File "Ngay02.htm"
Full path: E:/sites/Single15/tinmung2007/webroot/CAC-THANH/HanhCacThanh/Thang01/Ngay02.htm
File size: 38.09 KiB (39000 bytes)
MIME-type:
Charset: utf-8
<head>
<meta http-equiv="Content-Language" content="en-us" />
<meta http-equiv="Content-Type" content="text/html; charset=utf-8" />
<title>Hạnh Các Thánh - Hanh Cac Thanh - Hương Việt</title>
<base target="main">
<style type="text/css">
.style1 {
border-width: 0px;
}
</style>
<style fprolloverstyle>A:hover {color: #FF0000; font-family: Arial; font-size: 10pt}
</style>
<meta name="keywords" content="Hạnh Các Thánh, Hanh Cac Thanh, Hương Việt, tieu su cac thanh">
</head>
<body style="color: #000000; background-color: #EEEEEE; font-family:Arial; font-size:10pt; text-decoration:none" background="../../../TRANG%20CUA%20ME%20MARIA/Pictures/Background/bgr.gif">
<table border="0" width="100%" id="table1" cellspacing="15" bgcolor="#FFFFF0">
<tr>
<td>
<p align="right" style="margin-top: 0; margin-bottom: 0"><b>
<font face="Verdana" size="5" color="#006666">Hạnh Các Thánh</font></b></p>
<hr color="#FF4D20" width="80%" align="right">
<p align="right" style="margin-top: 0; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-US"><font size="5">Ngày 02 tháng 01</font></span></p>
<p class="ViThanhKinh" style="margin-top: 3px; margin-bottom: 0" align="center">
<font color="#0000FF"><span style="font-size: 18pt; font-weight: 700">
THÁNH BASILIÔ CẢ VÀ THÁNH THÁNH GRÊGÔRIÔNAJANÔ <br>
GIÁM MỤC TIẾN SĨ</span></font></td>
</tr>
<tr>
<td align="justify">
<p class="Thanhriengngay" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0" align="center">
<b><span lang="EN-US"><font size="5">THÁNH BASILIÔ CẢ GIÁM MỤC TIẾN SĨ</font></span></b></p>
<p class="Thanhriengngay" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0" align="center">
<i><span lang="EN-US"><font size="5">(329-379)</font></span></i></p>
<p class="Noidungdau" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-US"><font size="5">Thế kỷ thứ IV, Giáo hội phải trải qua những cơn khủng
hoảng ghê gớm. Đây là lúc xẩy ra những cuộc bút chiến sôi nổi và tranh
luận nẩy lửa giữa Giáo hội Chúa và lạc giáo Ariô, một bè rối phủ nhận
Thiên Tính của Chúa Giêsu. Một trong những dũng tướng đứng ra tranh đấu
cho lẽ phải và chân lý đức tin là Đức Giám mục Basiliô Cả.</font></span></p>
<p class="Noidung" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-US"><font size="5">Ngài xuất thân từ một gia đình trâm anh thế phiệt
thuộc thị trấn Hêlênôpôngtô nước Hi Lạp. Gia đình ngài có tất cả mười
anh em, trong đó có Đức Grêgôriô Giám mục thành Nyssê, Phêrô Giám mục
quản nhiệm giáo phận Sêbastê, còn những người kia ai nấy đều đành phận
một bề. Basiliô được song thân cho theo đuổi bút nghiên từ rất sớm. Sẵn
có khiếu thông minh và tinh thần hiếu học, Basiliô tiến rất nhanh trên
đường học vấn. Có thể nói ngài là một vĩ nhân uyên kim bác cổ, thông
thạo phong tục nhiều nước, có khiếu thẩm mỹ văn chương và khoa học. Sau
khi qua học ở những trung tâm văn hoá danh tiếng nhất thời đó như
Cêsarê. Côntantinôpôli và Nhã-điển (Athènes), Basiliô bắt đầu nghiên cứu
về thần học nhờ sự hướng dẫn của tu viện trưởng Porphiriô, một nhà thần
học lỗi lạc thời đó. Để dễ thông cảm với Chúa trong khoa học thánh, ngài
đã giữ một đời sống rất thanh tịnh và khắc khổ. Ngài chỉ ăn rau cỏ và
uống nước lã. Ngài cũng rất hâm mộ Thánh kinh và ước ao được đi viếng
những di tích nơi Thánh địa. Dự định của ngài đã được cha tu viện trưởng
chấp thuận. Và một ngày kia sau khi lĩnh phép lành của bề trên, ngài vui
sướng ra đi trong ánh nắng tươi đẹp của buổi ban mai. Trong cuộc hành
hương này ngài có ghé thăm nhà triết lý danh tiếng Êubulê nhằm mục đích
tranh luận với ông về vấn đề tôn giáo. Sau ba ngày trao đổi tư tưởng,
thánh nhân đã thuyết phục được triết gia Êubulê. Ông này được ánh sáng
