vì thấy Biển đức còn ít tuổi, dáng người
lại yếu đuối gầy còm, các ngài không bằng lòng và bắt về xin phép cha
mẹ. Thấy phải qua nhiều trở ngại, Biển đức lại tăng nhiều hy sinh, mục
đích xin Chúa quan phòng thu xếp để được sớm theo đời sống khổ hạnh
trong dòng. Nhưng Chúa chưa muốn! Thật ra những việc hy sinh quá sức
không những đã làm hại sinh lực, mà còn phá huỷ sự bằng an của tâm hồn…</font></span></p>
<p class="Noidung" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-US"><font size="5">Trong những ngày đen tối của linh hồn, Biển đức không
biết làm gì hơn là ôm chặt cây Thánh giá và than thở luôn miệng lời
nguyện bất hủ “Ước gì ý Chúa được thể hiện”. Ngài đến xin một linh mục
nhân đức giúp tĩnh tâm. Nhờ đó tâm hồn lại dần dần được bình an. Biết ý
Chúa chưa cho mình vào dòng khổ tu, Biển đức trở về quê nhà sống dưới
mái gia đình thân yêu. Tuy nhiên, ngài vẫn không giảm đời sống khổ hạnh,
quyết sống theo quy luật dòng khổ tu. Có lần bà mẹ sốt ruột phải can
gián con, thì Biển đức chỉ khiêm tốn thưa lại: “Xin mẹ đừng cản ngăn
con, vì Chúa muốn con sống đời khổ hạnh của dòng Tráp”. Thấy không đổi
được chí hướng của con, ông bà liền phó con cho người em là cha Vinhsơn
coi sóc và dạy dỗ, hy vọng có thể đổi ơn kêu gọi dòng của Biển đức
chăng… Nhưng vì nhận thấy mình không có ơn kêu gọi làm linh mục giáo
phận, Biển đức cương quyết vượt mọi thử thách một mình đi bộ trốn đến gõ
cửa các tu viện tại Trápê. Rủi thay! Thấy Biển đức còn trẻ tuổi, thân
hình lại mảnh khảnh gầy còm, nên các bề trên buộc lòng phải từ chối. Sau
cùng cha tu viện trưởng dòng khổ tu tại Nêvilla đón nhận Biển Đức. Nhưng
vừa nhập dòng được hai tháng, cha lại ngỏ ý để Biển đức chọn con đường
khác. Cha nói: “Này Biển Đức, Chúa quan phòng không gọi con sống ở đây.
Con hãy tiến theo đường Chúa chỉ dẫn”.</font></span></p>
<p class="Noidung" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-US"><font size="5">Lại một lần nữa, Biển đức cảm thấy chán nản. Bước ra
khỏi cổng tu viện Carnutô thuộc tỉnh Nêvilla, ngài thấy phải biên thư về
thú tội với cha mẹ và trình bày với các ngài ý định của mình. Ngài viết:
“… Con xin thầy mẹ thứ tha cho con tội thiếu vâng lời và tội làm cho
thầy mẹ phải chịu nhiều nỗi cơ cực. Con đã bỏ tu viện Carnutô, và đang
trên đường đến dòng Tráp, nơi con hằng mong mỏi bấy lâu …” Biển đức đến
tu viện Bảy suối. Lúc đầu cha tu viện trưởng từ chối khéo léo, bắt ngài
phải sống hành khất ở ngoài bốn tháng trước khi nhận áo nhà tập và đổi
tên là Thầy Ubanô. Niềm vui chan hòa trong tâm hồn, Thầy Ubanô không
ngớt cố gắng tiến tới trên đường trọn lành. Vì thế, dù còn trẻ tuổi và
mới nhập dòng, thầy đã có một mức độ thánh thiện và đời sống chay tịnh
không kém gì các vị thâm niên trong dòng. Nhưng linh hồn càng tăng
trưởng thì sức khỏe của thầy càng ngày càng hao mòn vì chứng sốt kinh
niên. </font> </span></p>
<p class="Noidung" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-US"><font size="5">Thấy vậy, bề trên không muốn thầy sống nhà tập lâu
hơn nữa. Thế là lại một lần nữa Biển đức phải từ giã tu viện với câu
châm ngôn: “Xin vâng ý Chúa”. Ngài bỏ nhà dòng vào tháng 7-1770. </font> </span>
</p>
<p class="Noidung" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-US"><font size="5">Khác với mọi khi, lần này Biển đức không chán nản,
một can đảm tin vào sự quan phòng của Chúa. Lúc này ngài hiểu rằng mình
không có ơn kêu gọi sống đời tu dòng. Chúa cũng không muốn ngài sống ẩn
dật trong thinh lặng. Có chăng là phải sống giữa thế gian với tinh thần
và nhân đức của người sống tịch liệu. Vì thế, thầy Biển đức quyết định
đi hành hương sang Rôma. Trên đường hành hương, thầy chỉ sống bằng những
của bố thí, và hơn thế nữa, thầy không bỏ sót một bệnh viện nào mà không
ngừng lại một vài hôm để an ủi và giúp đỡ các bệnh nhân. Cũng chính
trong lần hành hương này, thầy có dịp qua Đađilly và được thầy Viannê,
sau làm cha sở xứ Át (Ars) niềm nở đón tiếp. </font> </span></p>
<p class="Noidung" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-US"><font size="5">Ngày 3-12-1770, thầy đã tới Rôma lần đầu tiên. Nhìn
ngắm kinh đô muôn thuở, thầy Biển đức thấy lòng chan chứa niềm vui, đến
quên hết mọi mỏi mệt sau mấy tháng trường. Ngài lưu lại và dự Tuần Thánh
tại Rôma. Sau lễ phục sinh năm 1771, thầy hành hương đến Fabruanô viếng
mộ thánh Rômuanđô. Rồi ngài tiếp tục đi viếng nhiều thánh đường danh
tiếng thuộc các nước Ý, Thụy sĩ, Đức, Pháp và Tây Ban Nha. Đi đến đâu
thầy đều lợi dụng cơ hội giảng Phúc âm cho dân chúng ở đấy. Thầy rao
giảng không phải bằng lời nói nhưng bằng gương sáng và việc bác ái. Tại
Bari thuộc nước Ý, vì không thể cầm lòng trước những tiếng than van của
những tù binh và nô lệ đang bị giam trong trại, thầy Biển đức bèn lưu
lại đó ba hôm. Ban ngày thầy xin vào yên ủi và băng bó vết thương cho
họ. Đêm đến, thầy dựng cây thánh giá giữa trời rồi quì nguyện ngắm và
hát kinh cầu Đức Mẹ rất sốt sắng. Noi gương thầy, nhiều khách qua đường
cũng dừng lại chung lời ca tụng Thiên Chúa. </font> </span></p>
<p class="Noidung" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-US"><font size="5">Sau ba năm hành hương, Phục sinh năm 1774, thánh nhân
lại trở về Rôma. Sau mấy ngày trọ ở lữ quán thánh Lui, thầy Biển đức đến
dựng lều ẩn trong một nơi hoang tàn gần hý trường Colise với mục đích
suy niệm về những khổ hình các thánh tử đạo đã chịu ngày trước. Ngài cởi
bỏ mọi sự, chỉ giữ nguyên vẹn một bộ quần áo vải thô, quyển sách Tân Ước
và Gương Chúa Giêsu. Thầy cầu nguyện và ăn chay liên lỉ. Hơn thế, nhiều
lần thầy còn tụ họp những người hành khất và bệnh tật dạy cho họ hiểu ý
nghĩa của khổ giá, rồi cùng với họ hát kinh ca ngợi Chúa. Người ta bắt
đầu chú ý và kéo đến thăm viếng thầy. Cảnh tượng ấy làm thầy phân vân và
sau cùng thầy lại lên đường tiếp tục hành hương. Thầy leo bộ qua dãy núi
Apênin đến viếng đại giáo đường Trinh Nữ tại Lôretta. Tại đây, có người
ngỏ ý để thầy vào tu trong dòng các thầy Camêlô, nhưng thầy chỉ trả lời:
“Thiên Chúa không muốn tôi đi theo con đường này”. Cũng tại Lôrétta,
thầy Biển đức gặp cha đáng kính Templo. Cha thán phục nhân đức của thầy.