Chúa đến thức tỉnh, đã bán hết gia tài làm phúc cho kẻ nghèo và cùng với
thánh nhân hành hương sang Giêrusalem. Cả hai cùng muốn được diễm phúc
chịu phép rửa tội ở sông Giođanô nơi Chúa Giêsu đã chịu phép rửa hồi
xưa. </font> </span></p>
<p class="Noidung" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-US"><font size="5">Đặt chân tới đất thánh, hai vị lần lượt đi viếng
những di tích thánh. Sau đó, cả hai cùng đến bái kiến Đức Giám mục
Mácximô. Trông thấy Basiliô, con người có khuôn mặt thông minh, lời nói
khiêm tốn và trang phục đơn sơ, Đức Giám mục biết ngay đó là người rồi
đây Chúa sẽ uỷ thác cho một trách nhiệm cao cả. Tương truyền khi Đức
Giám mục rửa tội cho Basiliô ở sông Giođanô thì tự nhiên có một đám lửa
tự trời đổ xuống. Trong đám lửa, người ta thấy xuất hiện một chim bồ câu
bay liệng vỗ cánh xuống mặt nước rồi vút bay lên thinh không. Trước điềm
lạ này, ai ai cũng bỡ ngỡ và đoán Chúa sẽ dùng Basiliô để thi hành sứ
mệnh siêu nhiên.</font></span></p>
<p class="Noidung" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-US"><font size="5">Quả thế, sau cuộc hành hương Rôma, Basiliô được Đức
Giám mục thành Antiôkia phong chức phụ tế. Với chức vụ mới, thầy Basiliô
tận tụy rao giảng chân lý, đem nhiều người trở về làm con thảo của Chúa.
Nhờ đời sống gương mẫu, và lòng nhiệt thành. Thầy đã nhóm lên trong lòng
nhiều người ngoại giáo ngọn lửa đức tin và đem lại cho họ đời sống siêu
nhiên. Sau một thời gian, Đức Giám mục Hêmôgênô quản nhiệm giáo phận
Cêsarê gọi ngài chịu chức linh mục. Thấy tài đức siêu vời của ngài, ai
cũng quý mến và tin chắc ngài sẽ làm Giám mục. Nhưng cũng có một số anh
em tu sĩ ghen ghét và nói xấu ngài. Chính vì thế ngài xin đến tĩnh tu
trong sa mạc Pôntê gần sông Iris. Thánh Grêgôriô cùng sống với thánh
nhân trong những năm tĩnh tu tại sa mạc đã thuật lại nếp sống khắc khổ
và đạo đức của ngài như sau: “Basiliô sống trong một lều tranh vách đất,
chơ vơ giữa sa mạc. Món ăn chính của ngài là bánh khô và nước lã”. Mặc
dầu mai danh ẩn tích trong sa mạc, nhân đức của ngài cũng lan toả khắp
nơi. Nhiều tu sĩ thường đến xin thánh nhân chỉ bảo đường lối tu đức và
ban cho những lời giáo huấn quý hoá. Thấy đời sống của ngài có ảnh hưởng
sâu rộng trong quần chúng, những người lạc giáo ghen ghét, bạc đãi và vu
khống cho ngài nhiều điều xấu.</font></span></p>
<p class="Noidung" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-US"><font size="5">Họ còn nhờ uy thế của Hoàng đế Valens mà uy hiếp
người Công giáo, nhất là tín hữu giáo phận Cêsarê. Trong hoàn cảnh đau
thương này, thánh nhân được triệu về tranh đấu với bọn lạc giáo. Đầy ơn
Thánh Linh, ngài xuất hiện như một vì sao sáng, một dũng tướng nêu cao
uy quyền Giáo hội, mặc dầu phải chịu nhiều gian truân và những lời đe
doạ đầy sát khí của bạo vương Valens.</font></span></p>
<p class="Noidung" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-US"><font size="5">Khi Đức Giám mục Êusêbiô băng hà, thánh Basiliô được
bầu làm Giám mục quản nhiệm giáo phận Cêsarê. Với tài cao đức rộng, Giám
mục Basiliô thu lượm được nhiều kết quả mỹ mãn, nhất là trong công việc
tranh đấu với bạo vương Valens. Tuy làm Giám mục, nhưng thánh nhân không
bao giờ quên nghĩ đến người nghèo khổ và kẻ bệnh hoạn, ngài thường tới
thăm bệnh nhân trong các bệnh viện. Chính ngài mang đồ ăn thức uống, rửa
vết thương và uỷ lạo họ. Trước những cử chỉ cao thượng và đầy tình âu
yếm của người cha hiền, nhiều người cảm động, mắt rướm lệ nói với nhau:
“Chúng ta phải bắt chước Đức Giám mục thi hành đức thương yêu và xả kỷ
đối với nhau”. Thấy ảnh hưởng của thánh nhân ngày một lan rộng trong
giai cấp trí thức cũng như phái bình dân, bạo vương Valens tìm cách
triệt hạ thánh nhân và chiếm chủ quyền giáo phận Cêsarê. Sau khi thiêu
sống 80 linh mục trong một chiếc tầu ngoài biển, Valens cho các tướng
mang nhiều quân lực và hình phạt đến để dọa và thuyết phục Đức Giám mục.
Nhưng với tấm lòng trung kiên và can đảm, ngài không bao giờ nhượng bộ
yêu sách của địch thủ. Sau cùng bạo vương phái Môđêtô một cảnh sát
trưởng có tiếng là mưu mô và hung ác tới gặp thánh nhân. Và đây là cuộc
tranh luận giữa Môđêtô và Đức Giám mục. </font> </span></p>
<p class="Noidung" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-US"><font size="5">Mặt hằm hằm tức giận, Môđêtô xông tới nói với Đức
Giám mục: “Ác nhân, ngươi ở đâu tới đây? Ngươi dám phản Hoàng đế được
sao? “.</font></span></p>
<p class="Noidung" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-US"><font size="5">- Với nét mặt bình thản nhưng giọng nói đanh thép,
Đức Giám mục Basiliô trả lời: “Tôi không hiểu tại sao ngài lại gọi tôi
là ác nhân? “.</font></span></p>
<p class="Noidung" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-US"><font size="5">- Mọi người đều tuân lệnh Hoàng thượng. Chỉ có ngươi
dám khinh miệt Hoàng thượng.</font></span></p>
<p class="Noidung" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-US"><font size="5">- Tôi phản đối những ai bất tuân lệnh Chúa, tôi cương
quyết vâng lời Thiên Chúa, và nhất định phản đối những kẻ vi phạm luật
Chúa. Ông nghĩ thế có phải không?</font></span></p>
<p class="Noidung" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-US"><font size="5">Biết rằng cứng rắn chắc không có kết quả, Môđêtô quay
ra đấu dịu:</font></span></p>
<p class="Noidung" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-US"><font size="5">- Đức giám mục hãy tuân lệnh Hoàng đế đi, như vậy
ngài sẽ có danh vọng và chúng ta sẽ cùng chung một tín ngưỡng, và nên
bằng hữu với nhau.</font></span></p>
<p class="Noidung" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-US"><font size="5">- Phải, tôi muốn kết thân với ông lắm, nhưng không
phải để ủng hộ chương trình của Hoàng đế và bọn lạc giáo Ariô. Tôi muốn
ông cũng như trăm nghìn tín hữu công giáo sống trong tay đoàn chiên của
tôi, dưới cánh tay nâng đỡ của tôi. Chúng tôi kính yêu người công giáo
không phải vì chức cao quyền trọng nhưng vì tín ngưỡng chân thật và tâm
hồn trong trắng của họ. Tôi biết ông là một trong những sĩ quan danh
tiếng cao cấp của Hoàng đế. Nhưng tôi tin chắc rằng tất cả danh vọng và
quyền cao chức quý đó không làm cho ông sung sướng bằng tôi là người thờ
phượng Thiên Chúa.</font></span></p>
<p class="Noidung" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-US"><font size="5">Môđêtô lại mất bình tĩnh, hắn nổi nóng và dọa sẽ tịch
thu tài sản, phát lưu và hành quyết thánh nhân. Nhưng Đức Giám mục
Basiliô vẫn bình tĩnh trả lời: “Môđêtô, ông đừng tưởng rằng ông dọa nạt
mà có thể lung lạc được tôi. Nếu tôi không có tài sản thì ông tịch thu
cái gì? Nếu cả thế giới chỉ là nơi lưu đầy thì ông sẽ phát lưu tôi đi
đâu? Tôi không có một quê hương nào khác ngoài thiên đàng. Tôi không sợ
hình phạt vì thân xác hèn mọn này đã suy nhược. Tôi không sợ chết vì có
chết tôi mới có thể đến với Đấng tôi yêu mến là Chúa tạo thành vũ trụ”.
</font>
</span></p>
<p class="Noidung" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-US"><font size="5">- Môđêtô bỡ ngỡ nói: “Ta chưa hề gặp một ai gan dạn
như người”.</font></span></p>
<p class="Noidung" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-US"><font size="5">- Thánh nhân trả lời: “Phải, có lẽ thế, vì ông chưa
đàm luận với một Giám mục nào khác. Trong những vấn đề khác chúng tôi
rất khiêm tốn. Nhưng khi đề cập đến đức tin công giáo và sự kính thờ
Chúa Giêsu thì chúng tôi không bao giờ nhượng bộ; chúng tôi không bao
giờ được phép làm ô danh uy quyền Thiên Chúa”.</font></span></p>
<p class="Noidung" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-US"><font size="5">Sau đó, Môđêtô về tường trình công việc cho Hoàng đế.