Một mặt thầy nhận cha làm cha giải tội, mặt khác cha lại muốn thụ huấn
với thầy đời sống tận hiến lạ thường ấy. Suốt ba năm lưu tại Lôrétta
thầy Biển đức chỉ sống bằng những của ăn xin. Thầy dựng một túp lều nhỏ
để trú thân và làm chỗ cầu nguyện. Ngoài những giờ suy niệm, thầy đi
thăm các gia đình và yên ủi các bệnh nhân. Lễ Phục sinh năm 1782, thầy
đến nhà thờ chính toà dự các lễ nghi và xưng tội với cha Almerici, một
linh mục thánh thiện đã khắc ghi vào tâm trí thầy nhiều kỷ niệm. Trước
khi ra về thầy mỉm cười thưa với cha: “Thưa cha, nếu năm tới này cha
không thấy con trở lại, thì đó là dấu cha con chúng ta sẽ gặp nhau trên
trời”. Năm sau, khi được tin thầy qua đời, cha mới biết câu chào từ biệt
của thầy là một lời tiên tri.</font></span></p>
<p class="Noidung" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-US"><font size="5">Tháng 8-1782, thầy Biển đức về tới Rôma. Tại đây,
ngài sống qua những năm cuối đời đầy thánh thiện. Thầy đến trọ tại một
cộng đồng các linh mục. Thầy xin giúp việc cho các cha để được thông
công các lễ nghi phụng vụ với các ngài. Đời sống thánh thiện của thầy đã
làm các cha thán phục. Các cha coi thầy như một người bạn tâm phúc.
Không muốn được biệt đãi như thế, thầy Biển đức bèn xin cha bề trên cho
phép từ giã cộng đồng tiếp tục nếp sống hành khất và suy niệm.</font></span></p>
<p class="Noidung" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-US"><font size="5">Trong thời gian này, thầy Biển đức được hưởng nhiều
thị kiến và nhiều lần xuất thần. Có lần đang cầu nguyện, thầy tự nhiên
bay cao lên khỏi đất hàng giờ đồng hồ. Quả không có gì cảm kích hơn là
nhìn thấy thầy cầu nguyện. Suốt mấy giờ liền, thầy chắp tay trên ngực,
ngước mắt nhìn trời, nét mặt tươi vui biểu lộ một đức tin sống động. Một
hôm đến thăm thầy, cha Marconi trở về nói với các bạn của ngài: “Tôi đã
gặp thầy Biển đức khó nghèo. Vì thầy quá hãm mình ép xác, nên tôi nghĩ
thầy sẽ chết vì sự đền tội”.</font></span></p>
<p class="Noidung" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-US"><font size="5">Phải, chính thầy Biển đức cũng tiên cảm thấy cái ngày
hạnh phúc ấy, ngày được chết trong đau thương vì tình yêu Chúa Kitô và
các linh hồn. Tháng 6-1782, thầy đến nhà thờ thánh Thêôđôrô dự lễ kính
Trái Tim và bị ngã xỉu ở đấy. Cơn bệnh âm ỷ kéo dài mãi, đến nỗi chủ
nhật Lễ Lá năm 1783 thầy mới có thể đến gặp cha giải tội và xin ngài cho
phép rước lễ. Sáng hôm ấy, khi ở nhà thờ về, thầy Biển đức thấy mình mệt
mỏi, liền mua một chút giấm để hồi sức. Nhiều người đi đường nhìn thấy,
bỡ ngỡ bảo thầy: “Ồ, ông làm gì thế? Ông uống chất ấy hại lắm!” – Thầy
vui vẻ giơ giấm nói với họ: “Các người có biết Chúa Kitô đã uống thứ gì
trước khi tắt thở không?” Không hiểu lời thầy nói, một bà lão cau mày
bảo: “Ông điên rồi”. Thánh nhân bình thản trả lời: “Xin tuân theo thánh
ý Chúa”.</font></span></p>