Bọn lạc giáo sửa soạn xe cộ và khí giới phát lưu thánh nhân. Nhưng chính
đêm đó thì hoàng tử của bạo vương Valens lâm bệnh nặng. Hoàng hậu
Đôminica lo sợ, nghĩ đó là hình phạt của Thiên Chúa nên đã đến xin Hoàng
đế đến thương thuyết với thánh nhân. Hoàng đế cho mời Giám mục Basiliô
đến và nói: “Nếu tín ngưỡng của ông phải, thì ông hãy nguyện xin Thiên
Chúa cho con tôi thoát chết”. Thánh nhân trả lời: “Nếu Hoàng đế tin theo
tôi và để cho Giáo hội công giáo được an bình, thì con Hoàng đế sẽ
khỏi”. Rồi với tâm tình sốt sắng thánh nhân sấp mình cầu nguyện xin Chúa
cứu sống hoàng tử. Dầu vậy, Hoàng đế Valens vẫn không thật lòng trở lại.
Để tránh tiếng, ông còn cho người rước Giám mục Ariô đến giải tội và cầu
nguyện cho hoàng tử. Nhưng khốn nạn thay, vừa chịu phép rửa xong thì
hoàng tử đã lăn ra chết, trước thảm cảnh đó, Hoàng đế rất buồn nhưng lại
không muốn phật ý các Giám mục rối. Ông đã chấp thuận kiến nghị của họ
và ký giấy phát lưu thánh nhân. Nhưng lạ thay, khi Hoàng đế cầm bút châu
phê thì bút không xuống mục. Hoàng đế phải thay ngòi đến ba bốn lần mà
cũng không thành công, cầm ấn tín thì ấn tín gẫy tung. Thấy thế Hoàng đế
hoảng sợ và cảm thấy chính Thiên Chúa đã giơ tay ngăn cản công việc của
mình. Ông bèn huỷ bỏ kiến nghị của các Giám mục Ariô và để cho thánh
Basiliô được tự do truyền giáo. Từ đó uy danh thánh Giám mục mỗi ngày
một lừng lẫy. Ngài truyền giáo không những bằng gương sáng và lời rao
giảng mà còn bằng nhiều phép lạ. Sau đây là hai trường hợp tiêu biểu.</font></span></p>
<p class="Noidung" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-US"><font size="5">Một phụ nữ goá chồng kia đã nghe theo tiếng gọi của
dục tình, lao mình sống một đời trụy lạc. Một ngày kia Chúa Giêsu đến
thân hành gõ cửa lòng con người tội lỗi đó. Nhờ ơn Chúa giúp, nàng ăn
năn thống hối các tội đã xưng. Dầu vậy, nàng vẫn bối rối lo sợ mình chưa
được khỏi. Nàng liền viết tất cả các tội trọng trên một tờ giấy, rồi đến
xin thánh nhân cầu nguyện Chúa tỏ dấu tha thứ bằng cách xoá các chữ đã
viết. Tay cầm tờ giấy, thánh nhân ngước mắt cầu nguyện, bỗng nhiên các
chữ biến mất. Từ đó quả phụ kia được yên tâm sống đời lành thánh.</font></span></p>
<p class="Noidung" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-US"><font size="5">Lần khác, bạo vương Valens hạ lệnh cho tín hữu Ariô
chiếm một ngôi thánh đường ở thành Nicêa. Trước quyền lực và uy thế của
bạo vương, người công giáo không biết làm gì hơn là chạy đến xin Đức
Giám mục Basiliô can thiệp. Thánh nhân liền thân hành đến đàm luận với
bạo vương. Ngài nói: “Thưa Hoàng đế, để giải quyết vấn đề này, chúng ta
hãy ký giấy giao kèo hoàn toàn tuân theo ý Chúa định đoạt. Hoàng đế hãy
hạ lệnh đóng chặt cửa thánh đường lại rồi cho các tín hữu của Hoàng đế ở
ngoài cầu nguyện. Nếu tự nhiên cửa nhà thờ mở ra thì thánh đường thuộc
về Hoàng đế. Nếu cửa nhà thờ vẫn đóng mà dân công giáo chúng tôi cầu
nguyện cửa lại mở ra thì tất nhiên thánh đường thuộc sở hữu chúng tôi”.
Hoàng đế Valens ký giấy giao kèo rồi ngạo nghễ đứng chứng kiến sự việc
xẩy ra. Ông có ngờ đâu thắng lợi sau cùng lại đưa về cho thánh Giám mục.
Trước phép lạ này nhiều người thuộc phái Ariô đã xin trở lại Công giáo.
Tuy nhiên bạo vương Valens vẫn cương quyết dùng quân lực chiếm đóng nhà
thờ! Hành động ngang tàng và cố chấp của ông đã được trả lại bằng một
giá rất đắt: tại đây ông bị quân Đức đánh thua và bắt về giam cầm.</font></span></p>
<p class="Noidung" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-US"><font size="5">Thánh Basiliô còn làm phép lạ cứu rỗi các linh hồn cả
trên giường bệnh. Số là, khi bị liệt giường, thánh nhân cho gọi một thầy
lang cao tay đến bắt mạch. Sau khi xem mạch thầy lang quả quyết ngài sẽ
chết trước khi mặt trời lặn. Thánh nhân nói với thầy lang: “Nếu đến mai
tôi còn sống thì ông sẽ hứa gì với tôi?”.</font></span></p>
<p class="Noidung" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-US"><font size="5">Không thể được. Nếu mai ngài còn sống thì tôi xin
tòng giáo. Với lòng tin tưởng, thánh nhân cầu nguyện xin Chúa cho mình
sống để dẫn một linh hồn về với Chúa. Ngày hôm sau thánh nhân vẫn còn
sống và ngài thân hành đến làm phép rửa cho thầy lang và cả gia đình của
ông. Sau đó thánh nhân về giường khuyên bảo mọi người hãy tận tâm làm
tôi Chúa. Dứt lời, thánh nhân êm ái trút linh hồn trở về thiên quốc ngày
14-1-378. </font> </span></p>
<p class="Noidung" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-US"><font size="5">Ghi niệm đời sống thánh Basiliô, nhiều tác giả đã
xưng tụng ngài là “đuốc thiêng của Giáo hội, nhãn quan của tín hữu, sứ
giả hoà bình”.</font></span></p>
<p class="Noidung" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-US"><font size="5">Thánh Basiliô quả xứng đáng là đuốc thiêng soi dẫn
chúng ta trên con đường tìm Chúa và phụng sự Người vậy.</font></span></p>
<p class="Thanhriengngay" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b>
<span lang="EN-US"><font size="5">THÁNH GRÊGÔRIÔ NAJANÔ </font> </span></b></p>
<p class="Thanhriengngay" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0"><b>
<span lang="EN-US"><font size="5">GIÁM MỤC TIẾN SĨ</font></span></b><span lang="EN-US" style="font-weight: 700"><font size="5">
</font>
</span></p>
<p class="NamSinh-Chet" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-US"><font size="5">(330 -389)</font></span></p>
<p class="Noidungdau" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-US"><font size="5">Chúng ta biết khá rõ về cuộc đời thánh Grêgôriô
Najanô nhờ một số lớn thư từ ngài để lại và những văn liệu trong Giáo
hội nói về ngài, nhưng đặc biệt nhất là nhờ một tập tự thuật khá dài
trong đó ngài kể lại những hoạt động, niềm vui và các thử thách ngài
trải qua từ buổi thiếu thời cho đến khi rời bỏ Côntantinôpôli</font></span></p>
<p class="Noidung" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-US"><font size="5">Grêgôriô sinh khoảng năm 330 tại Ajiacê một xóm nhỏ
gần thành Najanô là một tỉnh nhỏ ở phía tây nam xứ Cappađôcia thuộc Tiểu
Á (nay là Thổ Nhĩ Kỳ). Thân phụ Grêgôriô trước kia đã làm Giám mục thành
Najanô là một người lương thiện được mọi người kính trọng; cụ theo ngoại
giáo lâu năm mãi tới năm 325 mới trở lại công giáo; vừa trở lại được mấy
hôm, người ta đã bầu cụ làm Giám mục chính tỉnh Najanô. Bà Nonna thân
mẫu Grêgôriô là một người đàn bà đạo hạnh rất đáng kính. Chẳng thế mà
Grêgôriô đã viết về cha mẹ ngài với môït giọng điệu đầy mến phục như
sau: “Để khởi đầu câu truyện, tôi phải nói rằng tôi đã được một người
cha rất lương thiện đáng nên gương cho mọi người; ngài có đức tính cao
quý đặc biệt, chứ không phải chỉ có vẻ đạo đức bề ngoài như ngày nay ta
thường thấy đâu… Còn mẹ tôi, tắt một lời, thực xứng đáng là bạn của một
người như cha tôi; đức tính của mẹ tôi chẳng kém gì cha tôi; người xuất
thân ở một gia đình đạo đức; người lại còn đạo đức hơn mọi người trong
gia đình nữa”. Hai ông bà sinh hạ được ba người con: một gái với hai
trai.</font></span></p>
<p class="Noidung" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-US"><font size="5">Trong khung cảnh gia đình tốt đẹp ấy, Grêgôriô được
hấp thụ một nền giáo dục công giáo hoàn toàn, khiến lòng đạo đức của
ngài triển nở cùng một nhịp với những kiến thức học hành. </font> </span></p>
<p class="Noidung" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-US"><font size="5">Từ bé, Grêgôriô đã rất say mê văn chương và khoa hùng
biện Hi lạp. Nhưng cũng không bao giờ ngài dám trọng văn chương Hi lạp
hơn Kinh thánh. Trái lại ngay từ thiếu thời người ta đã thấy Grêgôriô
chủ trương dùng nghệ thuật hùng biện Hi lạp cũng như văn chương ngoại
giáo để phụng sự chân lý.</font></span></p>
<p class="Noidung" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-US"><font size="5">Theo thói quen thời đó, sau khi đã qua giai đoạn giáo
dục sơ đẳng ở nhà, Grêgôriô xuất dương để tìm những giáo sư danh tiếng.