<p class="Noidung" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-US"><font size="5">Thứ hai Tuần Thánh, thầy Biển đức đến nhà thờ Đức Bà
cầu nguyện thật sớm. Cha sở ra nhà thờ thấy ngài gầy còm và kiệt sức
quá, liền bảo mấy thanh niên đưa ngài vào nhà thương. Thầy Biển đức nài
nẵng từ chối và can đảm đi đến nhà thờ thánh Inhaxiô dự các lễ nghi. Lúc
ra về, ngài lại mua giấm để uống. Thấy nhiều người ngỡ ngàng nhìn mình,
thầy Biển đức nói với họ: “Ngày xưa, cũng trong Tuần Thánh, đã có người
uống giấm và chịu cơ cực hơn tôi gấp trăm ngàn lần vì tình yêu và phần
rỗi nhân loại”. Cách hai hôm, tức ngày thứ tư Tuần Thánh thầy Biển đức
lại dong bộ đến nhà thờ Đức-Bà-trên-núi dự lễ. Nhưng đã đến giờ Chúa gọi
thầy về trời! Thầy bị ngã bất tỉnh giữa đường phố. Các giáo hữu xúm
quanh ngài, người đốt lửa kẻ xoa dầu. Sở dĩ người ta săn sóc ngài cách
đặc biệt như thế, vì ai nấy đều kính ngài như một vị thánh. Sau cùng,
một người xin rước thầy về nhà và đi mời cha sở đến cho thầy chịu các
phép lần sau hết. Thầy Biển đức mệt dần cho đến hai giờ chiều thì bất
tỉnh và tắt thở cách êm ái lúc tám giờ tối. Hôm ấy là ngày 16-4-1783.</font></span></p>
<p class="Noidung" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-US"><font size="5">Tin “vị thánh đã chết” đồn đi rất nhanh, đến nỗi ngay
sáng hôm sau, nhiều đoàn giáo dân từ xa đã đến kính viếng xác ngài.
Phòng bệnh nghèo nàn nghiễm nhiên trở thành một nhà nguyện ngát hương
kinh. Người ta góp tiền tổ chức lễ an táng xác thầy Biển đức rất trọng
thể. Xác thầy được đặt dưới bàn thờ Trinh Nữ Maria tại thánh đường
“Đức-Bà-trên-núi”. Nơi đây, Chúa làm vinh danh người đầy tớ khó nghèo
bằng nhiều phép lạ.</font></span></p>
<p class="Noidung" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-US"><font size="5">Song song với những phép lạ Chúa làm trên mồ thầy
Biển Đức, là lòng tôn kính nồng nhiệt của giáo dân. Vì thế, ngay năm
1860, Đức Piô IX đã nâng ngài lên bậc chân phúc và ngày 8-12-1883, Đức
Lêô XIII tuyên phong chân phước Biển đức lên bậc hiển thánh.</font></span></p>
<p class="Noidung" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-US"><font size="5">Đời sống thánh Biển đức nhắc lại cho chúng ta lời
thánh Phaolô tông đồ: “Chúng tôi như không tên tuổi mà vẫn được biết
đến, như sắp chết mà vẫn đang sống hẳn hoi, như đang chịu khổ hình mà
vẫn không bao giờ chết, như buồn bã mà lại luôn vui sướng, như nghèo khó
mà lại rất giầu có, như không có gì mà lại có đủ mọi sự.” (2 Cr. 6, 60).</font></span></p>
<p style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-US" style="font-size: 18pt">Phải chăng chỉ có tình yêu
Chúa mới có thể biến đổi tâm hồn và cho con người có một niềm lạc quan
và tin tưởng đến như thế?</span></td>
</tr>
<tr>
<td>
<p align="center">
<a target="_top" href="http://tinmung.net">
<font size="5">
<img border="0" src="../../../logo/LOGOtinmung.gif" width="67" height="40"></font></a></td>
</tr>
</table>
</body>
</html>