Người ta thấy trang thanh niên tuấn tú ấy lần lượt qua những trung tâm
trí thức danh tiếng của thời đại như: Cêjarê Cappađônia, Cêjarê
Palestina, Alêxanđria Ai cập. Và nhất là Nhã điển, một trung tâm văn hoá
lớn nhất đã thu hút các sinh viên khắp vùng Địa Trung Hải. Tại Nhã điển,
Grêgôriô đã kết thân với Basiliô một người mà ngài nhìn nhận là khôn
ngoan nhất, có học thức và đời sống trổi vượt mọi người. Hai người đã
nên bạn tri kỷ với nhau trong một mối tình khăng khít và thắm thiết hiếm
có.</font></span></p>
<p class="Noidung" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-US"><font size="5">Theo thói quen thời ấy, mặc dầu đã lớn tuổi, Grêgôriô
vẫn chưa chịu phép rửa tội. Dầu vậy, trong suốt thời gian học tập, ngài
vẫn giữ một đời sống luân lý đứng đắn.</font></span></p>
<p class="Noidung" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-US"><font size="5">Mãn học Grêgôriô cùng với Basiliô định ngày đáp tầu
về quê. Khi tàu sắp rời bến, Basiliô đã bước xuống tầu rồi mà Grêgôriô
thì còn dùng dằng với các bạn. Sau cùng ngài đã bị họ giữ lại, một phần
vì tình bạn lưu luyến, một phần vì họ không muốn để một kinh thành vinh
quang như Nhã điển phải mất một con người mà họ sắp tặng cho huy hiệu
là:”Nhà hùng biện biệt tài”.</font></span></p>
<p class="Noidung" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-US"><font size="5">Grêgôriô ở lại dạy khoa hùng biện tại Nhã điển ít
lâu. Lúc đó ngài đã ngót ba mươi tuổi. Rồi một hôm ngài bí mật xuống tầu
về quê. Khi tới quê, Grêgôriô được mời diễn thuyết trước công chúng theo
thói quen thời đó. Tài hùng biện của ngài làm phấn khởi anh em đồng bào.
Tuy nhiên cuộc đời thế tục hời hợt chỉ lo nói khéo và hành văn như vậy
đã để lại trong lòng ngài một trống rỗng. Grêgôriô nghĩ tới một đời sống
cao thượng hơn, và đến bấy giờ ngài mới chịu phép rửa tội có lẽ do chính
thân phụ đã làm cho.</font></span></p>
<p class="Noidung" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-US"><font size="5">Tuy khát vọng sống cao thượng hơn, nhưng vốn bản tính
hay do dự, Grêgôriô phân vân chưa biết chọn đường nào. Người ta thấy
ngài lưỡng lự, và suy tính đắn đo hơn thiệt: muốn sống ẩn tu trong sa
mạc nhưng phải bỏ học hành; ngài thích suy niệm trầm lặng và ở xa mọi
người nhưng lại vướng phải mối bận tâm khác là cha mẹ khẩn khoản xin
ngài săn sóc hai cụ trong tuổi già yếu. Sau bao nỗi phân vân, ngài quyết
định đến gặp Basiliô lúc bấy giờ đang tổ chức một tu viện nhỏ trên bờ
sông Iris. Đôi bạn tri kỷ cùng hăng hái giúp nhau tiến bước trên đường
tu hành sốt sắng. Sau này với một giọng đầy xúc động, ngài năng nhắc lại
quãng đời êm đẹp và sốt sắng ấy.</font></span></p>
<p class="Noidung" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-US"><font size="5">Ít lâu sau, có thư của thân phụ gọi Grêgôriô về sống
gần cụ. Là một Giám mục tuổi tác nên cụ muốn Grêgôriô cộng tác với mình
trong việc chăm sóc đoàn chiên Najanô. Grêgôriô chưa có chức linh mục mà
cũng chẳng bao giờ nghĩ đến việc làm linh mục nữa. Nhưng vì cha già ép
uổng mãi, Grêgôriô đành lòng lãnh nhận chức thánh. Sau khi chịu chức
linh mục rồi, không hiểu vì có chuyện gì bất bình tức giận với thân phụ,
Grêgôriô bỏ nhà đến ở với Basiliô một thời gian. Một lần nữa cụ thân
sinh tuổi tác lại năn nỉ triệu vời Grêgôriô về giúp cụ. Tình hiếu tử đã
khiến ngài gạt lệ ra về. Từ đấy Grêgôriô tận tụy giúp cha già trông coi
giáo phận.</font></span></p>
<p class="Noidung" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-US"><font size="5">Trong khi đó Giáo hội miền Tiểu Á vẫn luôn luôn phải
đối phó với những trở ngại và bách hại do bè phái Ariô gây nên. Basiliô
bạn của Grêgôriô bấy giờ làm Giám mục chính toà Xêjarê, nghĩa là các
giáo phận trong toàn tỉnh Cappađônia phải tùy thuộc toà Giám mục này.
Vậy mà Hoàng đế Valens người theo lạc giáo Ariô, vịn vào lý do chính trị
và kinh tế quyết định chia đôi tỉnh Cappađônia. Việc phân chia đó đã làm
cớ cho một số Giám mục nấp bóng chính quyền để làm khó dễ cho Giám mục
Basiliô. Thêm vào đó lại có một số Giám mục trong tỉnh mới này không
tuân phục Basiliô; họ đặt một Tổng Giám mục khác tên là Antimê, một
người có tính tàn bạo vô luân và có khuynh hướng lạc giáo. Để chống lại
ảnh hưởng của Antimê, Đức Giám mục Basiliô phải thiết lập nhiều giáo
phận nhỏ khác uỷ cho các Giám mục còn trung thành với đức tin Công đồng
Nicêa.</font></span></p>
<p class="Noidung" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-US"><font size="5">Ngài muốn trao toà Giám mục Sasimê cho bạn Grêgôriô
trông coi. Nhưng phải làm sao cho Grêgôriô thụ phong Giám mục. Thế là
Giám mục Basiliô tính toán với thân phụ Grêgôriô để gây một áp lực tâm
lý bắt Grêgôriô làm Giám mục. Grêgôriô do dự rồi cũng ưng thuận và thụ
phong do chính tay Basiliô truyền chức. Nhưng sau khi thụ phong rồi ngài
mới nhận định rõ cảnh ngộ mình và bắt đầu phàn nàn luyến tiếc vì phải
làm Giám mục. Ngài càng buồn hơn nữa vì phải trông coi “vùng Sasimê là
một thôn nhỏ cô liêu, nguy hiểm, thiếu mọi tiện nghi… Ở đấy thiếu cây và
không có vẻ đẹp nào quyến rũ con người tự do như Grêgôriô. Đó là một
làng nhỏ hẹp, bẩn thỉu, đầy bụi, rộn rịp tiếng xe cộ, tiếng khóc than
rền rĩ, tiếng người thu thuế và tiếng dụng cụ để hành hạ như xiềng xích.
Dân cư là khách lạ qua đường và là hạng du côn. Đó là giáo đoàn xứ
Sasimê nơi mà Basiliô định trao cho tôi”</font><i><font size="5">. (Trích Tự thuật).</font></i></span></p>
<p class="Noidung" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-US"><font size="5">Bất mãn với chức vụ mới và từ chối không chịu nhận xứ
Sasimê, Grêgôriô lại trốn đi như lần trước. Thân phụ phải năn nỉ và đe
doạ nhiều phen, nên sau ít lâu ngài trở về giúp cha trông coi giáo phận.
Năm 374, khi cha ngài qua đời, ngài trốn đến Cêlêucia trong xứ Isauria
vì sợ giáo hữu chọn mình làm Giám mục kế vị cha ngài.</font></span></p>
<p class="Noidung" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-US"><font size="5">Khi Grêgôriô đang lẩn trốn thì giáo hữu đến xin ngài
nhận coi sóc một giáo đoàn ở thành Côntantinôpôli. Nơi đây ngài sẽ phải
đương đầu với nhiều khó khăn cản trở của bè phái Ariô. Ngài rất có thể
bị bọn đồ đệ cuồng nộ của Ariô ám sát. Dầu vậy ngài can đảm nhận sứ mệnh
khó khăn bất lợi ấy.</font></span></p>
<p class="Noidung" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-US"><font size="5">Vừa đặt chân lên đất Côntantinopôli, ngài đã bị dân
chúng ném đá, vu oan; họ còn dám tố cáo ngài ở toà án về tội sát nhân.
Các giáo hữu của ngài chỉ còn một nhóm, thế mà cũng chia năm bè bẩy mối.
Lúc Valens băng hà và Thêôđôsiô kế vị thì những người theo phái Ariô
cũng vẫn chưa thôi tung hoành thống trị. Họ tìm cách giết Giám mục
Grêgôriô. Ngày kia chính tên sát nhân được họ cử đến ám sát ngài lại quỳ
xuống trước mặt ngài thú tội và xin lỗi, vì trước khi hắn định xông vào
giết ngài, hắn bỗng cảm thấy bị lương tâm cắn rứt. Có lúc giám mục
Grêgôriô đã tính đến truyện rút lui khỏi Côntantinopôli, nhưng các tín
hữu nài xin ngài ở lại. Dần dà nhờ sự nâng đỡ của thượng vị Thêôđôsiô,
và nhờ hoạt động đi đôi với gương mẫu đời sống hy sinh khiêm tốn, đạo
đức của Giám mục Grêgôriô, giáo đoàn nhỏ bé này đã trở nên sầm uất,
nhiều người trở lại đức tin công giáo và tà thuyết Ariô cũng dịu dần.
Công lao của Đức Giám mục Grêgôriô trong công cuộc này thực không phải
là nhỏ.</font></span></p>
<p class="Noidung" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-US"><font size="5">Năm 381 Công đồng chung thứ hai họp ở Côntantinopôli,
Grêgôriô được cử lên chức Giám mục chính toà thành này và giữ ghế chủ
tọa Công đồng. Sau ít lâu, mấy Giám mục trong hội nghị cãi nhau và cho
rằng Đức Giám mục Grêâgôriô được bầu lên không hợp pháp. Khi Giám mục
Mêlêcê do một số Giám mục bầu lên chủ toạ công đồng ly trần, sự xung đột
càng căng thẳng, nhiều khi chỉ vì những lý do vụn vặt. Với tư cách là
Giám mục Côntantinopôli, Grêgôriô cố sức dàn xếp để các Giám mục đoàn
kết với nhau, nhưng cũng vô hiệu. Vì lòng khiêm tốn và yêu chuộng hoà
bình, ngài bèn từ chức lui về xứ Cappađôcia. Việc ngài rút lui thực đáng
cảm phục. Nhân dịp đó ngài đọc một diễn văn rất đặc sắc biểu lộ tinh
thần hy sinh và khiêm tốn của ngài đến mực nào: “Thưa các ngài, là những
người đã được Thiên Chúa triệu tập tới đây để quyết nghị những điều vừa
ý Chúa, xin các ngài hãy thông qua những vấn đề liên hệ riêng đến bản
thân tôi… Xin các ngài hãy tư tưởng cao thượng hơn, hãy đoàn kết thoả
hiệp với nhau, tuy rằng giờ đây đã muộn… Về phần tôi khác nào phát ngôn
nhân Giona: tôi tự hiến để cả con tầu được thoát nạn, dù tôi không gây
nên giông tố, tội vạ đổ trên đầu tôi, hãy bắt lấy tôi quăng xuống biển
cả; một quái vật từ vực sâu sẽ đón nhận tôi. Ước gì hành vi này mở đầu
cho việc đoàn kết của các ngài, rồi sau đó hãy tính chuyện khác… Nếu các
ngài xô sát nhau chỉ vì câu chuyện của tôi, tôi coi việc các ngài tranh
luận xem ai sẽ cai quản Côntantinopôli là một điều ô nhục. Nếu các ngài
muốn thế, chả khó gì: tôi xin để người khác thế chân Giám mục và vui
lòng bỏ toà ngay bây giờ; đàng khác, sức khoẻ của tôi cũng là lý do
khiến tôi nên từ chức…”</font></span></p>
<p class="Noidung" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-US"><font size="5">Sau đó ngài đệ đơn lên Hoàng đế xin từ chức và được
chấp thuận. Ngài về Cappađônia là quê tổ và tạm coi sóc giáo đoàn Najanô
vẫn chưa có Giám mục. Khi giáo đoàn này bầu được chúa chiên thì ngài trở
về quê hương ở Ajian sống ẩn dật và khắc kỷ. Nơi đây trong những ngày
cuối cùng giữa cảnh thanh bình chuyên chú cầu nguyện và tu đức, ngài có
giờ viết cuốn “Tự thuật” và sáng tác thi ca. Năm 390 ngài ly trần bằng
an trong Chúa, để lại cho Giáo hội một sự nghiệp văn chương và tín lý
gồm: 45 bài suy luận thần học và điếu văn, 245 bức thư và mấy tập thi
ca. Trong những tác phẩm đó, qua lời văn rất chải chuốt, người ta đọc
thấy những tư tưởng rất sâu sắc về ý nghĩa siêu việt và bất khả luận của
Đấng Siêu Phàm.</font></span></p>
<p class="Noidung" style="margin-top: 12px; margin-bottom: 0">
<span lang="EN-US"><font size="5">Thực ra những tư tưởng rải rác của thánh nhân, chẳng
qua chỉ là những tư tưởng mà chính ngài đã thực hành trong đời sống. Và
nó đã mô tả đúng được chân dung của ngài. Đó là hình ảnh của một người
hằng phục tùng trong đau khổ và sốt sắng ngưỡng mộ cái “Đẹp” thuần túy,
Ánh Sáng Độc Nhất và cũng chính là Ba Ngôi Thiên Chúa. Đó là Ánh Sáng,
mà theo lời thánh nhân, người đời chỉ lĩnh hội được, khi họ đã biến
thành ánh sáng và khi họ đã tẩy rửa linh hồn cho thanh tịnh.</font></span></td>
</tr>
<tr>
<td>
<p align="center">
<a target="_top" href="http://tinmung.net">
<font size="5">
<img border="0" src="../../../logo/LOGOtinmung.gif" width="67" height="40"></font></a></td>
</tr>
</table>
</body>
</html>